Các tế bào này có thể liên kết với nhau nhờ sử dụngmột máy tính, cho phép thuê bao có thể di động trong khi số lượng thuê baocùng một lúc gia tăng đáng kể mà hệ thống vẫn có thể phục vụ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Thỏi Nguyên, tháng 11 năm 2010
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Thông tin di động hiện nay đã trở thành một dịch vụ kinh doanh khôngthể thiếu được của tất cả các nhà khai thác viễn thông Đối vơớ cỏc khách hàngviễn thông nhất là đối với với các nhà doanh nghiệp thì thông tin di động trởthành một phương tiện quen thuộc Các dịch vụ thông tin di động đang pháttriển cho mọi đối tượng khách hàng viễn thông, cùng với sự phát triển của đấtnước công nghệ thông tin cũng có những bước phát triển tuyệt vời với sự pháttriển của các nghành khác như: điện tử, tin học, quang học công nghệ viễnthông đã và đang mang đến cho con người những ứng dụng trong tất cả cácnghành kinh tế, giáo dục, văn học, y học, thông tin quảng bỏ… Cỏc quốc giađều coi viễn thông tin học là những nghành mũi nhọn và được đầu tư thíchđáng trong nghiên cứu và trong ứng dụng công nghệ thông tin làm đòn bẩy đểkích thích sự phát triển của nghành kinh tế quốc dân khác Đi cùng với sự pháttriển của công nghệ thông tin thì thông tin di động hiện nay đang được pháttriển tăng cường bằng cách đưa thờm cỏc dịch vụ mới như thông tin số liệu tốc
độ cao, hình ảnh tốc độ thấp, hình ảnh tốc độ đủ để phục vụ cho truyền hỡnh…
Để làm được điều này thông tin di động số băng hẹp đang được chuyển vàothông tin di động số băng rộng ở một số nước phát triển trên thế giới số thuêbao di động đã chiếm 70% tổng thuê bao, còn ở nước ta số thuê bao di động đãchiếm trên 10% tổng số thuê bao Mạng thông tin di động tổ ong số hiện đạitheo tiêu chuẩn GSM đang được khai thác rất hiệu quả Mạng di động là mạng
có sư tổ hợp hoàn chỉnh của nhiêu công nghệ tiên tiến và thuật toán lý thuyếthiện đại như kỹ thuật định vị, xử lý tiếng nói, điều chế số, xử lý tín hiệu số…
Đề tài này của em chỉ nhằm mục đích tìm hiểu tổng quan về mạng thông diđộng GSM và lộ trình phát triển hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G lên3G…
Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG
Trang 31.1 Lịch sử mạng thông tin di động
Năm 1946, hệ thống điện thoại di động thương mại đầu tiên đã được đưavào hoạt động ở thành phố Saint Louis- Hoa Kỳ, sử dụng băng tần 150 MHzvới khoảng cách kênh là 60 KHz và số lượng kênh bị hạn chế chỉ tới 3 Tuynhiên dịch vụ này vừa chỉ mới bắt đầu thì những nhược điểm cố hữu của nó đãbộc lộ Tất nhiên nhược điểm chính là do những nguyên nhân về can nhiễucùng kênh nên đòi hỏi phải phân cách về mặt vật lý quá lớn
Năm 1947, phòng thí nghiệm điện thoại Bell bắt đầu bắt tay vào khảo sátmột khái niệm tái sử dụng tần số nhờ sử dụng các tế bào nhỏ (cell) với các máy
di động công suất thấp Các tế bào này có thể liên kết với nhau nhờ sử dụngmột máy tính, cho phép thuê bao có thể di động trong khi số lượng thuê baocùng một lúc gia tăng đáng kể mà hệ thống vẫn có thể phục vụ được Tuynhiên, thực tế các nước khác đã đưa mạng tế bào hoạt động như một dịch vụthương mại trước cả Hoa Kỳ
Mặc dù các dịch vụ mạng tế bào phát triển mạnh, nhưng không hề có khảnăng tương hợp giữa các dịch vụ trên phạm vi toàn cầu.Hệ thống ở Hoa Kì dựatrên thiết kế ban đầu của AT&T và Motorola, được gọi là AMPS ( AdvancedMobile Phone Service- dịch vụ điện thoại di động tiên tiến) AMPS được sửdụng ở khoảng 70 nước khác trên thế giới và nó là tiêu chuẩn được sử dụngrộng rãi nhất hiện nay Ngoài ra phải kể đến một số tiêu chuẩn thông dụng khácnhư: NMT (Nordic Mobile Telephone- điện thoại di động Bắc Âu), TACS(Total Access Communications Service- dịch vụ truyền thông hoàn toàn truynhập) và hệ thống GSM (Global System for Mobile- hệ thống di động toàncầu).Hệ thống NMT ban đầu đã được thiết kế cho các mạng tương đối nhỏ gồm20.000- 30.000 thuê bao và cung cấp 180 kênh, mỗi kênh sử dụng dải thông 25hoặc 30 KHz trong dải tần 450
MHz Một thế hệ sau này của NMT cung cấp dung lượng lớn hơn ở dải tần 900MHz, nó có khả năng cung cấp 1.000 kênh, mỗi kênh sử dụng dải thông 25KHz hoặc 2.000 kênh, mỗi kênh có dải thông12,5 KHz Và hiện tại có khoảng
30 nước đã sử dụng hệ thống NMT Hệ thống TACS được sử dụng ở Châu Âu,Anh Quốc và khoảng vài chục nước khác Một dạng chuyển hoá của TACSđược sử dụng ở Nhật Bản gọi là JTACS, cung cấp 1.320 kênh, mỗi kênh chiếmdải thông 25 KHz Còn sự ra đời của GSM có thể nói là do các nước khác nhau
ở Châu Âu sử dụng các tiêu chuẩn mạng tế bào khác nhau, cho nên cần có một
tiêu chuẩn duy nhất để cung cấp khả năng chuyển vùng (Các tiêu chuẩn khácnhau không chỉ sử dụng các giao thức khác nhau mà còn hoạt động ở các tần sốkhác nhau, vì vậy không thể có tính tương thích toàn cầu) Do vậy hệ thốngGSM đã được phát triển như một dịch vụ số hoá hoàn toàn có thể dùng được ởChâu Âu và nhiều nước khác GSM được thiết kế để làm việc ở băng tần 900MHz và qui định tám khe thời gian cho mỗi kênh rộng 200 KHz
Trang 41.2 Cấu trúc cơ bản của mạng tế bào
Về cơ bản, hệ thống điện thoại di động tế bào gồm các máy điện thoại diđộng trên xe ô tô hoặc xách tay (MS), trạm gốc (BS) và tổng đài di động(MSC- trung tâm chuyển mạch điện thoại di động)
Trong đó, máy điện thoại di động bao gồm các bộ thu/phát RF, anten và
bộ điều khiển BS còng bao gồm các bộ thu/phát RF để kết nối giữa máy diđộng với trung tâm chuyển mạch của hệ thống, anten, bộ điều khiển, đầu cuối
số liệu và nguồn cung cấp Còn MSC bao gồm bộ phận điều khiển, bộ phận kếtnối cuộc gọi, các thiết bị ngoại vi và cung cấp chức năng thu thập số liệu cướcđối với các cuộc gọi đã hoàn thành
Các thành phần chức năng của mạng được liên kết với nhau thông quacác đường kết nối thoại và số liêụ Mỗi máy di động sử dụng một cặp kênhthu/phát RF Vì các kênh lưu lượng không cố định ở một kênh RF nào mà thayđổi thành các tần số RF khác nhau phụ thuộc vào sự di chuyển của máy di độngtrong suốt quá trình cuộc gọi Nên cuộc gọi có thể được thiết lập ở bất kỳ mộtkênh nào đã được xác định trong vùng đó Cũng từ những quan điểm về hệthống điện thoại di động mà thấy rằng tất cả các kênh đã được xác định đều cóthể bận do được kết nối một cách đồng thời với các máy di động MSC xử lýcác cuộc gọi đi và đến từ mỗi BS và cung cấp chức năng điều khiển trung tâmcho hoạt động của tất cả các BS một cách hiệu quả và để truy nhập vào tổng đàicủa mạng điện thoại công cộng Bộ phận điều khiển của MSC có thể nói là tráitim của hệ thống tế bào vì nó sẽ điều khiển, sắp đặt và quản lý toàn bộ hệthống Tổng đài MSC kết nối các đường đàm thoại để thiết lập cuộc gọi giữacác máy thuê bao di động với nhau hoặc các thuê bao cố định với các thuê bao
di động và trao đổi các thông tin báo hiệu đa dạng qua đường số liệu giữa MSC
và BS Các thông tin thoại và báo hiệu giữa máy di động và BS được truyền điqua kênh RF, các đường kết nối thoại và số liệu cố định được sử dụng đểtruyền các thông tin thoại và báo hiệu giữa BS và MSC
1.3 Phương pháp truy nhập kênh trong thông tin di động
1.3.1 Kỹ thuật ghép kênh (Multiplexing):
Để làm tăng dung lượng của dải vô tuyến dùng trong một lĩnh vực nào
đó, chẳng hạn như trong thông tin di động thì người ta phải sử dụng kỹ thuậtghép kênh Hiện nay có rất nhiều loại ghép kênh, nhưng ba hình thức thôngdụng nhất là:
• FDMA (Frequency Division Multiple Access- Đa truy nhập phânchia theo tần số)
• TDMA (Time Division Multiple Access- Đa truy nhập phân chiatheo thời gian)
• CDMA (Code Division Multiple Access- Đa truy nhập phân chiatheo mã)
Trang 5Liên quan đến việc ghép kênh là dải thông mà mỗi kênh hoặc mỗi mạchchiếm trong một băng tần nào đó Trong mỗi hệ thống ghép kênh đều sử dụngkhái niệm đa truy nhập, điều này có nghĩa là các kênh vô tuyến được nhiều thuêbao dùng chung chứ không phải là mỗi khách hàng được gán cho một tần sốriêng.
1.3.2 Đa truy cập phân chia theo tần số (FDMA):
Đối với các hệ thống tế bào hiện đang sử dụng kỹ thuật ghép kênhFDMA, đều chia toàn bộ băng tần được phân phối cho một nhà khai thác mạng
tế bào (Khoảng 25 MHz) thành các kênh rời rạc Vì mỗi kênh thường có độrộng dải là 30 KHz, cho nên hệ thống có tất cả 832 kênh khả dụng Mỗi cuộcđàm thoại cần sử dụng hai tần số, cho nên mỗi nhà khai thác có 416 cặp tần sốkhả dụng Mỗi cặp có thể gán cho một thuê bao mạng tế bào vào bất kỳ lúcnào
Thiết bị di động sử dụng kỹ thuật FDMA Ýt phức tạp hơn so với cácthiết bị sử dụng các kỹ thuật ghép kênh khác và giá thành rẻ hơn Tuy nhiên, domỗi kênh cần dùng một máy phát và một máy thu riêng biệt Cho nên FDMAđòi hỏi rất nhiều thiết bị tại vị trí trạm gốc Kỹ thuật FDMA có khả năng sửdụng được với cả các hệ thống truyền dẫn số (Digital) lẫn các hệ thống truyềndẫn tương tự (Analog)
Sau đây là minh hoạ về kỹ thuật FDMA sử dụng cho hệ thống tế bàoanalog ở Hoa Kỳ:
Hình 1 FDMA
Như vậy, mỗi kênh chiếm dải thông và đáp ứng cho một cuộc đàm thoại.Tần số của mỗi kênh tuy khác nhau nhưng nhiều máy vô tuyến có thể truy nhậptới được
1.3.3 Đa truy cập phân chia theo thời gian ( TDMA):
30 KHz kªnh 1 Tho¹i
analog
30 KHz kªnh 832
.
Tho¹i analog
Trang 6Với TDMA mỗi kênh vô tuyến được chia thành các khe thời gian Từngcuộc đàm thoại được biến đổi thành tín hiệu số và sau đó được gán cho méttrong những khe thời gian này Số lượng khe trong một kênh có thể thay đổibởi vì nó là một nhiệm vụ của thiết kế hệ thống Có Ýt nhất là hai khe thời giancho một kênh, và thường thì nhiều hơn, điều đó có nghĩa là TDMA có khả năngphục vụ số lượng khách hàng nhiều hơn vài lần so với kỹ thuật FDMA vớicùng một đại lượng dải thông như vậy.
TDMA là một hệ thống phức tạp hơn FDMA, bởi vì tiếng nói phải được
số hoá hoặc mã hoá, sau đó được lưu trữ vào một bộ nhớ đệm để gán cho métkhe thời gian trống và cuối cùng mới phát đi Do đó việc truyền dẫn tín hiệu làkhông liên tục và tốc độ truyền dẫn phải lớn hơn vài lần tốc độ mã hoá Ngoài
ra, do có nhiều thông tin hơn chứa trong cùng một dải thông nên thiết bịTDMA phải được sử dụng kỹ thuật phức tạp hơn để cân bằng tín hiệu thu nhằmduy trì chất lượng của tín hiệu
Hình 2 TDMA
1.3.4 Đa truy cập phân chia theo mã (CDMA):
Trong kỹ thuật CDMA, tín hiệu mang tin ( ví dụ như tiếng nói) đượcbiến đổi thành tín hiệu digital, sau đó được trộn với một mã giống như mã ngẫunhiên Tín hiệu tổng cộng, tức tiếng nói cộng với mã giả ngẫu nhiên, khi đóđược phát trong một dải tần rộng nhờ một kỹ thuật gọi là trải phổ
Không giống FDMA hay TDMA, truyền dẫn trải phổ mà CDMA sửdụng đòi hỏi các kênh có dải thông tương đối rộng (Thường là 1,25 MHz) Tuynhiên theo tính toán lý thuyết thì CDMA có thể chứa được số thuê bao lớn gấpkhoảng 20 lần mà FDMA có thể có trong một dải thông tổng cộng như nhau
30 kHz kªnh 1
30 kHz kªnh 832
.
Trang 7.
(1)
(1)
Trang 8C hương 2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI ĐỘNG GSM
2.1 Cấu trúc mạng GSM
Hình 4 Sơ đồ cấu trúc mạng GSM
OSS : Hệ thống khai thác và hỗ trợ AUC : Trung tâm nhận thực
HLR : Bé ghi định vị thường trú MSC : Tổng đài di động
BSS : Hệ thống trạm gôcBSC : Đài điều khiển trạm gốc PSPDN: Mạng chuyển mạch gói công cộng PSDN : Mạng chuyển mạch điện thoại công cộng
SS : Hệ thống chuyển mạch VLR : Bé ghi định vị tạm trú EIR : Thanh ghi nhận dạng thiết bị BTS : Đài vô tuyến gốc
MS : Trạm di động ISDN : Mạng số liên kết đa dịch vụCSPDN : Mạng chuyển mạch số công cộng theo mạch PLMN : Mạng di động mặt đất công cộng
SS
AUC
MS
EIR MSC
HLR
BSS
BSC BTS
VLR ISDN
Trang 92.2 Các khối chức năng
2.2.1 Hệ thống con chuyển mạch SS:
Hệ thống con chuyển mạch bao gồm chức năng chuyển mạch chính của
mạng GSM cũng như việc lưu trữ các cơ sở dữ liệu cần thiết về số liệu và quản
lý di động của thuê bao Chức năng chính của SS là quản lý thông tin giữanhững người sử dụng mạng GSM với nhau và với mạng khác
Trung tâm chuyển mạch di động –MSC:
MSC thực hiện nhiệm vụ điều khiển, thiết lập cuộc gọi đến những người
sử dụng mạng GSM với nhau và với mạng khác
Thực hiện giao diện với hệ thống con BSS và giao diện với các mạngngoài
Trung tâm nhận thực –AUC:
Trung tâm nhận thực lưu giữ về nhận thực thuê bao, nó chịu trách nhiệm
xử lý nhận thực và tạo biện pháp bảo mật trong các cuộc gọi
AUC là bộ phận phần cứng trong HLR, cho phép bám và ghi lại các cuộcgọi, chống nghe trộm, nó được thay đổi riêng cho từng thuê bao
Thanh ghi nhận dạng thiết bị –EIR:
EIR được nối với một MSC thông qua đường báo hiệu riêng, nó cho phépMSC kiểm tra sự hợp lệ của thiết bị di động Hay EIR lưu trữ thông tin vềIMEI và tổ chức danh sách IMEI như sau:
+ Danh sách trắng: gồm các IMEI hợp lệ
Trang 10+ Danh sách đen: gồm các IMEI của các di động bị lỗi hoặc không kết nốiđược vói mạng GSM hiện tại.
2.2.2 Trạm di động MS:
MS là một đầu cuối di động, có thể đặt trên ô tô hay xách tay Tại GSM
có một khối nhỏ gọi là modun nhận dạng thuê bao SIM, là một khối vật lý táchriêng chẳng hạn là một IC Card còn gọi là card thông minh SIM cung với thiết
bị trạm hợp thành trạm di động Không có SIM, MS không thể thâm nhập đếnmạng trừ trường hợp gọi khẩn Khi liên kết đăng ký thuê bao với card SIM chứkhông phải với MS
Đăng ký thuê bao có thể có thể sử dụng trạm MS khác như của chínhmình Điều này làm nẩy sinh vấn đề MS bị lấy cắp, vì không có biện pháp đểchặn đăng ký thuê bao nếu bị lấy cắp thì khi đó sẽ cần một cơ sở dữ liệu chứa
số liệu phần cứng của thiết bị: thanh ghi nhận dạng thiết bị EIR (nhưng hiệnnay ở Việt Nam thì người ta không dùng thiết bị này nữa bởi vì khi có EIR thì
nó yêu cầu máy có chỉ tiêu chất lượng tốt Do kinh tế thị trường thì không phải
ai cũng có thể mua một máy có chất lượng đạt yêu cầu ) EIR được nối VớiMSC qua một đường báo hiệu Nó cho phép MSC kiểm tra sự hợp lệ của thiết
bị Bằng cách này có thể cho mét MS không được thâm nhập
2.2.3 Hệ thống con trạm gốc BSS:
Hệ thống con trạm gốc BSS được hiểu như hệ thống vô tuyến: cung cấp
và quản lý đường truyền vô tuyến giữa máy di động và tổng đài MSC Gồm:
Bộ điều khiển trạm gốc BSC:
BSC có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông qua các lệnhđiều khiển từ xa BTS và MS Các lệnh này chủ yếu là lệnh Ên định, giải phóngkênh vô tuyến và chuyển giao Một phía BSC được nôí với BTS còn phía kianối với MSC của SS Trong thực tế BSC là một tổng đài nhỏ có khả năng tínhtoán đáng kể Vai trò chính của nó là quản lý các kênh ở giao diện vô tuyến vàchuyển giao Giao diện giữa BSC và MSC là giao diện A, còn giao diện giữaBTS và BSC là giao diện Abit
Trang 11
Trạm thu phát gốc BTS:
BTS là thiết bị trung gian giữa GSM và thuê bao di động, trao đổi thôngtin với MS thông qua giao diện vô tuyến Um BTS bao gồm các thiết bị như:Anten thu phát, thiết bị xử lý tín hiệu đặc thù cho giao diện vô tuyến BTS dưới
sự điều khiển của một BSC có thể kết nối theo nhiều đường khác nhau
Bộ chuyển đổi mã thích ứng tốc độ TRAU:
TRAU là thiết bị mà quá trình mã hóa và giải mã đặc thù riêng chomạng GSM được tiến hành TRAU là một bộ phận của BTS nhưng cũng có thểđặt nó cách xa BTS và thậm chí trong nhiều trường hợp nó được đặt giữa BSC
và MSC
2.2.4 Hệ thống khai thác và bảo dưỡng OSS:
OSS gồm một số OMC dùng để theo dõi và bảo trì hoạt động của
MSC, BTS, BSC Gồm các chức năng chính sau:
Chức năng khai thác và bảo dưỡng:
- Khai thác: Giám sát toàn bộ chất lượng dịch vụ (tải lưu lượng, mức độnghẽn, số lượng chuyển giao…)để kịp thời xử lý các sự cố Khai thác baogồm cả việc thay đổi cấu hình để giải quyết các vấn đề hiện tại, để tănglưu lượng, tăng diện tích phủ sóng
- Bảo dưỡng: có nhiệm vụ phát hiện, định vị, sửa chữa các sự cố và hỏnghóc Nó liên quan chặt chẽ với khai thác
Quản lý thuê bao
- Bao gồm cả các hoạt động như: đăng ký thuê bao, nhập thuê bao vàomạng hay loại bỏ thuê bao ra khỏi mạng Đăng ký các dịch vụ và các tính năng
bổ sung Ngoài ra nó còn có nhiệm vụ tính cước cuộc gọi Quản lý thuê bao doHLR và một số thiết bị OSS chuyên dụng đảm nhiệm Sim Card đóng vai tròquan trọng cùng với OSS trong việc quản lý các thuê bao
- Quản lý các thiết bị tự động được thực hiện bởi EIR EIR lưu giữ tất cảcác dữ liệu liên quan đến trạm di động MS EIR được nối với MSC để kiểm tra
sự hợp lệ của các thuê bao
Trang 122.3 Cấu trúc địa lý của mạng
Mọi mạng điện thoại cần một cấu trúc nhất định để định tuyến các cuộcgọi vào tổng đài cần thiết và cuối cùng đến thuê bao bị gọi, ở một mạng diđộng cấu trúc này rất quạn trọng do tính lưu thông của các thuê bao trongmạng
Vùng mạng:
Tổng đài vô tuyến cổng GMSC kết nối các đường truyền giữa mạngGSM/PLMN và mạng PSTN/ISDN khác hay các mạng PLMN khác sẽ ở mứctổng đài trung kế quốc gia hay quốc tế Tất cả các cuộc gọi vào cho mạng GSM
sẽ được định tuyến đến một hay nhiều tổng đài vô tuyến cổng GMSC
Vùng phục vụ MSC/VLR:
Vùng MSC là một bộ phận của mạng được một MSC quản lý Để địnhtuyến một cuộc gọi đến một thuê bao di động, đường truyền qua mạng sẽ đượcnối đến MSC ở vùng phục vụ MSC nơi thuê bao đang ở
Vùng phục vụ như là một bộ phận của mạng được định nghĩa như mộtvùng mà ở đó có thể đạt đến trạm di động nhờ việc MS này được ghi lại ở một
mà ở đó thông báo tìm gọi sẽ được phát quảng bá để tìm một thuê bao di động
bị gọi Vùng định vị có thể có một số cell và phụ thuộc vào một hay vài BSCnhưng nó chỉ phụ thuộc vào một MSC/VLR
Hệ thống có thể nhận dạng vùng định vị bằng cách sử dụng nhận dạngvùng định vị LAI
Vùng định vị được hệ thống sử dụng để tìm một thuê bao đang ở trạngthái hoạt động
Ô (cell):
Vùng định vị được chia thành một số ô, là một vùng bao phủ vô tuyếnđược nhận dạng bằng nhận đạng ô toàn cầu (CGI)
Trang 13Trạm di động tự nhận dạng một ô bằng cách sử dụng mã nhận dạng trạmgốc (BSIC).
2.4 Các loại kênh trong GSM
Trong mạng di động GSM có 2 loại kênh:
- Kênh lưu lượng (TCH Traffic Channel)
- Kênh điều khiển (CCH Control Channel)
2.4.1 Kênh lưu lượng:
- Là kênh mang thông tin thoại và dữ liệu được mã hóa của người sử dụng,đây là kênh ở cả 2 đường lên và xuống, truyền từ điểm tới điểm
- Có 2 loại kênh lưu lượng:
+ Kênh toàn tốc (FR): người dùng chiếm hoàn toàn một khe thời gian ở cáckhung liên tiếp
+ Kênh bán tốc (HR): ở kênh này khe thời gian được phân cách khung
2.4.2 Kênh điều khiển:
Các kênh điều khiển quảng bá (BCCH):
+ Kênh hiệu chỉnh tần số FCCH mang thông tin của hệ thống để điều chỉnhtần số cho MS
+ Kênh đồng bộ SCH mang thông tin đồng bộ khung cho MS và mã nhậndạng trạm BTS
+ Kênh điều khiển quảng bá BCCH mang các thông tin của hệ thống như sốLAI, các thông tin của ô
Các kênh điều khiển chung (CCCH):
+ Kênh tìm gọi PCH: dùng để phát thông báo tìm gọi MS , là kênh dùng chođường xuống
+ Kênh truy cập ngẫu nhiên RACH: là kênh mà MS sử dụng để yêu cầucung cấp một kênh DCCH, trả lời thông báo tìm gọi, thực hiện các thủ tục khởiđầu khi đăng ký cuộc gọi, là kênh đường liên kết nối điểm- đa điểm
+ Kênh trợ giúp truy cập AGCH: là kênh theo chiều xuôi, bản tin CCCHcuối cùng gửi từ trạm BTS trước khi MS ngắt khối kênh điều khiển
Các kênh điều khiển riêng DCCH:
+ Kênh điều khiển riêng đứng đơn lẻ SDCCH dùng để báo hiệu hệ thống khithiết lập cuộc gọi trước khi Ên định một kênh TCH, là kênh dùng cho cả đườnglên và xuống, kết nối điểm-điểm
Trang 14+ Kênh điều khiển liên kết chậm SACCH là kênh số liệu liên tục mangthông tin đo đạc từ MS về cường độ tín hiệu nhận, chất lượng thu…
+ Kênh điều khiển liên kết nhanh FSCCH liên kết với một kênh TCH theochế độ “lấy lén” Khi tốc độ thông tin cần trao đổi lớn hơn nhiều khả năng củaSACCH thì hệ thống sẽ “lấy lén” một côm 20ms của TCH
2.5 Kiến trúc vô tuyến của GSM
Dải tần phát ngược (từ MS tới BTS) 25 MHz: từ 890 - 915 MHz
Dải tần phát xuôi (từ BTS tới MS) 25 MHz: từ 935 - 960 MHz
Do không bị lệ thuộc vào khung kĩ thuật nào của một hệ thống trước đó nênGSM được thiết kế độc lập chứa đựng nhiều ưu điểm kĩ thuật GSM sử dụng kĩthuật FDD kết hợp TDMA và FDMA nhằm phục vụ đa truy cập
Dải tần phát ngược và phát xuôi được chia thành các kênh vô tuyến rộng
200 KHz, các kênh này ghép cặp ngược xuôi sao cho chúng cách biệt nhau 45MHz và cùng dùng chung bởi 8 người theo kĩ thuật TDMA
Mỗi người được phân một khe thời gian, tốc độ truyền dẫn kênh là 270,833kbp/s dùng điều chế nhị phân BT= 0,3 GMSK Như vậy độ dài bit là 3,692 us.Tốc độ truyền của một người dùng là 33,854 kbp/s Mỗi khe thời gian ứng với156,2 bit, trong đó 8,25 bit dùng cho bảo vệ, 6 bit cho báo hiệu bắt đầu và kếtthúc mỗi khung có độ dài 4,615 ms
Tổng số kênh vô tuyến trong dải 25 MHz là 125, mỗi kênh 8 khe thời gian
sẽ cho tổng số 1000 kênh lưu lượng
Tổ hợp tỷ số và kênh vô tuyến tạo nên một kênh vật lý đối với tất cả chiềuphát xuôi và ngược Mỗi kênh vật lý của GSM có thể được gán cho các kênhlogic tại thời điểm khác nhau
2.6 Các đặc trưng của GSM
Trong các hệ thống điện thoại di động hiện có cung cấp cho các thuê bao
và nhà khai thác nhiều ưu điểm hơn một mạng điện thoại tiêu chuẩn Nhưng ở
đó còn nhiều hạn chế GSM đã khắc phục được những hạn chế đó và được thểhiện qua các đặc trưng sau
Tính tương thích:
Do sự phát triển nhanh chóng của các mạng tế bào ở Châu Âu, hiện cónhiều hệ thống tế bào khác nhau mà không tương thích với nhau Vì vậy, hiểnnhiên là cần phải có một tiêu chuẩn chung cho hệ thống thông tin di động Vàmột hội đồng thực thi đã được thiết lập với một nhiệm vụ phức tạp là phân địnhchung-riêng ở mạng tiêu chuẩn mới Tiêu chuẩn GSM đã được qui định và pháttriển ở các nước Châu Âu đang hoạt động để khai thác chung với nhau Kết
Trang 15quả là một hệ thống tế bào đã được thực hiện ở khắp Châu Âu Sự thuận lợi dotiêu chuẩn GSM đem lại, sẽ có một thị trường lớn đối với các thiết bị GSM.Nghĩa là các nhà sản suất sẽ cung cấp các hiết bị với chất lương cao hơn và giáthành rẻ hơn Các thành công của GSM đã được chấp nhận và thực hiện trênkhắp thế giới.
Hệ thống thông tin di động số GSM tương thích với hệ thống báo hiệu số
7 và sử dụng băng tần (890-915 ) MHz để truyền tín hiệu từ máy di động đếntrạm gốc và băng tần (935-960) MHz để truyền dẫn tín hiệu từ trạm gốc đếnmáy di động
Loại bỏ các tạp âm:
Tạp âm sẽ giao thoa với hệ thống hiện hành, có thể được phát sinh bởi cácnguyên nhân sau :
• Một nguồn công suất mạnh hoặc kéo dài , gần với hệ thống thông tin
di động (như hệ thống đánh lửa trên ô tô , sét )
• Sự truyền dẫn ở các máy di động khác nhau trên cùng một tần số(nhiễu kênh chung)
• Sự truyền dẫn ở các máy di động khác nhau, theo kiểu “xuyên ngang
“ từ một tần số lân cận (nhiễu kênh lân cận )
• Nhiễu nền xâm nhập vì tín hiệu quá yếu
Để đối phó với nhữnh vấn đề gây ra nhiễu trong hệ thống tế bào mớingười ta sử dụng các tín hiệu số tay cho tín hiệu tương tự Các tín hiệu đượcphát trên một giao diện vô tuyến - số có thể được bảo vệ để chống lại các lỗiphát sinh do tạp âm Việc bảo vệ này sẽ hình thành từ sự mã hoá của tín hiệu,
mà cơ chế là do sự quyết định của phần mềm và sử dụng giải mã viterbi Các
cơ chế này cho phép phát hiện và sửa chữa các lỗi ở một tín hiệu Kết quả là cómột giao diện vô tuyến mạnh hơn nhiều
Thông tin di động số có thể chịu được mức nhiễu cao hơn so với các hệthống tương tự hiện có, dẫn đến việc cải thiện cả chất lượng lẫn hiệu quả ở hệthống thông tin di động
Tính linh hoạt và tăng thêm dung lượng:
Với giao diện vô tuyến tương tự hiện có, mỗi kết nối giữa một thuê bao
di động với một Cell đòi hỏi phải có sóng mang RF riêng, điều đó dẫn đến đòihỏi ở Cell phải lắp đặt thêm modul (phần cứng ) RF Vì vậy, để mở rộng dunglượng của một Cell thì phải tăng thêm số lượng các kênh và các modul RF cóchất lượng tương đương phải được đưa thêm vào thiết bị của Cell Do đó, việc
mở rộng hệ thống là tốn nhiều thời gian, tiền của và công sức Như vậy, cáchãng khai thác cũng bao hàm cả việc lập kế hoạch RF rất phức tạp Để khai
Trang 16thác một cách hợp pháp, tất cả các hệ thống phải sử dụng một khoảng tần số RF
đã đựoc qui định chặt chẽ, chỉ trong khoảng tần số (872-960 MHz)
Khi mà giao diện số được sử dụng ở hệ thống GSM sẽ đưa đến việc giảiquyết việc sử dụng phổ vô tuyến có sẵn một cách hiệu quả hơn Tám cuộc gọiđồng thời được thực hiện trên một sóng mang RF Điều đó có nghĩa là mỗimodul RF riêng sẽ đáp ứng cho 8 thuê bao cùng một lúc, và như vậy hệ thống
sẽ được mở rộng, yêu cầu thay đổi modul RF thường Ýt hơn so với các hệthống cũ Do đó hệ thống là rất linh hoạt vì nó có thể thay đổi dung lượng bằngmột bộ phận khác của mạng bằng cách đặt lại cấu hình từ cơ sở dữ liệu của hệthống
Sử dụng các giao diện tiêu chuẩn:
Trong hệ thống thông tin di động số GSM sử dụng tiêu chuẩn như C7 vàX25 trong toàn hệ thống Điều này có nghĩa là các nhà qui hoạch hệ thống cóthể lựa chọn thiết bị với giá thành khác nhau của các hãng sản xuất khác nhau
Vì vậy, sự cạnh tranh giữa các hãng sản xuất với nhau sẽ tăng lên và giá thành
sẽ hạ xuống
An toàn và bảo mật tuyệt đối:
Vấn đề an toàn được xem đứng đầu danh mục các vấn đề sẽ được cạnhtranh của các nhà khai thác ở các hệ thống tương tự Trong một vài hệ thốngthế hệ đầu có khoảng 20% cuộc gọi bị ăn cắp Để bảo mật số liệu và thoại đượctốt, GSM đưa ra đề nghị bảo mật cả về phương pháp truyền dẫn trên giao diện
vô tuyến và cả ở cách thức lưu lượng được xử lý trước khi truyền dẫn Các dữliệu được điều khiển và báo hiệu sẽ được mật mã cùng với các kỹ thuật nhậnthực thuê bao tinh vi sẽ loaị trừ việc ăn cắp cuộc gọi ở hệ thống GSM thiết bị
di động sẽ được nhận dạng một cách độc lập từ thuê bao di động Mỗi máy diđộng có một số nhận dạng được mã hoá cứng khi sản xuất để kiểm tra nếu như
nó được khai báo là đã bị mất cắp
Hệ thống GSM đảm bảo ở một mức độ cao tính bảo mật cho các thuêbao, các cuộc gọi sẽ được số háo, mã háo và sau đó được gài mật mã trước khiphát lên không gian
Chuyển vùng nhanh hơn:
Chuyển vùng xảy ra khi máy di động di chuyển giữa các cell Một cuộcgọi sẽ được chuyển từ một kênh này đến kênh khác và từ một cell này đến mộtcell khác để duy trì cuộc gọi được liên tục Trong các hệ thống tương tự hiện
có, chỉ có thuê bao rất tốt mới nhận ra một chuyển vùng đã xảy ra Còn hệthống GSM đã giải quyết vấn đề này và quá trình chuyển vùng được điều khiểnchặt chẽ hơn nhiều GSM cho phép đưa nhiều yếu tố vào tính toán và được tínhtoán chi tiết hơn (Đo cường độ tín hiệu của các cell lân cận)
Trang 17Nhận dạng thuê bao:
Trong hệ thống GSM, thuê bao và thiết bi di động được nhận dạng mộtcách riêng rẽ Thuê bao được nhận dạng bằng một card thông minh (Smartcard),được biết như một khối nhận dạng thuê bao SIM Nghĩa là người sử dụngchỉ cần mua thuê bao ở một hệ thống di động nhưng có khả năng sử dụng chonhiều kiểu thiết bị di động khác nhau (Fax, Computer, điện thoại di động) VìSIM card nhận diện người sử dụng nên bất kỳ nơi nào các cuộc gọi của thuêbao tạo ra, hóa đơn tính cước sẽ luôn luôn được gửi tới bộ ghi định vị thườngtrú (HLR) của thuê bao
Tính tương thích với ISDN:
ISDN là một tiêu chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển đã cam kếtthực hiện Đây là một mạng thông tin mới và tiên tiến được thiết kế để truyềnthoại và số liệu thuê bao trên các đường truyềnthoại tiêu chuẩn Mạng GSM đãđược thiết kế để khai thác với hệ thống ISDN và sẽ cung cấp các đặc tính cóthể tương thích với nó
2.7 Các giao diện sử dụng trong GSM
2.7.1 Giao diện vô tuyến Um(MS BTS ):
Air Interface là giao diện vô tuyến tên gọi chung của đầu nối giữa trạm
di động MS và BTS Giao tiếp sử dụng khái niệm TDMA với một khungTDMA cho một tần số mạng Mỗi khung gồm 8 khe thời gian TS ( Time slot),hướng từ BTS đến MS là đường xuống và ngược lại từ MS đến BTS là đườnglên
2.7.2 Giao diện Abits để điều khiển BTS(BTSBSC):
Có hai loại kênh thông tin giữa BSC và BTS:
- Kênh thông tin tốc độ 64 Kbít/s mang tiêng và dữ liệu cho các kênh vôtuyến
- Các kênh báo hiệu tốc độ 64 Kbít/s mang thông tin tín hiệu hoặc cho bảnthân BTS hoặc cho MS, được phát ở một trong các kênh vô tuyến
- Các đường logíc giữa BSC và BTS có giao tiếp Abis Giao tiếp này gồm
ba líp OSI Lớp một là lớp vật lí ,chịu trách nhiệm truyền dẫn vật lí các số ‘0’
và ’1’ trong môi trường và chứa các qui định về kích thước, hình dạng cácxung
2.7.3 Giao diện A(MSC BSC ):
Trang 18- MSC và BSC được nối với nhau bằng một đường PCM Ngoài một sốkênh tiếng/số liệu còn có một khe thời gian dành cho báo hiệu Số liệu báo hiệuliên quan đến việc thiết lập cuộc gọi, chuyển giao, giải phóng… sử dụng kênhnày (kênh có thể phục vụ một hay nhiều trạm thu phát gốc BTS) Các giao thức
để báo hiệu giữa MSC và BSC là phần ứng dụng BSS (BSSAP), SCCP và MTP
- BSS(BSSAP) có 2 chức năng cho người sử dụng khác nhau và chứcnăng phân phối để phân biệt giữa hai nhóm tín hiệu
- Các thông tin báo truyền trực tiếp giữa MSC và MS được nối thôngsuốt qua BSC Đây là các thông báo điều khiển cuộc gọi và quản lí di động
2.8 Báo hiệu số 7 trong GSM
Trong thông tin điện thoại, báo hiệu nghĩa là chuyển và hướng dẫn thông tin
từ một điểm tới một điểm khác thích hợp để thiết lập, giám sát và giải phóngcuộc gọi thoại
Hệ thống báo hiệu số 7 của CCITT, nó được giới thiệu vào những năm
1979 / 1980 dành cho các mạng quốc gia và quốc tế, sử dụng các trung kế số.Tốc độ truyền dẫn báo hiệu cao (64 Kbit/s) Trong thời gian này giải pháp phânlớp trong giao tiếp thông tin đã được phát triển tương đối hoàn chỉnh, đó là hệthống giao tiếp mở OSI, và giải pháp phân lớp trong mô hình OSI này đã đượcứng dụng trong hệ thống báo hiệu kênh chung sè 7 Hệ thống báo hiệu kênhchung sè 7 cũng có thể được sử dụng ở các đường dây Analog Hệ thống báohiệu số 7 của CCITT không những được thiết kế để điều khiển thiết lập vàgiám sát các cuộc gọi thoại mà còn cho các cuộc gọi của các dịch vụ phi thoại
2.8.1 Các khối chức năng của hệ thống báo hiệu số 7
Trang 19Hệ thống bỏo hiệu số 7 trong GSM gồm 2 phần:
Phần chuyển giao bản tin (MTP: Message Transfer Part):
- MTP là hệ thống vận chuyển chung để chuyển giao tin cậy cỏc thụngtin bỏo hiệu giữa cỏc điểm bỏo hiệu Phần chuyển giao bản tin truyềntải cỏc thụng tin bỏo hiệu giữa cỏc phần của người sử dụng khỏcnhau và nội dung của cỏc bản tin bỏo này hoàn toàn độc lập với nhau
- Để thực hiện cỏc chức năng này MTP cần cú:
+ Cỏc bản tin cần phải được sửa trước khi chỳng được chuyển giaotới phần của người sử dụng
+ Sửa lỗi liờn tiếp
+ Khụng bị tổn thất hoặc lặp lại
Cỏc phần của người sử dụng (UP: User Part):
Cỏc phần của người sử dụng được tạo ra và phõn tớch cỏc thụng tin bỏohiệu Chỳng sử dụng MTP như là cỏc chức năng truyền tải để mangthụng tin bỏo hiệu tới cỏc phần của người sử dụng khỏc cựng loại
Một số cỏc phần của người sử dụng là:
- TUP (Telephone User Part) : Phần của người sử dụng điện thoại
- DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệu
- ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN
- MTUP (Mobile Telephone User Part) : Phần người sử dụng điện thoại di
động
Hỡnh 6 Phần truyền giao tin bỏo MTP là mụi trường truyền dẫn
chung giữa cỏc phần của người sử dụng
TCAP SCCP
ISUP
MTP MTP
Tổng đài A
Tổng đài B
Trang 20DUP (Data User Part): Phần của người sử dụng số liệu.
ISUP (ISDN User Part) : Phần của người sử dụng ISDN
SCCP (Signalling Connection and Control Part) : Phần điều khiển và đấu nốibáo hiệu
TCAP (Transaction Capabilities Application Part) : Phần ứng dụng các khảnăng trao đổi
MAP (Mobile Application Part) : Phần ứng dụng di động
BSSAP (Base Station Application Part) : Phần ứng dụng trạm gốc
• Các chức năng của kênh báo hiệu: là giám sát kênh số liệu báo hiệu, tìmcác bản tin báo hiệu bị lỗi, điều khiển bản tin đã phát và thu đúng trình tự
mà không bị mất mát hoặc không bị lặp
• Các chức năng của mạng báo hiệu: bao gồm các chức năng để xử lý bảntin (xử lý lưu lượng) và điều hành mạng báo hiệu
Xö lý b¶n tin b¸o hiÖu
§iÒu hµnh m¹ng b¸o hiÖu
Kªnh b¸o hiÖu C¸c chøc n¨ng cña kªnh b¸o hiÖu Kªnh sè liÖu b¸o hiÖu
H×nh 7 C¸c chøc n¨ng cña m¹ng b¸o hiÖu
C¸c b¶n tin b¸o hiÖu C¸c tÝn hiÖu ®iÒu khiÓn
Trang 21• Xử lý bản tin bỏo hiệu : bao gồm cỏc chức năng để định tuyến bản tintới kờnh thớch hợp và phõn phối cỏc bản tin thu được ở tổng đài thườngtrỳ tới cỏc người sử dụng đỳng.
• Điều hành mạng bỏo hiệu: với cỏc trường hợp cú sự thay đổi trạng thỏitrong mạng bỏo hiệu, vớ dụ nếu kờnh bỏo hiệu hoặc điểm bỏo hiệu vỡ lý
do gỡ đú mà khụng cú khả năng thực hiện thỡ cỏc chức năng điều hànhmạng bỏo hiệu sẽ điều khiển lập lại cấu hỡnh và cỏc thao tỏc khỏc để phụchồi khả năng chuyển giao tin bỏo thụng thường
2.8.2 Phõn loại:
Thụng thường tớn hiệu bỏo hiệu chia làm 2 loại:
+ Tớn hiệu bỏo hiệu mạch vũng thuờ bao
+ Tớn hiệu bỏo hiệu giữa cỏc tổng đài
Tớn hiệu bỏo hiệu giữa cỏc tổng đài: bao gồm
- Cỏc tớn hiệu đường dõy: sử dụng trong toàn bộ thời gian của cuộc gọi
để giỏm sỏt trạng thỏi của đường dõy
- Cỏc tớn hiệu của bộ đăng kớ: sử dụng trong thời gian thiết lập cuộcgọi để chuyển giao địa chỉ và loại thụng tin
2.8.3 Sơ đồ bỏo hiệu số 7 trong GSM
Tổng đài Tổng đài
Con số của B
B trả lời
Đàm thoại Xoá ng ợc Xoá thuận Chiếm
Hình 8 Các tín hiệu báo hiệu giữa các tổng đài
Thừa nhận chiếm
MAP (chuyển ô ) ISUP
Hệ thống chuyển mạch (SS) MAP
BSSA P