Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, khoá luận này được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về Khu công nghiệp, Khu chế xuất Chươn
Trang 1Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Một số giải pháp để xây dựng và phát triển các khu công nghiệp
và khu chế xuất ở Việt nam đến năm 2018
Giáo viên hướng dẫn : ts Phạm duy liên
Sinh viên thực hiện : Nguyễn thị thuý hạnh
Lớp : n4 - k37C, đhnt
Trang 3Để vượt qua những thử thách này đồng thời tân dụng nhữg cơ hội mới,nền kinh tế nước ta cần thu hút được mọi nguồn đầu tư có thể từ cả trongnước lẫn nước ngoài nhằm thông qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của cảnền kinh tế.
Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90, Nhà nước ta đã quan tâm đến việcnghiên cứu và ứng dụng mô hình Khu chế xuất, khu công nghiệp tại nhiều địaphương Hoạt động của các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của nước tatrong những năm qua đã có bước phát triển tương đối tốt, tuy nhiên vẫn tồntại một số vấn đề khó khăn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để đưa ra nhữnggiải pháp thích hợp nhằm khai thác nhiều hơn tiềm năng của các Khu côngnghiệp, Khu chế xuất Trong thời gian gần đây, đã có nhiều đề tài tiến hành
Trang 4khó khăn cho các nhà đầu tư cũng như hỗ trợ cho các cơ quan quản lý Khucông nghiệp Khu chế xuất Tuy vậy, những thách thức to lớn trên buộc ViệtNam phải nghiên cứu và cân nhắc lại chính sách thu hút đâù tư của Nhà nước,kịp thời đưa ra một số giải pháp để đảm bảo sự hấp dẫn đối với những nhà
đầu tư Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài "Một số giải pháp để xây dựng và phát triển Khu công nghiệp và Khu chế xuất ở Việt Nam đến năm 2018" làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình với mục đích nâng
cao sự hiểu biết về một vấn đề mà mình tâm đắc, đồng thời em cũng mong cóthể đóng góp một số kiến nghị nhằm xây dựng thành công các Khu côngnghiệp, Khu chế xuất ở Việt Nam trong thời gian tới
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, khoá luận này được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về Khu công nghiệp, Khu chế
xuất Chương 2: Thực trạng xây dựng và phát triển các Khu công
nghiệp, và Khu chế xuất ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự
phát triển của các Khu công nghiệp và Khu chế xuất
Do trình độ hiểu biết còn hạn chế đồng thời thời gian nghiên cứu, tìmhiểu ngắn, việc thu thập và xử lý thông tin gấp, gặp nhiều khó khăn nên nộidung bài viết của em còn nhiều vấn đề bất cập và còn nhiều thiếu xót Em rấtmong được sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè về nộidung cũng như cách trình bày Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới tiến sỹ Phạm Duy Liên - giáo viên khoa Kinh tế ngoại thương, Trường Đạihọc Ngoại Thương đã hướng dẫn tận tình, cho em nhiều lời khuyên quý báu,
bổ sung cũng như chỉnh lý nội dung và hình thức nhằm giúp em hoàn thànhkhoá luận này
Trang 5chương I Một số vấn đề cơ bản về khu công nghiệp, khu chế xuất
I Các khái niệm
Xu thế hội nhập, toàn cầu hoá cùng với sự tiến bộ của khoa học côngnghệ trong thập kỷ tới sẽ làm gia tăng một cách nhanh chóng sức ép cạnhtranh đối với từng nền kinh tế, kể cả những nước công nghiệp phát triển ,những nước công nghiệp mới và những nước công nghiệp đang pháttriển.Tình hình đó đã đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thử thách mớicũng như những cơ hội mới Để vượt qua những thử thách này đồng thời tậndụng được những cơ hội mới, nền kinh tế Việt Nam cần thu hút được mọinguồn đầu tư có thể từ cả trong nước lẫn nước ngoài nhằm thông qua đó nângcao khả năng cạnh tranh của toàn nền kinh tế
Việt Nam cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu, ứng dụng khu côngnghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 Với ýnghĩa là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài (Fdi) và khuyến khích hoạtđộng sản xuất xuất khẩu của các KCN, KCX ở nước ta đã có những bướcphát triển tương đối tốt Để tạo điều kiện cho mục đích nghiên cứu sâu hơn vềKCN, KCX, chúng ta hãy xem xét một số định nghĩa , khái niệm của các tổchức trên thế giới
1 Khu công nghiệp
Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc đã định nghĩa như sau: KCN(Industrial Zone, Industrial Park) hay còn gọi là KCN tập chung là một quầnthể liên hoàn các xí nghiệp xây dựng trên một vùng có thuận lợi về các yếu tốđịa lý, tự nhiên, về kết cấu hạ tầng, về xã hội để thu hút đầu tư (chủ yếu làđầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệpcông nghiệp và các doang nghiệp dịch vụ nhằm đạt hiệu quả cao trong sảnxuất và kinh doanh
Trang 6KCN là một hình thức tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôngắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng kết cấu hạ tầng và hình thànhmạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý.Do đó việc phân bố KCN phải đảmbảo những yêu cầu sau:
Thứ nhất, có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả,
có đất để mở rộng và nếu có thể liên kết thành các cụm công nghiệp.Quy môKCN và quy mô xí nghiệp công nghiệp phải phù hợp với đặc điểm công nghệchính gắn liền với kết cấu hạ tầng
Thứ hai, có khả năng cung cấp nguyên vật liệu trong nước hoặc nhậpkhẩu tương đối thuận lợi, cự ly vận tải thích hợp
Như tên gọi của nó cho thấy, một KCX chủ yếu liên quan đến các hoạtđộng sản xuất công nghiệp mặc dầu các hoạt động kinh doanh cũng được thựchiện tại một số KCX Do vậy thuật ngữ KCX tỏ ra thích hợp hơn cả so với
Trang 7những thuật ngữ như khu vực mậu dịch tự do hay khu vực xuất khẩu tự do.Tuy nhiên dù dưới tên gọi nào, hoạt động chủ yếu tại các KCX vẫn là hoạtđộng chế tạo chứ không phải là hoạt động mua bán, cho nên để tránh nhầmlẫn, một thuật ngữ như nhau sẽ được áp dụng như nhau cho các KCX tại tất
cả các nước
Mặc dù KCX ở từng nước có những quy định cụ thể khác nhau songnhững đặc trưng sau đây được coi là những đặc điểm của một KCX điểnhình:
KCX là một khu đất thuộc lãnh thổ của một nước được quy hoạchriêng ra, thường được ngăn bằng tường rào kiên cố để tách biệt hoật động vớiphần nội địa
Mục đích hoạt động của các KCX là thu hút các nhà sản xuất côngnghiệp nước ngoài và trong nước định hướng sản xuất xuất khẩu băng nhữngbiện pháp đặc biệt ưu đãi về thuế quan, về các điều kiện mậu dịch và các loạithuế khác
Hàng hoá, tư liệu sản xuất nhập vào KCX để sản xuất hàng xuất khẩuđược miễn thuế hải quan, nếu nhập khẩu từ KCX vào nội địa phải nộp thuếnhập khẩu
Những hãng hoạt động trong KCX được sử dụng cơ sở hạ tầng tốt nhưđường giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp điện nước và giảm thiểucác thủ tục hành chính
Hàng hoá sản xuất ra ở các KCX chủ yếu để xuất khẩu
Do đóng một vai trò to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàicho nên mô hình KCX được rất nhiều quốc gia áp dụng, phát triển hoặc cảitiến cho phù hợp với điều kiện của quốc gia mình
3 Điểm giống và khác nhau giữa KCN và KCX
Trang 8KCN về cơ bản cũng giống như KCX đều là địa bàn sản xuất côngnghiệp mà phần lớn là công nghiệp tiêu dùng, đều gồm những doanh nghiệpvừa và nhỏ, được xây dựng ở những khu không có dân cư sinh sống.
Tuy vậy, điểm khác nhau cơ bản của hai loại hình này là: sản phẩm sảnxuất ra trong KCX chủ yếu phải xuất khẩu còn sản phẩm của KCN vừa xuấtkhẩu vừa tiêu thụ ở thị trường nội địa; quan hệ giữa các doanh nghiệp KCX
và thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương, còn quan hệ giữa doanh nghiệpKCN với thị trường nội địa là quan hệ nội thương Hơn nữa, xét trên góc độthị trường quốc tế, KCX có thể được coi là khu thương mại tự do vì không cóthuế xuất nhập khẩu lại ít ràng buộc bởi các biện pháp phi thuế quan
KCX là hình ảnh của một thể chế pháp lý đơn giản, rõ ràng trọn góitrong một bộ luật của KCX đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư một cáchthoả đáng, tạo sự an toàn, yên tâm đầu tư cho họ
Các nước tiếp nhận FDI đều muốn duy trì hình thức KCN vì nó là mộttrong các công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu, hoạt động của nó kéotheo khả năng tăng thu ngoại tệ, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cholao động trong nước, tạo điều kiện cho các công ty địa phương tiếp thu kiếnthức và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng vàtác phong công nghiệp của công nhân địa phương Mặt khác, các xí nghiệptrong KCN không trực tiếp sử dụng thị trường nội địa nên sẽ không xảy racạnh tranh giành thị trường với các xí nghiệp thuộc các khu vực kinh tế kháctrong nước Chính phủ không phải lo cân đối ngoại tệ cho các xí nghhiệpnày.Qua quá trình hoạt động trong KCN, các nhà sản xuất và quan chức địaphương có thể nâng cao khă năng nắm bắt và đáp ứng một cách chính xácnhững yêu cầu từ phía nhà đầu tư cũng như thị trường quốc tế Ngoài ra, KCN
có thể có những ảnh hưởng phô diễn, bằng cách cho thấy lợi ích từ quan điểm
Trang 9mở cửa trong thương mại và từ những ảnh hưởng hướng ngoại của sản xuấtđối với một nền kinh tế vốn có truyền thống hướng nội.
Các nhà đầu tư nước ngoài lại thích hình thức KCN hơn vì nó giúp họtân dụng được một thị trường rộng lớn của nước tiếp nhận đầu tư với những
ưu đãi đặc biệt
II Vai trò của KCN,KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
1 KCN,KCX là công cụ quan trọng để thu hút vốn ĐTNN, tiếp thu chuyển giao công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới.
KCN, KCX ra đời như một công cụ hữu hiệu đẩy nhanh khả năng thuhút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI để đạt được tốc độ tăng trưởng caotrên cơ sở tạo lập năng lực sản xuất mới và phát huy có kết quả nền kinh tếđất nước của các nước đang phát triển trong xu thế quốc tế ngày nay Chẳnghạn ở Đài Loan, trong những năm đầu phát triển KCN đã thu hút khoảng 60%vốn FDI; ở Malaixia trong 10 năm từ 1985 đến năm 1996 đã có 8.978 dự ánđầu tư về công nghiệp đã được cấp giấy phép vào 12 KCX và 178 KCN vớitổng số vốn đầu tư 85,57 tỷ USD, trong đó vốn FDI chiếm 53,3%, vốn trongnước chiếm 46,5%.[6]
Bên cạnh việc thu hút vốn ĐTNN, một số đóng góp rất lớn nữa củaKCN, KCX đối với các nước đang phát triển là góp phần vào việc tiếp thucông nghệ hiện đại Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thếgiới và thị trường nội địa, các nhà ĐTNN thường đưa vào các KCN, KCX cáccông nghệ tương đối hiện đại thậm chí là tiên tiến, hàng đầu thế giới Mặc dù
ở các KCN, người ta thường chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất tiêudùng song quá trình huyển giao công nghệ vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức:đào tạo công nhân nước chủ nhà để sử dụng máy móc thiết bị, công nghệ sảnxuất Các công ty trong các KCX có thể chuyển giao một số công nghệ và
Trang 10sản xuất các chi tiết sản phẩm sản xuất trong KCX Trong thời gian làm viêctrực tiếp với phía nước ngoài, các chuyên gia, kỹ sư thậm chí công nhân củanước chủ nhà cũng có cơ hội học hỏi được kinh nghiệm tổ chức quản lý điềuhành sản xuất tiên tiến kỹ thuật marketing của họ.Như vậy, KCN, KCX gópphần đào tạo nghề, cách thức quản lý cho các xí nghiệp trong nước.
2 KCN, KCX góp phần tạo công ăn việc làm
Hoạt động của KCN, KCX đòi hỏi một lực lượng lao động tương đốilớn từ nước chủ nhà, chính vì vậy rất nhiều người lao động trong nước có cơhội có công ăn việc làm Ngoài ra việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất, dịch
vụ hỗ trợ bên ngoài đã giải quyết được một số lượng lao động khá lớn cho cácvùng lân cận Đến nay, chỉ tính riêng tổng số lao động đang làm việc trongcác KCX trên thế giới đã vào khoảng 4-5 triệu người (con số này ngày càngtăng nhanh so với giữa thập kỷ 80 chỉ có 0,5 triệu người) Riêng khu vựcChâu á là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất, chiếm tới 76% tổng số việc làmđược tạo ra [2]
Bên cạnh việc nâng cao mức thu nhập cho người lao động, trình độ laođộng của công nhân cũng như trình độ quản lý của cán bộ cũng được nângcao do chương trình đào tạo của phía đối tác nước ngoài và tự do đào tạo đểphù hợp với yêu cầu về nguồn nhân lực hoạt động trong KCN, KCX
3 KCN, KCX góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại tệ cho đất nước
Một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra khi xây dựng cácKCN, KCX góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đấtnước.Trên thực tế hoạt động của KCN, KCX ở các nước, đặc biệt là các nướcchâu á, đã thực hiện thành công mục tiêu này, điển hình là Đài Loan , TrungQuốc, Malaixia, Hàn Quốc
Theo thống kê của hiệp hội KCX thế giới thì một KCX diện tíchkhoảng 100 ha, cần đầu tư 50 triệu USD cho cơ sở hạ tầng, trong vòng 10
Trang 11năm sẽ tạo việc làm cho 10.000 lao động, từ đó tạo ra hàng xuất khẩu giá trị
100 triệu USD/năm và 100 triệu USD/năm thu nhập thông qua việc làm giántiếp ngoài kcx, như vậy tính bình quân một công nhân trong KCX tạo ra giátrị khoảng 5000-10000 USD/năm.[3]
Ngoài ra phát triển KCN,KCX còn tạo điều kiện tăng thu ngoại tệ chođất nước thông qua việc cho thuê đất đai, kho bãi, bến cảng và các công trình
cơ sở hạ tầng khác Việc tổ chức và dịch vụ trong KCN, KCX, thu một số loạithuế cần thiết như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đối với người có thu nhậpcao, phí và các khoản lệ phí khác cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngânsách nhầ nước
4 Phát triển KCN, KCX tạo ra sự tác động trở lại đối với sự phát triển kinh tế trong nước
Phát triển KCN,KCX tạo ra sự tác động trở lại đối với sự phát triểnkinh tế thông qua việc sử dụng nguyên vật liệu trong nước, thực hiện lắp ráp
và chế biến cho các KCX qua đó tạo điều kiện để khai thác hợp lý, có hiệuquả các nguồn tài nguyên trong nước cũng như lợi hế so sánh của các nước cóKCN,KCX Thông qua việc lắp ráp và chế biến thành phẩm cho KCN, KCX
số lao động tăng lên đáng kể qua đó góp phần giải quyết việc làm cho xã hội
Ngoài ra, KCN, KCX còn có ảnh hưởng trực tiếp, cũng như gián tiếptới việc quảng cáo cho quan điểm mở cửa trong thương mại và đầu tư củanước chủ nhà vốn có truyền thống hướng nội Việc phát triển KCN, KCX tạođiều kiện để nước chủ nhà tiếp cận nhanh chóng với thị trường quốc tế, thuhẹp những thay đổi về cơ cấu mẫu mã hàng hoá qua những thông tin mà nềnkinh tế nhận được từ phương diện các doanh nghiệp trong KCN, KCX, lợidụng được các mối quan hệ quốc tế sẵn có và mạng lưới khách hàng của phíađối tác để tăng khả năng hoà nhập của thị trường trong nước vào thị trườngthế giới
Trang 12III.Quá trình hình thành và mô hình quản lý KCN, KCX
1 Quá trình hình thành các KCN, KCX
Kể từ khi Nghị định 322/HĐBT được ban hành về quy chế KCX ngày
18 tháng 10 năm 1991 đến nay, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị định bao gồm:322/HĐBT ban hành quy chế KCX, Nghị định 192/CP ban hành quy chếKCN ngày 18 tháng 12 năm 1994 và nghị định 36/CP ngày 24 tháng 04 năm
1997 ban hành quy chế KCN, KCX thay thế hai nghị định 322/HĐBT và 192/CP
Hiện nay, Ban quản lý các KCN, KCX Việt Nam đang theo dõi, tổnghợp những nhận xét và kiến nghị sửa đổi, bổ xung các quy định trong Nghịđịnh 36/CP của các Bộ, ngành, địa phương.Trong thời gian tới, những thayđổi theo hướng tích cực chắc chắn sẽ được thực hiện
Từ năm 1991 đến nay,kết quả của việc thực hiện đường lối , các Nghịquyết, các chính sách của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã đạt được kết quả tolớn đó là trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 120 KCN trong đó gồm 73 KCN vàKCX đã đi vào hoạt động, số còn lại đang triển khai Ba KCX đã được thànhlập đó là Hải Phòng, LinhTrung, Tân Thuận.[4]
2 Mô hình quản lý các KCN, KCX ở nước ta hiện nay
ở Trung Ương, chúng ta có Ban quản lý các KCN Việt Nam có nhiệm
vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ Ngoài ra, Ban này cũng có nhiệm vụxây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách, đồng thời ban hànhcác văn bản pháp quy hướng dẫn các ngành và các địa phương tổ chức thựchiện
Tại các tỉnh thành phố, chúng ta có các Ban quản lý KCN cấp tỉnh,thành phố Đây là cơ quan quản lý trực tiếp các KCN, KCX trong phạm vi địa
lý hành chính của mình
Cuối cùng chịu sự quản lý trực tiếp của các Ban quản lý KCN cấp tỉnh
là các KCN
Th tủ tướng ướng ng chính phủ tướng
Ban qu n lý các ản lý các KCN Vi t Namệp
Ban qu n lý các ản lý các KCN c p t nhấp tỉnh ỉnh
Trang 13IV.Một số kinh nghiệm của các khu vực về hình thành và phát triển KCN, KCX có thể áp dụng ở Việt Nam
Ngày nay, ĐTNN đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài là một đặcđiểm nổi bật trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
Để hoạt động tư trực tiếp nước ngoài đem lại hiệu quả như mục tiêu mà họtheo đuổi, các nước tiếp nhận FDI đều cố gắng đa dạng hoá các hình thực tiếpnhận FDI Một trong những hình thức tiếp nhận FDI có hiệu quả mà rất nhiềunước trên thế giới hiện nay đang áp dụng là mô hình KCN, KCX, đặc biệt là ởcác nước đang phát triển nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước
Chính vì vậy, trong mấy thập kỷ qua, riêng ở Châu á - Thái BìnhDương đã cho ra đời hàng trăm KCN, KCX ở Indonexia có 41121 ha đấtđược dùng vào việc xây dựng các KCN, Philipin đã mở 54 KCN trong đó có
41 khu đang hoạt động, 7 khu đang xây dựng, 6 khu đang quy hoạch pháttriển Đặc biệt Malaixia có tới 165 KCN, trong đó 85 khu đang hoạt động, 80khu khác đang trong quá trình phát triển Đài Loan là một trong những nước
đi đầu xây dựng các KCN, KCX, qua gần 40 năm đến nay đã xây dựng được
3 KCX, 80 KCN và 2 KCNC ở Thái Lan hiện nay cũng có 40 KCN tổng hợp
Trang 14Tuy nhiên, theo thực tế của nhiều nước trên thế giới về tổ chức KCN,KCX cho thấy số lượng các KCN, KCX thành công thì ít mà thất bại thìnhiều Theo số liệu đã tổng kết, hiện tại trên thế giới có khoảng 200 KCNđang hoạt động nhưng chỉ có khoảng 30-35 khu được đánh giá là thành công(chiếm khoảng 20%), không dưới 150 khu gặp khó khăn do sự quản lý trì trệ
và luật lệ phiền hà Điều đó cho thấy rằng tổ chức thành công một KCN haymột KCX là vấn đề hoàn toàn không đơn giản Chính vì vậy, việc tổng kếtnhững kinh nghiệm thành bại của các nước trong quá trình xây dựng cácKCN, KCX là việc làm rất cần thiết giúp mỗi quốc gia lựa chọn bước đi trongviệc tổ chức các KCN, KCX cho phù hợp điều kiện quốc gia mình Đó lànghệ thuật vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài vào tổ chức các KCN, KCXcủa mỗi quốc gia nhằm tránh được những sai lầm đáng tiếc mà các quốc gia
đi trước mắc phải
1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Trong các nước Châu á, Hàn Quốc được thừa nhận là một trong cácnước đạt được nhiều thành công nhất trong việc xây dựng và phát triểnKCX.Suốt một quá trình kể từ năm 1970 là năm đánh dấu việc KCX đầu tiên
ra đời cho đến nay, các KCX của Hàn Quốc đã góp phần quan trọng trongviệc tạo ra “kỳ tích kinh tế” của nước này và thu hút nhiều đoàn khảo sát củacác nước đang phát triển trên thế giới đến tham quan , học tập
Nhờ chuyển từ chiến lược hướng nội sang chiến lược phát triển hướngngoại bắt đầu từ đầu thập kỷ 60, xuất khẩu của nước này đã tăng từ dưới 100triệu USD năn 1963 tới 1 tỷ USD năm 1970 Khi ấy, vào những năm 70, nướcnày vẫn còn chưa biết rằng, họ có thể trở thành một nước xuất khẩu các sảnphẩm chế biến chủ yếu hay không nếu có dòng đầu tư trực tiếp từ nước ngoàivào những hoạt động xuất khẩu chọn lọc Họ cũng chưa biết được hệ thốngnhập khẩu miễn thuế trên cả nước có thể hiệu quả hay không trong việc thuhút đầu tư nước ngoài nếu các KCX không được thành lập Hàn Quốc đã sử
Trang 15dụng tất cả các công cụ có thể bao gồm cả KCX và tất cả các dự trữ có thể sửdụng vào đường lối phát triển hướng ngoại của họ Chính phủ đã thành lập 2KCX: Masan(1970) và iri(1974) để thu hút đầu tư vào hoạt động xuất khẩu.Sau đó, nhiều KCX khác đã được xây dựng thêm.
Thành công của các KCX của Hàn Quốc chủ yếu là nhờ vào khả năngthu hút được các nhà đầu tư nước ngoài (đa số các nhà đầu tư nước ngoài năm
1970 đều ở các KCX).Ngoài ra, các KCX cũng biết tạo điều kiện thuận lợicho các công ty địa phương tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài, hấp thụcác kỹ năng mới nhất của nước ngoài và mở rộng mối quan hệ với thị trường
Sự đóng góp của các nhân tố trong nước và việc mở rộng xuất khẩu cũng rấtgây ấn tượng và vượt xa sự mong đợi của các nhà hoạch định chính sách,những người đã đánh giá quá thấp những kỹ năng sản xuất và quản lý củacông nhân và các nhà quản lý Hàn Quốc Những kỹ năng này được tiếp thutrong thời kỳ thuộc địa của Nhật và thông qua những mối liên hệ quân sự với
Mỹ trong giai đoạn 1945-1960 Nhờ có những kỹ năng sản xuất-xuất khẩu vàkhả năng quản lý trong nước này (cái mà hầu hết các nước đang phát triển đềuthiếu) mà ngày nay, Hàn Quốc đã có thể dựa chủ yếu vào các công ty thươngmại nước ngoài để đảm bảo các dự trữ tài chính Chính nhờ vào các khả năngnày đã giúp cho Hàn Quốc không chỉ trở thành người cạnh tranh thống trịtrên thị trường thế giới về xuất khẩu và các chế phẩm công nghiệp nhẹ trongnhững năm 1960-1970 mà cho đến nay nước này vẫn tiếp tục giữ vị trí hàngđầu thế giới trong sản xuất nhiều mặt hàng công nghiệp nhẹ như hàng maymặc, mỹ phẩm cao cấp, Để đảm bảo sự phát triển bền vững và lâu dài từnay về sau , Hàn Quốc đang hết sức nỗ lực để phát triển các KCX mạnh hơnnữa bằng cách thay đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ lệ công nghiệpnặng trong giá trị sản lượng công nghiệp của KCX đồng thời tập chung vàocác mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao.[1]
2 Kinh nghiệm của Đài Loan
Trang 16Có thể nói Đài Loan là một trong những quốc gia vừa đi tiên phong vừagặt hái được rất nhiều thành công trong việc xây dựng và phát triển KCN,KCX Từ cuối những năm 50, các nhà hoạch định chính sách kinh tế ĐàiLoan đã đánh giá cao vị thế của Đài Loan trong hệ thống kinh tế khu vực.Theo họ, Đài Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo, đất hẹp người đông, tàinguyên khoáng sản nghèo nàn, mức độ phụ thuộc của nền kinh tế trong nướcvào hoạt động ngoại thương rất lớn Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì việchình thành một cơ cấu kinh tế hướng ngoại mang ý nghĩa sống còn đối vớiĐài Loan.
Để có một cơ cấu kinh tế hướng ngoại, Đài Loan không thể dựa vàophát triển nông nghiệp, ngư nghiệp mà phải dựa vào phát triển công nghiệp.Quốc gia này đã lựa chọn cho mình một phương thức thích hợp để phát triểncông nghiệp và tiến hành công nghiệp hoá Xuất phát từ đặc điểm trong nước
và tình hình kinh tế thế giới, từ những năm 50 và thập kỷ 60 Đài Loan đã chủtrương phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng xuất khẩu, sửdụng nhiều lao động Ngoài ra cũng trong thời gian này, Đài Loan đã tạo ramột hệ thống miễn thuế và rút lại thuế tuyệt vời, tiếp theo đó đã thực hiện cảicách tỷ giá hối đoái và chính sách kinh tế vĩ mô Kết hợp với việc học hỏikinh nghiệm từ các KCN của Puerto Rico chỉ trong thời gian 1959-1965 hàngloạt các xí nghiệp mới được xây dựng với quy mô vừa và nhỏ tập trung trongnhững lĩnh vực nhất định gọi là KCN, KCX dưới sự quản lý của chính quyền.KCX đầu tiên của Đài Loan xây dựng năm 1966 mang tên KCX Cao Hùng.Mục tiêu cơ bản khi thành lập KCX này là: tạo ra một cửa sổ có tính phô diễnnhằm thu hút đầu tư vào những ngành công nghiệp hướng ra xuất khẩu; thửnghiệm việc đơn giản hoá các thủ tục hành chính; là một cơ sở giảng dạy, hỗtrợ hợp tác quốc tế KCX Cao Hùng đến năm 1970 đã có 162 công ty vàkhoảng 40.000 công nhân Các xí nghiệp trong KCX có rất nhiều thuận lợi:điều kiện hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc ) hoàn
Trang 17hảo; được hưởng nhiều ưu đãi về tài chính như được miễn, giảm thuế một sốnăm, được hưởng mức thuế rất thấp,
Trong hơn 30 năm qua, hoạt động của các KCN, KCX đã đóng vai tròrất quan trọng đối với tiến trình công nghiệp hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tếĐài Loan Đại bộ phận giá trị hàng xuất khẩu (22 tỷ USD) được sản xuấttrong các KCN, KCX
Kể từ năm 1966 đến nay, Đài Loan đã xây dựng được 3 KCX, 80KCN và 2 KCNC Riêng 3 KCX và 2 KCNC hàng năm đã xuất khẩu khoảng
24 tỷ USD
Phần lớn các KCN, KCX ở Đài Loan do nhà nước trực tiếp đầu tư xâydựng hạ tầng kỹ thuật, còn lại do tư nhân và các tổ chức đoàn thể xây dựng.Hiện nay Bộ kinh tế (Cục công nghiệp) thống nhất quản lý nhà nước đối vớicác KCN theo nguyên tắc chính quyền trung ương trực tiếp quản lý các khuquan trọng nhất nằm trong quy hoạch được chính phủ trung ương phê duyệt,các khu còn lại do trung ương hoặc tư nhân quản lý Loại hình KCN rất đadạng bao gồm các KCN chuyên ngành dầu khí, ôtô, xi măng, công nghệ cao,
Điểm nổi bật trong vấn đề phân bố các KCN của Đài Loan là ở chỗhuyện nào cũng có KCN, mỗi KCN là một “hạt nhân” thúc đẩy mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh trong vùng
Trong những năm tới, Đài Loan tiếp tục tiến hành đổi mới thiết bị kỹthuật, thay đổi ngành nghề trong các xí nghiệp và hiện đại hoá hạ tầng kỹthuật các KCN hiện có, tiếp tục xây dựng một số KCN đế đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế của Đài Loan trong thế kỷ 21
Qua thực tiễn xây dựng và phát triển KCN, KCX và KCNC ở ĐàiLoan chúng ta đúc rút được rất nhiều kinh nghiệm quý có thể xem như lànhững gợi ý để chúng ta tham khảo: muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá vớitốc độ cao và hiệu quả nhất thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng và phát triểncác KCN (bao gồm cả KCX và KCNC) Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của
Trang 18thậm chí từng huyện cũng nên có KCN Tuy nhiên vấn đề cốt lõi là ở chỗ phảilàm tốt công tác quy hoạch phát triển công nghiệp nói chung và quy hoạchhình thành các KCN trên phạm vi cả nước đảm bảo tính thống nhất và mốiliên hệ liên hoàn, tương hỗ trong phát triển giữa các KCN với các hoạt độngsản xuất kinh doanh khác như nông, lâm, ngư nghiệp Trong quá trình đô thịhoá phải xác định rõ mục tiêu xây dựng mỗi KCN là một trung tâm có tácdụng lan toả thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế xã hội trong vùng theo chiềuhướng kinh tế mở.[1]
3 Kinh nghiệm của Philipine
Philipine là nước điển hình không thành công trong việc xây dựng vàphát triển KCX Năm 1967, Philippin đưa ra đạo luật về thành lập Cục quản
lý Khu mậu dịch tự do(Free Trade Zone) Năm 1969, Philipine quyết địnhchuyển đô thị Mariveles thành một cảng nhập cảnh và thành lập cơ quan chịutrách nhiệm về ngoại thương để lập kế hoạch phát triển và quản lý KCXBantaan Tuy nhiên, phải đến năm 1972, KCX mới chính thức tuyên bố mởcửa Trong những năm 70, chính quyền Philipin cũng chính thức bắt tay xâydựng thêm hai KCX nhỏ, một ở đảo Mactan và một ở cạnh thành phốBanguio Hai khu này đến tận năm 1980 mới đặt ra đầy đủ những mục tiêucủa một KCX Cho đến nay, Philipine có thêm 4 KCX khác Trong đó, KCXBataan là KCX lớn nhất và tiêu biểu nhất trong quá trình phát triển KCX củaPhilipine
KCX Bantaan có diện tích 345 ha gần thị trấn Mariveles, cách Malina
55 km trong đó 345 ha dành cho khu vực sản xuất công nghiệp, 375 ha dànhcho nơi ở và phương tiện, 480 ha vẫn để trống
Mục tiêu thành lập KCX Bantaan là nhằm di chuyển các ngành côngnghiệp từ vùng thành thị, đô thị chật chội sang các vùng nông thôn, đa dạnghoá sản phẩm, chuyển từ xuất khẩu hàng truyền thống sang xuất khẩu sảnphẩm phi truyền thống và thu hút ĐTNN vào Philipine
Trang 19Sau hơn 10 năm hoạt động KCX Bantaan được đánh giá là khôngthành công, hầu hết các mục tiêu đặt ra khi thành lập đều không thực hiệnđược: số lao động làm việc trong KCX thấp, thu nhập ngoại tệ không đáng kể,chuyển giao công nghệ không được bao nhiêu, liên kết kinh tế không lớn và
bị gián đoạn, không thu hút được vốn ĐTNN Về phương diện chi phí - lợiích thì lợi ích do KCX Bantaan mang lại không thể bù đắp lại các chi phí bỏ
ra trong hiện tại và tương lai Cho đến năm 1982, chi phí bỏ ra cho cơ sở hạtầng là 195 triệu USD trong khi thu nhập chưa đạt 50% con số đó
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của KCX Bataan Thứnhất việc lựa chọn xây dựng KCX chưa thích hợp: KCX được xây dựng ở bờbiển, núi non biệt lập kém phát triển do vậy để xây dựng phải san bằng một sốđồi, xây dựng đường xá, cảng khẩu và các phương tiện khác, hơn nữa sốdoanh nghiệp ở đây vốn chỉ có hơn 5.000 người vì vậy phải di dân từ cácvùng lân cận đến, điều đó đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng khá lớn làmcho chi phí kết cấu hạ tầng tăng nhanh
Thứ hai, chi phí xây dựng KCX Bataan rất lớn nhưng từ khi thành lậpkhu này chỉ thu hút được khoảng một nửa số công ty vào hoạt động so với dựkiến Điều này làm cho chi phí sử dụng ngày càng tăng so với mức bìnhthường
Thứ ba, ngay sau khi KCX Bataan được thành lập, chính phủPhilippine đã có một số thay đổi về chính sách mở rộng kho hàng thuế quan
Kế hoạch này không chỉ áp dụng cho KCX Bataan mà còn áp dụng cho cácKCX khác, quyết định đó làm cho việc tổ chức KCX Bataan trở nên thừa vìquyết định này thúc đẩy việc sản xuất hàng xuất khẩu ở phạm vi rộng hơnKCX Bataan đồng thời nó góp phần thúc đẩy sản xuất hàng công nghiệp bênngoài KCX
Nguyên nhân thứ tư và cũng là một trong những nguyên nhân quantrọng nhất là hệ thống chính sách không hợp lý: Nhiều xí nghiệp trong KCX
Trang 20đóng thuế đất đai trong khi trước đó chính phủ đảm bảo là sẽ được miễn Cácchi phí khuyến khích mà chính phủ áp dụng cho doanh nghiệp KCX khôngcân xứng với chi phí cho kết cấu hạ tầng Các chi phí dịch vụ và chi phí vậntải quá cao, phiền hà về thủ tục, sự rút ngắn thời hạn hợp đồng cho thuê nhàxưởng, nạn trộm cắp, Tất cả những vấn đề đó gây mất lòng tin của các nhàđầu tư dẫn đến ngày càng nhiều doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng vàrút khỏi KCX cũng như không thu hút được các công ty xuyên quốc gia đầu
tư vào KCX.[1]
4 Một số nhận xét chung
Qua phân tích kinh nghiệm của một số KCN, KCX điển hình ở một sốnước trong khu vực như trên, chúng ta có thể rút ra một số một số nhận xétchung khi xây dựng và phát triển một KCN, KCX
Về nguyên nhân thành công:
Thứ nhất, môi trường chính trị, xã hội ổn định, chính sách nhất quán,cởi mở
Thứ hai, lựa chọn vị trí xây dựng thuận lợi, gần các đầu mối giaothông (đường bộ, hàng không, hàng hải, )
Thứ ba, có các chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư đặcbiệt về tài chính, thủ tục đơn giản, rõ ràng thuận lợi, thông tin liên lạc nhanhchóng, cung cấp điện nước đầy đủ,
Thứ năm, lao dộng dồi dào, có tay nghề, tiền lương hợp lý
Thứ sáu, thời điểm xây dựng thích hợp
Thứ bảy, môi trường cư trú sinh sống dễ chịu, an toàn và cơ sở vậtchất cho hoạt động vui chơi giải trí tốt
Về nguyên nhân thất bại:
Thứ nhất, sự mất ổn định về chính trị trong nước khiến cho các nhàĐTNN không an tâm bỏ vốn
Thứ hai, không phát huy hết năng lực sản xuất đã dự kiến
Trang 21Thứ ba, cơ sở hạ tầng trong khu yếu kém
Thứ tư, chính sách đầu tư kém hấp dẫn
Thứ năm, tệ quan liêu, tham nhũng, thủ tục phiền hà
Thứ sáu, thiếu lao động có tay nghề thích hợp
Thứ bảy, sai lầm trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng
Cuối cùng là hàng loạt các nguyên nhân khác như công tác Marketingcòn kém, tổ chức quản lý hoạt động của Ban quản lý chưa hiệu quả
Qua sự trình bày tổng hợp như trên về nguyên nhân thành công cũngnhư thất bại khi triển khai xây dựng và đưa vào hoạt động một số KCN, KCX,chúng ta có thể nêu ra đây một số vấn đề cơ bản, quan trọng mang ý nghĩasống còn mà mỗi quốc gia phải xác định rõ trước khi xây dựng KCN, KCX
1 Cần xác định rõ mục tiêu và sự cần thiết thành lập KCN, KCX.Mỗi KCN, KCX khi được thành lập đều được gắn với những mục tiêu cụthể khác nhau, chính vì vậy cần phải xác định rõ chiến lược, mục tiêu nào
để có thể ban hành những qui định cho phù hợp Thông thường, ở thời kỳđầu mới xây dựng KCN, KCX thì nên đặt ra ngay mục tiêu ngắn hạn, đếnkhi nào đã phát triển ổn định thì sẽ đặt ra hay hướng tới những mục tiêulâu dài - mục tiêu chiến lược
2 Xác định rõ thời gian, địa điểm và quy mô xây dựng KCN,KCX Đây là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển cácKCN, KCX bởi vì nó sẽ giúp tiết kiệm được chi phí triển khai và phù hợpvới khả năng tài chính cũng như quản lý của đất nước Ngoài ra, cũng cầnphải biết trước hoặc dự đoán trước được xu hướng đầu tư để có thể tậndụng được tâm lý và thời cơ đầu tư thuận lợi nhất
3 Cần phải làm tốt công tác xúc tiến, vận động đầu tư vào cácKCN, KCX Công tác này cần phải được tiến hành một cách chủ động,liên tục và hiệu quả, tránh thụ động (xây dựng KCN trước rồi mới tiếnhành nghiên cứu thị trường khách hàng đầu tư và lên kế hoạch tiếp thị,
Trang 224 Phải lựa chọn được các loại ngành công nghiệp, loại hình sảnphẩm phù hợp Sản phẩm làm ra từ các KCN, KCX phải được địnhhướng trước về thị trường tiêu thụ Chúng phải có thị trường tiêu thụtrong nước đồng thời có thể tìm được thị trường tiêu thụ trên thế giới.Ngoài ra, sản phẩm làm ra từ các KCN, KCX phải tận dụng được các lợithế so sánh của nước chủ nhà, ví dụ lợi thế về tài nguyên hay nguồn nhânlực.
5 Cần phải xây dựng một hệ thống chính sách khuyến khíchtài chính đối với các nhà đầu tư, có sự ưu đãi thoả đáng
6.Cần phải xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng đầy đủ nhưđường giao thông, nhà xưởng, kho tàng, hệ thống điện, nước
7.Bộ máy quản lý KCN, KCX phải hoạt động tích cực, thực thi cóhiệu quả chế độ một cửa đối với các nhà đầu tư
8.Cuối cùng phải lựa chọn đúng đối tác Trong quá trình vận độngxúc tiến đầu tư, quảng cáo tiếp thị thường có nhiều nhà đầu tư đến tìmhiểu, thăm dò, ký kết hợp đồng đầu tư vì vậy cần phải tìm hiểu lựa chọnđúng đối tác có tiềm lực tài chính và thiện chí làm ăn
Chương II Thực trạng xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt
nam hiện nayI.Vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII chínhthức thông qua luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày 29/12/1987 có hiệu lựcthực hiện từ đầu năm 1988 và đã qua 4 lần sửa đổi bổ xung năm 1990, 1992,
1996 và năm 2000 Ngay từ khi Luật này mới ra đời, nhiều nước và tổ chứckinh tế nước ngoài đã đánh giá cao tính khả thi và cho rằng đây là một “sânchơi hấp dẫn” nên đã có rất nhiều đối tác lần lượt đến với Việt Nam
Trang 23Trong 14 năm qua, cùng với công cuộc đổi mới kinh tế, hoạt độngĐTNN đã diễn ra rất sôi nổi và đạt được những kết quả bước đầu rất đángthuyết phục Mặc dù Việt Nam thu hút FDI muộn hơn so với nhiều nước kháctrong khu vực, nhưng dòng FDI vào Việt Nam có chiều hướng tăng nhanh sau
ba năm đầu thực hiện luật thu hút FDI
Nếu bình quân giai đoạn 1988-1990, Việt Nam chỉ thu hút được 1783triệu USD (vốn đăng ký) thì các năm sau dòng vốn này đã liên tục tăng vàđạt tới 8836 triệu USD trong năm 1996.Tuy nhiên từ năm 1997, do tác độngcủa cuộc khủng hoảng tài chính châu á và những yếu kém trong môi trườngđầu tư nước ngoài ở Việt Nam, dòng vốn này đã giảm mạnh và chỉ đạt đượcgần 2000 triệu USD trong năm 1998 Tính đến tháng 8-1998, Việt Nam đãthu hút được 37202 triệu usd trong đó vốn thực hiện mới đạt được 14120 triệuusd, chiếm 38,2% vốn đầu tư đăng kí.[5]
FDI ở Việt Nam trong những giai đoạn này chủ yếu được thực hiệntheo các hình thức như: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Doanh nghiệp liêndoanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và BOT Nhưng đến năm 1998thì các dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực là 33960 dự án trong các hình
thức đầu tư trên.Tuy nhiên, FDI ở nước ta chủ yếu tập chung vào các ngành
công nghiệp, khách sạn và văn phòng căn hộ, chưa hướng vào phát triển cácKCN, KCX , KCNC
Trong giai đoạn này, các ngành công nghiệp đã thu hút được FDI rấtlớn, đặc biệt là ngành dầu khí, thu hút được nhiều FDI nhất, gần 3000 triệuusd vốn đăng kí trong đó vốn thực hiện lên tới 5000 triệu usd (đạt mức 167%vốn đăng kí) Tiếp theo đó là ngành : Dệt may, viễn thông, ôtô, hoá chất, điện
tử
Dòng vốn trong thời gian này chủ yếu đến từ khu vực Châu á-TháiBình Dương (23099 triệu usd chiếm 70,91% tổng FDI của cả nước, trong đóFDI của các nước asean là: 7999 triệu usd chiếm 24,56%) Tiếp theo là Châu
Trang 24Âu (6856 triệu usd chiếm 21,05%); Châu Mỹ (2574 triệu usd chiếm 7,9%) vàcác nước khác (1399 triệu usd chiếm 4,3%).
Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, đầu tư nước ngoài ở Việt Nam rấtphát triển.Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, trong hai tháng kể từ 31/06 đến31/08/2002, đầu tư nước ngoài có chiều hướng gia tăng, cả nước đã có thêm
184 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng kí là 458 triệuusd(kể cả vốn tăng thêm của dự án đang hoạt động) trong đó có 155 dự án là100% vốn đầu tư nước ngoài với khoảng 435 triệu usd.[5]
Trong tổng số vốn đầu tư nứơc ngoài thực hiện trong 2 tháng này đạtgần 292 triệu USD, thì khu vực 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng dẫn đầuvới 67 triệu usd trong khi đó khu vực BOT đạt 40 triệu usd, khu vực dự ánliên doanh đạt 38 triệu USD (không kể 147 triệu usd thực hiện theo các hợpđồng dâù khí) Sự lớn mạnh nhanh chóng của khu vực dự án 100% vốnĐTNN thể hiện tính cởi mở thông thoáng của môi trường đầu tư và môitrường kinh doanh của Việt nam hiện nay
Các dự án FDI đã đưa các ngành công nghiệp phát triển mạnh Trong
đó, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ được chú trọng và có nhiều
dự án đầu tư nước ngoài quan tâm Sự phát triển nhanh của các ngành côngnghiệp (đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp nhẹ) đã thu hút được
số lượng lao động rất lớn làm giảm thiểu đội quân thất nghiệp trong nước
Chẳng hạn như trong năm 2001, theo thống kê của từ Bộ Kế Hoạch vàĐầu Tư thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong ngànhcông nghiệp nhẹ thu hút 17000 lao động tăng 2000 người so với năm 2000,chiếm 53% tổng số lao động trong số đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo đánh giá của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư cho thấy, mặc dù quy mô
dự án khá khiêm tốn, với trung bình 7 triệu usd/dự án nhưng ngành côngnghiệp nhẹ luôn thu hút nhiều lao động nhất trong khi đó đầu tư nước ngoàitrong các ngành công nghiệp nặng và xây dựng dù có quy mô đầu tư lớn trung
Trang 25bình 12 triệu usd/1 dự án nhưng chỉ thu hút 19% tổng số lao động trong lĩnhvực đầu tư nước ngoài.[6]
Trên thực tế, các dự án đầu tư nước ngoài được phê duyệt rất nhiều,trong đó các dự án công nghiệp là tăng so với năm trước Theo Bộ Kế Hoạch
và Đầu Tư tính đến giữa tháng 10-2000 có 2514 dự án có vốn đầu tư nướcngoài còn hiệu lực với số vốn thực hiện trên 16,5 tỷ usd bằng 46,5% số vốnđăng kí
Trong đó, vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố Hồ Chí Minh là lớnnhất với: 4.178 tỷ usd tiếp đến là Hà Nội: 2.679 tỷ usd, Đồng Nai: 1.748 tỷusd, Hải Phòng: 873 triệu usd .Các nước có vốn đầu tư trực tiếp vào ViệtNam thời kì này bao gồm: Nhật Bản: 2.356 tỷ usd, Đài Loan: xấp xỉ 2 tỷ usd,Hàn Quốc: 1.837 tỷ usd, Singapore: 1, 8 tỷ usd, Hồng Kông: 1.333 tỷ usd.[6]
Trang 26Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng có cơ cấu đầu tư hoànthiện hơn về ngành, lãnh vực và các vùng khác nhau thể hiện là: Chú trọngđầu tư vào KCX, KCNC, đồng thời đến năm 2002 nước ta đã có 58 tỉnh thành
có vốn đầu tư nước ngoài Nhìn chung, tất cả 58 địa bàn trong cả nước đềuthu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài và nhiều dự án được cấp giấyphép hoạt động Do đó, cơ cấu đầu tư nước ngoài đồng đều cho các ngành,lĩnh vực, từng địa bàn nên việc tiến tới quá trình công nghiệp hoá-hiện đạihoá có nhiều thuận lợi do việc phát triển đồng đều kinh tế trên các địa bàn
Các dự án đầu tư nước ngoài đã dần chuyển hướng tập chung ở cácKCX và KCN với 25 dự án và vốn 88,4 triệu usd vốn pháp định, 50, 4 triệuusd trong đó phía nước ngoài góp 95,7% Bình quân mỗi dự án có vốn đầu tư
là 3,53 triệu usd tuy nhiên số vốn đầu tư nước ngoài cho mỗi dự án có xuhướng tăng dần so với những năm trước
Sang năm 2002, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư cho biết thực hiện vốn đầu
tư phát triển toàn xã hội 9 tháng đầu năm ước đạt 135.400 tỷ đồng, bằng77,4% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kì năm trước, trong đó vốncủa nhà nước(bao gồm vốn ngân sách của nhà nước, vốn tín dụng và vốn củacác ngân sách của nhà nước) đạt khoảng 73.500 tỷ đồng, tăng 8,4%, vốnngoài quốc doanh tăng 37.800 tỷ đồng, tăng 32,6% và vốn trực tiếp nướcngoài ước khoảng 24.100 tỷ đồng tăng 9,5%
Trang 27Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2002 của cả nước tăng 1,9%
so với tháng trước và tăng 17,1%, so với cùng kì năm 2001 Trong khi sảnxuất công nghiệp của khu vực kinh tế nhà nước chỉ tăng 0,2% so với thángtrước và 11,7% so với cùng kì 2001, toàn ngành công nghiệp đạt kết quả nêutrên trước hết là nhờ sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nướcngoài đã có bước đột phá quan trọng, với mức tăng tương ứng là 3,4% và21,9% trong đó ngành dầu khí tăng 4,9% và 16,4% Ngoài ra, sản xuất côngnghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh vẫn giữ được mức độ tăng và 19,8%.Sau đây là tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9/2002 so với cùng kì nămngoái:
Trang 28Bảng 1: Tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9/2002 so với
cùng k n m ngoái ỳ năm ngoái ăm ngoái.
Địa bàn có mức tăng cao Ngành nghề có mức tăng cao
Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
Nói tóm lại, trong mấy năm gần đây, tình hình đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam có những chuyển biến rõ rệt như trên
II.Thực trạng xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam hiện nay 1.Khung pháp lý liên quan đến hoat động của các KCN, KCX ở Việt Nam hiện nay
KCX là một mô hình mới ở Việt Nam nên còn nhiều vấn đề về khungpháp lý chưa thật hoàn chỉnh Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các KCN,KCX ở nước ta thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư, Chính phủ Việt Nam đã banhành, sửa đổi, bổ sung rất nhiều lần các chính sách, chỉ thị, nghị định, thông
tư điêù chỉnh hoạt động của các KCN, KCX theo hướng ngày càng thuậnlợi hơn cho các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài
1.1 Chính sách của nhà nước
Tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namchính thức thông qua Luật ĐTNN tạo điều kiện pháp lý quan trọng thu hút ĐTNNlàm tiền đề cho sự ra đời KCN ở nước ta Tuy nhiên, cơ sở pháp lý chủ yếu điềuchỉnh hoạt động KCN là nghị định 36/CP ban hành ngày 24/4/1997 về qui chếKCN, KCX, KCNC thay thế cho hai qui chế riêng biệt: qui chế KCX ban hànhnăm 1991 và qui chế KCN ban hành năm 1994 Nghị định này được xây dựngtrên cơ sở hệ thống pháp luật hiện hành mà cốt lõi là Luật ĐTNN, Luật khuyếnkhích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luậtđất đai, và các luật khác Do tồn tại hai hệ thống luật khác nhau điều chỉnh các
Trang 29doanh nghiệp trong KCN (Luật khuyến khích đầu tư trong nước áp dụng đối vớidoanh nghiệp trong nước, Luật ĐTNN áp dụng đối với doanh nghiệp có vốnĐTNN) đã tạo nên sự khác biệt trong tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanhgiữa các loại hình doanh nghiệp, nhất là các điều kiện ưu đãi thuế, giá một số yếu
tố đầu vào (điện, nước, ), giá cả dịch vụ,
Để cải thiện môi trường đầu tư hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, Chínhphủ đã ban hành Nghị định 10/CP ngày 23/1/1998 về những biện phápkhuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với nhữngqui định thông thoáng hơn, ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNNnói chung trong đó có doanh nghiệp KCN Tuy nhiên, Nghị định này chưagiải quyết được vấn đề phân biệt đối xử giữa hai hệ thống doanh nghiệp
Nhằm từng bước xoá bỏ sự khác biệt về điều kiện kinh doanh giữadoanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Thủ tướng chínhphủ đã ban hành Quyết định 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 qui định giảmgiá một số hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN,người nước ngoài ví dụ giá bán điện, giá cước viễn thông, giá nước sạch; một
số khoản phí và lệ phí theo quyết định này cũng được miễn giảm như lệ phíđặt văn phòng đại diện giảm từ 5000 USD xuống còn 1 triệu VND (giảm gần
70 lần) không cần cả lệ phí gia hạn, lệ phí nộp đơn xin giấy phép đầu tư cũngđược bãi bỏ Quyết định 53/TTg còn quy định dùng đồng tiền Việt Nam đểthanh toán các loại giá dịch vụ, phí và lệ phí Tuy nhiên việc thực hiện cácquy định này diễn ra rất chậm
Ngoài ra việc cho phép các doanh nghiệp KCN thuê lại đất của doanhnghiệp phát triển hạ tầng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưcác doanh nghiệp ngoài KCN nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp huyđộng vốn sản xuất, kinh doanh và yên tâm đầu tư là rất cần thiết Để giảiquyết vấn đề này, Quýêt định 53/TTg đã qui định doanh nghiệp KCN, KCXđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn hợp đồng ký với
Trang 30Nhằm xích gần thêm một bước giữa các qui định pháp luật về đầu tưtrong nước và ĐTNN để tiến tới một luật đầu tư thống nhất, tạo thế chủ độngtrong hội nhập quốc tế và không ngừng tạo dựng môi trường pháp lý đồng bộtheo hướng thông thoáng, ổn định cho hoạt động ĐTNN, ngày 9/6/2000Chính phủ nước ta lại chính thức thông qua Luật ĐTNN sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật ĐTNN năm 1996 Đối với hoạt động của KCN, Luật sửa đổilần này áp dụng cho các doanh nghiệp KCN và cả các công ty phát triển hạtầng, tiếp tục thể hiện nguyên tắc khuyến khích các doanh nghiệp có vốnĐTNN vào KCN như: thuế chuyển lợi thấp hơn (3, 5, 7% thay cho 5, 7, 10%),thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn và thời hạn miễn giảm dài hơn
so với các doanh nghiệp cùng loại đầu tư ngoài KCN, thủ tục đầu tư vàoKCN dễ dàng hơn Luật này cùng với việc đổi mới nâng cao hiệu lực điềuhành, chúng ta sẽ lấy lại được lợi thế thu hút ĐTNN vào nền kinh tế nóichung và KCN nói riêng
Ngay sau khi sửa đổi Luật ĐTNN, ngày 31/7/2000 Chính phủ đã banhành Nghị định 24/CP nhằm qui định chi tiết thi hành luật này Nghị định nàyđược xây dựng trên cơ sở bố cục của Nghị định 12/CP và lồng ghép chínhsách khuyến khích đầu tư đã được qui định tại Nghị định 10/CP và Quyếtđịnh 53/Ttg Điều này thể hiện sự quan tâm liên tục của Chính phủ Việt Namtrong việc hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động ĐTNN nói chung vàđầu tư vào KCN Việt Nam nói riêng
1.2 Cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp trong KCN, KCX
Trong thời gian qua chúng ta đang tiến hành cơ chế quản lý KCN theohình thức “ một cửa, tại chỗ “ Cơ chế này đã được qui định cụ thể trong Nghịđịnh 36/CP năm 1997 về KCN, KCX Để giúp Chính phủ quản lý KCN, một
bộ máy tổ chức bao gồm các Bộ, Ngành, Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh
và Ban quản lý KCN cấp tỉnh đã được hình thành Nhiệm vụ của các Banquản lý KCN cấp tỉnh là thực hiện quản lý một cửa đối với KCN, KCX tập
Trang 31trung trước hết vào công tác vận động, xúc tiến đầu tư, cấp giấy phép đầu tư
và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp KCN LuậtĐTNN cũng đã trao nhiều quyền hơn cho các Ban quản lý KCN cấp tỉnhthông qua cơ chế uỷ quyền và thực hiện quản lý “ một cửa ” Đó là bước tiến
bộ mới về mặt luật pháp và quản lý nhà nước
Để thực hiện nhiệm vụ phức tạp này, các Ban quản lý KCN đã được Bộ
Kế hoạch và Đầu tư uỷ quyền cấp giấy phép đầu tư cho các dự án có vốnĐTNN; Bộ Thương mại uỷ quyền quản lý xuất nhập khẩu; Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội uỷ quyền quản lý lao động, cấp giấy phép lao độngcho người nước ngoài; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam uỷquyền cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá; Bộ xây dựng hướng dẫn quản
lý đầu tư xây dựng trong KCN; Tổng cục hải quan hướng dẫn hoạt động hảiquan trong KCN
Về cơ bản, bằng cơ chế uỷ quyền, Ban quản lý KCN cấp tỉnh đã đượctrao quyền quyết định nhiều hơn trong quản lý KCN, góp phần nâng cao hiệuquả và hiệu lực quản lý nhà nước đối với KCN, rút ngắn hơn thủ tục hànhchính, phần nào giải tỏa về mặt tâm lý cho các nhà ĐTNN về chính sách củachúng ta đối với khu vực ĐTNN nói chung và KCN nói riêng
2 Tình hình xây dựng và phát triển các KCN, KCX trong thời gian qua
2.1 Phân bố theo vùng và thời điểm thành lập
Nhìn chung, các KCN, KCX ở Việt Nam phân bố vừa rải rác, vừa tậpchung nhưng không hiệu quả và đặc điểm này là một trong những nguyênnhân dẫn đến tính không hiệu quả của việc sử dụng các KCN, KCX nêu trên
Tính rải rác của các KCN, KCX thể hiện ở việc có 27 tỉnh thành cóKCN, 3 tỉnh thành có KCX Số lượng không phải là cơ sở để đánh giá Cơ sở
để đánh giá đây là “sự tồn tại của các KCN ở một số địa phương là chưa cầnthiết” Một thời gian trước đây và kể cả hiện nay, phong trào xây dựng các
Trang 32không theo Trên toàn lãnh thổ nước ta , các KCN tập chung tại 3 vùng kinh
tế trọng điểm Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, chúng ta có 17 khu,riêng Hà Nội đã chiếm 7 khu trong số này Các KCN của Hà Nội trong 8tháng đầu năm 2002 đã thu hút được 52 dự án với tổng vốn đăng ký 567 triệuUSD, triển khai trên tổng diện tích 964 ngàn m2.Kết quả này theo đánh giácủa ban quản lý KCN thì nó trực tiếp góp phần tích cực trong việc tăng tốc độsản xuất công nghiệp chung so với cùng kỳ năm trước
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 42 khu(chiếm 2/3 số KCNtrong cả nước) Trong đó có 12 khu của thành phố Hồ Chí Minh.Các KCN ởthành phố Hồ Chí Minh thu hút được 126 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư là827,6 triệu USD Diện tích đất cho thuê lại là 273 ha, chiếm 23% tổng diệntích cho thuê Thành phố Hồ Chí Minh có KCX Tân Thuận được xếp hàngthứ 3 trong số 10 KCX thành công nhất Châu á và cũng là KCX thành côngthứ 2 ở Việt Nam hiện nay KCX Tân Thuận có diện tích 300 ha đến nay thuhút được 156 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 794 triệu USD, diện tích đấtcho thuê là là 113 ha, chiếm 52% diện tích có thể cho thuê
Còn lại ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 13 khu
Số lượng các KCN xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt các năm 1996,1997,1998 và từ sau năm 2000 trở lại đây là các mốc thời gian có số KCNđược xây dựng nhiều nhất kể từ năm 1991 tới nay Cụ thể về thời điểm thànhlập các KCN, KCX đã đi vào hoạt động ở nước ta như sau:
Năm 1991:1 khu (KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh) Năm1992: 2 khu (trong đó có KCX Linh Trung, liên doanh giữa KCX của Sài Gòn
và công ty của Trung Quốc) Năm 1993:1 khu Năm 1994: 4 khu Năm 1995:
5 khu Năm 1996: 16 khu Năm 1997: 20 khu Năm 1998: 15 khu(KCX HảiPhòng ra đời cùng 14 KCN khác) Năm 1999: 2 khu Năm 2000: 1 khu Năm2001: 1 khu Năm 2002: 5 khu [8]
Trang 332.2 Loại hình KCN, KCX
Trong tổng số 73 KCN và KCX đang hoạt động hiện nay , chúng ta có
15 khu thuộc loại được thành lập trên cơ sở đã có một số doanh nghiệp côngnghiệp đang hoạt động, 10 khu phục vụ di dời các doanh nghiệp từ nội đô các
đô thị lớn, 21 khu tiếp theo có quy mô nhỏ nằm ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ,duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long nhằm phục vụ cho chếbiến nông, lâm, thuỷ sản, còn lại 37 khu mới hiện đại, trong đó có 13 KCNhợp tác với nước ngoài để phát triển hạ tầng
Diện tích chiếm đất bình quân chung cho một KCN và một KCX là
154 ha, có một phần ba trong số 73 khu (70 KCN, 3 KCX) có diện tích dưới
100 ha
2.3 Ngành nghề và đối tượng thu hút đầu tư trong các KCN, KCX
Có thể thấy rằng ở Việt Nam , các KCN đa dạng về loại hình cũngnhư ngành nghề, đối tượng thu hút đầu tư, thời gian thành lập, không gianthành lập, kết quả thành lập
Các KCN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc mà chủ yếu tại Hà Nội,Hải Phòng, Quãng Ninh được phát triển đồng bộ các công trình kết cấu hạtầng trong hàng rào đạt tiêu chuẩn quốc tế, gần sân bay quốc tế, cảng nướcsâu, tạo lợi thế cho thu hút đầu tư nứơc ngoài, phát triển công nghiệp sạch,công nghiệp kỹ thuật cao, các ngành công nghiệp nặng gắn với cảng nướcsâu Khu công nghệ cao Hoà Lạc, cách thủ đô Hà Nội 30 km, nơi tập chungcác nhà khoa học và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo hàng đầu của Việt Nam,đang trở thành nơi hấp dẫn thu hút các công nghệ cao, các nhà nghiên cứukhoa học, thực hiện việc nghiên cứu - triển khai khoa học - công nghệ
Khu vực miền Trung từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà thuận lợi cho việcphát triển các dự án đầu tư trong lĩnh vực hoá dầu, công nghiệp nặng và các
Trang 34bằng công nghiệp rộng lớn, có cảng nước sâu, sân bay, cung cấp điện nước.Việc hợp tác với nước ngoài ở khu vực này sẽ đa dạng hơn nhằm khai thác lợithế nằm trên hành lang Đông Tây, từ Mianma, Nam Trung Quốc qua Làosang Việt Nam.
Những chùm KCN tại các tỉnh phía Nam xung quanh khu vực thànhphố Hồ Chí Minh như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An
mở rộng đến Vĩnh Long, Cần Thơ đang làm cho khu vực này trở thành mộttrung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước Với lợi thế về hạ tầng kỹ thuậttương đối phát triển hơn so với các khu vực khác của đất nước, nằm gầnnguồn dầu khí, độ ẩm không cao và ổn định nên các KCN tại khu vực này hấpdẫn các nhà đầu tư nước ngoài, thuận lợi cho phát triển các ngành côngnghiệp sử dụng khí như phát điện, khí hoá lỏng, sản xuất phân đạm, thép, cácngành công nghiệp dịch vụ dầu khí, hậu cầu cảng, các ngành công nghiệpnhẹ, công nghiệp điện tử phục vụ xuất khẩu
Các ngành công nghiệp chủ yếu thu hút đầu tư trong nước, phục vụcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp vệ tinh cho nhiều KCNquy mô lớn, tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp
2.4 Thực trạng xây dựng hạ tầng tại các KCN, KCX
a Tình hình hoạt động của các Công ty phát triển hạ tầng KCN, KCX.
Cùng với sự ra đời và phát triển của các KCN, các công ty phát triển
hạ tầng KCN - một loại hình kinh tế mới cũng hình thành với mục đích thựchiện việc xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN có chất lượng cao, theotiêu chuẩn qui định quốc tế nhằm phục vụ các xí nghiệp trong KCN trong suốtquá trình hoạt động của nó
Theo Nghị định 36/CP ban hành ngày 24/4/1997 về qui chế KCN,KCX thì Công ty phát triển hạ tầng KCN là một doanh nghiệp Việt Nam
Trang 35thuộc các thành phần kinh tế trong nước hoặc các nhà ĐTNN dưới hình thứcliên doanh với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư xây dựng các công trình hạtầng KCN, được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật Quyềnhạn chủ yếu của Công ty phát triển hạ tầng KCN là cho các nhà đầu tư thuêlại diện tích đất do nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh; được bán nhà xưởng do mình xây dựng; được kinhdoanh các dịch vụ trong KCN phù hợp với qui định của nhà nước Đồng thời,công ty phát triển hạ tầng KCN cũng có nghĩa vụ xây dựng, duy trì, bảodưỡng, vệ sinh môi trường trong suốt quá trình tồn tại của KCN
Số lượng các công ty phát triển hạ tầng KCN được thành lập tăng dầnqua các năm đặc biệt là trong 3 năm 1996 (13 công ty), năm 1997 (21 côngty) và năm 1998 (18 công ty) Tính đến hết tháng 10 năm 2002, cả nước đã có
73 công ty phát triển hạ tầng KCN được thành lập để xây dựng và kinh doanhcác công trình kết cấu hạ tầng của 73 KCN và KCX trong cả nước [8]
Hiện nay ở nước ta đang tồn tại ba hình thức đầu tư kinh doanh cơ sở
hạ tầng KCN: đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệptrong nước liên doanh với nhà ĐTNN, và các doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài
Công ty phát triển hạ tầng là doanh nghiệp Việt Nam
Lợi thế lớn nhất của các công ty này là hiểu biết rất rõ về môi trườngkinh doanh ở Việt Nam cũng như những thủ tục đầu tư đầy rắc rối, khó khăn.Tuy nhiên hạn chế chung của các công ty này là ở chỗ họ gặp khó khăn vềvốn đầu tư Chính hạn chế này cùng với kinh nghiệm kinh doanh cơ sở hạtầng KCN tích luỹ được chưa nhiều nên phần lớn các công ty phát triển hạtầng KCN là doanh nghiệp Việt Nam hoạt động không có hiệu quả (khoảng50%) Họ tiến hành kinh doanh hạ tầng KCN một cách thụ động: xây dựngkhá đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng sau đó mới thu hút đầu tư Điềunày đòi hỏi phải có nguồn tài chính rất lớn, không phù hợp với khả năng tài
Trang 36chính của Việt Nam Ngoài ra do thiếu kế hoạch lấp đầy các KCN nên đã gây
ra hiện tượng ứ đọng vốn gây lãng phí và làm giảm hiệu quả kinh doanh Tuynhiên, cũng có một số doanh nghiệp trong nước thuộc lĩnh vực này đang hoạtđộng có hiệu quả (khoảng 18%) do họ biết sử dụng có hiệu quả nguốn vốnđầu tư theo kiểu “cuốn chiếu ” tức là vừa đầu tư xây dựng vừa cho thuê lấylợi nhuận để tái đầu tư Tiêu biểu cho một số doanh nghiệp thành công này làCông ty phát triển hạ tầng KCN Biên Hoà, KCN Sóng Thần,
Doanh nghiệp liên doanh.
Các công ty phát triển hạ tầng KCN là doanh nghiệp liên doanh hiệnnay có 13 công ty Phần lớn ở các doanh nghiệp này, phía Việt Nam góp vốnbằng giá trị quyền sử dụng đất, phía nước ngoài góp vốn xây dựng Do lượngvốn đầu tư khá lớn nên phần lớn các công trình kết cấu hạ tầng KCN do cáccông ty này đảm nhiệm thường tốt hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nướcđầu tư xây dựng
Các doanh nghiệp 100 % vốn ĐTNN.
Cho đến 2001 mới chỉ có 1 KCN có cơ sở hạ tầng đầu tư xây dựngbằng 100% vốn nước ngoài, đó là KCN Đài Tư (Hà Nội) do chủ đầu tư ĐàiLoan đảm nhiệm Ưu điểm của mô hình này là nguồn vốn đầu tư lớn nhưng tốc
độ triển khai dự án lại phụ thuộc hoàn toàn vào phía nước ngoài Hơn nữa, nhàĐTNN lại không hiểu rõ về môi trường kinh doanh cũng như thủ tục đầu tư ởViệt Nam nên tốc độ triển khai còn hạn chế KCN Đài Tư là một ví dụ, được cấpphép năm 1995 nhưng mãi 3 năm sau mới xong giải phóng mặt bằng
b Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Diện tích đất đầu tư
Diện tích đất của các KCN Việt Nam tăng rất nhanh trong những nămgần đây Cho đến tháng 8 năm 2002, tổng diện tích đất của các KCN ViệtNam là 964000 m2 đó diện tích đất công nghiệp dùng để cho thuê là 337,4m2
.Tính trung bình diện tích một KCN khoảng 13388,9 m2 [8]
Trang 37So với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới, nhìn chungqui mô KCN của Việt Nam thuộc loại trung bình và nhỏ Bên cạnh một số ítcác KCN có diện tích khá lớn như KCN Phú Mỹ I (954,4 ha), KCN NhơnTrạch I (488 ha) còn rất nhiều KCN có qui mô rất nhỏ như KCN Đài Tư (40ha), KCN Hiệp Hoà (30 ha), KCN Bình Chiểu (28 ha).[8]
Xét trên qui mô diện tích chiếm đất của các KCN ta có thể phân loạicác KCN như sau: [7]
Qui mô nhỏ (dưới 100 ha): 27 khu
Qui mô trung bình (100- 250 ha): 32 khu
Qui mô khá lớn (trên 250 ha) :13 khu
Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN
Tính đến hết tháng 8 năm 2002, tổng vốn đăng ký đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng đạt 1.658 triệu USD và 10.589 tỷ VND trong đó các doanh nghiệpViệt Nam đầu tư 296,6 triệu USD và 10589 tỷ VND, các doanh nghiệp liêndoanh đầu tư 1.315,4 triệu USD , các doanh nghiệp 100 % vốn ĐTNN đầu tư
46 triệu USD Tính trung bình vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho một KCN diệntích 13388,9m2 là 28,8 triệu USD (bình quân khoảng 183.000 USD/ha) KCN
có qui mô vốn đăng ký xây dựng cơ sở hạ tầng lớn nhất hiện nay là KCNNomura - Hải Phòng (163,5 triệu USD) và nhỏ nhất là KCN Quảng Phú -Quảng Ngãi (43,8 tỷ VND).[8]
Cho đến nay, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp KCN, KCX
có vốn doanh nghiệp nước ngoài đạt 4.195 triệu USD - bằng 31.1% vốn đầu
tư đăng ký So với mức thực hiện các dự án ĐTNN nói chung thì tỷ lệ này củacác dự án KCN, KCX thuộc loại cao, thời gian xây dựng bình quân một dự ántương đối ngắn (khoảng 1-2 năm không vì trong KCN, KCX qui hoạch mặtbằng đã được xác định một cách có chi tiết, chủ dự án không phải lo công tácđền bù giải toả mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ chodoanh nghiệp khi đi vào hoạt động Nguồn vốn để xây dựng hạ tầng đối với
Trang 38các KCN này chủ yếu từ nguồn tín dụng ưu đãi và từ tiền thuê đất ứng trướccủa các nhà đầu tư thứ cấp (đối với một số ít khu) và một phần nhỏ là vốn tự
có của doanh nghiệp.[7]
Nhìn chung, tiến độ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN chưa đạttiến độ như mong đợi Ngoài một số KCN đã xây dựng xong hoặc cơ bản đãxây dựng xong cơ sở hạ tầng như KCN Nomura-Hải Phòng; KCN Đà Nẵng;KCX Tân Thuận, Linh Trung (TP.HCM); KCN Amata, Biên Hoà II (ĐồngNai); KCN Việt Nam-Singapore, KCN Việt Hương (Bình Dương) với đầy đủcác hạng mục công trình như hệ thống giao thông, nội khu, hệ thống cấp thoátnước, hệ thống đường dây và trạm điện, viễn thông, xử lý chất thải, nhất là hệthống xử lý nước thải, cây xanh và công trình công cộng trong khu, các KCNcòn lại đang trong quá trình đền bù giải phóng mặt bằng chuẩn bị xây dựngcác công trình kết cấu hạ tầng
c.Việc cho thuê lại đất.
Với phương thức kinh doanh vừa đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạtầng vừa tranh thủ kêu gọi, thu hút đầu tư, đến hết năm 2001 các KCN đã chothuê được 2.563 ha, chiếm gần 30% tổng diện tích đất công nghiệp có thể chothuê của các KCN (tính cả các doanh nghiệp Việt Nam có sẵn trong các khu)
Một số KCN đã cho thuê được nhiều đất như KCN Biên Hoà II (243 hatrên tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 261 ha, tương đương93,1%); KCX Tân Thuận (121 ha trên 210 ha, tương đương 57,7%); KCXLinh Trung (26,6 ha trên 43,5 ha, tương đương 60,9%) Có 3 KCN đã chothuê gần hết diện tích đất công nghiệp giai đoạn I và hiện đang thực hiện giaiđoạn II là KCN Việt Nam - Singapore (61,8 ha trên 204 ha, tương đương30,3%), KCN Sài Đồng B (30 ha trên 73 ha, chiếm 41,1%), KCN Việt Hương(12,5 ha trên 31 ha, chiếm 40,3%).[7]
Nhìn chung các công ty hạ tầng hoạt động chưa hiệu quả Tỷ lệ lấp đầycác KCN như vậy còn rất thấp, có đến 58/67 KCN chỉ cho thuê được dưới50% thậm chí 0% trong đó có cả một số công ty đầu tư cơ sở hạ tầng tốt, đảm
Trang 39bảo tiêu chuẩn quốc tế như KCN Amata (Đồng Nai), KCN Nomura (HảiPhòng), KCN An Đồn (Đà Nẵng) Theo các chuyên gia quốc tế về KCN thìmột KCN hoặc một KCX được coi là thành công khi cho thuê được khoảng80% diện tích đất công nghiệp và điều quan trọng hơn là phải thu hút đượcnhiều xí nghiệp sản xuất sản phẩm có chất lượng cao Mục tiêu của các công
ty phát triển hạ tầng KCN không phải là kinh doanh lấy lãi mà chủ yếu là tạođiều kiện để phát triển công nghiệp một cách có tập trung, có qui hoạch và thuhút công nghệ mới Có lẽ đây cũng là một quan điểm tiến bộ mà các công typhát triển hạ tầng KCN Việt Nam nên học hỏi
2.5 Tình hình đầu tư, sản xuất trong các KCN, KCX
Trang 40 Giá trị sản lượng: Từ năm 1996 cho đến nay, hoạt động của các KCN,KCX đã có sự tăng trưởng đáng kể Năm 1999, các KCN đạt tổng giá trịsản lượng 1155 triệu USD Năm 2000, giá trị sản lượng của các KCN đạt
1600 triệu USD, tăng 40% so với năm trước Năm 2001, con số này tănglên 25% so với năm 2000, cụ thể là đạt được 2000 triệu USD Đến tháng6/2002, chiều hướng tích cực này vẫn tiếp tục diễn ra (giá trị sản lượng củacác KCN tiếp tục tăng lên tới 2560 triệu USD bằng 128% của năm 2001).Hơn nữa, chúng ta hoàn toàn có thể khả quan tin tưởng rằng trong nhữngnăm tới, sự tăng trưởng này sẽ còn cao hơn nữa Các KCN phía Namchiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng của các KCN , đặc biệt là ĐồngNai với thế mạnh về công nghiệp chế biến dẫn đầu cả nước, với giá trị sảnlượng công nghiệp năm 2001 đạt 604 triệu USD, chiếm 30% gía trị sảnlượng của các KCN trong toàn quốc, năm 2002 (tính đến tháng 8) đạtdoanh thu 665 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ nhì với doanhthu 280 triệu USD vào năm 2001, chiếm 14% của cả nước, năm 2002 đạtdoanh thu 307 triệu USD Hiện nay, các KCN chiếm 12% giá trị sản lượngcông nghiệp trong GDP Sản lượng này chưa tương xứng với nguồn vốnđầu tư cho các KCN, KCX (chiếm 60% đầu tư của toàn ngành côngnghiệp), tuy nhiên, hiện nay kết quả này có chiều hướng ngày càng tănglên một cách rõ rệt.[7]