Thể chế hành chính cũng phải được tiếp cận từ hai giác độ: - Đó cũng là một loại thể chế nhà nước – các tổ chức của nhà nước - Đó là một loại thể chế riêng, phân biệt với các thể chế nhà
Trang 1PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀCẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1 1 Khái niệm chung.
Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến "lịch sử hành chính Việt Nam" Đặc biệt Chínhphủ đã có những công trình nghiên cứu về lịch sử Chính phủ Tuy nhiên, cần nhìnnhận một cách chính xác hơn về cách tiếp cận để nghiên cứu lịch sử cũng nhưnhững hoạt động cải cách hành chính nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn khácnhau
Trước hết cần nhận thức đúng về thuật ngữ hành chính trên phương diện khoa học
hành chính để từ đó tiến hành nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam cũng nhưcải cách hành chính qua từng giai đoạn bao gồm những nội dung cơ bản gì
Không ít tài liệu nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam đã đề cập đến lịch sử củahành chính từ những khi nhà nước Việt nam ra đời, bao gồm cả thời kỳ phongkiến Điều đó đã không nhận thức đúng bản chất của thuật ngữ hành chính dướigiác độ khoa học hành chính
Thuật ngữ hành chính "Administration" trên phương diện khoa học xuất hiện khihoạt động quản lý nhà nước bắt đầu có sự phân chia thành các nhóm quyền lực: lậppháp, hành pháp và tư pháp Chính vì vậy, khoa học nghiên cứu việc sử dụngquyền lực nhà nước đã có từ ngay khi có nhà nước ra đời và sử dụng quyền lực nhànước bởi những chủ thể khác nhau, nhưng trong thời kỳ phong kiến khái niệmquyền lực và sử dụng quyền lực nhà nước mang tính tập quyền rất lớn Hệ thốngpháp luật chưa hình thành và có "mần mống của pháp luật cũng chỉ là pháp luật do
Trang 2một người đề ra để cai trị nhiều người” Xét xử hay vận hành hệ thống đó cũng chỉtuân thủ theo nguyên tắc "vua là thiên tử" Chính vì vậy, nghiên cứu hành chínhcủa những thời kỳ phong kiến là một trong những xu hướng "nghiên cứu nhà nướchơn là nghiên cứu hành chính” Không ít công trình không phân biệt giữa hai phạmtrù “nhà nước – quản lý nhà nước” và hành chính như là một yếu tố cấu thành củaquản lý nhà nước Không ít nhà sử học đã đồng nhất hai khái niệm nhà nước và
hành chính hay có một sự nhầm lẫn rất lớn giữa “quản lý nhà nước” và “khoa học hành chính”
Một số người đồng nhất nghiên cứu lịch sử quốc gia, hình thành và phát triển nhànước của quốc gia đó gắn với nó là lịch sử hành chính lại là một cách tiếp cận "sailệch và không hiểu gì về khoa học hành chính" Khoa học hành chính không phải
là nghiên cứu đồ đồng, đồ sắt hay nông nghiệp lúa nước hay lúa nương Khôngphải vua có bao nhiêu vợ hay vua hiền hay vua ác Một sự đồng nhất giữa lich sửquốc gia, lịch sử nhà nước với lịch sử hành chính (với nghĩa là khoa học hànhchính) là một sự nhầm lẫn và thực sự chưa hiểu bản chất của thuật ngữ “hànhchính” này
Hành chính gắn với nghĩa với quản lý không có nghĩa là quản lý là hành chính.Hành chính chỉ là một trong những dạng của quản lý Chính vì vậy, khoa học hànhchính và khoa học quản lý có những vùng giao thoa Điều đó cũng tương tự nhưhành chính với nhà nước Hành chính và quản lý nhà nước cũng có những phầngiao thoa, nhưng không có nghĩa “quản lý nhà nước” là “hành chính nhà nước ”
1 2 Những yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước.
Trang 3Nghiên cứu khoa học hành chính cũng chính đồng nghĩa nghiên cứu cơ sở khoahọc, lý luận cũng như thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước của một bộ phận cấuthành nhà nước Đó cũng chính là nghiên cứu những nền tảng của hoạt động sửdụng một trong ba nhóm quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Khi ba quyền này không có sự phân chia và không hình thành những kháiniệm cân bằng, phân công, phối hợp, nghiên cứu đó sẽ thiên về nghiên cứu nhànước và quyền lực nhà nước.
Nghiên cứu khoa học, lý luận và thực tiễn của hành chính cũng chính là nghiên cứunhững nền tảng cơ bản để cho hệ thống này vận hành Có thể nghiên cứu tập trungvào các nhóm yếu tố:
- Những yếu tố về quản lý và sử dụng nguồn lực trong cá tổ chức được gọi là
cơ quan hành chính nhà nước (trung ương và địa phương)
- Những phương pháp, cách thức các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng
để đạt được mục tiêu
- Những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của hệ thốngcác tổ chức trên
- Khác
Mục tiêu của đề tài này, không nghiên cứu cả các yếu tố trên trong giai đoạn lịch
sử của Việt nam từ 1945-2005 Vấn đề chủ yếu của nhóm nghiên cứu là tập trungvào các dữ liệu có được để hình thành ra một bức tranh về hành chính nhà nước
Trang 4Việt Nam qua các giai đoạn và các hoạt động cải cách hành chính chủ yếu gắn vớitừng giai đoạn
Nghiên cứu cải cách hành chính gắn liền vào từng giai đoạn nhưng không có điềukiện để mô tả những nét lịch sử môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá, trong đócác tổ chức hành chính trung ương - địa phương tồn tại, vận động và phát triển Đócũng có thể là một hạn chế
Nghiên cứu cải cách hành chính qua các giai đoạn phát triển của nhà nước Việtnam từ 19945 lại nay sẽ tập trung trên các nội dung chủ yếu các yếu tố cấu thành
hệ thống hành chính nhà nước theo tư duy của khoa học hành chính (cổ điển cũngnhư hiện đại) Có thể có khá nhiều thuật ngữ sử dụng từng giai đoạn không đồngnghĩa với nhau, nhưng bản chất có thể không khác biệt nhiều Đó cũng là điều màcác nhà khoa học xã hội và khoa học hành chính cần chú ý
1.2.1 Thể chế hành chính
Đây là những vấn đề gây khá nhiều tranh luận xung quanh thuật ngữ thể chế và do
đó cả thể chế hành chính Nhiều nhà nghiên cứu pháp luật xem xét khía cạnh thểchế từ giác độ pháp luật Và do đó coi thể chế là các loại văn bản pháp luật hoạtđộng của hành chính Cách tiếp cận đó có thể khó phân biệt thể chế hành chínhtheo nghĩa hoạt động cụ thể của từng loại cơ quan hành chính
Thể chế theo nghĩa thông thường (institution) được quan niệm gắn liền với một “tổchức chính thức” và có những cách tiếp cận mang tính pháp lý, quy định chung cho
sự hoạt động của “tổ chức” đó Không có khái niệm “bệnh viện” nếu như bệnhviện không hình thành “tổ chức” và không có những quy định chung cho sự tồn tại
và hoạt động của bệnh viện Bệnh viện do đó có cả bệnh viên tư và bệnh viện công.Mỗi loại bệnh viện đều được thừa nhận là một thể chế Chỉ khác nhau cơ bản về sự
Trang 5hoạt động của hai loại bệnh viện trên thông qua những quy định cho sự hoạt động.
Cả hai loại có thể phải có những nét chung (có thể do pháp luật nhà nước quy định;cũng có thể do hiệp hội bệnh viện quy định) Nhưng mỗi một bệnh viện lại có thể
có những quy định khác chỉ có ở loại bệnh viện đó và nhân viên bệnh viện phảituân theo
Thể chế hành chính cũng phải được tiếp cận từ hai giác độ:
- Đó cũng là một loại thể chế nhà nước – các tổ chức của nhà nước
- Đó là một loại thể chế riêng, phân biệt với các thể chế nhà nước khác (lậppháp, tư pháp)
Trong điều kiện cụ thể của thể chế hành chính, có thể có nhiều loại thể chế hànhchính khác nhau Đó chính là hệ thống của các cơ quan hành chính nhà nước từtrung ương đến tận cơ sở với những quy định mang tính pháp luật (Hiến pháp,lụât, pháp lệnh, sắc lệnh, nghị quyết, văn bản lập quy, ) về sự tồn tại, vận đồng vàphát triển của hệ thống các cơ quan đó Về tổng thể thể chế hành chính, tuy theotừng giai đoạn cụ thể cũng như điều kiện pháp luật của quốc gia, các loại thể chếhành chính nhà nước được xác định từ văn bản pháp luật nhà nước cao nhất (đạoluật gốc, cơ bản – hiến pháp) hay các văn bản khác Ví dụ, trong điều kịên cụ thểcủa Hiến pháp đầu tiên của VIệt nam, các thể chế hành chính nhà nước chưa đượcxác định một cách chi tiết Do đó, nhiều loại thể chế hành chính ra đời do các vănbản pháp luật thấp hơn quy định và tuỳ theo từng thời kỳ có sự khác nhau Cónhững thể chế mới được thay thế, bổ sung bằng văn bản dưới luật, sắc lệnh, Nhiều nước, hiến pháp không quy định cụ thể về thể chế hành chính nhà nước tạiđịa phương Thay vào đó, hiến pháp quy định các loại thể chế đó do các văn bảnluật quy định
Trang 6Thể chế hành chính nhà nước trung ương (chính phủ, bộ, ) thường được ghi nhậntrong Hiến pháp (ví dụ Hiến pháp quy định chính phủ, thủ tướng bao nhiêu phó thủtướng, bao nhiêu bộ, ) nhưng cũng có nhiều nước, những quy định đó thông qualuật hay văn bản nghị quyết kỳ họp (như cách làm của Việt Nam ).
Trong luật cũng có thể không quy định cụ thể về các loại thể chế hành chính Sự rađời, bổ sung các thể chế hành chính mới là một đòi hỏi tất yếu của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước Trong nhiều văn bản luật của các nước, không quy định cụthể thể chế hành chính trung ương (bao nhiêu bộ) mà do một cơ chế chính phủ(một đảng đa số hay liên minh- chính phủ liên hiệp) để đề nghị thể chế bộ (baonhiêu bộ) Đảng đa số (một đảng) thường có số thể chế bộ hạn chế hơn so vớichính phủ liên hợp nhiều đảng để có liên minh đa số
Đối với chính quyền địa phương cũng tương tự Hệ thống văn bản lập quy có thểxác định các loại thể chế hành chính địa phương Ví dụ, để có một thể chế mới về
đô thị, chỉ cần khu vực đó có đủ những tiêu chí về đô thị, sẽ được cơ quan quản lý
có thẩm quyền trao quy chế đô thị
Tuy theo từng giai đoạn phát triển, nhiều thể chế hành chính được ra đời Trong
đó, có một số nhóm:
- Thể chế chính phủ
- Thể chế bộ
- Thể chế các chủ thể độc lập
- Thể chế hoạt động kinh tế, cung cấp dịch vụ;
- Thể chế đại diện (Hội đồng)
- Thể chế chấp hành (địa phương)
- Khác
Trang 7Nghiên cứu cải cách thể chế hành chính cũng chính là nghiên cứu hệ thốngpl quyđịnh các loại thể chế nhà nước và thể chế hành chính nhà nước
1.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Mỗi một loại thể chế hành chính gắn liền với nó là một tổ chức chính thức và cácquy định về thành lập, cơ cấu tổ chức và hoạt động của thể chế đó Các cơ quanhành chính nhà nước trong tổng thể chung phân biệt với các cơ quan nhà nướckhác (lập pháp, tư pháp) bằng những yếu tố cơ bản như:
Nghiên cứu các tổ chức hành chính (cơ quan hành chính) dưới giác độ của khoahọc tổ chức nhằm chỉ ra những sự sai lệch giữa khoa học, lý luận và thực tiễn của
tổ chức hoạt động của cơ quan hành chính
Trang 8Nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đã chỉ ra rằng cách thức tổ chức vàhoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước bị chi phối bởi nhiều yếu tố vàtrong nhiều trường hợp không theo cơ sở của khoa học tổ chức
Nghiên cứu cải cách về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nướcnhằm tìm ra mô hình hợp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước và cách thứctiến hành các hoạt động của chính các loại cơ quan này
1.2.3 Vấn đề nhân sự, nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Yếu tố quyết định hoạt động hiệu quả của hệ thống các cơ quan hành chính chính
là cách thức quản lý và sử dụng con người làm việc trong cơ quan hành chính nhànước
Tổ chức hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, chính vì vậy các loại
cơ quan này chịu sự chi phối rất nhiều yếu tố liên quan đến quản lý và sử dụng lựclượng lao động làm việc trong cơ quan này
Tính chính trị của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và hànhchính nói riêng tồn tại ở tất cả các nước và đó cũng chính là nguyên nhân phổ biếncủa hoạt động không hiệu quả của các tổ chức nhà nước so với các loại tổ chứckhác
Trong xu hướng chung của cải cách hành chính, nhiều nước trên thế giới đã vàđang áp dụng lý thuyết quản lý nhân sự từ các tổ chức khu vực tư nhân trong tổchức nhà nước nói chung và đặc biệt trong các cơ quan hành chính nhà nước – nơingày càng được coi là hệ thống hoạt động mang tính chuyên môn, nghề nghiệp,tương đồng với khu vực tư nhân
Trang 9Bốn vấn đề lớn được quan tâm khi xem xét vấn đề nhân sự, nguồn nhân lực trong
cơ quan hành chính nhà nước là:
- Tuyển chọn người vào trong cơ quan hành chính nhà nước từ trung ươngđến địa phương
- Cách thức sử dụng mang tính chuyên môn, nghề nghiệp hay tính chính trị’
- Quyền lợi
- Nghĩa vụ
Khi bốn vấn đề trên càng được “thể chế hoá” và mức độ hiệu lực của những “thểchế” càng cao, sẽ tạo ra được một lực lượng lao động đáp ứng được đòi hỏi mangtính chuyên nghiệp của hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các cơ quanhành chính nhà nước
Thực tế của nhiều nước và Việt Nam đã chỉ ra hạn chế rất lớn về “tính thể chế hoá”của các thể chế hành chính trên phương diện sử dụng nguồn nhân lực trong cơquan hành chính nhà nước Sử dụng lãng phí, chảy máu chất xem, làm việc khônghiệu quả, thiếu động lực, thiếu cơ chế để xử lý, đang làm cho hoạt động của khuvực nhà nước trên một số lĩnh vực không cạnh tranh được với các khu vực khác
Nghiên cứu cải cách trên lĩnh vực nhân sự nhằm tìm ra cơ sở lý luận, khoa học vàthực tiễn của việc sử dụng người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nướcnhằm thực thi tốt nhất công vụ của nhà nước
1.2.4.Vấn đề nguồn tài chính cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Trang 10Mỗi một cơ quan nhà nước nói chung đều hoạt động dựa trên nguồn lực (ngân sáchnhà nước) cung cấp Các cơ quan hành chính nhà nước cũng tương tự Mặt khác,các cơ quan hành chính nhà nước còn phải quản lý một nguồn ngân sách lớn củanhà nước dành cho hoạt động đầu tư phát triển Trên nguyên tắc đó, có hai khíacạnh được xem xét:
- Khía cạnh quản lý ngân sách và sử dụng ngân sách nói chung
- Quản lý ngân sách nhà nước dành cho hoạt động của từng cơ quan hànhchính nhà nước
Trong lĩnh vực thứ nhất, nhiều nội dung cần được nghiên cứu riêng, nhưng có thểthấy rõ của các nước là đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải có nhữngkiến thức, trình độ, kỹ năng khi tham gia vào lĩnh vực này (quản lý thu, chi ngânsách nhà nước)
Trong khi đó, mảng thứ hai gắn liền với từng loại cơ quan Đây cũng là một trongnhững vấn đề đang được các nước và Việt Nam xem xét dưới giác độ hiệu quả củaviệc sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan hành chính
Thực tế của các nước cũng như ở Việt Nam, thiếu những cơ chế để kiểm soát hoạtđộng sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan Nguyên nhân cơbản là ngân sách đó không thuộc của bất cứ một cá nhân nào, nhưng lại có nhiềungười có quyền được sử dụng nó Và khi không thuộc của một ai, nhiều loại hình
“sử dụng” sẽ xuất hiện
Khoán chi hành chính đã trở thành một yếu tố cơ bản của cải cách hành chính Tuynhiên, bên cạnh vấn đề “khoán”, có nhiều vấn đề khác đạt ra cần quan tâm (xem
Trang 11mục chi tiết ở cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005 – mô hình khoán chi hànhchính)
PHẦN II CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN SAU NĂM 2010
3.1 Tính tất yếu của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước.
Nền hành chính Nhà nước và môi trường trong đó nền hành chính Nhà nước hoạtđộng
Nền hành chính Nhà nước được hiểu như là toàn bộ các yếu tố cấu thành bộ máyquản lý hành chính Nhà nước từ trung ương đến tận cơ sở hay nói khác đi từ bọmáy hành chính Nhà nước trung ương đến chính quyền địa phương các cấp
Quản lý với nghiã cơ bản của nó là sự tác động quyền lực của một tổ chức thôngqua những nhà quản lý đến đối tượng cần quản lý Hây đó là sự tác động của chủthể quản lý đến các khác thể quản lý Nhiều phương pháp quản lý khác nhau trongcác tổ chức, doanh nghiệp, đã được nghiên cứu trong đó quan trọng và được chú ýnhiều nhất là quản lý khoa học của Taylor, được gọi là cha đẻ của quản lý khoahọc Nhiều nội dung của quản lý khoa học do Taylor đề ra không chỉ được áp dụngcho việc quản lý các doanh nghiệp mà còn được các tổ chức quản lý Nhà nướcnghiên cứu áp dụng và đem lại nhiều kết quả quan trọng
Nếu như quản lý doanh nghiệp cũng như các tổ chức tư nhân được thực hiện trênnguyên tắc được quy định bởi tổ chức và doanh nghiệp đó trong khuôn khổ hệthống pháp luật quy định của nhà nước, thì quản lý Nhà nước hay hoạt động của
Trang 12nền hành chính Nhà nước lại được xác định không chỉ trên nguyên tắc của văn bảnquản lý Nhà nước đã được các cấp chính quyền địa phương ban hành nhằm thựcthi quyền hành pháp của mộ máy Nhà nước.
Bộ máy Nhà nước cũng như hoạt động của nền hành chính Nhà nước được tiếnhành trong những môi trươgng rất phức tạp Ngay bản thân một tổ chức, mộtdoanh nghiệp không phải cơ quan thực thi quyền hành pháp, môi trường trong đó
tổ cức , doanh nghiệp tồn tại, vận động và phát triển cũng chứa đựng nhiều yếu tốcần được quan tâm, xem xét, phân tích và đánh giá Phân tích môi trường trong đó
tổ chức hay doanh nghiệp Nhà nước cũng như các loại hình doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh khác tổn tại, vận động và phát triển có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng
Lý thuyết phân tích tổ chức cũng như phân tích môi trường trong đó tổ chức tổntại, vận động và phát triển không chỉ nhằm giúp các nhà quản lý thấy rõ đượcnhững điểm mạnh yếu của chính bản thân tổ chức mình mà còn là một công cụquan trọng nhằm chỉ ra được những thách thức đang tác động hay đe doạ đến sựtồn tại, vận động và phát triển của tổ chức nhằm hướng đến mục tiêu của tổ chức.Phân tích SOWT đã trở thành công cụ quan trọng của các nhà quản lý nhằm đạtđược mục tiêu đó 1
Trong lý thuyết phân tích tổ chức, môi trường trong đó tổ chức tồn tại, vận động vàphát triển được chia thành hai bộ phân: môi trường bên ngoài của tổ chức là nhữngyếu tố không thuộc phạm vi quản lý, tác động của tổ chức nhưng có ảnh hưởngquan trọng đến sự tồn tại, vận động và phát triển Môi trường bên trong của tổchức là những yếu tố thuộc phạm vi quản lý của tổ chức đó và tác động qua lại,ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và phát triển của tổ chức Phân tích cả môitrường bên trong và bên ngoài của tổ chức cần được quan tâm
1 Xem chí tiết “ Phân tích và dự báo kinh tế - xã hội cho các nhà quản lý “ Nhà XB KHKT, 1998
Trang 13Nền hành chính Nhà nước luôn luôn tồn tại, vận động và phát triển trong môitrường rất phức tạp Tính phức tạp của môi trường thể hiện không chỉ quy mô,phạm vi tác động của nó đến sự tồn tại, vận động và phát triển của nền hành chínhNhà nước mà còn thể hiện thông qua số các nhân tố tác động cũng như hình thức
và phương thức tác động của các nhân tố đó Nhiều hình thức tác động của cácnhân tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài của nền hành chính Nhà nướckhông thể đo trực tiếp và sự thể hiện tác động của nó có thể bị chậm trễ về thờigian
Nền hành chính Nhà nước của các nước trong tiến trình tiến hoá của xã hội loàingười từ trước đến nay luôn bị đặt trong môi trường không những biến đổi ( môitrường động) Chính vì vậy, có thể nói vấn đề thay đổi những phương thức quản lýkhác nhau nhằm đạt được mục đích quản lý Nhà nước của bộ máy hành chính Nhànước luôn được đặt ra như là một trong những hoạt động mang tính quy luật củanền hành chính Nhà nước Đó cũng là một quy luật mang tính tất yếu khách quancủa hoạt động quản lý nói chung
Trong hoạt động quản lý, mỗi một phương thức quản lý chỉ phụ hợp với môitrường nhất định Khi môi trường trong đó một hiện tượng kinh tế - xã hội hay một
tổ chức tồn tại thay đổi, nhà quản lý không thể áp dụng nguyên phương pháp hayphương thức quản lý đã được áp dụng trước khi có sự thay đổi về môi trường hoạtđộng (dù phương thức quản lý đó đã đem lại những thay đổi căn bản; đem lại hiệuquả cho tổ chức trong một giai đoạn phát triển nhất định)
Trang 14Nền hành chính Nhà nước ra đời gắn liền với sự ra đời của Nhà nước cũng đã chịurất nhiều sự tác động, thay đổi từ bên ngoài và ngay bản thân bên trong của quốcgia Sự thay đổi đó xẩy ra cả trên phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Về phương diện chính trị, có thể nói đây là một cuộc đấu tranhkhông chỉ về sựthay đổi các hình thái chính trị Nhà nước, chuyển từ một hình thái kinh tế - chínhtrị này sang một hình thái chính trị khác mà còn là cuộc đấu tranh giũ các hệ tưtưởng xã hội khác nhau nhau tạo ra những nhà nước theo các mô hình khác nhautrong ngay một hình thái kinh tế Điều đó đã tác động rất mạnh đến hình thức tổchức Nhà nước và nền hành chính Nhà nước Sự tồn tại ngay sau khi chiến tranhthế giới lần thức hai kết thúc hai phe đối lập nhau và tạo ra cuộc chiến tranh lạnhquy mô toàn thế giới đã tạo ra những hình thái và phương thức tổ chức khác nhaucủa Nhà nước Sự đối đầu giữa Liên xô và Mỹ cũng như sự đối đầu giũa NATO vàWARSAW đã làm cho mô hình Nhà nước giũa các nước thuộc các tổ chức nàykhác nhau và do đó các phương thức khác nhau của tổ chức bộ máy hành chínhNhà nước Nhà nước dân chủ nhân dân, Nhà nước cộng hoà thay cho nhà nước tưsản, độc quyền làm cho cuộc đấu tranh ý thức hệ trở nên phức tạp hơn, khó khănhơn Trong khi đó các nước tư bản cũng đã có nhiều phương thức tố chức nhà nướccũng như phương pháp điều hành nền hành chính nn nhằm phục vụ cho nhữngnhịêm vụ phức tạp của cuộc đối đầu giữa các cường quốc với nhau
Sự tan rã của khối xã hội chủ nghía Đông Âu và Liên xô được coi như là sự kếtthúc cuộc chiến tranh lạnh đã kéo dài hơn nửa thế kỷ Sự tan rã của mô hình Nhànước kiểu Liên xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây không thể nói đó là sựtan rã hay sụp đổ của lý tưởng về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản Điềunày đã được thể hiện thông qua sự có mặt của hơn 1.500 đại biểu từ 70 quốc gia và
tổ chức quốc tế đã tụ họp nhau lại tại Pari, thủ đô nước Pháp để kỷ niệm 150 ngày
Trang 15sinh K Mác và sự thắng lợi của nhiều đảng cộng sản tại các nhà nước trong cáccuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội - cơ quan lập pháp Sự tan rã đó là sự tan rã củamột mô hình quản lý Nhà nước kém hiệu quả, kém hiệu lực và không phát huyđược hết sức mạnh nội lực của dân tộc trong cuộc đấu tranh kinh tế nhằm pháttriển kinh tế - xã hội Trong nnững giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập,giải phóng dân tộc, Nhà nước của các nước thuộc khối Liên xô và Đông Âu đã tỏ
ra rất hiệu quả trong việc đấu tranh giành độc lập, giải phóng nhân dân lao độngkhỏi sự áp bức của giai cấp tư sản Song bước sang giai đoạn mới của sự phát triển.Giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, tư duy và cách thức tổ chức, quản lý, điềuhành trước đó đã không còn có hiệu lực và những người lãnh đạo đất nước đã bịchủ nghĩa duy ý chí cản đường và không nhận thức được những gì cần phải thayđổi khi môi trường quản lý đã thay đổi Sự trì trệ đó đã làm cho bộ máy Nhà nướcnói chung và nền hành chính Nhà nước nói riêng ngày càng biểu hịên nhiều củanhững dấu hiệu kém hiệu quả so với các nền hành chính Nhà nước khác đang tồntài ở các nước Nhiều vấn đề thuộc phạm trù khách quan của sự vận động đã bịthay đổi do những mục tiêu xã hội, nhân văn (song lại chưa có đủ điều kiện để thựchiện những vấn đề đó)
Một thế giới với những tư duy mới đã xuất hiện Một mặt, cuộc đấu tranh giữa các
ý thức hệ tư tưởng không vì thế mà mất đi, nó trở nên phức tạp hơn, tinh vi hơn vàcuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn là cuộc đấu tranhnhằm taọ ra một thế giới mới tốt đẹp hơn Mặt khác, cũng thông qua những sự thấtbại trong hoạt động quản lý Nhà nước của nhiều mô hình kinh tế tập trung, bao cấptrước đây, thế giới đi vào nhận thức đúng hơn hoạt động quản lý Nhà nước cầnphải có trên nững nguyên tắc mang tính khách quan và những yếu tố mang tínhchất đặc trưng của xã hội Nền hành chính Nhà nước và môi trường chính trị quốc
tế được đặt trong tổng thể chung của sự phát triển Các mối quan hệ chính trị có
Trang 16tính chất đối đầu đã được thay thế bằng các cuộc đối thoại nhằm tìm ra tiếng nóichung không chỉ của một quốc gia nào mà là của cả nhân loại Không thể chí cócác cường quốc như trước đây có tiếng nói quyết định đối với vận mệnh của thếgiới mà ngày nay nó trở thành tiếng nói chung của nhân loại Nhiều sự kiện xẩy ratrên thế giới vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đã chỉ ra tác động và vai tròcủa cả cộng đồng quốc tế trong sự tiến bộ chung của nhân loại Không còn cóquyền của các nước lớn áp đặt quyết định của mình trên nhiều vấn đề của quốc tế.
Tuy nhiên, môi trường chính trị quốc tế đã và đang có nhiều biến động phức tạp,không dễ dàng có thể dự báo những xu thế đó Vì vậy, các nhà quản lý Nhà nướcnói chung và bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng vẫn đứng trước nhiều tháchthức của sự tác động này và nếu không nhận thức đúng nội hàm của các vấn đề sẽctác động đến nền hành chính Nhà nước sẽ không kịp đưa ra các biện pháp để điềuchỉnh, can thiệp cần thiết nhằm làm cho nền hành chính Nhà nước thích ứng vớimôi trường chính trị quốc tế đang diễn biến rất phức tạp như hiện nay
Môi trường kinh tế thế giới cũng đang tác động rất mạnh hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước của các quốc gia trên thế giới Nếu như các yếu tố thuộc ý
thức hệ tác động đến hoạt động của nền hành chính Nhà nước có thể biểu hiệnnhiều hình thức khác nhau và thông qua những hoạt động “diễn biến hoà bình”,khó nhận dạng nó, thì vấn đề kinh tế thế giới tác động đến bộ máy Nhà nước nóichung và nền hành chính Nhà nước nói riêng có thể dẽ nhận dàng hơn và mức độtác động của nó có thể rất mạnh và đo lường cụ thể
Thị trường kinh tế thế giới đang ngày càng mở rộng và tính không biên giới của thịtrường kinh tế càng ngày càng thể hiện cụ thể Nếu như những năm của thập kỷ
1970, 1980 là cuộc thương lượng dai dẳng về vòng đàm phán URUGOAY, và kếquả đạt được của nó hạn chế vì tiếng nói của nhiều quốc gia bị hạn chế bởi các
Trang 17cường quốc kinh tế như Mỹ, Đức, Nhật, thì sự ra đời của WTO (World TradeOrganization) đã là nơi hội tụ tiếng nói rộng hơn, đa dạng hơn và các quốc gia yếu
về kinh tế cũng đã đưa được tiếng nói của mình nhằm hạn chế thua thiệt trong
buôn bán trên thị trường thế giới Nhiều khu vực mậu dịch tư do [ 2 ] đã được hình
thành nhằm giải quyết tốt hơn và thúc đẩy buôn bán giữa các nước với nhau và tạo
ra một sự bình đẳng, cùng có lợi vì sự phát triển Nếu như trước đây, các nước ápdụng những chính sách để bảo hộ hàng sản xuất trong nước, hạn chế sự xâm nhậpcủa hàng nước ngoài thông qua hàng rào thuế quan, thì sự hìanh thành các khu mậudịch tự do tạo ra những cơ hội cạnh tranh lớn hơn; tạo cơ hội sử dụng tốt hơn, hiệuquả hơn lợi thế so sánh giưã các nước thuộc khu vực mậu dịch tư do Điều đó cũng
có nghĩa tăng hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Nền kinh tế thế giới trong thời đại ngày nay đòi hỏi cần có sự hợp tác mạnh mẽgiũa các quốc gia nhằm giải quyết nhiều vấn đề mang tính chất toàn cầu Thay cho
sự đối đầu trong sự phát triển là sự cạnh tranh và hợp tác
Tính toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế cũng như các vấn đề khác đã tạo ranhững thách thức và đòi hỏi mới của Chính phủ nhiều quốc gia trong hoạt độngquản lý Đó không chỉ là sự quản lý nhằm phù hợp với đòi hỏi chung của các quốcgia trong tổ chức cùng liên kết, ví dụ Việt nam trở thành thành viên chính thức củaASEAN đòi hỏi Nhà nước Việt nam cần có một sự thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức;
về đội ngũ cán bộ công chức hành chính Nhà nước cũng như các thủ tục, thông lệnhằm làm cho nền hành chính Nhà nước nước ta thích ứng với môi trường hoạtđộng mới cũng đồng thời đáp ứng đòi hỏi của sự hội nhập ASEAN và thành viêncủa WTO
2 Khu mậu dịch tự do là những khu vực trong đó giao lưu hàng hoá có nguồn gốc từ các quốc gia đó trên một tỷ lệ nhất định sẽ không chịu thuế xuất nhập khẩu hoặc chỉ chịu một tỷ lệ rất thấp Ví dụ từ o đến 5% thay cho hàng chục, thậm chí hàng trăm % trước khi hình thành khu mậu dịch tự do.
Trang 183.2 Những bài học của cải cách hành chính giai đoạn 2001-2006.
Giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn thực hịên Chương trình tổng thể cải cách hànhchính 10 năm (2001-2010)
Đây được coi là giai đoạn quan trọng, mặc dù đó là giai đoạn mở đầu và là giaiđoạn Việt Nam bước vào một kỷ nguyên tập dượt, chuẩn bị cho hướng đến xa hơn
Bộ máy hành chính nhà nước tiến hành cải cách từ những năm giữa của thập kỷ1980’s Tuy nhiên, bộ máy hành chính nhà nước vẫn còn nhiều vấn đề yếu kém.Các yếu kém đó có mặt trên tất cả các nội dung cơ bản của hoạt động quản lý hànhchính nhà nước Những yếu kém trên các lĩnh vực về thể chế hành chính; tổ chức
và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến tận địaphương cơ sở; những yếu kém thuộc về đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trongcác cơ quan hành chính nhà nước và yếu kém về quản lý nguồn lực (ngân sách nhànước) trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng và cả hệ thốngnhà nước nói chung
Trước khi có chương trình tổng thể, cải cách hành chính đã được thực hiện dưới sựđịnh hướng của Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8(Khoá VII) và Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá VIII).Đồng thời chính phủ đã xây dựng chương trình cải cách hành chính năm 2001 vớinội dung chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến tổ chức và hoạt độngcủa các cơ quan hành chính nhà nước 3/
3 Quyết định 217/2000/QĐ-TTg về chương trình cải cách hành chính năm 2001 của Thủ tướng chính phủ
Trang 19Cải cách hành chính mang tính toàn diện cả về quản lý, sử dụng nguồn lực nhànước trong giai đoạn 2001-2005 có ý nghĩa toàn diện và kế thừa những thành quảcủa các hoạt động cải cách trước đó Báo cáo tổng kết hoạt động cải cách hànhchính giai đoạn 2001-2005 đã rút ra một số bài học 4/:
1 Bài học về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai cải cách hành chính bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh cần xác định rõ các mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm thực hiện, đến tổ chức và kiểm tra thực hiện, đánh giá, kiểm điểm công tác cải cách hành chính phải dựa vào đánh giá những mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới xã hội thông qua công tác cải cách hành chính.
2 Bài học về công tác chỉ đạo triển khai thống nhất cải cách hành chính từ Chính phủ tới chính quyền địa phương các cấp đóng vai trò quyết định sự thành công của cải cách, do đó phải được duy trì và bảo đảm Chương trình công tác, các cuộc họp của Chính phủ, các bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp phải có phần về cải cách hành chính, coi đây là một nội dung quan trọng thường xuyên phải đề cập.
3 Bài học về sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng và hành động trong cải cách hành chính xuất phát từ mức độ khó khăn, phức tạp của công tác này
4 Bài học về bảo đảm sự đồng bộ giữa cải cách hành chính với đổi mới từng bước
hệ thống chính trị, với cải cách kinh tế, cải cách lập pháp và cải cách tư pháp.
5 Bài học về coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai cải cách hành chính Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chuyển sang nền hành chính phục vụ đặt ra nhiều vấn đề mới, chưa kết luận được ngay, nhưng thực tiễn đặt ra phải thực hiện Chính thông qua thí điểm mới có điều kiện đánh giá, sơ kết tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếu thấy đúng Các cơ chế cải
4 Báo cáo của Ban chỉ đạo thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010.
Trang 20cách như một cửa, khoán v.v… đã được hình thành qua phương thức thí điểm Đây
là bài học tốt cần chú ý trong giai đoạn II (2006-2010).
6 Bài học về xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình hành động Trong giai đoạn I, các Chương trình hành động đặt ra quá nhiều mục tiêu, vừa quá sức vừa không thiết thực ở một số kết quả phải đạt tới Việc tổ chức thực hiện các Chương trình hành động không gắn với tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính của các bộ, ngành, do đó bị coi nhẹ Cơ chế tổ chức thực hiện các Chương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan chưa phù hợp với tính hệ thống của chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời gian của sản phẩm các chương trình hành động.
3.3 Những thuận lợi, thách thức và khó khăn của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước Việt nam trong giai đoạn 2006-2010 và tiếp theo.
Giai đoạn 1 đã đạt được những thành tịu quan trọng Tuy nhiên, mục tiêu của cảicách tương ứng với giai đoạn 1 (thời gian đến 2005) chưa đạt được như mongmuốn Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI, Thủ tướng chính phủ đã trình bàynhững hạn chế của cải cách hành chính và khảng định quyết tâm của chính phủ đẩymạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010
Môi trường trong đó hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và hành chính nóiriêng đang có nhiều thuận lợi, tạo tiền đề cho những hoạt động cải cách cả về thểchế hành chính; tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; vấn đềđội ngũ cán bộ, công chức và cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực nhà nước
Trang 21Trước hết, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã định hướng cụ thể về cải cách
hành chính trong giai đoạn từ sau 2006 Những nội dung cơ bản đó đang đượcChính phủ cụ thể hoá bằng những hành động cụ thể
Hai là, hệ thống lập pháp hoạt động mạnh hơn trong việc xây dựng nền tảng cơ
bản cho các thể chế hành chính (trung ương, địa phương, chính phủ, Uỷ ban Nhândân, ) hoạt động hiệu qủa hơn và có những cơ sở để giám sát, kiểm tra, thanh tra.Nhiều văn bản pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị quyết, ) đã kịp thời ban hành làmnền tảng cho các thể chế hành chính hoạt động
Ba là, chính phủ mới quyết tâm cải cách hành chính và có những lộ trình cụ thể.
Quyết định 94/2006/QĐ-TTg đã vạch ra lộ trình cụ thể cho cải cách hành chínhgiai đoạn 2006-2010
Bốn là, xã hội, công dân và cán bộ, công chức nhận thức được đúng hơn, rõ hơn về
cải cách hành chính và vai trò của họ trong quá trình cải cách hành chính Nếu nhưtrước 2001, nguyên nhân cản trở cải cách hành chính thuộc về nhận thức hạn chếcủa cán bộ, công chức (bao gồm cả lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức) và củanhân dân, thì mức độ nhận thức của công dân về cải cách hành chính đã được nângcao và họ xác định đúng hơn vai trò của họ cũng như quan hệ giữa họ và nhà nước.Triển khai mô hình “một cửa” với sự tham gia tích cực của công dân nhằm hoànthiện mô hình đó, đã thể hiện sự nhận thức đúng hơn của công dân cũng như cán
bộ, công chức
Tuy nhiên, cải cách hành chính đang bước vào những thách thức mới Những tháchthức thuộc về nội bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thông qua sự pháthiện ra một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức (bao gồm cả những cán bộ, công
Trang 22chức có chức có quyền; nắm giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống hành phápnhư Thanh tra, công an, ) đã và đang bị thoái hoá biến chất và họ đang có những
“vỏ bọc” rất tinh vi để trốn tránh pháp luật và đang ngầm cản trở cải cách hànhchính
Sự nhạy cản của những vấn đề cải cách hành chính động chạm đến lợi ích cục bộcủa một số cá nhân, tổ chức đang trở nên nóng hơn khi áp dụng các biện pháp cảicách hành chính
Tinh giảm đầu mối, biên chế luôn gặp phải những trở ngại do chính những sự nhạycảm đó Tại kỳ họp của Quốc hội, thủ tướng chính phủ đã đề cập đến giảm đầumối, giảm cấp phó Đó cũng chính là những vấn đề sẽ động chạm đến lợi ích cục
bộ Tệ hối lộ, moắc ngoắc để được thành lập mới, thêm phó, đang làm cho bộmáy hành chính trở nên cồng kềnh hơn
Trong khi đó, chúng ta đang phải ngày một hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thếgiới Đòi hỏi nhiều cách thức quản lý mới Công khai, minh bạch và phân biệt giữahoạt động quản lý nhà nước với các loại hoạt động khác của cả hệ thống chính trịđang đặt ra nhiều đòi hỏi phải quản lý
Vai trò của công dân, khu vực xã hội dân sự và nhà nước đang đòi hỏi chính phủphải hoạt động theo mô hình “hiệu quả”
Đội ngũ cán bộ, công chức đang đứng trước nhiều thách thức của sự trẻ hoá vớikiến thức mới, nhưng cũng không ít những hạn chế
Trang 23Hạ tầng phục vụ cho hoạt động quản lý vẫn là hạn chế cơ bản ảnh hưởng đến việc
áp dụng các công cụ mới để quản lý Quốc hội đang bàn đến Luật Hộ khẩu NhiềuĐại biểu muốn đề nghị áp dụng mô hình quản lý hộ tịch theo một cơ chế khác nhautạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân Nhưng trên thực tế, các cơ quan hànhchính nhà nước chưa có thể thực hiện mô hình quản lý người dân như các nước.Thực tế, đây sẽ là một khó khăn không chỉ trên lĩnh vực hộ khẩu như Quốc hộiđang bàn mà trên nhiều linh vực khác Cơ chế “một cửa” chỉ có thể có được khi cơquan hành chính nhà nước quản lý được người dân thông qua “một cửa”- đó chính
là công giao dịch điện tử giữa nhà nước và công dân (mô hình G-C) Liệu khi nàocác cơ quan quản lý nhà nước biết được đích thực một người có giấy phép lái xethật giả, và họ đã vi phạm bao nhiêu lần?
3.4 Một số kiến nghị về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2006-2010.
Trong giai đoạn 2006- 2010, cải cách hành chính ở Việt Nam bước sang giai đoạnhai việc thực hiện chương trình cải cách hành chính Chính phủ đã tiến hành tổngkết việc thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005 Những bài học kinhnghiệm về cải cách hành chính giai đoạn I (2001-2005) đã được các nhà khoa học,nghiên cứu, quản lý đánh giá tại Hội thảo về tổng kết giai đoạn I của cải cách hànhchính
Cải cách hành chính theo chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn2001-2010 ban hành kèm theo quyết định 136/2001/QĐ-TTg đề cập đến một cáchtổng thể tất các các yêu tố cấu thành nền hành chính nhà nước
Về phương diện lý luận, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (cơ quan