Cho nên đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được xem như là chìa khó của sự tăng trưởng kinh tế của một nước chính bởi vì vai trò của nó có tác động rất lớn đến nền kinh tế như góp
Trang 1MỞ ĐẦU
Thực tế cho thấy rằng sự phát triển của một quốc gia gắm liền với thu hút đầu tư từ nước ngoài Cho nên đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem như là chìa khó của sự tăng trưởng kinh tế của một nước chính bởi vì vai trò của nó có tác động rất lớn đến nền kinh tế như góp phần tăng nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giúp một quốc gia hội nhập với nền kinh tế thế giới Viêt Nam cũng không phải là ngoại lệ, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển là bởi vì chúng
ta tăng cường thu hút đầu tư với những chính sách ưu đãi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó, bên cạnh những đóng góp của FDI thì nó cũng mang những tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống của người lao động như những
dự án FDI có vốn thấp gây ô nhiễm môi trường, chất lượng hàng hoá không đảm bảo, bên cạnh đó lại có những dự án đầu tư vào bất động sản, sân golf dẫn đến vấn
đề bất cập trong đền bù giải toả
Như vậy làm thế nào để nâng cao việc sử dụng đầu tư trực tiếp hiệu quả và thu hút được nhiều hơn nữa các dự án FDI vào Viêt Nam Để làm rõ vấn đề thu hút đầu tư và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, nhóm chúng
tôi đã nghiên cứu và phân tích vấn đề với đề tài “Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam và những giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư”
Trang 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
1.1 Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.1.1 Khái niệm:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment – trước đây
được Lê - nin gọi là xuất khẩu tư bản hoạt động) là một loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ hay từng phần
cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở
đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng
mà họ bỏ vốn đầu tư
Về thực chất, FDI là một loại hình di chuyển tư bản giữa các quốc gia, trong
đó người chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư Mục đích của đầu tư trực tiếp là lợi nhuận trên cơ sở nhà đầu tư trực tiếp quản lý điều hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh
Theo Luật Đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng cách loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư và nhà đầu tư phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Nhà đầu tư không phải là chủ thể của nước nhận vốn đầu tư
Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp lượng vốn tối thiểu hay tối đa do luật pháp nước chủ nhà quy định Ví dụ Việt Nam trước đây quy định mức tối thiểu là 30% vốn pháp định của dự án, Mỹ là 10%, thậm chí Nam Tư chỉ quy định có 5%, còn một số nước là 20 – 25%; ở Hàn Quốc, mức góp vốn của phía nước ngoài được quy định tối đa là 49% vốn pháp định
Nhà đầu tư có quyền tham gia quản lý trực tiếp dự án đầu tư với mức độ tùy theo tỷ lệ góp vốn
Hành vi thực hiện FDI có thể khác nhau như: đầu tư thành lập doanh nghiệp mới, mở rộng các doanh nghiệp FDI sẵn có, cho vay dài hạn kèm các điều kiện kiểm soát…
Trang 3Kết quả sản xuất kinh doanh của dự án đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường, khả năng kinh doanh của nhà đầu tư và được phân chia cho các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn
Như vậy FDI thực chất là một kênh đầu tư nước ngoài (không dẫn đến các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ) thuộc nhóm đầu tư tư nhân, được thực hiện thông qua việc bỏ vốn tài chính hoặc phi tài chính lập doanh nghiệp mới hoặc mua lại một doanh nghiệp đang hoạt động Đặc điểm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhà đầu tư vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng vốn đầu tư nên tính tực chủ của các nhà đầu tư cao và tính khả thi của dự án lớn
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài có những biểu hiện mới như sau:
Vốn đầu tư chảy giữa các nước phát triển OECD tương đối nhiều
Dòng vốn chảy trong nội bộ khu vực do những ưu thế về khoảng cách địa
lý và điều kiện tự nhiên tương đồng
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Buôn bán cung ứng (Counter Trade): là hình thức đơn giản nhất của FDI,
chỉ áp dụng đối với những nước có chính sách hạn chế nhập khẩu và hạn chế đầu tư chặt chẽ Ở nước ta hình thức này chỉ được áp dụng trướng khi có Luật đầu tư nước ngoài 1987 và đến nay hầu như không còn nữa
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu
của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Là hình thức được nhiều nhà đầu tư FDI ưa thích, nhất là các công
ty xuyên quốc gia
Liên doanh (Joint – Venture): là hình thức thành lập một doanh nghiệp giữa
một hoặc một số bên nước ngoài với một hoặc một số bên của nước chủ nhà để đầu
tư, kinh doanh tại nước chủ nhà; có thành lập pháp nhân mới độc lập về tài sản và tư cách pháp nhân
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BT
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract –
BCC): là hình thức đầu tư theo đó bên nước ngoài và bên chủ nhà cam kết thực hiện
các nghĩa vụ và được hưởng quyền lợi tương xứng ghi trong một hợp đồng hợp tác kinh doanh; không thành lập pháp nhân mới, các hoạt động đầu tư được quản lý trực tiếp bởi một ban điều hành hợp doanh trong khuôn khổ tổ chức của doanh nghiệp
Trang 4Hợp đồng “xây dựng – kinh doanh – chuyển giao” (BOT): là hình
thức hợp đồng được ký kết giữa chủ nhà đầu tư và các cơ quan Nhà nước (của nước
sở tại) có thẩm quyền, để xây dựng một công trình, trong đó nhà đầu tư bỏ cốn kinh doanh và khai thác công trình trong một thời gian nhất định – đủ để thu hồi vốn và
có lợi nhuận thỏa đáng; sau đó chuyển giao công trình cho nước chủ nhà mà không đòi hỏi bất cứ một khoản tiền nào
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT): được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng
có điểm khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu
tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ nhà dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian
đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về công trình đã xây dựng và chuyển giao; đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ
ra và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí
Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động
Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập
1.1.4 Vai trò và hậu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đối với nước đi đầu tư:
FDI giúp các công ty giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn lao động và nguyên liệu với giá rẻ và gần thị trường tiêu thụ giúp nhà đầu tư giảm được chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản lưu trữ hàng hóa
Từ đó tăng khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới
FDI tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước do nhà đầu tư có cơ
sở kinh doanh, sản xuất nằm ngay “trong lòng” chính các nước thực thi chính sách bảo hộ mậu dịch
Trang 5Giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi với sự phân công lao động quốc tế mới: các công ty trong nước chỉ cần tập trung vào sản xuất các sản phẩm cao cấp, các thiết bị, các khâu kỹ thuật đòi hỏi cao…, còn những mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật vừa và thấp để các chi nhánh của mình ở nước ngoài sản xuất
Vì cơ chế quản lý hoạt động đầu tư ở mỗi nước khác nhau, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho họ có thể thực hiện “chuyển giá” (nâng giá tài sản và công nghệ góp vào liên doanh làm tăng tỉ lệ góp vốn vì thế mà thu nhập tăng; tính giá nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu từ công ty mẹ vào nước nhận đầu tư cao hơn giá thực tế; tính giá bán cho các công ty trong cùng một tập đoàn hệ thống thấp hơn giá thực tế để tránh thuế cao) để tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hóa lợi nhuận
Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài tham dự vào quá trình giám sát và đóng góp vào việc thực thi các chính sách mở cửa của nền kinh tế theo các cam kết thương mại và đầu tư song phương và đa phương của nước chủ nhà
dễ dàng nhận thấy những tác động như sau:
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế có lợi cho nền kinh tế theo hướng
mở, hội nhập kinh tế quốc tế
Tiếp thu công nghê và bí quyết quản lý
Trang 6Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm bằng những khoản chi phí lớn
Tham gia mạng lướng toàn cầu, mở rộng quan hệ quốc tế
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu
tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lướng sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
Tăng số lượng việc làm do xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê nhiều lao động địa phương Thu nhập một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương
Đối với nhiều nước đang phát triển hoặc nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có cốn FDI nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng
FDI tác động tích cực đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo và tâm lý của người lao động trong nước, nhất là làm thay đổi tác phong, thói quen làm việc của lao động ở các nước nông nghiệp
Sự cạnh tranh, ganh đua giữa các nhà đầu tư có vốn trong nước và nước ngoài tạo động lực kích thích sự đổi mới và hoàn thiện trong các doanh nghiệp nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao
Hậu quả:
Nếu không có 1 chiến lược để quy hoạch đầu tư tốt và có khoa học, dễ dẫn đến đầu tư tràn lan, khai thác tài nguyên bừa bãi, hủy hoại môi trường Cũng chính
vì hiện tượng này mà các nước tư bản phát triển hiện kiểm soát rất gay gắt những dự
án gây ô nhiễm môi trường, từ đó tạo ra một xu thế mới khi mà các nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển gia những công nghệ độc hại sang các nước kém phát triển Như vậy, nếu không thẩm định tốt, rất dễ dẫn đến tiếp nhận những kỹ thuật công nghệ lạc hậu, trở thành bãi rác công nghiệp của các nước công nghiệp, đây cũng là vấn đề mà chính Việt Nam ta đang mắc phải và cần có định hướng giải quyết
Nếu không có 1 chiến lược để quy hoạch đầu tư tốt và có khoa học, dễ dẫn đến đầu tư tràn lan, khai thác tài nguyên bừa bãi, hủy hoại môi trường Cũng chính
vì hiện tượng này mà các nước tư bản phát triển hiện kiểm soát rất gay gắt những dự
Trang 7án gây ô nhiễm môi trường, từ đó tạo ra một xu thế mới khi mà các nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển gia những công nghệ độc hại sang các nước kém phát triển Như vậy, nếu không thẩm định tốt, rất dễ dẫn đến tiếp nhận những kỹ thuật công nghệ lạc hậu, trở thành bãi rác công nghiệp của các nước công nghiệp, đây cũng là vấn đề mà chính Việt Nam ta đang mắc phải và cần có định hướng giải quyết
Các doanh nghiệp của các chủ đầu tư trong nước bị cạnh tranh, dễ dẫn đến phá sản, về lâu dài có thể làm giảm tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa, khiến cho nước nhận đầu tư ngày càng lệ thuộc vào nguồn vốn FDI
Nếu không có trình độ quản lý tốt dễ bị thua thiệt trong việc chuyển giá nội
bộ trong các công ty nước ngoài trốn thuế, thiệt hại ngân sách
Có thể làm thâm hụt các cán cân thanh toán khi các doanh nghiệp FDI đi vào hoạt động do lượng tiền ngoại tệ mất đi dưới dạng lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI chuyển ra hoặc lượng nguyên, nhiên, vật liệu, hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất và các chi phí khác lớn hơn FDI được chuyển vào
Dễ đi đến tăng khoảng các phát triển giữa các vùng, miền trong nước, phân hóa giàu nghèo và phân hóa tầng lớp sâu sắc trong xã hội
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI:
Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và
do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn
Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Sự phát triển không đồng đều về trình độ của lực lượng sản xuất làm cho chi phí hàng hóa giữa các nước không giống nhau Ngoài ra điều kiện giữa các nước không giống nhau, chênh lệch về giá cả hàng hóa sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý, …
Trang 8Tỷ suất lợi nhuận ở các nước có công nghiệp có xu hướng giảm dần và hiện tượng “thừa tương đối tư bản” trong nước cần tìm nơi có nhiều lợi nhuận hơn so với đầu tư trong nước để đầu tư
Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư
ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường
đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và
từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự
Xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế
Đây là nguyên nhân quan trọng vì nó làm cho hợp tác phân công lao động khu vực và quốc tế ngày càng sâu sắc, từ đó các nước phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nhằm khai thác có hiệu quả những lợi thế của mình
Trang 9Hiện nay nhu cầu về vốn của thế giới rất lớn, trong khi khả năng tự thỏa mãn
ở từng nước, từng khu vực có giới hạn làm cho gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài Các nước chậm và đang phát triển đang rất cần vốn để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đầu tư vào cơ sở hạ tầng; các nước SNG và Đông Âu cần vốn để khôi phục nền kinh tế sau những hậu quả từ những sụp đổ về kinh tế - chính trị - xã hội
Tránh rủi ro chính trị
Do tình hình bất ổn định và an ninh quốc gia mà các nhà đầu tư muốn chuyển vốn ra nước ngoài nhằm bảo toàn vốn, tránh rủi ro khi có sự cố về chính trị xảy ra trong nước
1.1.6 Xu hướng FDI:
Xu hướng chung của đầu tư quốc tế ngày nay là sự đan xen nhau giữa các xu hướng trên Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triển ngày càng gia tăng Xu hướng này phản ánh tốc độ hòa nhập nhanh của các nước đang phát triển vào quá trình toàn cầu hóa Điểm nổi bật là xu hướng tự do hóa đầu
tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới Các qui chế về FDI của các nước thay đổi nhanh trong thập kỷ qua từ bảo hộ đến hạn chế, kiểm soát và chuyển sang tự do hóa FDI trong phạm vi từng nhóm nước, khu vực
Đầu tư quốc tế trải qua nhiều xu hướng phát triển
Các hình thức đầu tư quốc tế như: đầu tư truyển thống (các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính một chiều); đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển
Xu hướng chung của đầu tư quốc tế ngày nay là sự đan xen nhau giữa các xu hướng trên Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triển ngày càng gia tăng Xu hướng này phản ánh tốc độ hòa nhập nhanh của các nước đang phát triển vào quá trình toàn cầu hóa Điểm nổi bật là xu hướng tự do hóa đầu
tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới Các qui chế về FDI của các nước thay đổi nhanh trong thập kỷ qua từ bảo hộ đến hạn chế, kiểm soát và chuyển sang tự do hóa FDI trong phạm vi từng nhóm nước, khu vực
Xu hướng đầu tư theo hình thức sáp nhập và mua lại giữa các quốc gia (M&A) - Hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Hình thức M&A diễn ra phổ biến trong các TNCs lớn ở các ngành công nghiệp ôtô, dược phẩm, viễn thông và tài chính Tuy nhiên trong vài năm gần đây,
Trang 10giảm mạnh hoạt động M&A là vì các công ty xuyên quốc gia TNCs (Transnational Corporations) không muốn mạo hiểm đầu tư ra bên ngoài trong giai đoạn kinh tế vừa mới phục hồi sau khủng hoảng, thay vào đó, họ tập trung nguồn vốn để cải tổ hoạt động các công ty và doanh nghiệp trong nước Chưa kể đến việc lợi nhuận kinh doanh của các TNCs bị suy giảm do khối lượng mua bán giảm sút, cũng làm hạn chế xu hướng đầu tư
Mặt khác chi phí kinh tế tăng và khả năng tiếp cận tín dụng giảm làm cho các công ty khó có khả năng tiếp cận được với nguồn tài chính bên ngoài để đầu tư cho các dự án mới (bao gồm cả các dự án sáp nhập và mua lại M&A và các dự án môi trường xanh greenfield) Đây được coi là tác động của "đổ vỡ tín dụng và khủng hoảng tài chính" (financial crisis and credit crunch)
Theo Báo cáo tổng quan triển vọng đầu tư thế giới WIPS (World Investment Prospects Survey) các nền kinh tế mới nổi nhờ có tiềm lực tài chính tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư quốc tế và các công ty xuyên quốc gia TNCs Trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm tới 4, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga
Biểu đồ: Dự đoán dòng vốn FDI trong giai đoạn 2010 – 2012
Theo quốc gia:
Trang 11Theo khu vực:
Lĩnh vực đầu tư có nhiều thay đổi sơ với trước Nếu trước đây các nhà đầu tư nước ngoài thường hướng vào các lĩnh vực truyền thống, vào các ngành sử dụng lao động nhằm khai thác nguồn lao động rẻ và nguồn nguyên liệu dồi dào, thì nay họ hướng vào lĩnh vực dịch vụ như thương mại, tài chính, … hay các ngành có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao như điện tử, viễn thông, … Còn khi đầu tư vào các nước chậm phát triển, họ tường hướng vào các dự án vừa và nhỏ trong các lĩnh vực thu hồi vốn nhanh, ít rủi ro; các lĩnh vực nơi mà nước chủ nhà dành nhiều ưu đãi; lĩnh vực có thị trường tiêu thụ lớn; lĩnh vực sử dụng nhiều lao động và khai thác tài nguyên chiến lược như than, sắt, dầu mỏ, … cũng được chú ý ở các quốc gia này
Và như thế, Đông Á và Đông Nam Á trở thành khu vực cực kỳ hấp dẫn đầu tư nước ngoài vì đây là vùng có nền kinh tế được đánh giá là phát triển năng động nhất thế giới trong những năm gần đây
1.2 Kinh nghiệm thu hút vốn của các nước và những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam:
1.2.1 Trung Quốc:
1.2.1.1 Đôi nét về Trung Quốc:
Là một quốc gia châu Á, đông dân nhất thế giới cung cấp nguồn lao động dồi dào, giá rẻ Và sau 30 năm tiến hành cải tổ, nền kinh tế Trung Quốc đã có những bước tăng trưởng vượt bậc Với con số tăng trưởng bình quân hằng năm gần 10% từ năm 1979 đến nay, Trung Quốc đã gây ra nhiều tiếng vang cũng như cảnh báo về một sự trỗi dậy của một siêu cường có khả năng làm thay đổi trật tự thế giới
Trang 12Biểu đồ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Nguồn: Ủy ban phân tích kinh tế Trung Quốc
Trong khi nền kinh tế thế giới bị suy thoái mà Trung Quốc vẫn tăng trưởng 8.4% trong năm 2009 Giới chuyên môn thường chỉ ra hai yếu tố chính cho quá trình tăng trưởng của Trung Quốc là sự gia tăng của năng suất tổng thể và đầu tư Từ năm
2007, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục, vượt Đức giành vị trí thứ 3 trên thế giới
1.2.1.2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc:
Thành công:
Trung Quốc được coi là quốc gia thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Đặc biệt, trong những năm gần đây với lượng FDI tiếp nhận trung bình mỗi năm khoảng gần 50 tỷ USD, TQ đã trở thành nước thu hút FDI nhiều nhất Châu Á và là một trong 5 nước thu hút được nhiều FDI nhất thế giới
Trang 13Một bước tăng nữa trong FDI đi trước và đi kèm với sự gia nhập của Trung Quốc với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 12/2001, TQ đã công bố một số bản danh sách mới về các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng mạnh sau năm 2001 Vốn FDI đạt kỷ lục 92,4 tỷ $ trong năm 2008, không bao gồm đầu tư tài chính FDI đã giảm dần trong nửa đầu năm
2009, nhưng bây giờ bắt đầu hồi phục
Trung Quốc đã được hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn làm địa điểm đầu tư lý tưởng, một thị trường đầy triển vọng với những lợi thế chủ yếu sau:
cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện mà chi phí lại rẻ, trình độ văn hoá của đội ngũ nhân công cao, chi phí lao động thấp, cơ chế chính sách thông thoáng, cởi mở, có các ngành công nghiệp hỗ trợ
Hạn chế:
Thu hút được lượng vốn FDI khổng lồ, ngoài những tác động tích cực thì việc này cũng mang lại những tác động không tốt đến nền kinh tế Khiến cho nền kinh tế nước này tăng nhiệt quá nhanh Đồng nhân dân tệ lên giá so với đô la Mỹ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu
Ngoài ra, giá nhân công Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng, do chính sách của chính phủ Trung Quốc đang có xu hướng nâng cao mức sống của người dân Khiến nước này bị giảm điểm hấp dẫn đối với nhà đầu tư
Sự bành trướng thế lực đặc biệt trong khía cạnh kinh tế cũng khiến các nhà đầu tư “ngại” đầu tư vào Trung Quốc, vì không muốn bị lệ thuộc vào nước này quá nhiều Họ tìm kiếm những cơ hội ở những điểm đầu tư mới
1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Chính sách phát triển ngành sản xuất:
Trong từng giai đoạn, Chính Phủ Trung Quốc ban hành những quy định hướng dẫn đầu tư đối với thương nhân nước ngoài và danh mục hướng dẫn về ngành sản xuất để thu hút FDI
Chính sách phát triển vùng lãnh thổ:
Chính phủ Trung Quốc chủ yếu thông qua các biện pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa học kỹ thuật và mở cửa các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút FDI vào đó
Từ năm 1999, trọng điểm chiến lược phát triển kinh tế từng bước chuyển về
Trang 14Miền Tây Trung Quốc Đồng thời tích cực hướng dẫn thương nhân nước ngoài đầu
tư vào địa phương này bằng các biện pháp:
Ban hành “dạnh mục ngành sản xuất ưu thế của miền Trung và Miền tây Trung Quốc kêu gọi thương nhân nước ngoài đầu tư”
Chính phủ gia tăng một cách thích đáng nguồn vốn tín dụng trong nước, các khỏan vay chính phủ nước ngoài và các khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm sử dụng chủ yếu vào xây dựngc các công trình hạ tầng, công trình bảo vệ môi trường trọng điểm của miền trung và miền tây
Đối với những hạng mục trong danh mục khuyến khích đầu tư nước ngoài, nếu đầu tư vào miền trung và miền tây Trung Quốc, sau khi hết thời hạn được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thì tiếp tục được giảm 15% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo
Khuyến khích thương nhân nước ngoài đã đầu tư vào khu vực miền Đông Trung Quốc tái đầu tư vào khu vực miền tây và miền Trung
Cho phép các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các thành phố ven biển nhận khoán quản lý kinh doanh các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các xí nghiệp Trung Quốc tại các tỉnh miền tây và miền Trung
Cho phép các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc tỉnh và khu vực tự trị của miền tây và miền trung lựa chọn thành lập khu phát triển cấp nhà nước
Nhà nước ưu tiên lựa chọn một số hạng mục về nông nghiệp, giao thông, năng lượng, nguyên vật liệu để bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các tình miền tây và miền Trung Đồng thời tăng cường sự hỗi trợ của chính phủ về vốn và các biện pháp khác đối với các hạng mục trên
Chính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài
Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp luật được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc Thời hạn, lãi suất và phí vay về cơ bản áp dụng như các xí nghiệp của Trung Quốc
Xí nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngân hàng thương mại của Trung Quốc bảo lãnh Các khoản tiền vốn ngoại tệ của các đơn vị này có thể dùng để thế chấp vay vốn
Cho phép xí nghiệp nước ngoài đầu tư dùng tài sản của họ ở hải ngoại
để thế chấp vay vốn tại các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài
Trang 15Các xí nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc nếu có đủ tiêu chuẩn được xin phép phát hành cổ phiếu
Căn cứ theo nguyên tắc chủ động và thoả đáng, Chính phủ Trung Quốc cung cấp sự đảm bảo về rủi ro chính trị, bảo hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hiểm về bảo lãnh đối với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực năng lượng , giao thông mà chính phủ khuyến khích đầu tư
Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trung Quốc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài như: như Luật xí nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài của nươc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Điều lệ chi tiết thi hành Luật
Xí nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài: Luật xí nghiệp
do nước ngoài đầu tư, các quy định và ưu đãi về thuế, ưu đãi về vay vốn đầu tư, về quyền sử dụng đất…
Tóm lại, trong những năm qua, TQ đã thu hút được một khối lượng lớn vốn FDI trên thế giới ( mặc dù có giảm sút sau khủng hoảng tài chính tiền tệ, nay đã bắt đầu phục hồi trở lại và gia tăng) Có thể nói, FDI cùng với các luồng vốn khác đã thực sự đóng vai trò mở đường cho sự phát triển kinh tế ở TQ trong những thập kỷ qua, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở TQ So sánh với Việt Nam,
TQ có nhiều điểm tương đồng cơ bản về điều kiện phát triển và sự lựa chọn những
mô hình kinh tế chuyển đổi Hơn nữa, Việt Nam đã chậm hơn so với TQ gần 10 năm trong việc thu hút FDI Vì vậy việc xem xét, học tập kinh nghiệm thu hút FDI phục vụ quá trình HĐH ở TQ sẽ rất bổ ích đối với nước ta
1.2.2 Ấn Độ:
1.2.2.1 Đôi nét về Ấn Độ:
Cộng hòa Ấn Độ là một quốc gia thuộc vùng Nam Á, Ấn Độ xếp hàng thứ bảy trên thế giới và đứng thứ nhất châu Á với một tổng diện tích 3,3 triệu km2 và mức dân số hơn 936 triệu người Đất nước này sở hữu sự giàu có và đa dạng về văn hóa, con người, ngôn ngữ, các điều kiện khí hậu, địa lý và các nguồn tài nguyên khoáng sản
Nền kinh tế Ấn Độ đã và đang phát triển rất ngoạn mục, hiện được đánh giá
là nước có tiềm năng phát triển ổn định, bền vững
Trang 16Nguồn: Trading Economics; Cục thống kê trung ương Ấn Độ
Theo The Australian, Ấn Độ có khả năng sẽ vượt qua Trung Quốc để trở thành nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong vòng 12 tháng tới, GDP của Trung Quốc có khả năng tăng trưởng từ 8,3 - 8,8% trong năm tới, trong khi Ấn Độ có thể đạt mức tăng trưởng GDP 9% trong năm tài khóa từ 4/2011 - 3/2012
1.2.2.2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ấn Độ:
Thành công:
Với tốc độ phát triển kinh tế khá cao, đặc biệt là sự vực dậy nhanh chóng trong cơn khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009, Ấn Độ đã trở thành điểm đến “lý tưởng” của các nhà đầu tư nước ngoài Mặt khác, với thuận lợi về nguồn tài nguyên
và lực lượng lao động dồi dào, có trình độ cao, dòng chảy vốn đầu tư FDI vào nước này ngày càng mạnh
Biểu đồ: Nguồn vốn đầu tƣ FDI vào Ấn Độ
Nguồn: Cục thống kê trung ương Ấn Độ
Trang 17Có thể nhận thấy, vốn đầu tư FDI vào Ấn Độ gia tăng mạnh mẽ trong năm
2009 và 2010 Trong nhiều năm liên tiếp Ấn Độ luôn nằm trong top các nước hấp dẫn đầu tư nhất thế giới, trong năm 2008 đứng ở vị trí số 2, giảm một bậc trong năm tiếp theo, và trong năm 2010, được dự báo sẽ vượt Trung Quốc để giữ vị trí số 1
Số liệu theo nhiều năm cho thấy, ngành dịch vụ là ngành thu hút FDI nhiều nhất, chiếm 21% trên tổng nguồn vốn FDI tích lũy từ năm 2006 đến năm 2010 Nguồn vốn FDI từ các công ty đa quốc gia đổ vào Ấn Độ liên tục và ngày càng tăng Tính đến năm 2005, hơn 100 trong số 500 công ty lớn nhất thế giới đã có mặt tại Ấn
Độ, trong khi con số này ở Trung Quốc là 33 công ty Theo thống kê của Liên đoàn các phòng công nghiệp và thương mại của Ấn Độ (FICCI), 70% các công ty đầu tư vào Ấn Độ làm ăn có lãi và con số này đang không ngừng tăng lên
Hạn chế:
Thị trường bất động sản Ấn Độ đang có những bước phát triển mới, tuy nhiên
ở lĩnh vực bất động sản, các nhà đầu tư nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn về thủ tục và gặp rào cản trong chính sách đầu tư của nước này Hiện những nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào phân khúc nhà ở tại Ấn Độ sẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về vốn cũng như về diện tích đầu tư tối thiểu Trong thời buổi thị trường bất động sản thế giới đang đối mặt với khó khăn như hiện nay, những quy định này có thể là rào cản vô hình làm chậm tốc độ phục hồi của thị trường Ấn Độ
Nội tệ tăng giá: Việc thu hút một lượng tiền đầu tư nước ngoài quá lớn sẽ
làm mất cân đối giữa ngoại tệ và nội tệ Lượng tiền đầu tư nước ngoài lớn khiến đồng rupee tăng giá, thu hẹp xuất khẩu, làm hàng ngàn vạn người thất nghiệp Tháng 4.2007, ngành dệt may với 25 triệu nhân công giảm 36.000 cơ hội việc làm
Có người kêu gọi chính phủ để thị trường điều chỉnh đầu tư trực tiếp nước ngoài Ý kiến khác lại yêu cầu chính phủ cảnh giác đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài ra, việc quản lý sẽ trở nên khó khăn, phức tạp hơn, hiện tại Chính phủ
Ấn Độ còn đau đầu vì được xem là thiên đường trốn thuế
Cá lớn nuốt cá bé: Ấn Độ hiện là thị trường tiêu dùng lớn thứ 21 thế giới,
đến 2025 có thể đứng thứ năm Năm 2006, doanh thu ngành bán lẻ đạt 300 tỉ USD Năm 2012, dự tính quy mô sẽ tăng lên 550 tỉ USD Ngành bán lẻ tăng trưởng thu hút các tập đoàn lớn của thế giới như Marks & Spencer, Tesco và Reliance Fresh nhảy vào cạnh tranh khốc liệt, khiến các tiểu thương giãy giụa tìm đất sống
1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Trang 18Theo trưởng ban cố vấn kinh tế hãng Eastern Service ngày 13/10/2010 nói:
“Trong khi kinh tế nhiều nước trên thế giới vẫn đang ì ạch vượt dốc để ra khỏi đáy vực, nhưng kinh tế Ấn Độ có bước phát triển ngoạn mục, tốc độ tăng trưởng cao vững chắc Đây là nguyên nhân chủ yếu các nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào Ấn
Độ Ấn Độ là nước có sức hấp dẫn FDI lớn nhất.” Do vậy, để gây ấn tượng và thu hút nhà đầu tư nước ngoài VN cần duy trì tốc độ phát triển kinh tế ổn định và ở mức cao Đòi hỏi, các ngành kinh tế có sự phối hợp phát triển và quan trọng hơn hết là tận dụng hiệu quả nguồn vốn FDI để phát triển kinh tế trong nước
Chính sách đầu tư thông thoáng
Triển vọng phát triển kinh tế sáng sủa, cộng với chính sách nới lỏng cho các nhà đầu tư nước ngoài mà Chính phủ vừa ban hàng cuối năm 2009, Ấn Độ đã thu hút được các nhà đầu tư đổ tiền vào nước này Bên cạnh đó, Ấn Độ luôn theo sát sự tác động của chính sách đầu tư từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung kịp thời và phù hợp với tình hình mới
Chính phủ Ấn Độ đang được xem xét dỡ bỏ những quy định hạn chế và bó buộc đối với những nhà thầu xây dựng và nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản ở Ấn Độ trong thời gian tới Theo Báo Financial Times ngày 9-8, cho biết, lĩnh vực đầu tư vào chứng khoán cũng đang được xem xét để xóa bỏ những hạn chế hiện tại Chính phủ Ấn Độ có thể nới lỏng luật cho phép các nhà đầu tư nhỏ, các cá nhân nước ngoài được đầu tư vào thị trường cổ phiếu nước này
Đơn giản hóa thủ tục
Đơn giản hóa thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cao nhất có thể cho nhà đầu tư Cho đến nay, Ấn Độ là nước duy nhất tiến hành các thủ tục phê chuẩn vốn đầu tư tự động không thông qua giấy phép do Chính phủ trực tiếp phê chuẩn, ngoại trừ một số
dự án đặc biệt Đơn xin đầu tư được gửi lên Ban thư ký hỗ trợ Công nghiệp (SIA) hoặc thông qua các cơ sở ngoại giáo Ấn Độ Chính phủ Ấn Độ cũng đạt hộp thư để tiếp nhận đơn xin đầu tư thông qua mạng Internet, đồng thời qua mạng Internet cung cấp cho các nhà ĐTNN những hiểu biết về chính sách và thủ tục đầu tư tại Ấn Độ
Ưu tiên phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Chính sách kinh tế mới của Ấn Độ, giảm thiểu vai trò của công nghiệp quốc doanh từ 17 ngành xuống còn 8 ngành; khuyến khích đầu tư tư nhân vào các ngành sản xuất; ban hành các luật chống độc quyền và cho phép tư bản được di chuyển tự
do, tư bản nước ngoài có thể làm chủ 51% vốn đầu tư Điều này đã thúc đẩy khu vực
Trang 19tư nhân phát triển nhanh chóng Đây là một đặc điểm rất khác của ấn Độ so với các nước đang phát triển khác trong khu vực châu á
Với những đánh giá khoa học về lợi thế cạnh tranh, Ấn Độ chọn hướng đi khác biệt đối với những nước có khả năng thu hút lớn về đầu tư FDI, đặc biệt là Trung Quốc Vốn có nhiều lợi thế về lao động dồi dào và rẻ, Ân Độ không chọn tài nguyên hay lao động giản đơn mà sử dụng tri thức là điểm thu hút Chính phủ nước này, có sự chuẩn bị và đầu tư đúng mức cho việc xây dựng và phát triển lực lượng lao động trí thức trẻ Có chiến lược trong thu hút đầu tư, không tiến hành một cách
tự phát, Ấn Độ chọn dịch vụ làm thế mạnh để phát triển kinh tế Ấn Độ tập trung vào công nghệ thông tin, dịch vụ văn phòng, tài chính ngân hàng, nghiên cứu và chế tác dược phẩm – những lĩnh vực mũi nhọn
Ngoài ra, Ấn Độ còn ban hành các chính sách khác khuyến khích chuyển
giao công nghệ Trong đó, có những khuyến khích về thuế VAT và thuế doanh thu, thuế nhập khẩu đối với các ngành công nghệ phần mềm điện tử Trong những năm
2000 - 2007, những khuyến khích đặc biệt của Chính phủ đều thuộc về các ngành năng lượng, viễn thông, phần mềm, hydrocacbon, R&D và xuất khẩu
1.2.3 Thái Lan:
1.2.3.1 Đôi nét về Thái Lan:
Thái Lan là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 50 về diện tích với 513.000 km2 và dân số đạt khoảng 65 triệu người, đông thứ 21 trên thế giới Hiện nay,Thái Lan là một trong những nền kinh tế lớn của khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 2 sau Indonesia Tổng sản phẩm quốc nội năm 2009 đạt 262 tỉ đôla Mỹ
Biểu đồ: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan
Trang 20Khởi đầu từ một nước phát triển nông nghiệp là chủ yếu, nhờ tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào và rẻ, thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo hướng phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là chính sách thu hút FDI thích hợp và hiệu quả, Thái Lan đã trở thành một nước công nghiệp mới
1.2.3.2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan:
Thành công:
Chính sách thu hút đầu tư của Thái Lan có nhiều tác động tích cực và tỏ ra khá hiệu quả Lượng vốn đầu tư FDI đổ vào nước này khá lớn đóng góp một phần quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế cả nước Khởi đầu từ một nước phát triển nông nghiệp là chủ yếu, nhờ tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào và rẻ, thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo hướng phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là chính sách thu hút FDI thích hợp và hiệu quả, Thái Lan đã trở thành một nước công nghiệp mới trong giai đoạn trước năm 1997
Nguồn: Ngân hàng Thailand và kho bạc nhà nước Mỹ
(Bank Of Thailand, and US Treasury)
Tổng vốn FDI vào Thái Lan năm 2007 đạt 1.833 nghìn tỷ USD, tăng 30%, mức tăng khá cao sau một khoảng thời gian dài Năm 2008, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nguồn vốn FDI giảm 10% vào mức 1.6 nghìn tỷ USD
Và sau mức sụt giảm nghiêm trọng luồng vốn FDI vào năm 2009, năm 2010 đã có những kết quả khả quan hơn 9 tháng đầu năm 2010, dự án đăng ký đầu tư FDI tăng
Trang 2144,7% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, về giá trị thì lại có sự sụt giảm nhẹ 2,69%, vào khoảng 286.10 triệu bạc
Hạn chế:
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tình hình chính trị tại thái Lan liên tục bất
ổn, khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài “chùn bước” khi muốn đầu tư vào Thái Lan.Đây chính là ưu thế vượt trội của Việt Nam so với Thái Lan và hầu hết các môi trường đầu tư hấp dẫn khác trên thế giới Tổ chức tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị ( PERC) tại Hồng Kông xếp Việt Nam ở vị trí thứ Nhất về khía cạnh ổn định chính trị và xã hội sau sự kiện 11 tháng Chín So với các nước ASEAN khác như In-đô-nê-xi-a, Mã-lai-xi-a, Phi-líp-pin, và Trung quốc, Việt nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn
1.2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Thái Lan không ngần ngại trong việc từng bước sửa đổi, thu hút đầu tư, xóa
bỏ nghi ngại của giới đầu tư về cuộc khủng hoảng ở đất nước mình và bước vào giai đoạn hồi phục Cụ thể như sau:
Cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư bằng việc đơn giản hóa
thủ tục, quy trình đầu tư, công khai các kế hoạch phát triển kinh tế
Giảm thuế, ưu đãi tài chính- tiền tệ, dịch vụ : miễn thuế thu nhập doanh
nghiệp từ 3 đến 8 năm, miễn thuế nhập khẩu 90% đối với nguyên liệu, 50% đối với máy móc mà Thái Lan chưa sản xuất được
Các dự án FDI trong nông nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị để thực hiện dự án mà được cơ quan quản lý đầu
tư công nhận là thuộc loại thiết bị được khuyến khích đầu tư Riêng đối với các dự
án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, được miến hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm
Có các chính sách ưu đãi về dịch vụ như: giảm giá thuê nhà đất, văn phòng,
cước viễn thông, vận tải Giá dịch vụ ở Thái Lan thuộc loại hấp dẫn nhất với việc thu hút FDI
Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng: hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống
sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, kho bãi hiện đại, thuận lợi cho phát triển kinh
tế và du lịch Nước này cũng xây dựng thành công hệ thống viễn thông, bưu điện, mạng internet thông suốt cả nước phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế
Trang 22Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao: Thái Lan rất coi trọng đầu tư
cho giáo dục vì một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm là thị trường lao động ở nước sở tại, tại Thái Lan có tới 21% sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành toán, máy tính
Phát triển công nghiệp
Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ Thái Lan đã có những chính sách nhằm giảm thiểu chi phí đầu vào như nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu, cước viễn thông quốc tế, giá thuê đất chi phí lưu thông hàng hoá, nới lỏng chính sách thuế thu nhập của người nước ngoài
Hơn thế nữa, trong chính sách công nghiệp phục vụ thu hút FDI, Chính phủ Thái Lan rất chú ý phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ Thái Lan đã thành lập
ủy ban hỗ trợ về vấn đề này và cùng với các tổ chức chuyên môn lo phát triển, xây dựng, hình thành những mối liên kết công nghiệp hỗ trợ trong nước Hiện Thái Lan
có tới 19 ngành công nghiệp phụ trợ ở ba cấp: lắp ráp, cung cấp thiết bị – phụ tùng – linh kiện và dịch vụ
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI VÀO VIỆT NAM
2.1 Thực trạng chính sách thu hút FDI của Chính phủ vào Việt Nam trong thời gian qua:
2.1.1 Chính sách ưu đãi:
2.1.1.1 Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp:
(Áp dụng theo Luật Đầu tư và Nghị định số 24/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 02 năm 2007 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp)
Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư:
Nhà đầu tư có dự án thuộc đối tượng hưởng ưu đãi được hưởng thuế suất
ưu đãi, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Các loại thuế suất ưu đãi bao gồm 10%, 15% và 20% phụ thuộc vào lĩnh vực và địa bàn dự án
Thời gian áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với các dự án đầu tư mới:
Thời gian miễn thuế từ 2 năm đến 4 năm tuỳ thuộc vào lĩnh vực và địa bàn
Trang 24Những ưu đãi cụ thể áp dụng cho cơ sở kinh doanh mới thành lập
từ dự án đầu tư:
THUẾ
SUẤT
THỜI GIAN ÁP
DỤNG
ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI THUỘC Lĩnh
vực đặc biệt ưu đãi
Lĩnh vực ưu đãi
Địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn
Địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn
Danh mục A
Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước)
Đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất:
Kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động, thời gian miễn giảm tiền thuê đất được quy định cụ thể như sau:
MIỄN GIẢM Danh mục B và cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức
kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm
môi trường
03 năm
Danh mục A hoặc Vùng 2
07 năm Vùng 1 hoặc Danh mục B thực hiện trên địa bàn Vùng 2
11 năm Danh mục B thực hiện trên địa bàn Vùng 1
15 năm
Trang 25Những ưu đãi áp dụng cho cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu
tư, cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm:
ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI
THỜI GIAN MIỄN THUÊ
GIẢM THUẾ Mức thuế
giảm Thời gian
Cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu
tư và cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm
ra khỏi đô thị theo quy hoạch đã được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt
02 năm 50% 02 năm
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án
đầu tư thuộc Danh mục B
02 năm 50% 3 năm
Lập dự án mới và di chuyển địa điểm
thuộcVùng 2
02 năm 50% 06 năm
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án
đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực
thuộc Danh mục B và thực hiện tại địa bàn
thuộc Vùng 2
03 năm 50% 07 năm
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án
đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực
thuộc Danh mục A hoặc thực hiện tại địa
bàn thuộcVùng 1
04 năm 50% 09 năm
Đối với cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất thì được miễn, giảm thuế cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư này mang lại
Trang 26ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI
THỜI GIAN MIỄN THUÊ
GIẢM THUẾ
Mức thuế giảm Thời gian
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu
tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới,
mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải
thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng
lực sản xuất
Dự án thuộc Danh mục Ahoặc dự án thực
hiện trên địa bàn Vùng 1
Dự án thuộc Danh mục Bvà thực hiện
Dự án thuộc Danh mục Avà thực hiện
2.1.2.1 Hỗ trợ chuyển giao công nghệ:
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ, bao gồm cả việc góp vốn bằng công nghệ để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về chuyển giao công nghệ
Giá trị của công nghệ dùng để góp vốn hoặc giá trị của công nghệ được chuyển giao do các bên thoả thuận và được quy định tại hợp đồng chuyển giao công nghệ
Chính phủ khuyến khích việc chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn và công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên; khuyến khích việc đầu
tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và sử dụng công nghệ
Trang 27Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ
Quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao công nghệ, quy trình và thủ tục chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ
2.1.2.3 Hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch vụ đầu tư:
Chính phủ hỗ trợ đầu tư phát triển đối với dự án đáp ứng các điều kiện sau:
Dự án thuộc ngành, lĩnh vực quan trọng trong chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững nhưng không được ngân sách nhà nước cấp phát và không được ngân hàng thương mại cho vay theo điều kiện thông thường vì có yếu tố rủi ro
Phù hợp với quy định của pháp luật Phù hợp với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Việc hỗ trợ tín dụng đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ hỗ trợ đầu tư sau:
Tư vấn đầu tư, tư vấn quản lý
Trang 28Tư vấn về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ Dạy nghề, đào tạo kỹ thuật và kỹ năng quản lý Cung cấp thông tin về thị trường, thông tin khoa học - kỹ thuật, công nghệ và các thông tin kinh tế, xã hội mà nhà đầu tư yêu cầu
Tiếp thị, xúc tiến đầu tư và thương mại Thành lập, tham gia các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật
Thành lập các trung tâm thiết kế, thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.2.4 Hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao:
Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi các thành phần kinh tế đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) lập kế hoạch đầu tư và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế
2.1.2.5 Hỗ trợ đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất:
Thủ tướng Chính phủ quy định điều kiện, nguyên tắc, hạn mức và hạng mục công trình được hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho một số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để cùng nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công nghiệp và khu chế xuất
Trang 29Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất
2.1.2.6 Hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế, khu công nghệ cao:
Chính phủ dành nguồn vốn đầu tư từ ngân sách để hỗ trợ đối với các trường hợp sau:
Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài các khu chức năng và các công trình dịch vụ công cộng quan trọng trong khu kinh tế
Bồi thường giải phóng mặt bằng trong các khu chức năng và tái định
cư, tái định canh cho các hộ gia đình bị thu hồi đất
Đầu tư công trình xử lý nước thải và chất thải tập trung của các khu chức năng
Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và
hạ tầng xã hội khu kinh tế
Thủ tướng Chính phủ quyết định phương thức huy động các nguồn vốn khác để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu kinh tế
Việc hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao thực hiện theo quy định của pháp luật về khu công nghệ cao
2.2 Thực trạng hoạt động đầu tƣ thu hút vốn FDI của Việt Nam giai đoạn 2007 – 10 tháng đầu năm 2010:
2.2.1 Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua các năm: (theo
dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện …)
2.2.1.1 Thành công:
Về cấp phép đầu tư:
Trang 30ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
(Chỉ tính các dự án còn hiệu lực tính tới ngày 20/10/2010)
Chuyên ngành Số dự án
Tổng vốn đầu
tư đăng ký (Triệu USD)
Vốn điều lệ (Triệu USD)
CN chế biến,chế tạo 7,128 93,812.59 31,331.49
KD bất động sản 340 43,260.91 10,805.49
Dvụ lưu trú và ăn uống 294 15,990.05 3,076.86
Xây dựng 644 10,409.35 3,552.86
SX, pp điện, khí, nước, đ.hòa 63 4,857.84 1,110.21
Thông tin và truyền thong 626 4,726.95 2,930.91
Nghệ thuật và giải trí 121 3,460.00 1,013.71
Vận tải kho bãi 297 3,185.73 998.80
Nông,lâm nghiệp;thủy sản 481 3,074.69 1,495.70
Khai khoáng 68 2,939.85 2,347.14
Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 436 1,536.53 770.68
Tài chính,n.hàng,bảo hiểm 73 1,321.48 1,171.71
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tính đến hết tháng 10 năm 2010, qua gần 23 năm thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, Việt Nam có đến hơn 11.920 dự án FDI được cấp phép đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng trên 191 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm) Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Một điều dễ nhận thấy nữa là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây không chỉ thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư) thông qua sự có mặt của các tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel, Compal, Foxconn, Samsung Đặc biệt trong năm 2008 còn xuất hiện dự án của các tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ), Berjaya (Ma-lai-xi-a) v.v Điều này cho
Trang 31thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường Việt Nam các tập đoàn nước ngoài đã quyết định đầu tư quy mô lớn, xem Việt Nam như một mắt xích trong chuỗi sản xuất toàn cầu Các dự án lớn nói trên sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm phụ trợ phục vụ sản xuất
Tình hình cấp mới và tăng vốn đầu tư:
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất kinh – kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất
là từ năm 2001 trở lại đây Tính đến hết tháng 10 năm 2010 đã có khoảng 4.900 dự
án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 30,5 tỷ USD
Vốn tăng thêm và cả vốn đăng ký mới đều chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp, kinh doanh bất động sản, dịch vụ ăn uống Trong năm 2009 và 10 tháng đầu năm 2010, tổng vốn đăng ký tăng thêm của ngành công nghiệp chế tạo tương ứng là 14,59% và 75,43% so với tổng vốn tăng thêm
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 32ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2007 – 10T/2010
Đơn vị tính: Triệu USD
Số dự án cấp mới
Vốn tăng thêm
Trang 33Năm 2007:
Với việc coi khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, sau 20 năm thu hút đầu tư (1988-2007), VN đã gặt hái được những thành công ngoài mong đợi Đặc biệt cùng với việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế, VN đã chứng kiến một "làn sóng đầu tư thứ hai" hết sức mạnh mẽ trong suốt hai năm 2006 và 2007 mà đỉnh cao
là năm 2007 với tổng vốn thực hiện đã đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89
tỷ USD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD) Tổng vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD vượt 1 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (20,3 tỷ USD) Như vậy luỹ kế tình hình ĐTNN từ 1988 đến hết năm 2007, tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 85,05 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần 30 tỷ USD (nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD)
Năm 2008:
Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, tổng vốn đăng ký đạt 71,72 tỷ USD, tăng đến 236% so với năm 2007 và đạt mức kỷ lục từ trước tới nay Trong đó, tổng vốn đầu tư cấp mới đạt 66,5 tỷ với 1.557 dự án, tăng 255,27%
so với năm 2007; số dự án xin cấp phép mở rộng sản xuất cũng khá cao với 397 dự
án đạt tổng số vốn là 5,2 tỷ USD, tăng 98,78% so với năm 2007 Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, một phần là
so môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam liên tục được cải thiện tạo sự tin tưởng cho nhà đầu tư
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan vẫn luôn tồn tài những hạn chế rất rất cần khắc phục đó là: công tác kiểm tra, giám sát quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức nên xảy ra tình trạng một số địa phương cấp mới một loạt dự án sử dụng nhiều đất (như sân gôn, khu công nghiệp, khu đô thị, khu vui chơi giải trí), tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, rác thải tại một số khu công nghiệp - khu chế xuất đến mức rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái; thiếu lao động
có tay nghề cao, việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp - nông thôn còn chậm, điều kiện làm việc và sinh hoạt của người lao động còn hạn
Trang 34chế, nhất là tình trạng đình công kéo dài không được giải quyết triệt để cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư - kinh doanh
Năm 2009:
Khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động đến đầu
tư quốc tế trên những khía cạnh chính sau: các nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về nước; vốn tài trợ của công ty mẹ ở bản quốc cho các công ty con ở nước nhận đầu tư giảm sút nghiêm trọng Các nước phát triển thay vì đầu tư ra nước ngoài, đã quay lại để ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước tạo ra làn sóng bảo hộ nền kinh tế trong nước nhằm ứng phó với khủng hoảng trong ngắn hạn Điều này gây bất lợi cho thu hút đầu tư quốc tế
Đối với nước ta trong năm 2009, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008 Cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD Tuy chỉ bằng 24,6%
so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay
Cũng trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008
10 tháng đầu năm 2010:
Tổng cục Thống kê cho biết, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/10/2010 đạt 12,8 tỷ USD, bằng 67,6% cùng kỳ năm 2009 Như vậy qua con số trên có thể thấy thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài khó có thể đạt chỉ tiêu so với cùng kỳ năm ngoài khi mà chỉ còn 2 tháng nữa là hết năm
Cụ thể, trong 10 tháng đầu năm vốn đăng ký của 759 dự án được cấp phép mới đạt 11,6 tỷ USD (giảm 19,1% về số dự án và giảm 27,5% về số vốn so với cùng
kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của 210 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,2 tỷ USD
Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới từ đầu năm đến nay, trong đó Bà Rịa-Vũng Tàu có số vốn đăng ký lớn nhất với 2251,3 triệu USD, chiếm 19,4% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Quảng Ninh 2148 triệu USD, chiếm 18,5%; thành phố Hồ Chí Minh 1721,8 triệu USD, chiếm 14,9%
Trang 35 Tình hình thu hút FDI phân theo quy mô vốn:
Qua các thời kỳ, quy mô dự án đầu tư nước ngoài có sự biến động không ngừng
Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong những giai đoạn kinh tế khó khăn
Trong thời kỳ 2001-2005 quy mô vốn đăng ký giảm xuống 3,4 triệu USD/dự
án Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc
dự án có quy mô vừa và nhỏ
Biểu đồ: QUY MÔ DỰ ÁN TRUNG BÌNH TÍNH TRÊN MỘT DỰ ÁN
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư
Trong 2 năm 2006 và 2007, số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời
kỳ trước Năm 2008: Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều so với năm
2007 (gấp 3.8 lần) Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI
Năm 2009 :Vốn đăng ký mới giảm mạnh trong khi vốn tăng thêm vẫn đạt mức khá cao Quy mô dự án trung bình cũng giảm mạnh so với năm 2008 Số dự án
có quy mô vốn trên 1 tỉ USD đã giảm 50% ( chỉ còn 5 dự án), quy mô dự án cũng giảm, bằng 1/3 so với năm 2008 Điều này phản ánh sự thận trọng hơn của các nhà
Trang 36Năm 2010 có sự cải thiện khá rõ nét về quy mô vốn đăng kí cũng như tình hình giải ngân vốn Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong 4 tháng đầu năm 2010 lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ năm 2009
Tình hình thu hút FDI phân theo hình thức đầu tư:
Nhiều năm qua, Việt Nam luôn được xem là một trong số ít địa chỉ đầu tư tốt nhất thế giới Thực tế cũng đã cho thấy sức cạnh tranh thu hút đầu tư của Việt Nam vượt trội nhiều nền kinh tế khác và thành tích thu hút dự án cũng như nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam ít nước sánh được Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong những năm qua chủ yếu dưới các hình thức: 100% vốn nước ngoài; liên doanh; hợp đồng hợp tác kinh doanh; đầu tư theo BOT,BT,BTO; đầu tư phát triển kinh doanh; góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập mua lại công ty…
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO HÌNH THỨC
Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/09/2010
Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đầu tư đăng ký (USD)
Vốn điều lệ (USD)
Tỷ trọng theo dự án (%)
Nguồn:Bộ kế hoạch và đầu tư_cục đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn mới, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 đến nay, thì cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư cũng không có nhiều thay đổi
Trang 37Biểu đồ: FDI phân theo hình thức đầu tƣ
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư_cục đầu tư nước ngoài
Dòng vốn FDI đầu tư vào nước ta chiếm đa số là dưới hình thức 100% vốn nước ngoài và liên doanh Riêng năm 2009 và 2010 thì hình thức đầu tư dưới dạng
cổ phần có xu hướng ngày càng tăng( năm 2009 là 6 dự án nhưng mới 9 tháng đầu năm 2010, con số này đã tăng lên tới 14 dự án)
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động để sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, hàng tiêu dùng, công nghệ chế biến Đối với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, nhà đầu tư được chủ động hơn trong lựa chọn địa điểm thực hiện dự án, điều hành sản xuất-kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thực chất là các chi nhánh, các công
ty con trong mạng lưới toàn cầu của các công ty đã quốc gia, nên có nhiều thuận lợi trong tiếp cận thị trường thế giới Tuy nhiên, vì toàn bộ quá trình kinh doanh do nhà đầu tư nước ngoài chi phối nên cần có qui định ngăn ngừa họ không trung thực trong báo cáo tài chính, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép các doanh nghiệp trong nước
Hình thức liên doanh chủ yếu ở các lĩnh vực kinh tế quan trọng như dầu khí, sản xuất xi măng, sắt thép, hoá chất, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử Các liên doanh đã góp phần vực dậy nhiều ngành công nghiệp Việt Nam (bị suy thoái do thiếu vốn, thiếu vật tư, công nghệ lạc hậu, mất thị trường ), cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế mà trước đây vẫn phải nhập khẩu Đội ngũ cán bộ
Trang 38quản lý, cán bộ kỹ thuật của Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh
đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, tiếp thu được công nghệ mới, kiến thức và kinh nghiệm quản lí của nước ngoài Tuy nhiên vẫn còn hiện tượng một số đối tác nước ngoài trong liên doanh đã khai vống các chi phí đầu tư, nâng giá thiết bị, máy móc góp vốn và nguyên liệu đầu vào, hạ giá đầu tư thông qua chuyển giá với công
ty mẹ để thu lợi nhuận từ bên ngoài mà bên phía Việt Nam không có khả năng kiểm soát được
Trong các hình thức đầu tư, hình thức BOT và Hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD) rất khiêm tốn cả về số dự án lẫn vốn đầu tư
Đầu tư FDI theo hình thức 100% vốn nước ngoài và liên doanh đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nước ta.Sau đây là bảng liệt kê 20 doanh nghiệp liên doanh có đóng góp nhiều nhất cho Việt Nam:
Bảng xếp hạng Top 10 doanh nghiệp liên doanh, FDI lớn nhất Việt Nam BXH
1 CÔNG TY HONDA VIỆT NAM
2 CÔNG TY LIÊN DOANH ĐIỀU HÀNH CỬU LONG
3 CÔNG TY TNHH CANON VIỆT NAM
4 CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NHẬT
5 CÔNG TY DẦU THỰC VẬT CÁI LÂN
6 CÔNG TY LIÊN DOANH NHÀ MÁY BIA VIỆT
NAM
7 CÔNG TY LD UNILEVER VIỆT NAM
8 CÔNG TY Ô TÔ TOYOTA VIỆT NAM
9 CÔNG TY TNHH YAMAHA MOTOR VIỆT NAM
10 CÔNG TY CONOCO PHILLIPS VIETNAM
Nguồn: http://www.doanhnghiep1000ty.com
Trong top 10 doanh nghiệp liên doanh, FDI lớn nhất thuộc về Công ty Honda Việt Nam Honda Việt Nam cũng là doanh nghiệp FDI duy nhất có tên trong bảng xếp hạng Top 20 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam Tính đến nay Honda Việt Nam
đã đầu tư trên 400 triệu USD xây dựng 3 nhà máy gồm 2 nhà máy sản xuất xe máy
Trang 39và 1 nhà máy lắp ráp ô tô Công suất 2 nhà máy sản xuất xe máy là 1,5 triệu xe\năm
và nhà máy lắp ráp ô tô là 10.000 xe/năm
2.2.1.2 Hạn chế:
Dưới tác động của nhiều yếu tố, lượng dự án và vốn đầu tư FDI trong những năm gần đây có xu hướng giảm Trong 3 năm, từ 2008 đến 2010, số vốn FDI và số lượng dự án đầu tư nước ngoài giảm liên tục
Biểu đồ thu hút vốn FDI ba năm gần đây
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư
Ai cũng hiểu vốn FDI đăng ký chỉ là những con số ảo bởi mới chỉ dừng lại ở cam kết của nhà đầu tư, câu chuyện thật nằm ở phần giải ngân Nhưng vốn FDI giải ngân thực hiện dự án ở VN vẫn là những con số ước tính, bởi chế độ báo cáo hiện nay không được tuân thủ chặt chẽ
Khoảng cách giữa vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện cũng ngày càng xa:
Giai đoạn 2006-2010: tổng vốn đăng ký là 147,6 tỉ USD, vốn thực hiện
44,6 tỉ USD, nghĩa là còn 103 tỉ USD vốn chưa triển khai
Giai đoạn 2010-2015: VN dự báo mỗi năm thu hút 30 tỉ USD vốn đăng ký,
15 tỉ USD vốn thực hiện Dự báo đến năm 2015, tổng vốn đăng ký sẽ đạt 350 tỉ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ là 145 tỉ USD Như vậy chênh lệch giữa vốn đăng ký
và vốn thực hiện sẽ là 205 tỉ USD, gấp đôi giai đoạn trước đó
Trang 40Không chỉ chạy đuổi theo vốn đăng ký do áp lực chỉ tiêu, cơ quan quản lý nhà nước cũng đang đuối với vốn giải ngân thực hiện dự án Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng cho hay ông đã nhiều lần “toát mồ hôi” vì phải báo cáo Thủ tướng tình hình giải ngân trong khi các địa phương không gửi báo cáo về Ở các địa phương, tình hình cũng không khác mấy khi sở kế hoạch - đầu tư yêu cầu nhưng doanh nghiệp không báo cáo Vì thế các bản báo cáo đều phần nào chưa chính xác
do ước lượng khá nhiều thông tin
Những khiếm khuyết trong việc thống kê khiến cơ quan quản lý khó xác định thật sự bao nhiêu vốn FDI vào VN mỗi năm Bằng chứng là năm 2009, Cục Đầu tư nước ngoài đã phải điều chỉnh số vốn FDI đăng ký của năm 2008 thêm đến 7 tỉ USD, từ 64 tỉ lên 71 tỉ USD
Nhà đầu tư nước ngoài thường đăng ký số vốn đầu tư cực lớn, đồng nghĩa với việc họ được giao diện tích đất khổng lồ Trong khi đó, nhà quản lý không thể kiểm soát số vốn kia được chuyển vào VN theo lộ trình như thế nào Với đa số dự án, sau khi có được giấy phép trong tay nhà đầu tư mới đi huy động vốn Gặp thời điểm khó khăn, huy động vốn chật vật, dự án chậm tiến độ là “chuyện cả làng”
Như đã phân tích, phần lớn vốn FDI vào nước ta theo hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, và liên doanh Ngoài những tác động tích cực, các hình thức đầu tư này cũng có những mặt hạn chế Với việc các nhà đầu tư bỏ vốn và đứng ra quản lý
tổ chức, về phía Việt Nam sẽ khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đê nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước
Mặt khác, một số ngành Việt Nam hiện nay còn hạn chế đầu tư, đặc biệt đối với hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài Đơn cử, trong ngành dịch vụ bưu chính viễn thông, đối với Dự án đầu tư cung ứng dịch vụ chuyển phát, phải đến ngày 11/1/2012, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập liên doanh với nhà đầu tư trong nước với tỷ lệ vốn góp nước ngoài trên 51% hoặc thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hiện nay, còn một số ngành nhà nước vẫn “độc quyền” hạn chế đầu tư nước ngoài hoặc không cho phép đầu tư 100% vốn nước ngoài Đơn cử là ngành điện vẫn theo
Cơ chế độc quyền “tự nhiên” gói cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối Với quy định này, không chỉ sẽ hạn chế nguồn vốn đầu tư vào sự phát triển của toàn ngành điện mà còn gây ra những hiệu ứng không tốt đối với các doanh nghiệp nhà