1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận môn quản lý nhà nước đô thị, vấn đề xã hội hóa dịch vụ công ở đô thị

21 731 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 142 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên con đường xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực đẩy mạnh cơng cuộc cải cách hành chính trên cá

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ

ĐỀ TÀI:

XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ

Tp Hồ Chí Minh, tháng 9/2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ 4

III Sự cần thiết phải xã hội hóa dịch vụ công ở đô thị 6

Chương II

THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ TRONG

THỜI GIAN QUA 9

Trang 3

Lời nói đầu

Trong bối cảnh tồn cầu hĩa, thế kỷ 21 đã và đang chứng kiến sự thay đổi

và chuyển mình của nền hành chính cơng hiện đại với xu hướng đổi mới và thu

gọn vai trị, chức năng của Nhà nước nhằm hướng đến một nền hành chính hiệu

quả, vì mục tiêu phát triên kinh tế xã hội bền vững và vì con người Trong đĩ,

xác định việc cung ứng dịch vụ cơng là một chức năng quan trọng của Nhà nước,

là nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước trước cơng dân

Trên con đường xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực đẩy mạnh

cơng cuộc cải cách hành chính trên các lĩnh vực, tại Đại hội Đại biểu tồn quốc

lần thứ X, Đảng ta đã xác định “đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung

ứng các dịch vụ cơng cộng”; trong đĩ đổi mới vai trị, trách nhiệm của Chính

phủ và bộ máy hành chính nhà nước trong quản lý và tổ chức cung ứng dịch vụ

cơng gắn liền với chủ trương đẩy mạnh xã hội hĩa dịch vụ cơng là một nhiệm vụ

quan trọng cần tập trung giải quyết Chương trình tổng thể cải cách hành chính

nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ đặt ra yêu cầu: “Xây dựng quan

niệm đúng đắn về dịch vụ cơng Nhà nước cĩ trách nhiệm chăm lo đời sống vật

chất và văn hĩa của nhân dân nhưng khơng phải vì thế mà mọi cơng việc về dịch

vụ cơng đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhiệm Trong lĩnh vực cần định

rõ những cơng việc mà Nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những cơng

việc cần chuyển giao cho các tổ chức xã hội đảm nhiệm”

Nhận thức được những chủ trương đĩ, trong thời gian qua, việc quản lý,

cung ứng dịch vụ cơng và xã hội hĩa dịch vụ cơng đã cĩ những chuyển biến tích

cực và tạo được sự hưởng ứng đồng thuận từ phía xã hội và cơng dân, đặc biệt là

tại các đơ thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…Tuy nhiên,

do dịch vụ cơng và xã hội hội hĩa dịch vụ cơng vẫn cịn là khái niệm khá mới

đối với Việt Nam nên việc nhận thức cũng như thực hiện cịn nhiều lúng túng,

bất cập, chưa rõ ràng và thống nhất dẫn đến sự chậm trễ, vướng mắc trong việc

thực hiện chủ trương đẩy mạnh xã hội hĩa dịch vụ cơng của Đảng và Nhà nước

ta; gây trở ngại trong việc tiến tới xây dựng chính quyền đơ thị ở các đơ thị lớn

trong cả nước

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HĨA DỊCH VỤ CƠNG Ở ĐƠ THỊ

Trang 4

-I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1 Dịch vụ công: trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với

dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng Vì thế, không cóđịnh nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công Trong bối cảnh thực tiễn Việt Namcùng với hướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thểđưa ra khái niệm về dịch vụ công như sau “dịch vụ công là những dịch vụ đápứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm

ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vìmục tiêu lợi nhuận”

1.2 Xã hội hóa dịch vụ công: là quá trình mở rộng sự tham gia của các chủ

thể xã hội và tăng cường vai trò của nhà nước đối với dịch vụ công

1.3 Đô thị: là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao

động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hơp, là trung tâm tổng hợp haytrung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hộicủa cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùngtrong tỉnh, trong huyện

1.4 Chính quyền đô thị: được hiểu là chính quyền được cấu tạo chỉ có một

cấp (cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND chỉ có ở cấp thành phố) Tráchnhiệm quản lý được tập trung vào cấp thành phố, cấp còn lại chỉ là cánh tay nốidài, chứ không phải một cấp quyền lực khác Chính quyền đô thị là chính quyền

có bộ máy quản lý tinh giản tối đa số lượng công chức, đơn giản hoá thủ tụchành chính Chính quyền đô thị được tự chủ về các vấn đề tài chính, đầu tư, nhân

sự và tự quyết định tất cả những vấn đề lớn Chính quyền đô thị có bộ máy hànhchính được tổ chức tinh giản về mọi mặt Bộ máy đó quy tụ nguồn nhân lựcđược đào tạo bài bản, được tuyển chọn dựa trên các tiêu chí chủ đạo là tài năng

và đạo đức Đó là một chính quyền ưu tú, có đội ngũ CBCC tận tâm và tuyệt đốitrong sạch, họ gây được ảnh hưởng tốt đến lối sống của toàn xã hội Một nộidung rất quan trọng của chính quyền đô thị là vấn đề phân quyền để làm rõ tráchnhiệm cá nhân Đó là việc tập trung quyền lực cho người đứng đầu, phân rõ giớihạn nhiệm vụ của mỗi vị trí trong bộ máy quản lý, hạn chế tối đa bộ phận trunggian Người đứng đầu chính quyền đô thị có quyền quyết định một cách nhanhchóng, tức thì về nhiều vấn đề quan trọng của đô thị Người đứng đầu thành phố

do người dân trực tiếp bầu (thường gọi là Thị trưởng) Thị trưởng được trao

quyền lực rộng lớn nhất, chịu trách nhiệm cao nhất trước dân về mọi mặt của đôthị Vai trò tổng tư lệnh cho phép thị trưởng điều hành tất cả các ban ngành thuộc

Trang 5

bộ máy quản lý của thành phố Kể cả trong mọi tình huống cấp bách, thị trưởngluôn có toàn quyền điều phối Nhiều ý kiến cho rằng chính quyền đô thị là môhình mà ở đó “Nhà nước được thu nhỏ lại, tư nhân phình ra” Nhà nước chỉ làmchức năng quản lý, đề ra chính sách hợp lý, còn huy động người dân tham giaphát triển TP; xây dựng trong người dân thói quen ứng xử đô thị, tuân thủ luậtpháp triệt để

II CÁC LOẠI DỊCH VỤ CÔNG

Tùy vào mức độ khác nhau về tính chất công cộng, vai trò trách nhiệm củanhà nước và loại chủ thể thực hiện cung ứng dịch vụ công; có thể phân dịch vụcông thành các loại cơ bản sau đây:

2.1 Dịch vụ hành chính công là những loại dịch vụ phục vụ chung cho mọi

người dân như cấp các giấy phép, giấy khai sinh, chứng minh thư, xác nhận hộtịch, hộ khẩu,…Đây là một loại dịch vụ gắn với công việc quản lý nhà nước; làloại hoạt động quản lý mang tính phục vụ, đặt quyền lợi người dân lên trên, nhànước phải vì dân mà phục vụ Dịch vụ hành chính công do các cơ quan hànhchính nhà nước đảm nhiệm Trong một số trường hợp, các tổ chức cá nhân có thểđược thực hiện việc cung ứng này nhưng phải có sự ủy quyền của các cơ quanhành chính nhà nước và phải tuân theo những quy định của pháp luật Như vậy,dịch vụ hành chính công là một dịch vụ cơ bản, không thể thiếu của dịch vụcông, hơn nữa lại thể hiện trực tiếp nhất vai trò phục vụ của nhà nước trước côngdân

2.2 Dịch vụ sự nghiệp công là loại dịch vụ cung cấp các hàng hóa dịch vụ

về giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa tinh thần,…do các tổ chức sựnghiệp cung ứng, không thu tiến hoặc có thu tiền một phần nhưng không vì mụctiêu lợi nhuận Là một dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và docác tổ chức chuyên ngành có chuyên môn sâu cung cấp như bệnh viện, trườnghọc,…Các hàng hóa cung cấp chủ yếu là hàng hóa phi hiện vật Nếu dịch vụhành chính chỉ có thể thu lệ phí mang tính chất ước lệ, thể hiện quyền uy của nhànước hoặc đối với một số dịch vụ có chi phí phát sinh cần phải thu phú để bù đắpthì đối với dịch vụ sự nghiệp do nhà nước cung cấp có thể chia thành các nhómbao gồm dịch vụ tối thiểu cung cấp cho đại đa số người dân và nhóm có thu tiềnnhưng không hoàn toàn theo giá cả thị trường Dịch vụ sự nghiệp thường tậptrung vào các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, văn hóa nghệ thuật, y tế, thể dục thểthao, việc làm,…

2.3 Dịch vụ công ích là hoạt động cung cấp các hàng hóa dịch vụ có tính

chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt người dân, nó gắnliền với việc cung ứng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản Dịch vụ công ích có vai

Trang 6

trò quan trọng đối với xã hội Chất lượng của dịch vụ công ích là một trongnhững yếu tố thể hiện chất lượng cuộc sống của mỗi quốc gia Đây là loại hìnhdịch vụ công chịu ảnh hưởng ít nhiều về vai trò điều tiết của nhà nước, đồng thời

là loại dịch vụ công có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế nhất Các hàng hóa cung cấp là các hàng hóa vật chất thường do doanh nghiệpthực hiện, nguồn tài chính được huy động từ sự đóng góp trực tiếp của người dânhoặc từ các tổ chức kinh doanh nhưng chất lượng, sự giá cả thì chịu sự điều tiếtcủa Nhà nước để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và tạo điều kiện cạnh tranhgiữa các đơn vị cung ứng Các loại dịch vụ công ích được các chính phủ quantâm thực hiện gồm vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị,cấp điện sinh hoạt và chiếu sáng công cộng, bưu chính, chăm sóc công viên, câyxanh,…

III SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ

3.1 Yêu cầu khách quan:

- Do yêu cầu phát triển chung của đời sống kinh tế xã hội: trong sự phát

triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ kỹ thuật, nền kinh tế thị trường và xuhướng dân chủ hóa đời sống xã hội đã buộc Nhà nước ở các quốc gia trên thếgiới một mặt nâng cao trách nhiệm quản lý xã hội, một mặt phải thu hút sự thamgia mạnh mẽ của người dân vào công tác quản lý nhà nước Đây là một động lựcthúc đẩy tiến trình cải cảch hành chính nhằm tiến tới xây dựng một nền hànhchính hiện đại, hướng tới hiệu quả phục vụ, đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội vàcông dân Xã hội hóa dịch vụ công không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển

mà hiện nay đó là một xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới

- Do đặc điểm của nền kinh tế thị trường: một đặc điểm quan trọng của

nền kinh tế thị trường là hướng sự chú ý tới khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầucủa khách hàng, trong khi đó khu vực tư nhân là khu vực linh hoạt hơn khu vựcnhà nước trong cung ứng dịch vụ về thời gian, giá cả, phương thức thanh toán,…

cũng như phương thức quản lý như tuyển dụng, trả lương, huy động các nguồn

tài chính,…Vì vậy, sự mở rộng tham gia của các chủ thể khác ngoài nhà nướctrong việc cung ứng dịch vụ công nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng củadịch vụ, thỏa mãn nhu cầu cao nhất của khách hàng

- Sự thay đổi tương quan giữa khu vực công với khu vực tư trong việc cung ứng dịch vụ công cũng cần có sự thay đổi về hình thức cung cấp các dịch

vụ công Sự thay đổi này thường do:

+ Sự phát triển ngày càng cao của khoa học và công nghệ dẫn đến khuvực tư có khả năng tiếp nhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về nhà nước

Trang 7

như công nghệ thông tin, phương tiện tính toán, đo lường, phương tiện kiểm tra,giám sát,….

+ Mức sống của người dân ngày càng cao đòi hỏi sự phục vụ ngày càngcao cả về chất lượng lẫn khối lượng dịch vụ

+ Sự kém hiệu quả của khu vực công so với với khu vực tư như khu vựccông chỉ chú ý đến việc cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người cung ứng chúkhông phải người thụ hưởng dịch vụ; chỉ chú ý đầu vào chứ không chú ý đếnhiệu quả; cung cấp cho khách hàng cái mà họ có chứ không phải cái mà họ cần

và có thể lựa chọn; thiếu sự gắn kết giữa người cung ứng dịch vụ và người dân,

3.2 Yêu cầu chủ quan:

- Tiết kiệm ngân sách: xã hội, đặc biệt xã hội đô thị ngày càng phát triển

dẫn đến việc ngày càng có nhiều vấn đề phức tạp phát sinh, trong khi ngân sáchnhà nước thì có hạn; Mặt khác, đời sống người dân đô thị ngày càng cao, ngàycàng có nhiều người có đủ điều kiện cung ứng những dịch vụ thuộc về Nhànước Chính vì thế cần phải có sự huy động sự tham gia của cá nhân và tổ chứcngoài nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công ở đô thị

- Năng lực bộ máy cung cấp dịch vụ: người dân ở đô thị với sự phát triển

ngày càng cao về nhận thức và nhu cầu; trong khi khả năng cung cấp dịch vụ của

bộ máy nhà nước thì có hạn cả về chất lượng và khối lượng dịch vụ cung ứng.Nhằm cung ứng cho xã hội các dịch vụ có chất lượng nhưng giá cả hợp lý, yêucầu phải có sự tham gia của các chủ thể khác trong xã hội

- Yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và chuyên nghiệp của khu vực công:

trong tình hình hiện nay, việc nhà nước là chủ thể duy nhất cung cấp dịch vụcông đã tạo ra tình trạng độc quyền trong một số ngành và lĩnh vực Hệ quả làcác ngành và lĩnh vực kém phát triển do không có tính cạnh tranh, tính chuyênnghiệp của đội ngũ thực hiện cung ứng dịch vụ kém Xã hội hóa là hình thức đểnâng cao tính cạnh tranh và chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ của khu vựccông

- Bảo đảm tính công khai và minh bạch: ngoài việc nâng cao chất lượng

và số lượng dịch vụ công, việc mở rộng sự tham gia của người dân trong việccung ứng dịch vụ công còn tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện việcgiám sát, kiểm tra việc thực hiện chức năng này của nhà nước, đảm bảo tínhcông khai minh bạch; hạn chế tình trạng quan liêu, cửa quyền, hách dịch nhưthực tế hiện nay

Trang 8

Từ những lý do khách quan và chủ quan nêu trên, việc xã hội hóa dịch vụcông ở đô thị là một tất yếu khách quan trong quá trình cải cách hành chínhnhằm hướng đến xây dựng chính quyền đô thị tại các đô thị lớn hiện nay.

CHƯƠNG II

Trang 9

THỰC TRẠNG VIỆC XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG Ở ĐÔ THỊ

TRONG THỜI GIAN QUA

-Trong những năm qua, cùng với những chủ trương và định hướng đúngđắn của Đảng và Nhà nước ta và những nỗ lực của các cấp chính quyền địaphương trong việc trong việc xã hội hóa dịch vụ công ở đô thị đã mang lại một

số kết quả đáng ghi nhận như sau:

I DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

Tính đến nay, việc xã hội hóa dịch vụ hành chính công đã được thực hiệntrong lĩnh vực công chứng, chứng thực; đăng kiểm xe cơ giới; dịch vụ bổ trợ tưpháp Tuy nhiên, dưới góc độ một bài tiểu luận, xin chỉ nêu thực trạng về việc xãhội hóa trong lĩnh vực công chứng Sự ra đời của Luật công chứng (1/7/2007) đãđánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ hànhchính công trong lĩnh vực công chứng, chứng thực Ngay sau khi Luật Côngchứng đi vào thực tiễn cuộc sống, 36/63 tỉnh, thành đã cho phép thành lập cácVăn phòng công chứng xã hội hoá (hay còn gọi là công chứng tư hoặc văn phòngcông chứng ngoài ngân sách) Tính đến tháng 4/2009, theo số liệu của Bộ Tưpháp, cả nước có 450 công chứng viên nhà nước hoạt động trong 130 PhòngCông chứng của Nhà nước và hơn 100 Công chứng viên không phải là côngchức nhà nước hoạt động ở gần 60 Văn phòng công chứng xã hội hoá đượcthành lập ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu,Thanh Hoá, Ninh Bình Nhìn chung, sự ra đời của các Văn phòng công chứng xãhội hoá bước đầu hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tải cho các Phòng Côngchứng nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu công chứngcủa xã hội công dân hiện đại Đặc biệt, điều mà người dân ở các đô thị hài lòngnhất về văn phòng ngoài ngân sách là thái độ phục vụ, tiếp đón niềm nở vàphong cách làm việc chuyên nghiệp của đội ngũ công chứng viên ở đây, cái mà

họ không nhận được từ văn phòng công chứng nhà nước Điều này đã ảnh hưởng

không nhỏ đến hoạt động của văn phòng công chức nhà nước Từ 1/7/2007, xã,

phường được giao thêm nhiệm vụ chứng thực những giấy tờ, chứng chỉ, văn bản

có bản gốc đi kèm Thời điểm đầu, trung bình mỗi ngày tại đây sao y bản chínhkhoảng 100 văn bản Sau khi việc xã hội hóa công chứng ra đời, số lượng nàychỉ còn khoảng một nửa Hay như thực tế tại Phòng Công chứng Nhà nước số 1trên phố Bà Triệu, Hà Nội vào ngày thứ ba đầu tuần nhưng cũng chỉ có hơn 10khách hàng, khác với tình trạng chen lấn, xô đẩy, quá tải trước đây Qua đó cóthể thấy sự ra đời của văn phòng công chứng xã hội hóa phần nào đã giảm bớt sự

Trang 10

quá tải ở các văn phòng công chứng nhà nước, giúp người dân có nhiều lựa chọnhơn trong việc thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình, gia tăng tính cạnh tranhtrong lĩnh vực công chứng, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ người dân; đồngthời khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, trước những mặt tích cực mà công chứng xã hội hóa mang lạithì vẫn còn tồn tại những nhược điểm, bất cập mà trong thời gian tới nếu không

có sự điều chỉnh kịp thời của các cơ quan chức năng thì những văn phòng côngchứng tư sẽ trở thành nỗi lo của xã hội và sẽ đi ngược với chủ trương đúng đắncủa Đảng và Nhà nước ta Cụ thể:

- Một số văn phòng công chứng chưa thực hiện đúng hoặc chưa thực hiệnđầy đủ các quy định của Luật Công chứng (như niêm yết, đăng bố cáo thành lập,mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp…) và pháp luật về lao động, thuế, tàichính, thống kê Vẫn còn tình trạng một số văn bản công chứng chưa bảo đảmchặt chẽ; hồ sơ công chứng vẫn còn thiếu một số giấy tờ có liên quan

- Văn phòng công chứng tư vì lý do lợi nhuận đã bất chấp các quy địnhcủa pháp luật, ví dụ việc công chứng các giấy tờ làm giả theo yêu cầu của ngườicông chứng hay việc công chứng ngoài trụ sở Theo quy định của pháp luật, việcthực hiện công chứng ngoài trụ sở chỉ được thực hiện trong những trường hợpđặc biệt nhưng vì lợi nhuận các văn phòng công chứng tư đã thực hiện việc phục

vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi dẫn đến việc mất an toàn pháp lý vì các vănphòng công chứng thường cử các nhân viên (chứ không phải công chứng viên) đilấy chữ ký người yêu cầu công chứng Do đó, sẽ khó bảo đảm toàn vẹn các yêucầu như xác định chính xác nhân thân của người yêu cầu công chứng; năng lựchành vi dân sự của người yêu cầu công chứng, cũng như tính chính xác của giấy

tờ gốc chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản mang ra giao dịch

- Chưa có mạng thông tin liên kết giữa văn phòng công chứng công và vănphòng công chứng tư, vì thế các văn phòng công chứng không thể xác định tàisản đã giao dịch chưa Nếu kẻ xấu dùng giấy tờ giả đã công chứng bán tài sản gì

đó thì người mua bị thiệt

- Các công chứng viên không phải công chức nhà nước còn thiếu kinhnghiệm, thiếu kiến thức về pháp luật nên dẫn đến nhiều trường hợp công chứngsai quy định Đặc biệt trong điều kiện hệ thống văn bản pháp luật còn nhiềuchồng chéo, bất cập như hiện nay, nếu không có kinh nghiệm sẽ rất khó thựchiện theo yêu cầu, quy định pháp luật

II DỊCH VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG

Ngày đăng: 02/10/2015, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w