1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

trách nhiệm pháp lý của vợ chồng đối với tài sản chung

75 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 19 SVTH: Phan Ngọc Ẩn CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN THEO LUẬT HIỆN HÀNH Ở chương thứ hai chúng ta sẽ tìm hiểu các vấn đề trách nhi

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 (2010-2014)

Đề tài:

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG

ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG

Trần Khắc Qui Phan Ngọc Ẩn

MSCB: 002285 MSSV: 5106030

Bộ môn: Luật Tư Pháp Lớp: Luật Tư Pháp 1 – K36

Cần Thơ, 5/2014

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG VỚI TÀI SẢN 1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm pháp lý về tài sản 5

1.1.1 Trách nhiệm pháp lý 5

1.1.2 Khái niệm giao dịch dân sự 6

1.1.3 Khái niệm tài sản, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng 7

1.1.3.1 Khái niệm tài sản 7

1.1.3.2 Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng 9

1.2 Đặc điểm, phân loại trách nhiệm pháp lý 11

1.2.1 Đặc điểm trách nhiệm pháp lý 11

1.2.2 Một số loại trách nhiệm pháp lýcơ bản 12

1.3 Đặc điểm, phân loại giao dịch dân sự 13

1.3.1 Đặc điểm giao dịch dân sự 13

1.3.2 Phân loại giao dịch dân sự 15

1.4 Tài sản chung của vợ, chồng 16

1.5 Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm pháp lý liên đới của vợ chồng với tài sản 18

1.5.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý 18

1.5.2 Ý nghĩa về mặt xã hội 18

CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN THEO LUẬT HIỆN HÀNH 2.1 Căn cứ xác định trách nhiệm về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản 19

2.1.1 Căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản 20

Trang 3

chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng 21

2.2.1 Những quy định về nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng 21

2.2.2 Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm dân sự liên đới 24

2.2.2.1 Giao dịch hợp pháp 24

2.2.2.2 Giao dịch phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình 25

2.2.3 Những trường hợp vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới về tài sản do một bên vợ hoặc chồng thực hiện 26

2.2.3.1 Những giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu trong gia đình 26

2.2.3.2 Những giao dịch bảo đảm lợi ích chung của gia đình có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình 28

2.3 Trách nhiệm của vợ, chồng có nghĩa vụ riêng đối với tài sản 31

2.3.1 Những quy định về nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng 31

2.3.2 Nội dung nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng 33

2.3.2.1 Nghĩa vụ trả nợ 34

2.3.2.2 Nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại 37

2.3.2.3 Nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng 38

CHƯƠNG 3 VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 3.1 Vướng mắc và hướng hoàn thiện giải quyết tranh chấp hợp đồng liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng 43

3.1.1 Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng 43

3.1.1.1 Vướng mắc trong thực tiễn xác định về hình thức của hợp đồng liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn 43

3.1.1.2 Vướng mắc về thực tiễn xác định tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng theo các hợp đồng 45

3.1.1.3 Một số nhận xét và hướng hoàn thiện về những vướng mắc trong thực tiễn xác định hình thức và xác định tài sản chung có giá trị của hợp đồng 48

3.2 Những thuận lợi của việc quy định chế định trách nhiệm pháp lý của vợ chồng đối với tài sản của Luật hôn nhân gia đình hiện hành 53

Trang 4

chung của vợ chồng 54 3.3.2 Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện về chế định trách nhiệm về tài sản riêng của vợ chồng 59

KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 1 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, cơ thể có được linh hoạt, khỏe mạnh hay không đó là phải xem tế bào trong cơ thể có bền vững liên kết liền mạnh với nhau hay không Và gia đình cũng tương tự như vậy, gia đình là một phần của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển một cách bền vững, vững mạnh Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy rõ được điều này nên đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để nhằm điều chỉnh các quy định có liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình Tồn tại những quy định đặc trưng điều chỉnh đó như là: Bộ luật Dân sự 2005, Luật bình đẳng giới 2006, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

2005 và Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007,…và rất nhiều những quy định quan trọng khác nhưng quan trọng hơn hết là luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi bổ sung 2010) Với mục đích giải quyết những yêu cầu đặt ra ở thực tại và điều chỉnh các vấn đề phát sinh liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình Trong quan hệ vợ chồng bên cạnh những nhu cầu về tinh thần như yêu thương, đùm bọc, chăm sóc và cùng nhau giáo dục con cái,… và những nhu cầu về vật chất liên quan đến nhu cầu thiết yếu của gia đình hằng ngày cũng không thể nào xem nhẹ được Trong đó, các quan hệ về tài sản của vợ chồng là một trong những nhân tố cơ bản

để vợ chồng xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc Tạo điều kiện để các nhu cầu

về vật chất và tinh thần phát triển một cách hoàn thiện nhất

Trong đời sống vợ chồng, bản chất của các quan hệ liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình là các mối quan hệ về nhân thân và tài sản, nó gằn liền với những chủ thể nhất định, không thể tách rời được Chính vì vậy đã làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ đối với nhau do vậy các nhà làm luật đã xây dựng các quy định về các quyền và nghĩa của vợ chồng về tài sản chung, tài sản riêng, cũng các căn cứ xác định trách nhiệm của các bên vợ chồng,…tổng hợp các quy định này lại thành trách nhiệm về tài sản của vợ chồng

Những quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm pháp lý của vợ chồng đối với tài sản ngày càng được xây dựng hoàn thiện hơn và đáp ứng được đòi hỏi của thực tại, đều đó đã góp phần tích cực vào việc kế thừa phát huy truyền thống văn hóa, các giá trị đạo đức trong quan hệ hôn nhân, tôn trọng quyền tự do cá nhân của vợ, chồng trong các quan hệ gia đình, quan hệ với các chủ thể khác ngoài

xã hội Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được trong những quy định thì Luật hôn nhân và gia đình hiện hành vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến các quy

Trang 6

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 2 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của vợ chồng về tài sản Một trong những mặt tồn tại đó là những quy định của pháp luật vẫn chưa có quy định thật cụ thể các vấn đề về trách nhiệm chung cũng như trách nhiệm riêng về tài sản của vợ chồng Chính vì thế sẽ rất ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng và cả người có liên quan khi giao dịch với nhau, một số thực tiễn xét xử giải quyết về tranh chấp của vợ chồng về tài sản có giá trị lớn cũng rất khó giải quyết do luật quy định chưa cụ thể

về cách giải quyết, như những quy định về giao dịch đối với những tài sản trên có hiệu lực ra sao và điều liện thế nào, có thể thấy những giao dịch này nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hay đảm bảo cuộc sống gia đình và có sự thỏa thuận hai bên vợ chồng mới có hiệu lực, cũng có những trường hợp lợi dụng vào kẻ hở của quy định mà vợ, chồng đã gây ra nhiều thiệt hại cho người thứ ba trong mối quan hệ thường gặp trong đời sống Đồng thời các quy định pháp luật ban hành ra chưa chặt chẽ nên đã gây ra sự khó khăn trong quá trình giải quyết của các cơ quan thẩm quyền đối với những quyền lợi ích của vợ chồng và cả với người thứ ba

Vì những lý do trên, người viết chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp lý của vợ

chồng đối với tài sản chung” Với mục đích phân tích những mặt còn tồn tại của

chế độ trách nhiệm pháp lý của vợ chồng về tài sản trong luật định và ngoài thực tiễn Qua đó, người viết kiến nghị một số ý kiến liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của vợ chồng với tài sản theo những quy định của luật hiện hành, nêu ra được những vấn đề thật sự đang là vướng mắc hiện nay ảnh hưởng đến các chủ thể tham gia giao dịch và rộng lớn hơn là ảnh hưởng xấu đến xã hội ở nước ta, từ đó góp phần nhỏ công sức vào việc hoàn thiện pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Người viết nghiên cứu đề tài với mục tiêu sau:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này tìm hiểu một số vấn đề về lý luận chung

về chế độ trách nhiệm pháp lý của vợ chồng về tài sản, để thông qua đó có thể hiểu

rõ hơn về trách nhiệm của vợ chồng trong các mối quan hệ trong gia đình và ngoài

xã hội, đó là các trách nhiệm chung hay riêng về tài sản của vợ chồng được pháp luật quy định hiện hành cũng như các vấn đề ngoài thực tiễn trong việc xét xử của các cơ quan có thẩm quyền Cũng chính vì vậy, người viết cũng trình bày một số bất cập trong khâu quy định của pháp luật và một số vướng mắc trong khâu xét xử liên quan đến trách nhiệm của vợ chồng về tài sản, đồng thời đưa ra một số kiến nghị về việc xây dựng và hướng hoàn thiện về pháp luật nhằm đảm bảo việc thi hành về

Trang 7

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 3 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

pháp luật về trách nhiệm của vợ chồng đối với quyền và lợi ích của người có liên quan trong việc giao dịch của các bên trên thực tế

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp, đề tài tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về các vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ tài sản chung, nghĩa vụ tài sản riêng của vợ chồng đối với người có quyền theo quy định của luật hiện hành Các trường hợp phải chịu trách nhiệm liên đới của vợ chồng và một số trường hợp phải chịu nghĩa vụ riêng Đưa ra một số vướng mắc và đề xuất hướng giải quyết để bảo vệ được quyền lợi của các chủ thể có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài mang tính khoa học, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trong quá trình nghiên cứu, trình bày đề tài, tác giả dựa trên những cơ sở những kiến thức đã học, thu thập, tổng hợp nguồn tài liệu có liên quan giúp ích cho việc thực hiện đề tài

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế định về trách nhiệm, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn;

Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật một số nước khác quy định về chế định trên

Mục đích của người viết khi sử dụng các phương pháp trên nhằm giúp chúng

ta có một cái nhìn toàn diện hơn đối với những quy định của pháp luật hiện hành về chế định trách nhiệm pháp lý của vợ chồng về tài sản

Trang 8

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 4 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Trang 9

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 5 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG

VỚI TÀI SẢN

Hôn nhân gia đình là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân

và xã hội, ngoài chức năng duy trì nòi giống, thong qua những hoạt động trong hôn nhân còn thể hiện nét văn hóa riêng đặc biệt của một cộng đồng nói chung và còn thể hiện những thẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân nói riêng Nhận rõ ý nghĩa quan trọng đó, pháp luật Việt Nam đã dành riêng một đạo luật để hướng dẫn về vấn đề này-Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Và phương diện về những chế định trách nhiệm pháp lý về tài sản của Luật hôn nhân gia đình quy định sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng thể về khái quát chung về những khái niệm trách nhiệm pháp lý của vợ chồng đối với tài sản

1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm pháp lý về tài sản

Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” cũng được sử dụng theo hai nghĩa: nghĩa vụ và hậu quả bất lợi (trừng phạt) Trách nhiệm được hiểu theo nghĩa nghĩa vụ là nói đến những điều pháp luật yêu cầu các chủ thể phải làm nghĩa vụ trong một chức vụ, một hoạt động nhất định Còn trách nhiệm theo nghĩa thứ hai là nguy cơ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến chủ thể đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mình đã gây ra cho chủ thể khác và trách nhiêm này luôn gây bất lợi cho chủ thể gây ra hành vi vi phạm pháp luật Đó là thái độ xử lý của nhà nước đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội

Trách nhiệm pháp lý do chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật

Trang 10

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 6 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Truy cứu trách nhiệm pháp lý tức là áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong chế tài các quy định pháp luật Tuy nhiên, cũng có một số biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng không liên quan đến trách nhiệm pháp lý (nó được áp dụng cả khi không xảy ra vi phạm pháp luật), ví dụ cưỡng chế cách ly những người mắc một số bệnh truyền nhiễm, nhà nước trưng thu, trưng mua một số loại tài sản nào đó khi thấy cần thiết

Tóm lại, trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa

nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật

Việc áp dụng trách nhiệm pháp lý, ngoài tác dụng trừng phạt còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục những người vi phạm pháp luật Đồng thời răn đe tất cả những người khác, khiến họ phải tuân thủ, giữ mình không

vi phạm pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật và thực hiện pháp luật nghiêm minh, làm cho mọi người tin tưởng vào công lý, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, dần dần từng bước loại trừ hiện tượng vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội Xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Khái niệm giao dịch dân sự

"Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 BLDS năm 2005)

 Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều luật này ta có thể xác định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm thay đổi hoặc phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương-một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý Tùy từng giao dich dân sự mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch với mục đích và động cơ nhất định

 Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự (hợp

Trang 11

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 7 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

đồng) các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu khác trong

1.1.3 Khái niệm tài sản, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng

1.1.3.1 Khái niệm tài sản

Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan

hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được đề cập rất lâu trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý Tài sản trên thực tế tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên thì mỗi loại tài sản có những đặc tính khác biệt cần thiết phải có những quy chế pháp lý điều chỉnh riêng Theo khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật dân sự 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi

là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, theo

đó tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “Tài sản bao gồm vật có thực,

tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, Điều 163 Bộ luật

dân sự 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy

tờ có giá và các quyền tài sản” Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở

rộng hơn Bộ luật dân sự 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản

Vậy khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự hiện hành quy định: tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

Nhìn chung thì các khái niệm trên chỉ định nghĩa theo hướng liệt kê điều này

đã không đáp ứng sự phát triển của thực tiễn cuộc sống và gây ra sự tranh cãi về một số đối tượng như: tài sản ảo trong game online, khoảng không, hệ thống khách hàng… có được coi là tài sản trong pháp luật dân sự hay không? Chính điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp phải tiến hành sửa đổi quy định về khái niệm tài sản trong Bộ luật dân sự theo hướng khái quát hơn và đưa ra những tiêu chí để phân biệt đâu là tài sản, đâu không phải là tài sản

Đã có rất nhiều quan điểm khac nhau về vấn đề này và sau đây là một số quan điểm đươc xem la tiêu biểu:

2010

Trang 12

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 8 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Quan điểm thứ nhất cho rằng, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu2 Như vậy, theo quan điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì trước tiên chúng ta phải hiểu quyền sở hữu là gì Tuy nhiên, tại Điều 164 Bộ luật dân sự 2005 khái niệm quyền

sở hữu cũng chỉ được đưa ra theo hướng liệt kê, theo đó, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Do đó, nếu áp dụng khái niệm này thì chúng ta lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn định nghĩa tài sản thông qua một khái niệm quyền sở hữu trong khi

đó bản thân khái niệm quyền sở hữu cũng chưa giải quyết được một cách triệt để, thậm chí còn là phái sinh từ khái niệm tài sản

Quan điểm thứ hai cho rằng, tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ

thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như giường,

tủ, bàn ghế, xe mô tô, tờ tiền… Như vậy, theo quan điểm này thì chỉ những gì thuộc về thế giới vật chất, hiện đang tồn tại và chúng ta có thể cầm, nắm … thì mới được coi là tài sản Do đó, quyền tài sản không được coi là tài sản

Quan điểm thứ ba cho rằng, tài sản bao gồm động sản và bất động sản Đây

thực chất là một cách phân loại tài sản dựa trên tính chất vật lý không di dời được

về mặt cơ học và nó cũng rơi vào vòng luẩn quẩn như quan điểm thứ nhất khi định nghĩa tài sản thông qua khái niệm bất động sản và động sản trong khi đó khái niệm bất động sản và động sản cũng chưa được làm sáng tỏ và thậm chí muốn hiểu thế nào là bất động sản và động sản thì phải hiểu thế nào là động sản trước Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì quyền tài sản không biết được xếp vào bất động sản hay động sản?

Quan điểm thứ tư cho rằng, tài sản là những gì định giá được

Thứ nhất, tài sản là những gì định giá được có thể hiểu là tài sản là những gì

trị giá được bằng tiền và tiền ở đây chỉ được hiểu là nội tệ vì ngoại tệ không được coi là tiền, bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng

nó có được coi là tài sản không?

Trang 13

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 9 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Thứ hai, nếu cứ những gì định giá được thì được gọi là tài sản, vậy tài sản nợ

- nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được xem là tài sản vì nó cũng có thể định giá được (cứ xem giá của nó là 0 đồng thì giá 0 đồng hoàn toàn khác với không định giá được), trong khi đó, tài sản thì có thể để lại thừa kế được còn nghĩa vụ trả nợ thì không để lại thừa kế được, trừ nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi di sản do người chết để lại

Với các quan điểm trên thì tài sản được hiểu với nhiều gốc độ pháp lý khác nhau, thể hiện được rõ ràng các đặc tính khác biệt của nhiều loại tài sản trong các quan hệ xã hội về tài sản

1.1.3.2 Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng

Quyền sở hữu tài sản chung đối với tài sản chung hợp nhất:

Theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh của tài sản Cụ thể tài sản chung của vợ chồng gồm những tài sản như sau:

Tài sản do vợ chồng làm ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;

Những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có được hoặc tài sản

mà vợ chồng được xác lập quyền sở hửu theo quy định của pháp luật

Các tài sản mà vợ chồng mua sắp được thu nhập bằng thu nhập nói trên;

Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung;

Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hay tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung theo pháp luật quy định là tài sản chung

Như vậy, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng do vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Cơ

sở pháp lý để xác định những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu là tài sản chung của vợ chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có ghi tên cả vợ và chồng

Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (Khoản 2 Điều 219 Bộ luật dân sự 2005 và Khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình 2000) Như vậy, về

pháp luật dân sự - Tạp chí Luật học số 1/2005

Trang 14

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 10 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

nguyên tắc, vợ, chồng có quyền nghĩa vụ bình đẵng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất Đảm bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích chung của gia đình

Đối với tài sản có giá trị lớn là nguồn sống duy nhất của gia đình, hay việc dùng tài sản để đầu tư sản xuất kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc và thỏa thuận (như vậy mới có giá trị pháp lý), trong trường hợp vì lí do nào đó mà chỉ có một bên thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhưng xuất phát từ lợi ích chung của gia đình thì phải chịu trách nhiệm liên đới

Đối với tài sản có giá trị không lớn hay để phục vụ nhu cầu cần thiết hằng ngày cho gia đình thì chỉ cần một trong hai bên thực hiện đương nhiên được coi là

sự đồng của bên kia

Về việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Khoản 1 Điều 20 Luật hôn nhân

gia đình: “ trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa

vụ riêng hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có quyền thỏa thuận chia tài sản chung, việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết.”

nhân, mặt khác còn nhằm đảm bảo cuộc sống gia đình, tránh những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh

tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ thì phải chia tài sản chung để giúp người

đó thực hiên nghĩa vụ của mình

Vợ chồng cũng có quyền chia tài sản khi hôn nhân đã chấm dứt hoặc một trong hai bên chết

Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng:

Tài sản riêng gồm: những tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân Tài sản được chia riêng cho vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, những vật là đồ trang sức, nữ trang riêng được pháp luật quy định

Lí do vợ chồng có quyền có tài sản riêng:

Trang 15

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 11 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Phù hợp với hiến pháp quy định công dân có tài sản riêng nếu Luật hôn nhân gia đình không thừa nhận thì đã tự tước đoạt đi quyền có tài sản riêng của công dân

Phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Tạo điều kiện để họ thực hiện nghĩa vụ riêng đảm bảo lợi ích quyền lợi cho người thứ ba

Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: vợ chồng có nghĩa vụ phải cấp dưỡng khi hai người sống xa nhau và một trong hai người có lí do nào đó mà mất sức lao động Nghĩa vụ cấp dưỡng không chỉ trong thời kỳ hôn nhân mà cả khi hôn nhân chấm dứt

Quyền thừa kế tài sản của nhau: Tài sản chung chia trong thời kỳ hôn nhân vẫn là tài sản thừa kế của vợ chồng, nếu li hôn mà tòa án chưa giải quyết hoặc bản

án chưa có hiệu lực thì vẫn được hưởng thừa kế (Điều 638 BLDS năm 2005)

1.2 Đặc điểm, phân loại trách nhiệm pháp lý

1.2.1 Đặc điểm trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trách nhiệm pháp lý với các loại trách nhiệm xã hội khác như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm chính trị…những loại trách nhiệm này pháp luật ít khi quy định hoặc không có quy định mà do ý thức của mỗi người tự vận động

Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu được thể hiện qua việc chủ thể đó phải chịu những sự thiệt hại nhất định

về tài sản, về nhân thân, về tự do… mà phần chế tài của các quy phạm pháp luật đã quy định

Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy

ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định

Trách nhiệm pháp lý chứa đựng yếu tố là sự lên án của nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi phạm pháp luật Đặc điểm này thể hiện nội dung của trách nhiệm pháp lý Xuất phát từ đặc điểm này mà trách nhiệm pháp lý được coi là phương tiện tác động có hiệu quả tới chủ thể vi phạm pháp luật Vì vậy, về mặt hình thức, trách nhiệm pháp lý là việc thực hiện chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật thông qua hoạt động của cá cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ thể vi phạm phải thực hiện chế tài đó Như vậy, trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật cuối cùng là sự thực hiện các chế tài của quy phạm pháp luật

Trang 16

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 12 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quy định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước Chỉ có nhà nước (thông qua

cơ quan, người có thẩm quyền) mới có thẩm quyền xác định một cách chính xác là hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật đó

1.2.2 Một số loại trách nhiệm pháp lýcơ bản

Trách nhiệm pháp lý mà nước Việt Nam ta sử dụng thường đuợc chia ra làm

4 loại:

Trách nhiệm hình sự: là trách nhiệm của một người đã thực hiện một tội

phạm, phải chịu một biện pháp cưỡng chế nhà nước là hình phạt về việc phạm tội của họ Hình phạt này do toà án quyết định trên cơ sở của luật hình, nó thể hiện sự lên án, sự trừng phạt của nhà nước đối với người phạm tội và là một trong những biện pháp để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh Đây là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất

Trách nhiệm hành chính: là trách nhiệm của một cơ quan, tổ chức hoặc cá

nhân đã thực hiện một vi phạm hành chính, phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế hành chính tuỳ theo mức độ vi phạm của họ Biện pháp cưỡng chế này do một

cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật về xử

lý vi phạm hành chính

Trách nhiệm dân sự: là trách nhiệm của một chủ thể phải gánh chịu những

biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định khi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác hoặc khi vi phạm nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền Biện pháp cưỡng chế phổ biến đi kèm trách nhiệm này là bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm kỷ luật: là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân hoặc tập thể)

đã vi phạm kỷ luật lao động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ

cơ quan, tổ chức và phải chịu một hình thức kỷ kuật nhất định theo quy định của pháp luật

 Đây là 4 loại trách nhiệm được xem là cơ bản nhất để điểu chỉnh những mối quan hệ cấp thiết nhất trong xã hội, tùy từng vào trường hợp mà áp dụng các trách nhiệm trên để giải quyết cho thích hợp, cũng có thể kết hợp linh hoạt 4 loại trách nhiệm điều chỉnh trên để giải quyết các quan hệ pháp luật

Trang 17

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 13 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Ngoài 4 loại trách nhiệm trên theo nghiên cứu ta có thể tìm ra một số loại trách nhiệm khác như sau:

Trách nhiệm vật chất: Trách nhiệm vật chất là trách nhiệm mà người lao

động phải gánh chịu khi gây ra thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp (như làm hư hỏng hoặc làm mất dụng cụ, thiết bị, các tài sản khác do doanh nghiệp, giao cho hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép) hoặc công chức phải gánh chịu vì trong khi thi hành công vụ gây ra thiệt hại cho tài sản của nhà nước hoặc của chủ thể khác Người lao động hoặc công chức phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại theo thời giá thị trường và có thể được bồi thường bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng

Trách nhiệm pháp lý của quốc gia trong quan hệ quốc tế: Quốc gia cũng có

thể phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế trong quan hệ quốc tế Trách nhiệm này

có thể phát sinh từ hành vi vi phạm luật quốc tế của quốc gia Ví dụ, quốc gia không thực hiện các cam kết quốc tế mà mình đã công nhận (CEDAW, WTO) hoặc ban hành luật trái với luật quốc tế, không ngăn chặn kịp thời các hành vi cực đoan tấn công cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài của những người biểu tình… Trách nhiệm này cũng có thể phát sinh khi có hành vi mà luật quốc tế không cấm Ví dụ, Quốc gia dùng quân sự dể tập trận diễn tap,sử dụng tên lửa vũ trụ, tàu năng lượng hạt nhân, … gây ra thiệt hại cho vật chất cho các chủ thể khác của luật quốc tế

Đây cũng là một số loại trách nhiệm cũng rất là quan trọng có tầm ảnh hưởng rất nhiều đến lợi ích quốc gia và xã hội chúng ta cần nắm rõ và có sự vận dụng một cách chính xác, chặt chẽ, nghiêm minh, nghiêm khắc trong xử lý và linh hoạt trong sự kết hợp mới mang lại hiệu quả như mong muốn

1.3 Đặc điểm, phân loại giao dịch dân sự

1.3.1 Đặc điểm giao dịch dân sự

Bên cạnh đặc điểm tôn trọng quyền tự do thỏa thuận giữa các bên giao kết trong hợp đồng thì pháp luật cũng đặt ra một số nguyên tắc khác để các chủ thể trong giao kết có thể tuân thủ theo những nguyên tắc đó cũng chính là những đặc điểm của sự giao kết thể hiện ý chí của các bên Các bên muốn được công nhận giao kết có hiệu lực thì phải tuân thủ theo một số đặc điểm về điều kiện nhất định sau đây theo điều 122 BLDS 2005 Đó là:

“Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

Mục đích và nội dung của giao dịch không quy phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

Trang 18

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 14 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.”

Đây là các đặc điểm về điều kiện để giao dịch dân sự trở nên hợp pháp có hiệu lực pháp lý Ngoài đặc điểm về điều kiện để giao kết trở nên có hiệu lực thì còn có đặc điểm về mặt hình thức của giao dịch cũng rất là quan trọng trong việc xác lập hiệu lực của giao kết

Theo điều 124 BLDS 2005 thì: Giao dịch dân sự có thể thể hiện bằng hình thức miệng (bằng lời nói): có thể nói hình thức miệng là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức nay thường có độ xác thực cũng như tinh cậy không cao Hình thức miệng thường được áp dụng với các giao dịch thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó rất nhanh chống (hình thức mua bán thường trao đổi qua tay), hoặc với những chủ thể rất thân với nhau có độ tinh cậy tuyệt đối với nhau Nhưng cũng có những trường hợp hình thức miệng nếu muốn có hiệu lực phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định theo luật định mới có giá trị (di chúc miệng theo điều 652 BLDS năm 2005)

Giao dịch dân sự thể hiện qua văn bản:

o Văn bản thường: Được áp dụng trong các trường hợp các bên tham gia

giao dịch dân sự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải được thể hiện bằng văn bản mới có hiệu lực Với hình thức này thì có mức độ tinh cậy cao, có chứng cứ xác định do các bên thể hiện ý chí của cá nhân họ bằng chữ ký của chính bản thân họ vào những nội dung được thỏa thuận trên văn bản, hình thức này thể hiện sự rõ ràng hơn trong việc chứng minh họ đã tham gia vào sự giao kết hơn hình thức bằng lời nói cũng là hình thức miệng

o Văn bản có công chứng cứng nhận, ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền

chứng thực: Hình thức này thì được áp dụng trong trường hợp pháp luật có quy định

giao kết phải bắt buộc phải lập thành văn bản, hoặc các bên có thỏa thuận phải lập thành văn bản có công chứng, chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (chuyển quyền sử đất, mua bán xe, nhà ở )

Cuối cùng là hình thức giao dịch bằng hành vi: Đối với hình thức này thì giao dịch dân sự thể hiện qua những hành vi nhất định được định ước trước Ví dụ: hành vi mua đồ trong siêu thị, mua nước ngọt trong những thiết bị tự động, Đây là những hình thức đơn giản nhất của quá trình giao dịch, giao dịch có thể xảy ra không nhất thiết phải có đầy đủ các bên giao kết ở tại một địa diểm giao kết nào đó

Và hình thức này cũng càng trở nên phổ biến hơn do tính chất tiện lợi, giản đơn của

Trang 19

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 15 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

công việc, hình thức rất phát triển tại các nước có nền kinh tế về công nghiệp hóa cao

1.3.2 Phân loại giao dịch dân sự

Dựa vào bản chất mà các giao dịch dân sự tạo thành: Đó là ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, căn cứ vào các bên tham gia vào giao dịch có thể phân biệt giao dịch dân sự thành hai loại đó là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương

a Hợp đồng dân sự

Ta có thể định nghĩa được hợp đồng dân sự theo Điều 388 BLDS 2005 được hiểu là: Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

“Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng, có tần suất áp dụng rất cao trên thực tế và có khả năng ảnh hưởng đến sự vận hành của phần lớn các giao

ngày, hợp đồng thông thường thì có hai bên chủ thể cùng tham gia vào như hợp đồng mua bán, cho thuê Cũng có nhiều loại hợp đồng không chỉ có hai bên tham gia mà còn có nhiều chủ thể khác cùng tham gia vào trở nên rất phức tạp như hợp đồng hợp tác (Điều 111 BLDS 2005) thể hiện nhiều ý chí của những chủ thể tham gia vào giao kết

Sự gặp gỡ của ý chí và hiệu lực tương đối của hợp đồng.Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ theo một cơ chế chung: Các bên giao kết thống nhất ý chí về việc ràng buộc lẫn nhau trong một quan hệ đặc trưng bằng thái độ xử sự của một bên nhằm đáp ứng nhu cầu của bên kia tạo nên sự thống nhất về ý kiến, từ đó mới tạo điều kiện hình thành được hợp đồng Hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với các bên giao kết và không tạo ra bất kỳ một nghĩa vụ nào đối với người thứ ba Do vậy hợp đồng dân sự là sự thảo thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Có thể nói “thỏa thuận” vừa là nguyên tắc cũng chính là đặc trưng trong giao kết hợp đồng dân sự, sự thỏa thuận luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn của quá trình giao kết hợp đồng, cho đến khi thực hiện hợp đồng hay có sự sửa đổi, thay đổi kể ca chấm dứt sự giao kết

b Hành vi pháp lí đơn phương

chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 tr- 14,15

Trang 20

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 16 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Điều đó có nghĩa là trong đó một chủ thể đáp ứng yêu cầu của một chủ thể khác, và như vậy nghĩa vụ phát sinh khi được ghi nhận dưới một hình thức nhất định, chỉ được thực hiện khi cam kết được chấp nhận Có thể xem như một cam kết đơn phương Ví dụ: A đánh rơi một món đồ A đăng thông báo tìm lại món đồ đó và sẽ hậu tạ cho ai tìm lại được giúp mình

Hành vi pháp lí đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất như: lập di chúc, từ chối nhận thừa kế Cũng có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia vào một bên của giao dịch như: tổ chức tuyên bố hứa thưởng Trong nhiều trường hợp thì hành vi pháp lí đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lí khi những người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định của người xác lập giao dịch đưa ra và những người này phải đáp ứng được những điều kiện đó thì mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch như hứa thưởng Hành vi pháp lí đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và lẫn cả hình thức phải tuân thủ, phù hợp với những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo ( Điều 122 BLDS 2005) và một số điều kiện đặc thù

Điều kiện đặc thù:

nghiêm túc, có cân nhắc, chứ không phải là lời nói đùa

không đưa ra thời hạn cụ thể thì sẽ dựa vào tập quán của địa phương, nếu vẫn chưa giải quyết được thì Tòa án sẽ ấn định

1.4 Tài sản chung của vợ, chồng

Theo điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng được xác định như sau:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập

do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận

Trang 21

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 17 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng

3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”

Tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng Nếu có tranh chấp là tài sản riêng, người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có

tranh chấp này là của riêng, tài sản đó là của chung vợ chồng

Như vậy theo điều 27 Luật hôn nhân và gia đình hiện hành chúng ta cũng hiểu được tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng ngoài thực tế thì muốn xác định rõ ràng tài sản nào là chung thì cũng là một vấn đề rất khó vì việc xác định tài sản có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng không phải căn cứ người thực hiện giao dịch hay người đứng tên trên các giấy tờ mà phải căn cứ nguồn gốc tạo dựng tài sản đó

Trang 22

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 18 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

1.5 Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm pháp lý liên đới của vợ chồng với tài sản

1.5.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý

Vấn đề quy định về việc trách nhiệm pháp lý của vợ chồng về tài sản có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý cũng như cả về mặt xã hội Trước hết là về mặt pháp lý có ý nghĩa lớn trong vấn đề chế tài đối với các quan hệ do pháp luật quy định, là khuôn khổ giải quyết các vấn đề tranh chấp về trách nhiệm tài sản của vợ chồng, biện pháp cưỡng chế thi hành của nhà nước mang tính chất pháp luật, việc quy định trên sẽ bảo vệ những quyền lợi và lợi ích về tài sản giữa vợ chồng cũng như đảm bảo lợi ích của người thứ ba ( con cái, chủ nợ ) Mặt khác sẽ làm cho hệ thống pháp luật chung của Việt Nam trở nên đầy đủ hơn và pháp luật riêng về Hôn nhân gia đình của chung ta trở nên hoàn thiện hơn, chặt chẽ hơn trong vấn đề chế tài đối với trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định

1.5.2 Ý nghĩa về mặt xã hội

Về mặt xã hội cũng có tầm quan trong vô cùng to lớn, làm cho ý thức của các chủ thể trong xã hội tôn trọng những lợi ích và quyền của nhau, điều đó sẽ làm cho xã hội giảm tải đi một số lượng công việc rất lớn từ việc giải quyết các tranh chấp về tải sản, hiểu được trách nhiệm pháp lý là như thế nào, luôn là những chế tài gây ra thiệt hại cho chính chủ thể vi phạm pháp luật chính từ những suy nghĩ đó các

cá nhân trong xã hội sẽ hạn chế đi những vi phạm mà pháp luật quy định, sẽ làm cho xã hội càng phát triển hơn đó là cái lớn nhất và riêng hơn nữa là nếu gia đình không có tranh chấp thì không có vấn đề trách nhiệm pháp lý ở đây và sẽ không có mâu thuẩn thì hạnh phúc gia đình là điều hiển nhiên Gia đình không tranh chấp không mâu thuẩn với những người xung quanh thì xã hội sẽ tốt đó cũng là tiêu chí của việc tạo cho Luật hôn nhân gia đình của nhà nước ta

Như vậy, qua chương thứ nhất chúng ta đã tìm hiểu được một cách khái quát chung về những vấn đề khái niệm về trách nhiệm pháp lý là như thế nào, giao dịch

là thế nào và cả khái niệm về tài sản, quyền nghĩa vụ tài sản của vợ chồng cũng như các vấn đề về đặc điểm, phân loại, ý nghĩa ra sau Thì trong chương thứ nhất cũng phần nào làm sáng tỏa được các vấn đề trên của luật học Việt Nam ghi nhận Thông qua những vấn đề ở chương thứ nhất đó sẽ là nền tảng để chúng ta tìm hiểu thêm một số khía cạnh cũng rất là quan trọng sẽ được nghiên cứu, tìm hiểu ở chương thứ hai trách nhiệm pháp lý về sự liên đới của vợ chồng với tài sản là như thế nào

Trang 23

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 19 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN

THEO LUẬT HIỆN HÀNH

Ở chương thứ hai chúng ta sẽ tìm hiểu các vấn đề trách nhiệm liên đới của

vợ và chồng trong các giao dịch, các căn cứ xác định, nguyên tắc áp dụng cũng như những trường hợp như thế nào vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới.Cũng như chúng ta đã biết gia đình là một tế bào của xã hội, cuộc sống gia đình hạnh phúc thì

xã hội mới ổn định phát triển, thế nhưng trong cuộc sống gia đình có biết bao nhiêu vấn đề tồn tại ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, ở đây chúng ta chỉ tìm về một số vấn đề thiết yếu mà thôi đó là vấn đề tài sản của vợ chồng thực hiện trong các giao dịch và một số trường hợp vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới và ngược lại

2.1 Căn cứ xác định trách nhiệm về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản của vợ, chồng được phân định là tài sản chung hợp nhất hay là tài sản riêng thuộc sở hữu của vợ, chồng.Và việc phân định hai hình thức sở hữu tài sản trên trong gia đình tất yếu cũng phần nào làm phát sinh các nghĩa vụ tài sản được đảm bảo thực hiện bằng tài sản chung hoặc tài sản riêng của một bên là vợ hoặc chồng

Việc phân định nghĩa vụ tài sản chung hay riêng của vợ, chồng cũng còn nhiều ý kiến cũng như những quan điểm mà thực tế bên ngoài cho thấy còn nhiều quan điểm trái chiều với nhau

Có quan điểm ý kiến rằng: Các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ tài sản thuộc hình thức sở hữu nào thì được thực hiện đảm bảo bằng tài sản đó Như vậy, nếu quan niệm như vậy thì sẽ có sự mâu thuẩn với tính chất cộng đồng của hôn nhân, trong đó đặc điểm nổi bật là trong gia đình thì thường có sự trộn lẫn về tài sản và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng

Việc phân định nghĩa vụ tài sản chung hay riêng cần lấy yếu tố lỗi làm căn

cứ để xác định cơ bản, đây là quan điểm thứ hai.Theo đánh giá thì quan điểm này chỉ có ý nghĩa trong việc xác định “có hay không có trên thực tế nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng”còn nghĩa vụ tài sản đó là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của một bên, ngoài yếu tố lỗi còn được phân định bằng những yếu tố khác, căn cứ khác Tổng kết từ những quan điểm trên và xuất phát từ nội dung chế độ tài sản của vợ, chồng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, có thể nêu lên hai căn cứ sau đây:

Trang 24

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 20 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

2.1.1 Căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản

Theo Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ hoặc

chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.”

Có thể thấy rằng, hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản được thực hiện trên

cơ sở vì lợi ích chung của gia đình hay lợi ích cá nhân của chủ thể thực hiện hành vi

sẽ là căn cứ để xác định nghĩa vụ đó là nghĩa vụ tài sản chung hay nghĩa vụ tài sản riêng của một bên đó là vợ hoặc chồng

Cũng theo điều luật trên thì những giao dịch hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện và những giao dịch đó nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì đó là nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ tài sản chung của vợ và chồng

Sự liên đới trong trường hợp này phải thỏa mãn, lệ thuộc vào những điều kiện sau đó là giao dịch đó phải hợp pháp và giao dịch đó phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Thêm một điều nữa ở đây là “lợi ích gia đình” phải luôn được đặt trong lợi ích của cộng đồng và xã hội và hành vi đó phải phù hợp với pháp luật và không trái với đạo đức xã hội Và khi nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hành vi trái pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội thì nghĩa vụ phát sinh được thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng phải căn cứ vào yếu tố lỗi của người đã thực hiện hành vi đó

2.1.2 Căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ, chồng trong hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản

Thỏa thuận là hình thức chúng ta gặp rất nhiều trong cuộc sống xã hội của chúng ta, thỏa thuận là cách đạt được những mục đích mà ta mong muốn, không làm tổn hại nhiều đến nhau về mọi mặt, giúp ta có được nguồn lợi ích có thể nhất Vậy thỏa thuận trong cuộc sống gia đình thì sau, trong cuộc sống gia đình hang ngày, những hành vi được tạo ra mang lợi ích cá nhân hoặc hành vi trái pháp luật có thể được thực hiện bởi một bên vợ hoặc chồng và trên thực tế thì có những hành vi

cá nhân như chồng hoặc vợ thực hiện hành vi đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng thì vấn đề thỏa thuận được đặt ra là họ có thể thỏa thuận chia tài sản chung (Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) thì khi phát sinh nghĩa vụ về tài sản, đó là nghĩa vụ riêng do một bên vợ hoặc chồng thực hiện Khi một trong hai bên thực hiện những hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các lợi

Trang 25

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 21 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ thì thì đương nhiên nghĩa vụ về tài sản đó

là nghĩa vụ riêng của hai bên, cũng có thể có một vấn đề được đặt ra ở đây là hành

vi đó đã được thực hiện với sự thỏa thuận của vợ và chồng của người thực hiện hành vi do sự xuất phát từ tình cảm vợ, chồng, sự ổn định của gia đình mà đã tự nguyện chịu trách nhiệm chung đối với nghĩa vụ tài sản đã phát sinh Cho nên, việc phân định nghĩa vụ tài sản phát sinh trên cơ sở hành vi không vì lợi ích chung của gia đình ta cần phải dựa trên nguyên tắc khi người thực hiện hành vi mang lợi ích cá nhân cho riêng mình hoặc hành vi trái pháp luật, người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, ngoại trừ trường hợp vợ, chồng của họ thỏa thuận cùng thực hiện hoặc sử dụng tài sản chung để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về tài sản

2.2 Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng

Cũng như chúng ta đã biết, cuộc sống hôn nhân của vợ, chồng không phải tồn tại trong một thời gian ngắn mà có thể là tồn tại suốt cả cuộc đời, lúc đó sẽ tồn tại biết bao mối quan hệ trong gia đình và ở ngoài xã hội, điều này có nghĩa là cuộc sống vợ, chồng không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ gia đình mà cần thiết phải có

sự trao đổi, quan hệ với rất nhiều người khác trong xã hội, để đáp ứng nhu cầu cần thiết chung của gia đình, các hợp đồng do vợ, chồng ký kết với những người khác là rất nhiều, có thể nói là không một cặp vợ, chồng nào trong quá trình chung sống trong thời kỳ hôn nhân mà biết rõ hết những gì mà mình đã ký kết bao nhiêu hợp đồng với người khác vì lợi ích cá nhân và gia đình Vì vậy, không thể tất cả các giao dịch dân sự liên quan tới tài sản chung của vợ, chồng thì buộc cả hai bên phải có mặt để cùng thực hiện được Nên luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rất rõ những giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung của

vợ, chồng và trách nhiệm pháp lý của họ

2.2.1 Những quy định về nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng

Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng (còn gọi là nợ chung) có thể được hiểu

là nghĩa vụ phát sinh khi một hoặc cả hai bên vợ, chồng thực hiện hành vi vì lợi ích gia đình hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của vợ chồng

Để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng, các thành viên khác trong gia đình, đảm bảo nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ, chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục con cái… thì vợ chồng cần phải tạo lập khối tài sản chung Nhiều khi tài sản chung của vợ chồng không đủ đáp ứng nhu cầu của gia đình, lúc đó vợ chồng đã phải vay mượn tiền bạc, tài sản của người khác Đó chính là những khoản

Trang 26

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 22 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Khi đó, tài sản chung của vợ chồng phải được đảm bảo cho các món nợ đó theo Điều 28 khoản 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là: Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng

Như vậy, nếu một bên vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch như vay, mượn

nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì món nợ đó được đảm bảo thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng, nghĩa là cả hai vợ chồng đều có nghĩa vụ trả các khoản nợ đó

Thêm vào đó, trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ

sinh trong quá trình khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của một bên Do đó, cần xác định chúng là khoản nợ chung của gia đình Có như vậy mới đảm bảo được lợi ích chính đáng của người có tài sản riêng, nhằm khuyến khích họ tạo ra nhiều của cải, vật chất nhiều hơn nữa cho gia đình Đồng thời, tăng cường sự gắn bó trong quan hệ gia đình, để gia đình thực sự là chỗ dựa vững chắc cho các thành viên trong gia đình

Theo quy định khoản 3, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Việc

thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Từ những phân tích trên có thể rút ra những khoản nợ chung của vợ chồng phải được thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng bao gồm: nợ phát sinh có liên quan đến việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần và vật chất của gia đình như nội trợ, chăm sóc sức khỏe, cung cấp những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của những thành viên trong gia đình; nợ phát sinh trong quá trình quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung nghĩa vụ này sẽ không bao gồm nợ phát sinh khi một bên vi phạm khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; nợ phát sinh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ con chung của hai vợ, chồng và giữa con

Trang 27

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 23 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

riêng với cha dượng mẹ kế trong trường hợp họ sống chung với nhau theo quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Cũng coi là nợ chung đối với các khoản nợ phát sinh trong quá trình tạo lập quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung chung gồm: nợ phát sinh khi vợ, chồng tạo lập ra tài sản cho gia đình; nợ phát sinh do một bên vợ hoặc chồng lao động để tạo

ra thu nhập hoặc tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân ( không bao gồm nợ phát sinh sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng chung, mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình; nợ phát sinh có liên quan đến công việc mà cả hai vợ chồng cùng nhau thực hiện; nợ phát sinh theo thỏa thuận của hai vợ chồng

Trang 28

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 24 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

2.2.2 Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm dân sự liên đới

Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm liên đới đối với tài sản của vợ chồng sẽ dựa vào một số điều kiện sau: đó là giao dịch của vợ chồng phải hợp pháp theo quy định của

2.2.2.1 Giao dịch hợp pháp

Theo luật định, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự8 Giao dịch được xem là hợp pháp phải thỏa mãn những điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện (Điều 122 Bộ luật dân sự 2005)

Nếu giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện ở Điều 122 thì giao dịch dân sự đó được xem là vô hiệu, không hợp pháp theo quy định của pháp luật Luật cũng quy định một số trường hợp giao dịch được xem là không hợp pháp bị tuyên bố là do hiệu do giao dịch bị giả tạo Điều 129 , bị nhầm lẫn Điều 131, bị lừa dối đe dọa Điều 132 hay do không tuân thủ về mặt hình thức Điều 134 (Bộ luật dân

sự 2005) Các trường hợp này thì giao dịch cũng không được xem là hợp pháp theo quy định của pháp luật

Đối với nguyên tắc này người vợ cả người chồng trong lúc giao dịch với bên thứ ba bằng tài sản cũng phải tuân thủ theo các điều kiện trên để đúng với nguyên tắc giao dịch hợp pháp trong trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với tài sản được giao dịch

Theo Điều 28 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định tại khoản 3: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng ban bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia

để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này

Trường hợp này ta cũng có thể hiểu rằng sự hợp pháp trong giao dịch tại Điều 28 khoản 3 nêu trên khi giao dịch để đảm bảo sự hợp pháp theo luật định là vợ

và chồng khi giao dịch trong dân sự với tài sản chung của gia đình phải có sự bàn bạc thống nhất của hai vợ chồng, trừ một số trường hợp vợ hoặc chồng đơn phương

Trang 29

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 25 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

giao dịch không có sự thỏa thuận hay bàn bạc trước với nhau như trường hợp giao dịch phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình đây là nguyên tắc thứ hai

2.2.2.2 Giao dịch phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là điều kiện thứ hai trong việc thể hiện trách nhiệm liên đới về tài sản của vợ, chồng Quy định này đưa ra nhằm quy kết trách nhiệm, nghĩa vụ chung của hai vợ, chồng đối với các giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm mục đích vì nhu cầu thiết yếu của gia đình (nghĩa vụ tài sản chung của vợ, chồng được đảm bảo cho các giao dịch hợp pháp dù giao dịch đó được thực hiện bởi hành vi đơn phương của vợ hoặc chồng nhưng vì lợi ích nhu cầu thiết yếu của gia đình) đồng thời nguyên tắc này củng thể hiện quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các công việc giao dịch dân sự nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của gia đình hằng ngày Và đây cũng là một trong những quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, khi dự liệu về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung

Với nguyên tắc này là nền tảng để xây dựng, kiến tạo nên nghĩa vụ của hai

vợ, chồng phải thực được quy định tại Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình hiện

hành: “Vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng

xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”

Trách nhiệm có tính đặc trưng này đã quy định đặc điểm cơ bản trong phương pháp điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là các chủ thể thực hiện quyền của mỗi người phải hướng đến lợi ích của gia đình

Trang 30

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 26 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

2.2.3 Những trường hợp vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới về tài sản do

một bên vợ hoặc chồng thực hiện

2.2.3.1 Những giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu trong gia đình

Giao dịch phải đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Các tiêu chí của “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu” có thể thay đổi theo sự phát triển của xã hội tiêu thụ Có những nhu cầu rất cơ bản, chung đối với gia đình ở mọi nơi và trong mọi thời đại: thức ăn, quần áo của các thành viên, thuốc men, chi phí giáo dục con cái, bảo quản nhà cửa… Có những nhu cầu đặc trưng của cuộc sống thị dân hiện đại: chi phí điện, nước, điện thoại,…Và những thành viên trong gia đình như vợ, chồng và các con của họ do giới tính khác nhau, tình trang sức khỏe, độ tuổi hay tính chất công việc đặc thù cũng không giống nhau nên kéo theo những nhu cầu thiết yếu của mỗi thành viên trong gia đình cũng phải phù hợp cho mỗi người và những nhu

Theo Điều 28 khoản 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài

sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng” Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ cho

việc chi dùng đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình thì vợ, chồng nếu có tài sản riêng thì có nghĩa vụ đóng góp phần tài sản riêng đó để đáp ứng nhu cầu thiết yếu

người khác nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình được coi là có hiệu lực, bên còn lại vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới Theo Điều 298

Khoản 1 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ

do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong

số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.” Theo quy định trên

thì khi vợ chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì đương nhiên được xác định là có sự thỏa thuận của hai vợ chồng và vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch được thực hiện bởi một bên

vợ hoặc chồng Trong cuộc sống gia đình, thì nhu cầu thiết yếu về mặt tinh thần và vật chất của những thành viên trong gia đình rất là quan trọng và cần được đáp ứng

vì đó là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày, chính vì thế vợ hoặc chồng phải tham gia giao kết rất nhiều loại hợp đồng với chủ thể khác rất là phổ biến, cho

Trang 31

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 27 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

nên pháp luật không thể nào kiểm soát được mỗi khi giao kết hợp đồng phải có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng hay không Vì vậy, dù giao dịch đó là chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện với người thứ ba nhưng vẫn được pháp luật thừa nhận

là hợp pháp theo pháp luật, vợ chồng không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng này là

vô hiệu với lí do không có sự đồng ý của chính mình Việc thực hiện hợp đồng phải được đảm bảo bằng tài sản chung của vợ chồng, có nghĩa là vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình, có như vậy thì quyền lợi của người thứ ba tham gia xác lập hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mới được đảm bảo trước pháp luật

phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.” Có thể

nhận ra đầy là một trong những quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 so với Luật hôn nhân gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 của nước ta Quy định này rất quan trọng trong vấn đề ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau nhất là trong cuộc sống gia đình vì nó khắc phục được những tình trạng rất bức xúc trên thực tế là sự vô trách nhiệm của vợ chồng trong việc chăm sóc gia đình, khi vợ hoặc chồng phải tự mình gánh vát gia đình một mình tham gia những giao dịch đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho gia đình mà người kia không chăm lo gia đình và đến khi nghĩa vụ phát sinh ra thì người vợ hoặc chồng không muốn chịu trách nhiệm chung, không muốn hổ trợ nhau trong chuyện gia đình Cho nên quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 25 rất là đúng đắn, chính sát, phù hợp với tiêu chí ban hành Luật hôn hôn nhân của nước ta

là mang lại cho gia đình cuộc sống hạnh phúc,tiến bộ và truyền thống biết chia sẻ, chăm sóc yêu thương nhau trong gia đình

Không chỉ riêng Luật hôn nhân và gia đình nước ta về vấn đề này một số nước khác trên thế giới pháp luật về hôn nhân và gia đình của họ cũng quy định về vấn đề trách nhiệm liên đới của vợ, chồng Như đối với các vấn đề chi tiêu hằng ngày, nếu chồng hoặc vợ thực hiện giao kết pháp lý với người thứ ba, thì cả vợ lẫn chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới và theo phần đối với các nghĩa vụ phát

kết hợp đồng nhằm mục đích duy trì đời sống gia đình hoặc giáo dục con cái; bên

Trang 32

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 28 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

điều luật trên chúng ta cũng có thể thấy rõ sự đề cao trách nhiệm liên đới của hai vợ chồng, những quy định này giúp cho vợ hoặc chồng có thể yên tâm tự mình giao kết những giao dịch mà không có sự thỏa thuận của hai bên nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho gia đình, khi nghĩa vụ phát sinh thì cả hai người chồng và vợ cùng phải chịu liên đới về trách nhiệm

Nhưng trong thực tế cũng có một số trường hợp người vợ hoặc chồng lợi dụng quy định của pháp luật để trốn trách trách nhiệm nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền lợi đến tài sản của vợ hoặc chồng, cho nên phải hiểu rõ thế nào là “nhu cầu thiết yếu của gia đình” là rất cần thiết Để có thể hạn chế những trường hợp lợi lạm dụng quy định trách nhiệm liên đới của pháp luật để mang lại lợi ích cho riêng bản than người vợ hoặc chồng

2.2.3.2 Những giao dịch bảo đảm lợi ích chung của gia đình có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình

Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản chung của vợ, chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp từ lao động, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có sau khi kết hôn Tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất Theo cơ sở lý luận chung quy định thì tài sản của vợ chồng có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ hoặc chồng

phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” Điều đó

có nghĩa, đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến tài sản chung của vợ,

chồng “có giá trị không lớn” và với mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu

của gia đình thì việc định đoạt tài sản chung của một bên được mặc nhiên xem như

có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng Tuy nhiên, vì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung và để bảo vệ quyền lợi về tài sản chung của vợ, chồng nên khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia

đình năm 2000 xác định “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên

quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình,

Trang 33

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 29 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.”

Vậy thế nào là tài sản có giá trị lớn, trong đời sống hôn nhân và gia đình, tài sản có giá trị lớn của vợ chồng được hiểu ở góc độ thông thường là lượng tài sản nào đó trong khối tài sản chung và có ý nghĩa quan trọng nhất định đối với đời sống gia đình Vì chủ sở hữu tài sản là cả chồng và vợ nên khi xác định tài sản, lượng tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn hay không thì phải đặt tài sản, lượng tài sản

đó trong mối quan hệ với khối tài sản chung của họ để xem xét Khoản 3 Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành

LHN&GĐ năm 2000 (Nghị định 70/2001) hướng dẫn: “Tài sản chung có giá trị lớn

của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng”.Khi vợ chồng thực hiện

các giao dịch liên quan đến tài sản chung hoặc cơ quan có thẩm quyền muốn định lượng giá trị tài sản của vợ chồng hay còn gọi là đối tượng của giao dịch, hợp đồng thì phải đặt phần giá trị tài sản đó ngay trong khối tài sản của vợ chồng để xem xét chứ không phải căn cứ vào giá cả trên thị trường để so sánh, định lượng

Vậy, mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần phải bàn bạc, thỏa thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý trừ trường hợp vợ chồng đại diện cho nhau trong việc tham gia giao dịch theo sự ủy quyền hoặc theo pháp luật hay vợ chồng có thỏa thuận khác theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày

3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “Đối

với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng.”

Có thể thấy rằng vấn đề hình thức của hợp đồng giao dịch rất là quan trọng

nó ảnh hưởng lớn đến việc công nhận giao dịch mà vợ chồng đã thực hiện có được pháp luật thừa nhận hay không Theo Điều 121 Bộ luật dân sự 2005 thì hợp đồng là một hình thức giao dịch và về nguyên tắc, chế độ pháp lý của giao dịch dân sự được

Trang 34

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 30 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

áp dụng tương tự cho các hợp đồng dân sự trong đó có liên quan đến tài sản chung

có giá trị lớn của vợ chồng Mặt khác, khoản 2 Điều 122 Bộ luật dân sự 2005 quy

định: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong

trường hợp pháp luật có quy định” Khoản 2 Điều 401 Bộ luật dân sự cũng xác

định: “Trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn

bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó” Như vậy, trong trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải xác

lập theo hình thức nhất định thì hợp đồng liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó Chẳng hạn, Luật Nhà ở hiện hành

và Điều 63 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đòi hỏi việc xác lập, thực hiện các hợp đồng mua bán, cho thuê, tặng cho, đổi, thuế chấp, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; hợp đồng

ủy quyền quản lý nhà ở đất đai thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản Điều 450 Bộ luật dân sự 2005 thì trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, hợp đồng mua bán nhà ở quyền sử dụng là tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có công chức hoặc chứng thực Cần lưu ý rằng nếu giao dịch dân sự mà pháp luật không quy định phải tuân theo hình thức nhất định nhưng giao dịch đó lại có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó phải có sự thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của hai vợ chồng

Vì đây là những giao dịch nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình có giá trị lớn hoặc đó cũng là nguồn sống duy nhất của gia đình nên việc xác lập các giao dịch này cũng cần có sự thận trọng và căn nhắc thỏa thuận của hai vợ chồng, đây là trách nhiệm liên đới nên sự thỏa thuận hai bên vợ chồng có giá trị cao trong việc xác lập giao kết Và việc tuân thủ theo pháp luật về mặt hình thức của hợp đồng rất quan trọng đương nhiên là vấn đề thỏa thuận của vợ chồng trước khi xác lập Nếu một trong hai bên vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng ý của một bên hay vi phạm về mặt hình thức theo quy định của pháp luật thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu được quy định tại Điều 134 Bộ luật dân

sự năm 2005 và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt thì giao dịch vẫn có hiệu lực dù không có hoặc không thể có được sự thỏa thuận của hai bên như quy định Có nghĩa

Trang 35

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 31 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

là vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình

Ví dụ: Trường hợp vợ hoặc chồng di công tác nước ngoài hay xuất khẩu lao

động… không thể tham gia giao dịch được vì phải cần chữ kí của hai người, trong trường hợp này thì vợ hoặc chồng phải lập giấy ủy quyền và nhận ủy quyền từ phía người kia để có thể tiến hành giao dịch vì mục đích chung của gia đình và phải lập thành văn bản theo khoản 1 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Tiếp theo

là trường hợp một bên mất hoặc hạn chế hành vi dân sự, trường hợp này thì giao dịch một bên vợ hoặc chồng vẫn có hiệu lực quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật này

Cuối cùng là một bên đang có nhu cầu giao dịch chính đáng mà bên còn lại nhất quyết phản đối mà lai không có lý do chính đáng Nếu giao dịch trên xuất phát

từ lợi ích cấp bách của gia đình thì cho phép bên kia tiến hành giao dịch (nếu xuất phát vì lợi ích cá nhân thì vô hiệu)

Như vậy, pháp luật hiện hành đòi hỏi việc các lập hợp đồng với đối tượng là tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của

họ Sự thống nhất ý chí đó được thể hiện qua hình thức của hợp đồng xác lập bằng văn bản, có chữ ký của đồng sở hữu Ngoài ra, đối với các hợp đồng mà pháp luật quy định phải được công chứng, chứng thực tại thời điểm xác lập Khi quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của vợ chồng bị xâm hại thì họ có quyền sử dụng các biện pháp và phương thức cần thiết để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của mình

2.3 Trách nhiệm của vợ, chồng có nghĩa vụ riêng đối với tài sản

2.3.1 Những quy định về nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng

Theo luật định: vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

nghĩa vụ nhất định như sau:

Theo khoản 4, Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Tài sản riêng

của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” Theo đó, gia đình trong trường

hợp gặp hoàn cảnh khó khăn, tài sản chung của vợ chồng không đủ để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho gia đình hằng ngày thì vợ chồng phải có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để đóng góp vào những nhu cầu thiết yếu đó Đồng thời nhằm đảm bảo sự phát triển của con cái và các thành viên khác trong gia đình Vậy

Trang 36

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 32 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

“nhu cầu thiết của gia đình” là gì? Đó14 là các khoản chi phí thông thường và cần thiết về ăn, ở, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác nhằm bảo đảm cuộc sống của các thành viên trong gia đình

Nhu cầu thiết yếu đó cũng được hiểu theo quan điểm sau đây đó là những

thì những nhu cầu này luôn gắn liền ở mọi nơi và mỗi thời đại như: thức ăn, quần áo của các thành viên, thuốc men, chi phí giáo dục con cái, bảo quản nhà cửa… Có những nhu cầu đặc trưng của cuộc sống thị dân hiện đại như: chi phí điện, nước, điện thoại…

Đối với trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự đồng ý, thỏa thuận của cả hai vợ chồng (khoản 5 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010)

Vậy, nguồn sống duy nhất của gia đình nên được hiểu là như thế nào, ra sau? Cũng tương tự như nhu cầu thiết yếu của gia đình, pháp luật không có quy định cụ thể, nhưng có thể hiểu đó là tài sản duy nhất đáp ứng được nhu cầu thiết yếu

về ăn, ở, chữa bệnh…của gia đình Do có ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sống của gia đình, nên pháp luật quy định việc định đoạt đối với tài sản phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, góp phần ổn định cuộc sống chung của vợ chồng và nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục con trẻ

Theo Điều 33 khoản 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó”

Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay mượn của người khác, sử dụng vào mục đích cá nhân, mà không vì lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định như: nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con mà vợ, chồng phải thực hiện

Với quy định về nghĩ vụ riêng như Điều 33 khoản 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ta thấy vẫn còn quá chung chung, chưa có những căn cứ cụ thể để

đình Việt Nam, NXB Tư pháp, 2008

Tập I – Gia đình, NXB trẻ, 2004

Trang 37

GVHD: Trần Khắc Qui Trang 33 SVTH: Phan Ngọc Ẩn

xác định các loại nghĩa vụ tài sản này thay vì chúng ta cần có những quy định rõ ràng hơn để tiện cho việc giải quyết những loại nghĩa vụ riêng do vợ hoặc chồng chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình

Theo như những quy định của pháp luật và những điều phân tích trên một số nghĩa vụ sau đây vợ chồng phải tự dùng tài sản riêng của mình để thực hiện:

Nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay mượn của người khác từ trước khi kết hôn mà không vì nhu cầu đời sống chung của gia đình;

Nghĩa vụ trả các khoản nợ mà vợ, chồng đã vay mượn của người khác trong thời kỳ hôn nhân sử dụng vào mục đích riêng, không đáp ứng nhu cầu thiết yếu và lợi ích chung của gia đình;

Nghĩa vụ cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiện liên đới với các thành viên trong gia đình theo quy định tại chương V và chương VI của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ, chồng

Nghĩa vụ trả các khoản nợ phát sinh dựa trên cơ sở vợ, chồng đã có hành vi

tự mình tiến hành các giao dịnh dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của

vợ chồng hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình (vi phạm khoản 3 Điều 28 Luât hôn nhân và gia đình năm 2000)

2.3.2 Nội dung nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng

Vợ chồng với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình co quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng đó một cách độc lập, không bị chi phối bởi ý chí của người chồng, vợ kia, trừ trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả hai

vợ chồng (khoản 5 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Đồng thời, theo quy định vợ, chồng cũng phải thực hiện nghĩa vụ đối với hành vi của vợ, chồng liên quan đến tài sản của mỗi bên

Thứ nhất, theo quy định của khoản 4 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000, “tài sản riêng của vợ, chồng cũng phải được sử dụng vào các nhu cầu thiết

yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” Có nghĩa

là nếu trong cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn mà tài sản chung của vợ chồng không thể đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì tài sản riêng của vợ,

Ngày đăng: 01/10/2015, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w