1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong quá trinh hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay

58 736 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 638,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong quá trinh hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay

Trang 1

Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh

tế đối ngoại nước ta trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới trong

giai đoạn hiện nay (BC; 15)

MỤC LỤC PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN II : NỘI DUNG

A Một số vấn đề cơ sở lý luận

I Những khái niệm cơ bản

1 Kinh tế đối ngoại

2 Kinh tế quốc tế

II Sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại

trong quá trình hội nhập hiện nay

1 Tính tất yếu khách quan của xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế

trong giai đoạn hiện nay

2 Vai trò của Kinh tế đối ngoại đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kin

tế thế giới

3 Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở

Việt Nam

4 Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của các nước

trên thế giới và Việt Nam

B thực trạng và giải pháp

I Thực trạng

1.Những thuận lợi và khó khăn

a.Thuận lợi và cơ hội của VN khi phát triển Kinh tế đối ngoại

b.Khó khăn thách thức khi phát triển KTĐN

2 Những thành tựu và hạn chế

a Ngoại thương

b Đầu tư quốc tế

Trang 2

c Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ và du lịch quốc tế

d Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và khoa học - kỹ thuật

II.Giải pháp

1 Mục tiêu, phương hướng, nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao

hiệu quả Kinh tế đối ngoại

2 Giải pháp chủ yếu

2.1 Đảm bảo sự ổn định môi trường chính trị kinh tế, xã hội tạo điều kiện

thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đối ngoại

2.2 Đầu tư thoả đáng để xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh

tế – xã hội

2.3 Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong hoạt động Kinh tế đối

ngoại đảm bảo mục tiêu phương hướng và giữ vững được những nguyên

tắc cơ bản trong quan hệ kinh tế đối ngoại

2.4 Tận lực khai thác các nhân tố bên ngoài nhằm phát huy có hiệu quả các

nguồn lực bên trong đáp ứng nhu cầu phát triển của Kinh tế đối ngoại

2.5 Xây dựng và tìm kiếm đối tác trong quan hệ Kinh tế đối ngoại; tích cực

chủ động tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như khu vực

2.6 Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và xây dựng một số mũi

nhọn chủ yếu

2.7 Một mặt nâng cao năng lực khai thác khoa hộc công nghệ, một mặt bảo

đảm việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ nghiên cứu cũng như hoạt

động trong công tác đối ngoại

PHẦN III: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Phần I: Phần mở đầu

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế

quốc tế và khu vực đang trở thành một xu hướng khách quan của quan hệ kinh tế

hiện đại, trong đó đặc biệt quan trọng là việc nâng cao và mở rộng hiệu quả kinh tế

đối ngoại

Việt Nam ta đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa – nền kinh tế nước ta đang

xây dựng là nền Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa có sự điều tiết

của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, nền kinh tế đối ngoại

có ý nghĩa quan trọng và quyết định Điều này đã được khẳng định tại Đại Hội

Đảng toàn quốc lần thứ IX với chiến lược phát triển Kinh tế – Xã hội của nước ta

trong 10 năm, trong đó đặc biệt quan trọng : “ Tiếp tục mở rộng quan hệ Kinh tế

đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo đảm các cam kết trong

quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC, hiệp định thương mại Việt

– Mỹ và tiến tới gia nhập WTO … v v…”

Để đẩy nhanh quá trình chủ động hội nhập Kinh tế quốc tế và khu vực trong

bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam đã chủ động mở rộng các mối quan hệ song

phương cũng như đa phương về kinh tế với các nước nâng cao hiệu quả của hoạt

động Kinh tế đối ngoại Trong quá trình này cùng với những kết quả đã đạt được,

chúng ta cần phải xem xét đến những yếu kém vướng mắc chưa giải quyết để từ đó

đề ra mục tiêu, phương hướng, những giải pháp hữu hiệu cho nền Kinh tế đối ngoại

của nước ta trong giai đoạn hiện nay Muốn làm được những việc trên chúng ta

không thể không tìm hiểu, nắm vững và quán triệt các yêu cầu về phát triển và mở

rộng quan hệ Kinh tế đối ngoại Đây là việc làm cấp thiết, cần thiết và có ý nghĩa to

lớn

Trang 5

Trong đề án này, nhiều phương pháp đã được sử dụng để nghiên cứu như :

phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá, phương pháp logic, phương pháp so

sánh … v v…

Trong khuân khổ của một đề án kinh tế chính trị học, với phương pháp luận

hạn chế, tầm hiểu biết chưa cao, khi nghiên cứu một vấn đề lớn như đề tài này em

chỉ muốn giải quyết một phần nhỏ trong đó và chắc chắn em không tránh khỏi

những thiếu sót Em rất mong được sự chỉnh sửa và đánh giá của thầy cô

Trang 6

Phần II : Nội dung

A Một số vấn đề cơ sở lý luận :

I Những khái niệm cơ bản :

1 Kinh tế đối ngoại :

a Khái niệm về Kinh tế đối ngoại :

Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng

thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định

với các quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực

hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực

lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế

b Các hình thức chủ yếu của Kinh tế đối ngoại :

Kinh tế đối ngoại gồm nhiều hình thức như : hợp tác sản xuất, hợp tác hoá

khoa học công nghệ, ngoại thương, tín dụng quốc tế, các hoạt đọng dịch vụ như du

lịch quốc tế, giao thông vận tải, thông tin liên lạc quốc tế, đầu tư quốc

tế,.v.v…Trong các hình thức kinh tế đối ngoại trên thì : ngoại thương, đầu tư quốc

tế và dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất cần được

coi trọng

Ngoại thương là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua

hoạt động xuất nhập khẩu

Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vai trò vị trí trung

tâm và có tác dụng to lớn : góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của

mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi

quốc tế ; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ; “ điều tiết thừa thiếu” trong mỗi

nước, nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước Tạo công ăn

việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nhất là trong ngành xuất khẩu

Trang 7

Nội dung của ngoại thương bao gồm : xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá,

thuê nước ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là

trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung và ở nước ta nói

riêng

Đầu tư quốc tế :

Đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại Nó là

một quá trình trong đó có hai hay nhiều bên thuộc các quốc gia khác nhau cùng góp

vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi

Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Nó làm

tăng thêm nguồn vốn tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tao

thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

theo hướng hiện đại, tiếp cận nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới Mặt

khác, đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm gia tăng sự phân hoá giữa các giai cấp

tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm

môi trường sinh thái tăng tính lệ thuộc với bên ngoài

Có hai loại hình đầu tư quốc tế là : đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

- Đầu tư trực tiếp : là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng

quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực

tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm

về rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Đầu tư trực tiếp thực hiện dưới các

hình thức như : hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng ; xí nghiệp liên doanh mà

vốn do hai bên cùng góp theo tỷ lệ nhất định để hình thành xí nghiẹp mới có hội

đồng quản trị và ban điều hành chung ; xí nghiệp 100% vốn nước ngoài ; hợp đồng

xây dựng – kinh doanh – chuyển giao < BOT > v.v…

- Đầu tư gián tiếp : là loại hình đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử

dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn khômg trực tiếp tham gia vào việc tổ chức,

điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay hoặc lợi tức cổ phần,

hoặc có thể không thu lợi trực tiếp < nếu cho vay ưu đãi > Nguồn vốn đầu tư gián

Trang 8

tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức Trong đầu tư gián tiếp, chủ đầu tư thực

chất là tìm đường thoát cho tư bản dư thừa, phân tán đầu tư nhằm giảm bớt rủi ro

Đối với nước được đầu tư, thực chất là lợi dụng vốn của thế giới để thúc đẩy phát

triển kinh tế của nước mình Chủ thể đầu tư gián tiếp có thể là chính phủ, các tổ

chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.v v… với các hình thức như : Viện trợ có

hoàn lại < cho vay >, viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi hoặc không ưu đãi …

Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển

chính thức ( ODA ) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển Bộ phận

này có tỷ trọng lớn và thường đi kèm với điều kiện ưu đãi ODA bao gồm các

khoản hỗ trợ không hoàn lại, các khoản tín dụng ưu đãi khác do các tổ chức trong

Liên Hợp Quốc, các chính phủ, các tổ chức kinh tế quốc dân dành cho các nước

kinh tế chậm phát triển Các hình thức viện trợ chủ yếu của ODA là tiền mặt, hàng

hoá, tín dụng thương mại ưu đãi, hỗ trợ trương trình, hỗ trợ dự án Nguồn vốn hỗ

trợ này nhằm vào các mục đích dân số và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào

tạo, các vấn đề xã hội, nghiên cứu chương trình, dự án bảo vệ môi trường sinh thái,

hỗ trợ ngân sách và hỗ trợ nghiên cứu khoa học – công nghệ …vv

H ợp tác trong lĩnh vực sản xuất :

Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm nhận gia công, xây dựng xí nghiệp

chung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế

- Nhận gia công : do tác động của cách mạng khoa học – công nghệ các nước

công nghiệp đã tiến hành cải tổ cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tập trung ưu

tiên những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, chuyển những ngành có

hàm lượng lao động và nguyên liệu cao sang các nước đang phát triển Các ngành

có hàm lượng lao động cao cũng thích hợp với nước ta bởi vì chúng đòi hỏi ít vốn

đầu tư, việc đào tạo công nhân cũng nhanh chóng hơn việc đầu tư công nhân cho

các ngành có hàm lượng khoa học cao, đặc biệt với nước ta một nước có đông

người trong độ tuổi lao động ( khoảng 40 triệu người ) Do vậy nhận gia công cho

Trang 9

nước ngoài là một hình thức rất hợp lý, giúp tận dụng nguồn dự trữ lao động, tạo

nhiều việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có

- Xây dựng xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài : Xí

nghiệp chung thường tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm hữu

hạn tương ứng với số vốn đóng góp của các thành viên Các xí nghiệp này thường

được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu thay

thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện

cho nhà nước tiết kiệm ngoại tệ ở nước ta hiện nay, hình thức này đóng vai trò rất

quan trọng

- Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá : Hợp tác sản xuất quốc

tế có thể diễn ra theo những hiệp định hay hợp đồng giữa các bên tham gia, cũng có

thể hình thành theo kết quả cạnh tranh, do đầu tư và lập các chi nhánh của các công

ty xuyên quốc gia tại các nước Chuyên môn hóa bao gồm chuyên môn hoá những

ngành khác nhau và chuyên môn hoá trong cùng một ngành Hình thức hợp tác này

làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết với nhau, phụ thuộc

lẫn nhau

H ợp tác khoa học kỹ thuật :

Hình thức này gồm nhều dạng, được thực hiện bằng nhiều cách như trao đổi

những tài liệu khoa học kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh

nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân …

Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế

đối ngoại Xu thế hiên nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với các

Trang 10

hàng hoá khác trên thị trường thế giới Với Việt Nam, việc đẩy mạnh thu ngoại tệ

là việc làm cần thiết, giải pháp hữu hiệu để phát huy lợi thế của đất nước Chúng ta

nên tập trung, chú trọng phát triển và đầu tư thích đáng vào các hình thức thu ngoại

tệ chủ yếu sau :

- Du lịch quốc tế

- Vận tải quốc tế

- Xuất khẩu lao động ra nước ngoài tại chỗ

- Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác như : dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ

thông tin bưu điện, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn …

Phát triển Kinh tế đối ngoại là tiền đề của sự phát triển, đồng thời là đòn bẩy

thúc đẩy quá trình ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước

Lịch sử thế giới đã chứng minh vai trò rất quan trọng của ngoại thương nói

riêng và của Kinh tế đối ngoại nói chung đối với sự phát triển của mỗi quốc gia

C.Mác đã chỉ rõ : Nói chung không có ngoại thương thì phương thức sản xuất tư

bản chủ nghĩa không thể tồn tại V.I.Lênin khẳng định : “ không thể nào tưởng

tượng được một nước không có ngoại thương và sự thực cũng không có một nước

nào như vậy cả ” Trong thời đại nay, khi sự phân công lao động quốc tế diễn ra

ngày càng sâu rộng với những hướng chuyên môn hoá đa dạng, thì sự phụ thuộc

giữa các quốc gia về hàng hoá dịch vụ, vốn, công nghệ và thị trường ngày càng

tăng Thị trường thế giới ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển các

quốc gia Với Việt Nam ta, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đã xác

định mục tiêu tổng quát là : Đưa đất nước khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội,

phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân

dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh

Trang 11

hơn vào thế kỷ XXI Để đảm bảo những mục tiêu kinh tế – xã hội nêu trên, một

trong những vấn đề hết sức quan trọng là phải đẩy mạnh sự phát triển và mở rộng

kinh tế đối ngoại Phát triển kinh tế đối ngoịa là việc làm phù hợp với quy luật phát

triển chung của nền kinh tế mỗi nước, là gắn kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới

cũng như kinh tế khu vực, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế

Rõ ràng kinh tế đối ngoại là một bộ phận cực kỳ quan trọng của nền kinh tế

quốc dân, đóng vai trò một mũi nhọn Có tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống

kinh tế – xã hội, thúc đẩy sự phát triển không chỉ đối với nền kinh tế, mà còn cả đối

với các ngành các địa phương, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

2 Kinh tế quốc tế :

Kinh tế quốc tế là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên thế

giới có mối quan hệ hữu cơ và có tác động qua lại với nhau thông qua sự phân công

lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng

b Xu thế của nền kinh tế quốc tế :

- Xu thế toàn cầu hoá : là sự xác định chương trình hành động thống nhất

mang tính toàn cầu nhằm những mục tiêu nhất định và tuân theo những nguyên tắc

thống nhất Chương trình hành động thống nhất này bao gồm các mặt chính trị,

kinh tế, xã hội, phải phù hợp với quy luật khách quan như lực lượng sản xuất tương

ứng với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao, mang tính toàn cầu quyết

định

Toàn cầu hoá kinh tế sẽ hình thành nên một thị trường thế giới thống nhất,

một hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, là sự phân công lao động quốc tế theo

chiều sâu ; là sự phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế và khao học – công nghệ giữa

các quốc gia trên quy mô toàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo

vệ môi trường sinh thái

Trang 12

- Xu thế khu vực hoá : thực chất là sự liên kết kinh tế khu vực, thường diễn ra

đối với những quốc gia trong cùng một khu vực địa lý, với mức độ hợp tác, liên kết

khác nhau, tuỳ thuộc vào chính sách của quốc gia đó trong từng thời kỳ phát triển

Hình thức lên kết khu vực rất phong phú và đa dạng Mục đích chung nhất

của khu vực hoá kinh tế là nhằm hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, từng bước xoá bỏ những

cản trở trong việc di chuyển tư bản, lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ để cùng

phát triển, tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa các thành

viên trong khu vực

II Sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế

đối ngoại trong quá trình hội nhập hiện nay :

1 Tính tất yếu khách quan của xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền

kinh tế trong giai đoạn hiện nay :

Thứ nhất, khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế là một xu thế khách quan

mang tính quy luật đối với mọi quốc gia Toàn cầu hoá gắn liền với sự phát triển

các quan hệ kinh tế quốc tế, ngày nay đã phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu,

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp trong đó quan hệ mậu dịch quốc tế xuất

hiện sớm nhất Từ lĩnh vực lưu thông này, quan hệ kinh tế quốc tế chuyển sang các

lĩnh vực :

- Sản xuất quốc tế trong đó xuất khẩu tư bản, xuất khẩu công nghệ, lao động,

đầu tư trực tiếp là những hình thức phổ biến

- Tài chính – tín dụng quốc tế

- Các dịch vụ quốc tế như giao thông vận tải, thông tin liên lạc vv

Quốc tế hoá và khu vực hoá do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự

phân công lao động quốc tế quyết định Đó là quá trình tập trung sản xuất một số

sản phẩm hoặc cung ứng một số dịch vụ nào đó vào một hoặc nhiều quốc gia nhất

định trên cơ sở những lợi thế của mình Tham gia sự phân công lao động quốc tế

không những đáp ứng nhu cầu của quốc gia mình, mà còn đáp ứng nhu cầu của các

Trang 13

quốc gia khác, thông qua sự trao đổi quốc tế Chính sự phân công lao động quốc tế

này đã nảy sinh ra những xu hướng mới : phân công lao động quốc tế không chỉ

diễn ra trên phạm vi ngày càng rộng lớn bao quát nhiều lĩnh vực mà nó còn diễn ra

theo chiều sâu với các sản phẩm chứa hàm lượng khoa học kỹ thuật cao ; nó còn

làm xuất hiện ngày càng nhiều và nhanh các hình thức hợp tác mới về kinh tế, khoa

học – công nghệ chứ không đơn thuần là ngoại thương nữa ; đồng thời nó cũng làm

biến đổi nhanh chóng cơ cấu ngành và cơ cấu lao động trong từng nước và trên

phạm vi quốc tế

Thứ hai, Theo như " lý thuyết về lợi thế so sánh " của Adam Smith thì : theo

ông một dân tộc có hiệu quả kinh tế thấp hơn so với các dân tộc khác trong việc sản

xuất hầu hết các loại sản phẩm, vẫn có cơ sở tham gia vào phân công lao động và

thương mại quốc tế, tạo lợi ích cho dân tộc mình Theo ông một hàng hoá hoặc dịch

vụ có lợi thế tương đối là những hàng hoá mà việc tạo ra nó có bất lợi ít nhất và

ngược lại Và cũng theo lý thuyết này : " một quốc gia cho dù bất lợi trong sản xuất

các loại hàng hoá " dịch vụ so với các quốc gia khác, vẫn có thể tham gia thương

mại quốc tế nếu biết tận dụng sự chênh lệch về tiền lương và theo đó là tỷ giá giữa

hai đồng tiền nội tệ và ngoại tệ khi thực hiện trao đổi quốc tế Chính sự so sánh chi

phí sản xuất của sản phẩm này so với chi phí sản xuất của sản phẩm khác đã cho

phép kết luận rằng một quốc gia không nên sản xuất tất cả các sản phẩm mà chỉ nên

tập trung vào sản xuất một số sản phẩm có chi phí thấp nhất Thông qua việc mở

rộng sản xuất các sản phẩm chuyên môn hoá, một nước có thể trao đổi những sản

phẩm của mình với nước khác Như vậy, tất yếu thương mại quốc tế sẽ phải phất

triển cùng với quá trình khu vực hoá và quốc tế hoá nền kinh tế

Thứ ba, quốc tế hoá dẫn đến “mở cửa” và “hội nhập” của mỗi quốc gia vào

cộng đồng quốc tế trong đó có xu thế phát triển của thị trường thế giới Xu thế này

được biểu hiện dưới những hình thức cụ thể sau :Thương mại trong các ngành tăng

lên rõ rệt ; khối lượng thương mại trong nội bộ các tập đoàn trong kinh tế khu vực

Trang 14

không ngừng mở rộng ; thương mại công nghệ phát triển nhanh chóng ; thương mại

phát triển theo hướng tập đoàn hoá kinh tế khu vực

2 Vai trò của kinh tế đối ngoại đối với Việt Nam trong quá trình hội

nhập kinh tế thế giới :

Trên phương diện tổng thể, có thể khái quát vai trò to lớn của kinh tế đối

ngoại qua các mặt sau :

- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với nước ngoài, với sản

xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị thị trường trong nước và thị trường khu vực, thị

trường thế giới

- Góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn viện trợ chính thức

(ODA), thu hút khoa học kỹ thuật công nghệ cao, khai thác và ứng dụng kinh

nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta

- Góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghệp CNH - HĐH đất nước đưa nước ta

từ một nền nông nghiệp lạc hậu lên một nước công nghiẹp tiên tiến, hiện đại

- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ

thất nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu -

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

3 Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế

quốc tế ở Việt Nam :

a Sự cần thiết :

Như đã trình bày ở trên, khi quan hệ Kinh tế đối ngoại được duy trì và phát

triển tốt, song song với việc tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ sự ghiệp CNH -

HĐH đất nước, chúng ta còn có thể huy động và tận dụng tối đa nguồn lực bên

trong Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, diễn ra sự phát triển ngày càng cao của

lực lượng sản xuất, của sự phân công và hợp tác lao động quốc tế thì hiệu quả của

một nền kinh tế luôn iền với hiệu quả của hoạt động Kinh tế đối ngoại Đặc biệt là

Việt Nam ta đang trong quá trình hội nhập và mở cửa, đang coi hoạt động Kinh tế

Trang 15

đối ngoại là bước đi quyết định, đặc biệt quan trọng trong con đường tiến lên Chủ

nghĩa xã hội

b Quan điểm hội nhập, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

của Đảng và Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam :

Báo cáo Chính trị của ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại đại

hội đạbiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ : “ phát huy cao độ nội lực,

đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,

phát triển nhanh chóng, có hiệu quả và bền vững ” Báo cáo còn nhấn mạnh : “

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,

nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN,

bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ

môi trường ” Như vậy vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đã được Đảng ta đề ra

trong cả đường lối phát triển kinh tế – xã hội cũng như trong chủ trương, nhiệm vụ

mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá

Như vậy dựa vào tầm nhìn chiến lược của Đại hội IX của Đảng, chúng ta

có thể càng ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn xu thế toàn cầu hoá

kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, xuất phát từ tình hình thế giới và thực

tiễn của đất nước, ngay từ Đại hội Đảng VI, Đảng ta đã đưa ra quan niệm sáng suốt

: vừa phát triển mạnh mẽ nội lực, vừa đẩy mạnh quan hệ hợp tác với bên ngoài,

tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Đến Đại

hội IX Đảng ta một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh hơn là phải chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ còn là mục tiêu mà còn là

phương tiện dể chúng ta tận dụng các nguồn lực bên ngoài, nuôi dưỡng, phát huy

nguồn lực trong nước, xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, đáp ứng được yêu

cầu bản thân nước ta trong quá trình phát triển theo hướng đã lựa chọn, đồng thời

qua đó phát huy vai trò của nước ta trong sự nghiệp hợp tác và phát triển kinh tế

của khu vực và thế giới

Trang 16

Tư tưởng chủ động hội nhập mà Đại hội Đảng IX đưa ra hàm chứa không

chỉ phương trâm của hội nhập kinh tế quốc tế mà còn bao hàm cả những nội dung

công việc cần làm để có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều sâu Tinh

thần chủ động ở đây thể hiện cả sự tự tin, có đường đi nước bước, không vội vàng

hấp tấp đễ bị vấp ngã, nhưng cũng không chậm chạp chần chừ để lỡ thời cơ Chủ

động mang tính tích cực nhưng có bản lĩnh thận trọng và quyết đoán Chủ động hội

nhập còn là sự nắm vững quy luật, hiểu rõ tất yếu khách quan, chủ động đón nhận,

tận dụng khai thác, tạo ra cơ hội, chủ động phòng tránh những mặt trái cũng như

tiêu cực, chủ động lường trước đối phó, xử lý những khó khăn thách thức xuất hiện

khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế

4 Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với sự phát triển kinh tế

của các nước trên thế giới và Việt Nam :

a Những tác động tích cực của toàn cầu hoá kinh tế :

Toàn cầu hoá kinh tế, như đã đề cập ở trên là kết quả của sự phát triển vượt

bậc của lực lượng sản xuất, và đến lượt nó, lại tác động trở lại thúc đẩy sự phát

triển nhanh hơn của lực lượng sản xuất Hệ thống thị trường hàng hoá tài chính,

dịch vụ, lao động, giữa các quốc gia được kết nối với nhau, tạo nên những dòng

chảy vốn, hàng hoá, dịch vụ, lao động, công nghệ ngày càng tự do trong phạm vi

khu vực cũng như thế giới ; hỗ trợ cho mọi quốc gia tham gia toàn cầu hoá tăng

trưởng kinh tế và phát triển xã hội một cách nhanh chóng hơn Đó là tác động tích

cực mang tính tổng quát nhất của toàn cầu hoá kinh tế, mà thể hiện nổi trội và dễ

thấy nhất là giảm thiểu đói nghèo Điều này thể hiện đặc biệt rõ đối với các nước

đang phát triển tham gia vào quá trình toàn cầu hoá có chính sách đúng đắn và lựa

chọn bước đi thích hợp trong quá trình hội nhập Kinh tế quốc tế

ảnh hưởng của toàn cầu hoá kinh tế đối với nền kinh tế các nước thông qua

các tác động chủ yếu dưới đây :

- Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế tạo lợi thế so sánh cho các quốc gia tích cực

tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 17

- Thứ hai, tự do hoá thương mại toàn cầu đem lại cơ hội cho các quốc gia dân

tộc được hưởng thụ những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của nước khác, dân tộc

khác tạo ra.Tự do hoá thương mại toàn cầu từng bước tạo ra một thứ “ văn hoá tiêu

dùng ” toàn cầu, mà theo đó không gian được thu hẹp và dường như các biên giới

quốc gia ít còn hiện diện

- Thứ ba, tự do hoá thị trường tài chính gắn liền với tự do hoá đầu tư mở cửa

cho các dòng vốn lưu chuyển một cách tự do từ quốc gia này tới quốc gia khác Tự

do hoá thị trường tài chính tạo điều kiện cho các nguồn vốn lớn chảy vào các nền

kinh tế, đồng thời cũng làm tăng tốc độ và quy mô giao dịch tài chính toàn cầu

- Thứ tư, tạo điều kiện cho các nước tiếp cận với khoa học – kỹ thuật hiện đại

và đổi mới công nghệ thông qua các hoạt động chuyển giao công nghệ và tiếp nhận

; giúp cho các nước, nhất là các nước đi sau phát triển nhanh hơn, theo con đường

rút ngắn hoặc đi tắt, đón đầu

- Thứ năm, toàn cầu hoá kinh tế buộc các nước phải cơ cấu lại kinh tế quốc gia

một cách hợp lý, bảo đảm : Phát huy tối đa lợi thế so sánh, tạo ra những khối lượng

hàng hoá đủ lớn, có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đủ sức thâm nhập các thị trường

quốc tế

b Những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá kinh tế :

Có quan điểm cho rằng : “ Toàn cầu hoá không ác độc, nhưng mù quáng”

Thực vậy, là một xu thế khách quan, toàn cầu hoá kinh tế không muốn làm hại bất

cứ một quốc gia nào, nhưng ngày nay, do bị chi ph

ối bởi các đế quốc hùng hậu luôn áp đặt nền kinh tế thế giới theo ý đồ chủ

quan của chúng, cho nên quá trình này không có ít tác động tiêu cực đối với kinh tế

của nhiều quốc gia mà trước hết chủ yếu là kinh tế của các nước đang phát triển

- Thứ nhất, tác động rõ nhất và lớn nhất, mà ai cũng phải thừa nhận là toàn cầu

hoá kinh tế cáng mở rộng và gia tăng tốc độ thì sự phân hoá giàu nghèo giữa hai

Trang 18

nhóm quốc gia Bắc – Nam cũng như trong từng quốc gia ngày càng lớn, đặc biệt

với các nước phương Nam

- Thứ hai, toàn cầu hoá thu hẹp quyền lực của nhà nước quốc gia ; nó làm tăng

thêm quyết định ra quyền hạn của các công ty, đặc biệt là các công ty xuyên quốc

gia, và ngược lại, giảm thiểu quyền lực hoạch định chính sách của nhà nước dân

tộc

- Thứ ba, các thị trường tài chính xuyên quốc gia đang ngày càng tách rời khỏi

nền kinh tế, khỏi nền thương mại thế giới ; chúng tồn tại độc lập và ngày càng thoát

khỏi sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước quốc gia

c Những tác động chủ yếu của toàn cầu hoá kinh tế đối với Việt Nam

:

- Tác động tích cực :

Việt Nam đang trong quá trình CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước đi lên CNXH, cho nên hội nhập kinh tế quốc tế thông qua trao đổi

mậu dịch tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta sử dụng tối ưu về lợi thế các

nguồn lực Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội thuận lợi để các công

ty, các doanh nghiệp mở rộng quan hệ, tiếp cận phương thức quản lý tiên

tiến, thu hút công nghệ mới, đương đầu với cạnh tranh quốc tế Quá trình

hội nhập sẽ thúc ép doanh nghiệp trong nước phải tiến hành đổi mới, xoá

bỏ tính ỷ lại vào sự bảo hộ của nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả kinh

doanh, thúc đẩy sản xuất

Hoạt động Kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật - công nghệ, khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm quản

lý và xây dựng nền kinh tế hiện đại, tích luỹ vốn cho CNH - HĐH

Thực tế đã chứng minh, nhiều nước đang phát triển sau một thời gian tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đã thu được những kết quả quan

trong trong phát triển kinh tế - xã hội Các nước này đã thu hút và sử

dụng được một khối lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với việc sử

Trang 19

dụng và phát huy nguồn nội lực trong nước,nhiều nước đã thực hiện

chiến lược CNH hướng về xuất khẩu một cách linh hoạt, hiệu quả Do

vậy, tiềm lực kinh tế không ngừng được nâng cao, nhiều nước đã có đầu

tư ra nước ngoài, đặc biệt có thể đầu tư vào các nước phát triển( điển hình

như các nước Nics Châu á )

Mặt khác, nhờ thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, đi

cùng với nó là khả năng quản lý xây dựng nền kinh tế hiện đại của các

nhà doanh nghiệp nước ngoài, để các nước học hỏi kinh nghiệm áp dụng

trong quá trình sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, công ty của mình

Vốn để CNH- HĐH ở nước ta có từ hai nguồn Nguồn trong

nước và nguồn nước ngoài ( FDI và ODA ) Nguồn vốn nước ngoài hiện

nay có vị trí rất quan trọng, khi mà nguồn vốn trong nước chưa dồi dào,

đủ mạnh Thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

để tạo ra ngày càng lớn nguồn vốn trong nước, giảm bớt sự phụ thuộc về

vốn nước ngoài, thúc đẩy kinh tế tăng nhanh ổn định và bền vững

- Tác động tiêu cực :

Đằng sau những thành tựu đã đạt được, quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế có những mặt trái của nó, đó là tính phụ thuộc, dễ bị tổn thương

rất lớn của nền kinh tế vào nước ngoài Nên sự phát triển tỏ ra chưa chắc

chắn, điều này thể hiện qua một số khía cạnh:

Th ứ nhất, nền kinh tế dễ bị ảnh hưởng khi sảy ra khủng hoảng

kinh tế thế giới Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là chấp nhận “ luật

chơi chung ”, các rào cản thương mại bị xoá bỏ Sự phụ thuộc lẫn nhau

ngày càng chặt chẽ Do đó, những biến động ở bất kỳ một khâu trong nền

kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế

Trang 20

Th ứ hai, các nước công nghiệp phát triển có lợi thế hơn hẳn về phát

triển kinh tế Các nước đang phát triển ngày càng bị phụ thuộc vào tài

chính của các nước phát triển, biểu hiện rõ nét nhất đó là nợ nần chồng

chất Những khoản nợ quá lớn( khỏng trên 2000tỷ $ ) là gánh nặng kéo

lùi tốc độ phát triển kinh tế Riêng Việt Nam, nợ GDP 2002 là 40%

triển ngày càng dãn ra Các nước giàu ngày càng giàu thêm, và các nước

nghèo ngày càng ngèo đi do đó tình trạng bị bóc lột là không tránh khỏi

Mặc dù, trong hoạt động kinh tế đối ngoại có những mặt tiêu cực như trên,

nhưng xu hướng hiện nay là toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ

những mặt lợi đồng thời hạn chế mặt tiêu cực, tận dụng tối đa hiệu quả Kinh tế đối

ngoại để nâng cao sức mạnh và vị thế của từng nước để tránh bị phân biệt đối sử là

cần thiết và quan trọng Do đó, các nước nghèo không thể đứng ngoài cuộc chơi

chung :Toàn cầu hoá - quốc tế hoá nền kinh tế thế giới

B Thực trạng và giải pháp :

I.Thực trạng :

1 Những thuận lợi và khó khăn :

a Thuận lợi và cơ hội đối với Việt Nam khi phát triển quan hệ kinh tế

đối ngoại :

Điều kiện khách quan :

Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới củ quá trình phát triển kinh tế thị

trường, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội mà ở đó phân

công lao động quốc tế và quốc tế hoá trở thành chủ yếu Tham gia vào toàn cầu hoá

kinh tế các quốc gia vẫn hoàn toàn độ lập về chính trị, xã hội, vẫn là các chủ thể tự

quyết định ý thức hệ, vân mệnh và con đường của mình.Toàn cầu hoá kinh tế cho

Trang 21

các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau về vốn, kỹ thuật, công nghệ nguyên

liệu và thị trường Đến nay toàn cầu hoá kinh tế đã cuốn hút nhiều quốc gia ở khắp

các châu lục, đã có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và đang hoạt

động Đây là một sự phát triển mới chưa từng có Toàn cầu hoá kinh tế, mặc dù cho

đến nay vẫn có những quan điểm trái ngược nhau, nhưng rõ ràng là một xu thế phát

triển của thời đậi không thể khác được Chỉ quốc gia nào bắt kịp xu thế này, tận

dụng được cơ hội, vượt qua thách thức mới đứng vững và phát triển Cự tuyệt hay

khước từ toàn cầu hoá kinh tế tức là tự gạt mình ra ngoài lề của sự phát triển

Toàn cầu hoá kinh tế đưa ra một hệ quả tất yếu là các quốc gia phải mở

cửa để hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việt nam đã và đang tích cực tham gia

vào xu thế này, từng bước ký kết các hiệp địng thương mại song phương, khu vực

và đa phương Đến nay nước ta đã là thành viên của tổ chức khu vực thương mại tự

do Đông Nam á ASEAN ( AFTA ) và của Diễn đàn kinh tế Châu á - Thái Bình

Dương ( APEC ), đã ký kết hiệp định thương mại song phương với Mỹ, chuẩn bị

gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Các quan hệ với Nhật Bản, EU, Nga,

Trung Quốc v v đang được tiếp tục tăng cường và mở rộng

Điều kiện chủ quan :

 Thứ nhất, đó là con người Việt Nam và nguồn nhân lực : Dân số nước

ta hiện nay vào khoảng trên 80 triệu dân, trong đó có khoảng hơn 40 triệu người ở

độ tuổi lao động Lợi thế của nước ta trên phương diện số lượng chỉ có tính chất

tương đối Nhiều nước ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương có nguồn nhân lực dồi

dào hơn nước ta như Trung Quốc, ấn Độ, Pakistan, Indonesia.v v Nhưng lợi thế

quan trọng cần được khai thác có hiệu quả là yếu tố con người Việt Nam, thực chất

là trí tuệ, tay nghề của dân tộc Việt Nam Mặt mạnh của con người Việt Nam đã

được nước ngoài thừa nhận là thông minh, sáng tạo, có khả năng nhắm bắt nhanh

khoa học công nghệ, có năng khiếu về một số ngành khoa học cơ bản như toán,

hoá, tin học ; có khả năng tiếp thu nhanh những bí quyết kỹ thuật, có tay nghề khá

Người Việt Nam lai có truyền thống cần cù và có một nền tảng văn hoá tương đối

Trang 22

vững chắc Với số lượng lao động nhiều như hiện nay ở Việt Nam, giá nhân công

do đó cũng thấp, đây cũng là một lợi thế đáng kể trong giai đoạn trước mắt trong sự

trao đổi, phân công lao động quốc tế

 Thứ hai, thiên nhiên đã phú cho nước ta những tài nguyên đa dạng (

đất rừng, biển, khoáng sản, cảnh quan ) tạo ra lợi thế khách quan trong quan hệ

kinh tế – thương mại quốc tế Về tài nguyên đất, với diện tích 330.000 km2 Việt

Nam xếp thứ 58 trong 200 nước trên thế giới Do xu hướng dân số tăng nhanh

khiến cho diện tích đất bình quân đầu người có xu hướng giảm ( 0.51 ha trên một

người năm 1990 giảm xuống còn 0.44 ha/người năm 2000 ) Trong đó quỹ đất canh

tác nước ta chỉ có khoảng 10 triệu ha, đất tốt không phải cải tạo, đầu tư nhiều chỉ

chiếm khoảng 7 triệu ha Ngoài ra nước ta còn có những loại tài nguyên quan trọng

khác như : tài nguyên rừng (chiếm khoảng 20% diện tích cả nước – cung cấp nhiều

loại gỗ có giá trị xuất khẩu cao ); tài nguyên biển – không những khai thác được

một khối lượng lớn thuỷ hải sản ( khoảng 500 triệu tấn hàng năm ) mang lại nguồn

thu xuất khẩu đáng kể mà đay cũng là một lợi thế lớn về giao thông, vận tải đường

thuỷ, rất thuận tiện cho việc xuất nhập cảng phục vụ cho ngoại thương phát triển;

khoáng sản có tiềm năng lớn như dầu mỏ khí đốt, than đá, apatit, boxit vv những

khoáng sản này là một lợi thế quan trọng của nước ta trong lĩnh vực hợp tác đầu tư

trực tiếp nước ngoài, và là một trong những chủ bài quan trọng trong việc tạo ra các

hàng hoá mũi nhọn xuất khẩu ; tiềm năng du lịch, về mặt này nước ta có những lợi

thế quan trọng, có khả năng thu hút khách nước ngoài

 Thứ ba, Việt Nam ta có một cơ sở vững vàng về chính trị, ổn định xã

hội phát huy nội lực, phát triển kinh tế nâng cao sức mạnh cạnh tranh của cả nền

kinh tế, của từng ngành, từng doanh nghiệp Chúng ta đã dựa vào tiềm lực kinh tế

của đất nước trong mọi lĩnh vực, mọi ngành hàng, khai thác và phát huy tính linh

hoạt và khả năng thích nghi của nền kinh tế nhiều thành phần Từ đó, Đảng và Nhà

nước ta đã chủ trương xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công

Trang 23

nghiệp hoá - hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập ; xây dựng chiến lược phát triển, mở

rộng thị trường trong và ngoài nước ; xác định ngành mũi nhọn cần ưu tiên phát

triển

 Thứ tư, nền kinh tế Việt Nam đng tiếp cận đến là nền kinh tế tri thức,

chúng ta đang tập trung phát triển nguồn trí lực đủ tầm để chủ động trong hội nhập

kinh tế quốc tế và khu vực cũng như quan hệ chung với thế giới hiện đại Việt Nam

đang từng bước tiếp cận và tìm được mũi nhọn đột phá vào kinh tế tri thức để nâng

cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, khi phát huy được lợi thế này chúng ta sẽ có

thêm một điều kiện quan trọng nữa để có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

b Khó khăn, thách thức khi phát triển Kinh tế đối ngoại của Việt

Nam :

Mặc dù hơn 15 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cao bình quân

khoảng 6% một năm, lại không bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng kinh tế –

tài chính như các nước khác, nền kinh tế đã có bớc phát triển vượt bậc, nhưng hiện

tại nước ta vẫn là một nước tụt hậu khá xa so với các nước phát triển cũng như so

với các nước đang phát triển trong khu vực Đây là một thách thức lớn trong hội

nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân ta

Về ngoại thương, trên thị trường nội địa, hiện tại giá thành sản xuất của

nhiều sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm chủ yếu của ta còn cao hơn giá chuẩn

quốc tế, giá xuất xưởng cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại nhập khẩu, nên sức

cạnh tranh về giá của ta còn rất yếu Trong khi đó trên thị trường thế giới, hàng

xuất khẩu của ta chủ yếu vẫn gồm các loại nguyên liệu và sản phẩm sơ chế như dầu

thô, gạo, cà phê, chè, cao su đây là những mặt hàng rất dễ bị tác động xấu về giá

cả Các loại sản phẩm trong công nghiệp chế biến còn thiếu Khả năng cạnh tranh

trên thị trường thế giới là thấp do sản lượng tương đối ít, chất lượng, mẫu mã sản

phẩm thấp, giá thành cao Do vậy muốn phát triển ngoại thương chúng ta cần phải

có những bước đi mới, phù hợp hơn, đúng đắn hơn

Trang 24

Đồng thời, cũng xuất phát từ nhận thức chưa nhất quán về nội dung, bước

đi cũng như lộ trình hội nhập ; sự thanm gia thiếu đồng bộ của các ngành, các cấp

và những doanh nghiệp vẫn còn những tồn tại đáng kể trong đó có việc xem nhẹ,

coi hội nhập là công việc của cơ quan cấp trên, dẫn đến tình trạng, mặc dù nhiều

cam kết hội nhập kinh tế của Việt Nam như AFTA trong ASEAN, cam kết trong

hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được triển khai thực hiện rất sớm nhưng

do yếu kém về nhận thức nên vẫn còn nhiều cơ quan địa phương và doanh nghiệp

chưa thực sự xây dựng triển khai và thực hiện kế hoạch của mình để chuẩn bị thực

hiện cam kết đó

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, sự phát triẻn mạnh

mẽ của nền sản xuất – công nghiệp thế giới cũng đang đặt chúng ta trước một yêu

cầu phải nhanh chóng điều chỉnh, chuyển đổi lại cơ cấu sản xuất - đầu tư để nâng

cao năng lực cạnh tranh ở cả 3 cấp độ : quốc gia, doanh nghiệp và ngành hàng

Cùng với việc thực hiện các cam kết tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại, hàng hoá

dịch vụ và đầu tư đòi hỏi trong cơ cấu sản xuất đầu tư của nền kinh tế phải có

những ngành kinh tế mũi nhọn có hiệu quả cao và có đủ sức cạnh tranh trên thị

trường Quốc tế

Đặc biệt, đội ngũ doanh nghiệp còn non trẻ của Việt Nam đang đứng

trước nguy cơ phải đương đầu với cạnh tranh khốc liệt trên cả thị trường trong

nước và quốc tế Hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn nặng tư tưởng trông chờ vào sự

bảo hộ của nhà nước Nhiều doanh nghiệp của ta yếu cả về khả năng cạnh tranh và

yếu về hợp tác với nhau ra thị trường quốc tế

Cùng với những thách thức trên chúng ta cần phải nhìn nhận sự thật

khách quan và có nhận thức về những khó khăn cũng không kém phần nan giải, đó

là việc điều chỉnh hệ thống pháp luật chính sách cho phù hợp với cam kết quốc tế

và tạo điều kiện phát triển nền kinh tế ổn định, an toàn, bền vững Việc bồi dưỡng

đào tạo năng lực cán bộ và con người cũng như các biện pháp khắc phục những tác

động tiêu cực do hội nhập kinh tế đem lại

Trang 25

2 Những thành tựu và hạn chế :

a Ngoại thương : Ngoại thương Việt Nam đi từ khởi điểm rất thấp, thiết

lập từ mối quan hệ với các nước Xã hội chủ nghĩa phất triển dần lên hình thành hai

giai đoạn rõ rệt: từ 1976 đến 1990 và từ 1991 đến nay Với việc mở rộng quan hệ

kinh tế đa phương với nhiều nơi trên toàn thế giới đã góp phần quan trong vào việc

thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nước ta trong thập niên cuối thế kỷ XX Điều

này được thể hiện rõ nết ở hoạt động ngoại thương nước ta thông qua các hoạt động

xuất, nhập khẩu

1 Xu ất khẩu : Từ chỗ là chúng ta là một nước chỉ nhập hàng viện trợ và

xuất khẩu hàng trả nợ mỗi năm vài trăm triệu USD, đến nay chúng ta đã có nhiều

mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD một năm như: dầu thô, hàng dệt may, giày

dép Một số nông sản Việt Nam đã và đang vươn lên thứ hạng cao ở thị trường

thương mại thế giới: gạo đứng thứ hai, hạt điều, cà phê đứng ỏ vị trí thứ 3 và thứ 4

Thuỷ sản chế biến và 200 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu đang tiếp tục tăng, chiếm

lĩnh nhiều nơi trên thị trường quốc tế, kể cả các thị trường tiêu thụ khó như Nhật

Bản, Tây Âu, Bắc Mỹ

Chúng ta tuy có những thành tựu đáng kể trong hoạt động xuất khẩu trên,

nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu tính bằng USD bình quân đầu người nước ta vẫn

còn rất thấp so với các nước trong khu vực và mức bình quân chung của thế giới

Năm 1997, Việt Nam chỉ đạt 149 USD /người trong đó Inđônêxia là 316

USD/người, Philipin là 545, Thái Lan 1087, Malaixia 4222, Singapo 52.484 Tài

liệu về chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới ( WB ) năm 1999 cho biết: tốc độ

tăng trưởng GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 1997 so với năm 1991 chỉ

tăng 1,60 và 1,44 lần trong khi đó ở Thái Lan : 1,85 và 1,73 ; philipin : 1,91 và 1,62

; Inđônêxia : 2,14 và 1.81 ; Trung Quốc : 2,48 và 2,32 Trong tổng lượng hàng

hoá xuất khẩu của Việt Nam, chủ yếu vẫn còn ở dạng nguyên liệu thô, trình độ kỹ

thuật công nghệ chế biến thấp, mẫu mã chủng loại chưa phong phú nên giá trị thấp,

Trang 26

sức cạnh tranh yếu Phần lớn ta chỉ tăng số lượng để tăng kim ngạch xuất khẩu Vì

thế ở nhiều mặt hàng xuất khẩu, khối lượng lớn mà hiệu quả kinh tế thấp Kể cả

những mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, dầu thô, cao su, nông lâm thuỷ

sản chúng ta cũng xuất khẩu dưới dạng sơ chế là chủ yếu Đó là những dấu hiệu về

sự kém cỏi cần sớm khắc phục, nếu không sẽ dẽ bị tụt hậu trong quá trình hội nhập

Bởi vì các lợi thế về tài nguyên và lao động rẻ đang bị giảm dần, tiến bộ công nghệ

kỹ thuật cao sẽ là những ưu tiên phát triển ở những giai đoạn tiếp theo

Để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này, chúng ta sẽ xem cơ cấu hàng xuất khẩu

chủ yếu qua bảng biểu sau :

Bảng biểu 1 : các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1990 –

Trang 28

của 10 mặt hàng từ trên xuống

Số liệu ở bảng biểu số 1 phản ánh sự thay đổi các mặt hàng xuất khẩu chủ

yếu của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2001 Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu

hàng đầu năm 1990 đến năm 1996 chỉ còn lại 8 mặt hàng ( Rau quả và hạt tiêu đã

bị loại ) ; đến năm 2001 thì 4 mặt hàng có mặt trong năm 1990 là : hạt điều, cao su,

hạt tiêu và than đá không còn nằm trong nhóm 10 Những mặt hàng mới lọt vào

trong nhóm 10 này là hàng linh kiện điện tử, sản phẩm đồ gỗ ; nhóm hàng rau quả

đã trở lại trong nhóm 10 Các mặt hàng dầu thô, hải sản dệt may – giày dép, gạo

khá ổn định trong nhóm 5 kể từ năm 1992 đến năm 2001 Gọi là 10 mặt hàng xuất

khẩu chủ yếu vì từ năm 1992 nó đã chiếm trên dưới 75% tổng kim ngạch xuất khẩu

hàng năm và sự thay đổi trong nhóm ấy nói chung là rất chậm Bảng trên cũng cho

thấy sự thay đổi về số lượng và giá cả của những mặt hàng nói trên trong các năm

1999, 2000, 2001 ở hầu hết các mặt hàng dầu thô, gạo cao su, cà phê than đá hạt

tiêu, đều có tỷ lệ tăng tổng kim ngạch nhanh hơn số lượng so với năm trước trong

các năm 1999 – 2000 thì tình hình năm 2001 đã diễn ra ngược lại : có mặt hàng giá

chỉ giảm vào khoảng 5- 10% như cao su, chè, một số giảm đến 15% như gạo nhưng

có loại giảm đến 40% như cà phê và 60% như hạt tiêu Nhìn chung giá của các loại

nông sản đã giảm đến 22% trong năm 2001, nên mặc dù khối lượng xuất khẩu nông

sản đã tăng so với năm trước nhưng giá các loại nông sản xuất khẩu đã giảm mạnh

hơn, nên kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2001 vẫn thấp hơn năm 2000

2 Nh ập khẩu :

Trang 29

Nhập khẩu là một lĩnh vực quan trong trong hoạt động ngaọi thương của

nước ta Hoạt động nhập khẩu không chỉ tác động trực tiếp đến phát triển và

chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước mà còn ảnh hưởng rất lớn đến toàn bbọ nền

kinh tế của cả nước Hoạt động nhập khẩu trong mấy chục năm qua đã đạt được

những thành tựu to lớn góp phần đáng kể để đưa nền kinh tế của đất nước không

ngừng đi lên

Trong những năm gần đây hàng nhập khẩu của ta đã đạt được những tiến bộ

rõ rệt, nhập khẩu chủ yếu để phuục vụ sản xuất, phát triển kinh tế và đầu tư khoa

học kỹ thuật Về cơ cấu hàng nhập khẩu: tư liệu sản xuất chiếm 85%, hàng tiêu

dùng chiếm 15% góp phần đổi mới về chất của nền kinh tế, tăng cơ sở vật chất kỹ

thuật Năm 200, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 15,2 tỷ USD, tăng 30,8% so với

năm 1999 Trong 8 tháng đầu năm 2003 kim ngạch nhập khẩu đạt 16,2 tỷ USD

tăng 33,3% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó khu vực kinh tế trongg nước nhập

khẩu 10,5 tỷ USD tăng 30,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 5,7 tỷ

USD tăng 38,8% Kim ngạch nhập khẩu tăng cao ở hầu hết các mặt hàng nhất là

những hàng hoá phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước và nhập khẩu như : máy

móc thiết bị, xăng dầu, sắt thép

Thị trường nhập khẩu cũng như xuất khẩu được mở rộng sau hiệp định

thương mại Việt - Mỹ, nhập khẩu từ Mỹ về Việt Nam sẽ được phát triển đặc biệt là

việc nhập khẩu những máy móc công nghệ hiện đại tránh tình trạng mua phải

những máy móc công nghệ lạc hậu qua các nguồn trung gian

Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu còn không ít những nhược điểm ảnh

hưởng đến tăng trưởng kinh tế, ổn địng trính trị, bảo đảm an ninh quốc gia :

- Nhập khẩu không có kế hoạch làm cho giá cả lên xuống thất thường, một số

mặt hàng kim ngạch nhập khẩu tăng nhưng chủ yếu do tăng giá chứ không tăng

nhiều về số lượng

- Lợi dụng những điểm chưa chặt chẽ của luật thuế để trốn thuế nhập văn hoá

nhập -phim ảnh đồi truỵ

Ngày đăng: 18/04/2013, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh t"ế" chính tr"ị" Mác - Lênin
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 2002
2.Văn kiện Đại Hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ đại hội VI - Đại hội IX 3.C.Mác : Tư bản ( quyển 1 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i H"ộ"i "Đả"ng C"ộ"ng s"ả"n Vi"ệ"t Nam" từ đại hội VI - Đại hội IX 3.C.Mác : "T"ư" b"ả"n (
4. LêNin : Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường (Toàn tập - tập 1 ) Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa đế quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn v"ề" cái g"ọ"i là v"ấ"n "đề" th"ị" tr"ườ"ng "(Toàn tập - tập 1 ) " Ch"ủ" ngh"ĩ"a "đế" qu"ố"c - Giai "đ"o"ạ"n phát tri"ể"n t"ộ"t cùng c"ủ"a ch"ủ" ngh"ĩ"a "đế" qu"ố
5.TS. Lưu Đạt Thuyết : Toàn cầu hoá kinh tế và chính sách hội nhập Kinh tế quốc tế của Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn c"ầ"u hoá kinh t"ế" và chính sách h"ộ"i nh"ậ"p Kinh t"ế" qu"ố"c t"ế" c"ủ"a Vi"ệ"t Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội 2003
6.PGS. Lưu Văn Đạt : Đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý Knh tế đối ngoại,NXB Chinhs trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: i m"ớ"i và hoàn thi"ệ"n chính sách và c"ơ" ch"ế" qu"ả"n lý Knh t"ế đố"i ngo"ạ"i
Nhà XB: NXB Chinhs trị quốc gia
7.Các tạp chí, báo : * Tạp chí cộng sản* Tạp chí Kinh tế đối ngoại * Tạp chí Nghiên cứu và trao đổi * Tạp chí kinh tế và dự báo * Tạp chí con số và sự kiện * Báo đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: * T"ạ"p chí c"ộ"ng s"ả"n " * T"ạ"p chí Kinh t"ế đố"i ngo"ạ"i * T"ạ"p chí Nghiên c"ứ"u và trao "đổ"i * T"ạ"p chí kinh t"ế" và d"ự" báo * T"ạ"p chí con s"ố" và s"ự" ki"ệ"n * Báo "đầ"u t

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng biểu số 2 : Xuất nhập khẩu khu vực và đồng tiền chuyển đổi tỷ giá. - Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong quá trinh hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay
Bảng bi ểu số 2 : Xuất nhập khẩu khu vực và đồng tiền chuyển đổi tỷ giá (Trang 30)
Bảng Biểu số 3 : Du lịch quốc tế từ năm 1989 đến năm 1995 - Thực trạng và giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong quá trinh hội nhập với khu vực và thế giới trong giai đoạn hiện nay
ng Biểu số 3 : Du lịch quốc tế từ năm 1989 đến năm 1995 (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w