1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở và kiến nghị thành lập tòa gia đình và người chưa thành niên

70 433 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 572,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay Tòa án vẫn chưa có bộphận chuyên trách để giải quyết các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên vàgia đình.Từ những yêu cầu về công tác xử lý người chưa thành

Trang 1

TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Giảng viên hướng dẫ n: Sinh viên thực hiện:

ThS ĐINH THANH PHƯƠNG ĐINH THỊ HUỲNH NHƯ

Bộ môn Luật Hành chính MSSV: S120059

Lớp: K38

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 9

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN VỀ GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 9

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN 9

1.1.1 Vị trí pháp lý và chức năng của Tòa án nhân dân 9

1.1.1.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân 9

1.1.1.2 Chức năng của Tòa án nhân dân 10

1.1.2 Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 11

1.1.2.1 Nguyên tắc Tòa án xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn 11

1.1.2.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm 12

1.1.2.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai 13

1.1.2.4 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn 13

1.1.2.5 Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử 14

1.1.2.6 Nguyên tắc bảo đả m chế độ xét xử s ơ thẩm, phúc thẩm 15

1.1.2.7 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự 15

1.1.3 Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp 16

1.1.3.1 Tòa án nhân dân tối cao 16

1.1.3.2 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Tòa án nhân dân cấp tỉnh) 17

1.1.3.3 Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Tòa án nhân dân cấp huyện) 18

1.1.4 Tòa án quân sự 18

1.1.4.1 Tòa án quân sự Trung ương 19

1.1.4.2 Tòa án quân sự quân khu và tương đương 19

1.1.4.3 Tòa án quân sự khu vực 20

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 20

1.2.1 Khái niệm gia đình 20

Trang 3

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về tâm - sinh lý của người chưa thành niên 21

1.2.2.1 Khái niệm về người chưa thành niên 21

1.2.2.2 Đặc điểm về tâm - sinh lý của người chưa thành niên 22

1.2.3 Mối liên hệ giữa gia đình và sự phát triển của ng ười chưa thành niên 24

CHƯƠNG 2 24

CƠ SỞ CỦA VIỆC THÀNH LẬP TÒA GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 24

2.1 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ GIA ĐÌNH 25

2.1.1 Tình hình giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên phạm tội 25

2.1.2 Tình hình giải quyết các vụ án có người bị hại là trẻ em, người chưa thành niên 25 2.1.3 Tình hình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 26

2.1.4 Mối liên hệ giữa gia đình và tình hình phạm tội ở ng ười chưa thành niên 27

2.2 NHỮNG BẤT CẬP VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 28

2.2.1 Những bất cập về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 28

2.2.1.1 Không có Tòa chuyên trách để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 28

2.2.1.2 Không có Thẩm phán chuyên trách để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 29

2.2.1.3 Không có thủ tục tố tụng riêng để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 29

2.2.2 Những bất cập về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên 30

2.2.2.1 Không có Tòa chuyên trách để giải quyết các vụ việc về ng ười chưa thành niên 30

2.2.2.2 Không có Thẩm phán chuyên trách để giải quyết các vụ việc về ng ười chưa thành niên 30

2.2.2.3 Thủ tục tố tụng hình sự đối với ng ười chưa thành niên chưa đầy đủ, rõ ràng và mang tính hình thức 31

2.3 NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HIỆN NAY 32

Trang 4

2.3.1 Những bất cập trong công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình 32

2.3.1.1 Việc giao con là người chưa thành niên cho cha hay mẹ nuôi dưỡng còn nhiều sai sót 32

2.3.1.2 Lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên có liên quan trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình ch ưa được quan tâm đúng mức 32

2.3.2 Những bất cập trong công tác giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên 33

2.3.2.1 Năng lực của những người tiến hành tố tụng chưa đáp ứng yêu cầu xét xử người chưa thành niên phạm tội 33

2.3.2.2 Về hình thức và cách thức tổ chức phiên toà xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên tham gia chưa hợp lý 36

2.3.2.3 Việc tham gia của người bào chữa và đại diện gia đình, nhà tr ường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chưa đạt được hiệu quả như mong muốn 37

2.3.2.4 Việc giải quyết các vụ án mà người chưa thành niên phạm tội còn nặng về xử lý mà thiếu những biện pháp cụ thể để giúp đỡ, giáo dục họ nhận thức và sửa chữa sai lầm, khuyết điểm 38

2.3.2.5 Thiếu sự hỗ trợ, giúp đỡ đối với vụ án có người bị hại là người chưa thành niên 39

2.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÀNH LẬP TÒA GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 40

2.4.1 Đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và ng ười chưa thành niên; bảo vệ và phát triển gia đình Việt Nam 40

2.4.2 Cụ thể hóa đ ường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước 41

2.4.3 Chuyên môn hóa công tác giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên 42

2.4.4 Góp phần hoàn thiện tổ chức và h oạt động của Tòa án nhân dân các cấp 43

2.4.5 Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với thông lệ quốc tế 43

2.4.5.1 Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên 43

2.4.5.2 Phù hợp với thông lệ của các nước trên thế giới 45

CHƯƠNG 3 46

TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN: MỘT SỐ MÔ HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT Ở VIỆT NAM 46

3.1 MỘT SỐ MÔ HÌNH TÒA GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI 46

Trang 5

3.1.1 Mô hình Tòa án gia đình Liên Bang của Úc 46

3.1.1.1 Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền 46

3.1.1.2 Ưu và nhược điểm của mô hình này 47

3.1.2 Mô hình Tòa gia đình ở Nhật Bản 47

3.1.3 Mô hình Tòa án vị thành niên và gia đình ở Thái Lan 48

3.1.3.1 Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền 48

3.1.3.2 Ưu và nhược điểm của mô hình này 49

3.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO VIỆC THÀNH LẬP TÒA GIA ĐÌNH VÀ NG ƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM 51

3.2.1 Đề xuất về mô hình của Tòa gia đình và ng ười chưa thành niên 51

3.2.2 Đề xuất về thẩm quyền của Tòa gia đình và ng ười chưa thành niên 54

3.3 CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ GIẢI PHÁP THÀNH LẬP GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM 56

3.3.1 Điều kiện và giải pháp xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý 56

3.3.2 Điều kiện và giải pháp về nhân lực 60

3.3.3 Điều kiện và giải pháp về xây dựng cơ sở vật chất 60

3.3.4 Điều kiện và giải pháp về tính đồng bộ của c ơ quan tiến hành tố tụng 61

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên cũng như việc xử lýngười chưa thành niên phạm tội được Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc biệt,nhất là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm

1990 Xuất phát từ quan điểm, “trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo

vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi rađời”,1 và “người chưa thành niên chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, chưa có

đủ khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình nên dễ bị chi phối,kích động bởi các yếu tố khách quan và hành động một cách bột phát Đây cũng là nhữngđối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự” 2Qua thống kê cho thấy, tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện vẫnđang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng; t ỷ lệ người chưa thành niên tái phạmcòn nhiều; ngày càng nhiều trẻ em và người chưa niên bị xâm hại Trong khi đó, tình hìnhgiải quyết các vụ việc về hôn nhân & gia đình có xu hướng tăng, đặc biệt là các vụ án lyhôn có con chưa thành niên chiếm tỷ lệ cao Việc giải quyết các vấn đề gia đình có ảnhhưởng sâu sắc đến đời sống tâm lý của từng thành viên trong gia đình, có tác động tíchcực hoặc tiêu cực đến định hướng phát triển của người chưa thành niên là thành viêntrong gia đình.3 Vì vậy, Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Xâydựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môitrường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách; …Chú trọng cảithiện điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻem” Thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên và giađình tại Tòa án còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn córất nhiều nguyên nhân nhưng không có Tòa chuyên trách là nguyên nhân cốt lỗi nhất.Ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật, khi giải quyết các vụ việc có liên quanđến người chưa thành niên những người tiến hành tố tụng còn phải có hiểu biết về đặcđiểm tâm – sinh lý của đối tượng này Các vụ việc về hôn nhân và gia đình thường xuất

1 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, lời mở đầu.

2Ngọc Điệp, Thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên nên theo mô hình Tòa chuyên trách… là phù hợp với

Hiến pháp, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, 2014,http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=308337 , [ngày truy cập 25-10-2014].

3 Tòa án nhân dân tối cao, Đề án thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam ,

http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/tandtc.BMDT_PTL.showsavedoc?PFILE=6142660.DOC , [ngày truy cập 2014]

Trang 7

5-7-phát từ quan hệ hôn nhân hoặc gia đình có tính huyết thống hoặc nuôi dưỡng, thường kéodài nên rất khó giải quyết sao cho thấu đáo Tuy nhiên, hiện nay Tòa án vẫn chưa có bộphận chuyên trách để giải quyết các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên vàgia đình.

Từ những yêu cầu về công tác xử lý người chưa thành niên phạm tội, công tác chămsóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em nói chung, công tác bảo vệ, phát triển gia đình và nhữngyêu cầu về cải cách tư pháp nêu trên, đồng thời xuất phát từ những đặc điểm tâm sinh lýcủa trẻ em, người chưa thành niên cũng như đặc thù của các quan hệ hôn nhân và gia đìnhcho thấy việc xây dựng một mô hình Tòa chuyên trách với các thủ tục tố tụng đặc biệt đểgiải quyết có hiệu quả các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên, giúp đỡ, hỗ trợ

và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm sinh lý của trẻ em, người chưa thành niên làhết sức cần thiết Việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên cũng là bước đi cụ thể

để thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như phù hợp với thông

lệ của nhiều nước trên thế giới Với những lý do vừa nêu, tác giả quyết định chọn đề tài:

“Cơ sở và kiến nghị thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên” cho luận văn tốt

nghiệp cử nhân Luật của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nêu khái quát chung về Tòa án nhân dân và các vấn đề có liên quan về giađình và người chưa thành niên, trình bày thực trạng giải quyết các vụ việc về người chưathành niên và gia đình và những bất cập trong công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân

& gia đình và người chưa thành niên tại Tòa án Bên cạnh đó, nghiên cứu các mô hìnhTòa án chuyên xử lý các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên và gia đình trênthế giới Từ đó đưa ra những đề xuất cho việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thànhniên ở Việt Nam nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em vàngười chưa thành niên; bảo vệ và phát triển gia đình Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vị trí pháp

lý, chức năng, nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền củaTòa án nhân dân ở nước ta và các vấn đề có liên quan đến gia đình và người chưa thànhniên được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002,Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa

án nhân dân năm 2002, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)

để làm cơ sở lý luận cho việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên Đồng thời

Trang 8

tác giả còn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác giảiquyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên, mà cụ thể là các quy định của Bộluật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003liên quan người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổsung năm 2011) và thực tiễn áp dụng các quy định này, từ đó phân tích những hạn chế,bất cập nhằm làm cơ sở để đề xuất thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ởnước ta hiện nay.

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học; sử dụngphương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở k ết hợp với phương pháp phân tích,tổng hợp những tài liệu có liên quan đến tình hình giải quyết các vụ việc có liên quan đếnngười chưa thành niên và các vụ việc về hôn nhân & gia đình Bên cạnh đó, tác giả còn sửdụng phương pháp phân tích luật viết, so s ánh đối chiếu những quy định của pháp luật vớithực tiễn áp dụng những quy định đó Thông qua đó làm sáng tỏ những bất cập có liênquan đến công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân & gia đình và người chưa thànhniên Từ đó làm cơ sở để đề xuất thành lậ p Tòa gia đình và người chưa thành niên

5 Kết cấu luận văn

Kết cấu của luận văn tốt nghiệp “ Cơ sở và kiến nghị thành lập Tòa gia đình và

người chưa thành niên” ngoài lời nói đầu, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham

khảo thì nội dung chính gồm có ba chương sau đây:

- Chương 1: Khái quát chung về Tòa án nhân dân và một số vấn đề có liên quan vềgia đình và người chưa thành niên

- Chương 2: Cơ sở của việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên

- Chương 3: Tòa gia đình và người chưa thành niê n: Một số mô hình trên thế giới và

đề xuất ở Việt Nam

Do hạn chế về thời gian và tài liệu tham khảo cũng như vấn đề về nhận thức của cá nhân chưathật sự sâu sắc và đầy đủ nên chưa thể hoàn toàn đáp ứng tuyệt đối và đầy đủ các yêu cầu đặt ra Rấtmong sựđóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn cho đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ

CÓ LIÊN QUAN VỀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN

1.1.1 Vị trí pháp lý và chức năng của Tòa án nhân dân

1.1.1.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân

Trong hệ thống tư pháp, Tòa án nhân dân giữ một vị trí đặc biệt, Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 đã xác định “ Tòa án có vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp và xét xử là hoạt

động trọng tâm.” Bên cạnh đó, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Tòa án nhân dân

có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước: “ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của

định rõ ràng, cụ thể: Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp vàthực hiện chức năng xét xử Hiến pháp mới quy định ngoài chức năng xét xử thì Tòa ánnhân dân còn thực hiện quyền tư pháp, đây là điểm khác biệt quan trọng so với quy địnhcủa Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).5Nội dung mới này có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng, nhằm phân định quyền lực nhà nước theo hướng Tòa án nhân dân là cơquan thực hiện quyền tư pháp , Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Quốchội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, điều này phù hợp với nguyên tắc phân công thựchiện quyền lực nhà nước của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.6 Hiện nay việc làm

rõ nội hàm của quyền tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, theonhiều nhà nghiên cứu thì “quyền tư pháp là quyền xét xử các tranh chấp pháp lý dựa trêncác quy định của pháp luật Các tranh chấp này có thể chỉ là giữa người dân hoặc tổ chức

do người dân lập ra (như doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức xã hội v.v.) với nhau nhưng

đó cũng có thể là tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc tranh chấp giữa cơquan nhà nước với người dân, tổ chức do người dân lập nên”.7 Ngoài việc thực hiệnquyền tư pháp, Tòa án nhân dân còn Hiến pháp trao cho nhiệm vụ xét xử Xét xử là hoạtđộng xem xét, đánh giá và ra phán quyết nhân danh quyền lực nhà nước về tính hợp pháp

4 Hiến pháp năm 2013, khoản 1, điều 102.

5 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), điều 127.

6 Hiến pháp năm 2013, điều 2.

7Bộ Tư pháp, Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – Những vấn đề đặt ra t rong tình hình

mới,http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5931 , [ngày truy cập 20-7-2014].

Trang 10

của các vi phạm pháp luật, các tranh chấp và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền,lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật Do đó, xét xử là hoạtđộng quan trọng thông qua hoạt động xét xử quyền tư pháp được thể hiện; mục đích, ýnghĩa của các quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện; góp phần hoàn thiện hệ thốngpháp luật.

Tóm lại, Tòa án nhân dân có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước - là cơ quanduy nhất được Hiến pháp trao cho nhiệm vụ xét xử và thực hiện quyền tư pháp (một trong

ba bộ phận hợp thành của quyền lực nhà nước)

1.1.1.2 Chức năng của Tòa án nhân dân

Nói đến chức năng của Tòa án nhân dân cũng như các cơ quan nhà nước khác làxác định phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan nhà nước đó.8 Đối với Tòa án nhân

dân có nhiều hoạt động khác nhau, tuy nhiên hoạt động chủ yếu vẫn là xét xử nững vụ án

hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những

án nhân dân năm 2002, Quốc Hội đã xác định: “ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” Do đó, ở nước t a chỉ có Tòa án mới có

quyền xét xử và xét xử là chức năng duy nhất của các Tòa án So với hoạt động giải quyếtcác đơn từ khiếu nại, tố cáo hoặc những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhànước khác thì hoạt động xét xử của các Tòa án có những đặc trưng sau:

- Thứ nhất, chỉ có Tòa án mới được quyền xét xử các vụ án hình sự mà không cơ

quan nhà nước nào được quyền giải quyết C ăn cứ vào những hành vi vi phạm pháp luật,chỉ có Tòa án mới có quyền phán quyết một công dân có tội hay vô tội; nếu có tội, chỉ cóTòa án mới có quyền áp dụng các chế tài hình sự

- Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án phải tuân theo một trình tự hết sức nghiêm

ngặt Trình tự này được quy định một cách chi tiết trong những văn bản pháp luật nhấtđịnh như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự…nếu vi phạm những quy địnhtrong các văn bản vừa nêu thì phiên tòa có thể bị hoãn hoặc bị tạm ngừng và những người

cố tình vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nh iệm hành sự

- Thứ ba, trong nhiều trường hợp, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định

của giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện ra Tòa Tòa án sẽ giải quyết và quyết địnhcủa Tòa án sẽ thay thế các quyết định giải quyết khiếu nại trước đó

8Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2004, tr.500.

9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 1.

Trang 11

1.1.2 Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

Tòa án nhân dân là một trong các bộ phận cấu thành bộ máy Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vì vậy, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cũng phảituân theo những nguyên tắc chung của việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy nhiên, xuất phát từ hoạt động đặc thù của Tòa án nhân dân là xét xử nên Tòa án nhândân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc riêng dựa trên nền tảng các nguyêntắc chung Sau đây là các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhândân:

1.1.2.1 Nguyên tắc Tòa án xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân , trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn

Để đảm bảo tính công bằng, bình đẳng của pháp luật, việc xét xử không c hỉ cónhững người có chuyên môn mà còn có đại diện từ phía nhân dân Hiến pháp năm 2013

quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường

cũng quy định: “Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, việc

xét xử của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật

tố tụng Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” Hội thẩm là những người lao

động hoặc đang ở trong quân ngũ thay mặt cho nhân dân, quân nhân tham gia vào hoạtđộng xét xử, để đảm bảo cho quyết định của Tòa án không những đúng pháp luật của Nhànước mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Sự tham gia xét xử của Hội thẩmtại các Tòa án phải tính đến những đặc điểm, phong tục tập quán và tâm tư nguyện vọngcủa nhân dân, để bản án, quyết định của Tòa án được khách quan, không những thấu lý

mà còn đạt tình , có tác dụng giáo dục cao Trong xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ngangquyền với nhau, cùng nhau bàn bạc, thảo luận để đ i đến một quyết định thống nhất

Tuy nhiên, khi xét xử theo thủ tục rút gọn thì không có sự tham gia của Hội thẩm.Đây là quy định mới được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Hiện nay, trong pháp luật

tố tụng và các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định những thủ tục riêng, có nộidung “rút gọn” để Tòa án áp dụng giải quyết một số loại vụ việc cụ thể Quy định nàynhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án, tiết kiệm thời gian, công sức và chi

10 Hiến pháp năm 2013, điều 103, khoản 1.

Trang 12

phí trong quá trình tố tụng, góp phần ổn định xã hội, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tiếptục nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện thủ tục rút gọn trong tố tụng.11

1.1.2.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của

Thẩm phán, Hội thẩm

“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là nguyêntắc được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân và Pháp lệnh vềThẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân hiện hành,12 đây là nguyên tắc bắt nguồn từnguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình xét

xử và tính thống nhất của pháp luật

Nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử của Tòa án nhân

dân, Hiến pháp năm 2013 quy định một cách cụ thể hơn về nguyên tắc này: “Thẩm phán,

Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.” Nguyên tắc này đảm bảo nội

dung:13

- Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập thể hiện ba khía cạnh: độc lập với các cơquan khác, độc lập với cơ quan Tòa án cấp trên và thành phần Hội đồng xét xử phải độclập với nhau Điều này đồng nghĩa với việc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bịràng buộc với ý kiến của bất kỳ cá nhân hay cơ quan trong việc ra giải quyết vụ án mà chỉtuân theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa xét

xử chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử” như quy định của Hiến pháp năm 1992

- Cụm từ “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của

Thẩm phán, Hội thẩm” nhằm đảm bảo cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực

tiễn xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm

11 Trương Hòa Bình,Toà án nhân dân tối cao, Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa án giản

lược trong hệ thống Tòa án nhân dân,

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/56071985/56494212?p_page_id=56071985&p_cateid=56077102&item _id=56660064&article_details=1 , [ngày truy cập 5/7/2014].

12 Hiến pháp năm 1946 , điều 69; Hiến pháp năm 1959, điều 100; Hiến pháp năm 1980, điều 131; Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2 001), điều 130; Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 5; Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002, điều 4.

13Trần Văn Tú, Tòa án nhân dân tối cao, Các quy định về Tòa án nhân dân trong Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp năm

1992 và hướng hoàn thiện Luật tổ chức Tòa án nhân dân,

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&ite m_id=43256903 , [ngày truy cập 5/7/2014].

Trang 13

1.1.2.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai

Công khai trong hoạt động nhà nước là một yếu tố bảo đảm yêu cầu của nhà nước

pháp quyền, do dân làm chủ: “Công khai, với tư cách là biểu hiện của dân chủ, là điều

kiện để thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội”.14

Nguyên tắc này được quy định tại Đ iều 103 Hiến pháp năm 2013 và bắt nguồn từnguyên tắc phát huy dân chủ đối với nhân dân tro ng hoạt động của bộ máy nhà nước.Nguyên tắc này nhằm mục đích thu hút đông đảo nhân dân tham gia phiên tòa xét xử,đảm bảo sự giám sát của nhân dân đối với việc xét xử của Tòa án, góp phần giáo dục,phòng ngừa của hoạt động xét xử Để thực hiện nguyên tắc này các Tòa án nhân dân phải

có kế hoạch xét xử các vụ án và phải niêm yết tại trụ sở Tòa án để nhân biết

Tòa án có thể xét xử tại phòng xử án của Tòa án, cũng có thể xét xử lưu động tạinơi xảy ra vụ án Trong cả hai trường hợp đều cần phải thông báo cho bị cáo, người bị hại

và các đương sự cũng như những người có liên quan cùng biết về địa điểm và thời gianxét xử

Mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền th am dự phiên tòa, được lắng nghephát biểu của Tòa án cũng như những người có liên quan đến vụ án

Tòa án cũng có thể xét xử kín,15 trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhànước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời

tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự Đối với những vụ án được xét xử kín thì Tòa

án có thể quyết định cho những người có liên quan đến vụ án tham dự một phần hay toàn

bộ vụ án Tuy nhiên, dù được xét xử dưới hình thức công khai hay xử kín thì bản án,quyết định của Tòa án đều phải được tuyên công khai để mọi người được biết 16

1.1.2.4 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn

Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hoạt động

của bộ máy nhà nước và được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tại Điều 1 03: “Tòa án

xét xử tập thể và quyết định theo đa số , trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn ” Xét

xử là hoạt động đặc thù do Tòa án đảm nhiệm nhằm bảo vệ pháp c hế xã hội chủ nghĩa,

14Đào Trí Úc (Chủ biên), Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 1994, tr 381.

15 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 7

16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 18 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), điều 15.

Trang 14

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Công tác xét xử phải hết sức thận trọng,khách quan và đúng đắn Muốn có được bản án, quyết định đúng đắn đòi hỏi trí tuệ c ủatập thể, vì vậy Tòa án thành lập Hội đồng xét xử để xét xử các vụ án hình sự, dân sự, laođộng… Hội đồng xét xử có thể gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, cũng có thể gồmcác Thẩm phán nhưng phải có ít nhất từ ba người trở lên.17

Hội đồng xét xử làm việc tập thể, cùng nghiên cứu hồ sơ vụ án, cùng thẩm vấn đểxác minh các chứng cứ và chịu trách nhiệm tập thể trước Tòa án cùng cấp và cấp trên vềkết quả phiên tòa Tất cả các quyết định của Tòa án đều phải được thống nhất của đa sốcác thành viên trong Hội đồng xét xử Các thành viên Hội đồng xét xử giải quyết mọi vấn

đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một Người có ý kiến thiểu

số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ

Nguyên tắc này có ngoại lệ “trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn ”, đây cũng

là điểm mới so với quy định được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chứcTòa án nhân dân năm 2002.18 Hiện nay, đối với những vụ án rõ ràng, đơn giản thì chỉ cầnmột Thẩm phán tiến hành xem xét giải quyết chứ không cần thành lập Hội đồng xét xử,nhằm giải quyết những vụ việc được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo đúngpháp luật và đạt hiệu quả, tiết kiệm về thời gian cho những người tham gia tố tụng

1.1.2.5 Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Thực tiễn xét xử trong thời gian vừa qua cho thấy mô hình tố tụng tại phiên tòa củaViệt Nam theo hướng thẩm vấn kết hợp với tranh tụng, các chứng cứ, tình tiết của vụ án

đã được những người tham gia tố tụng trình bày khách quan tại phiên tòa và trên cơ sở đó,Hội đồng xét xử ra các phán quyết nhằm đảm bảo c ác phán quyết đó chính xác, đúngpháp luật Vì vậy, chất lượng xét xử của Tòa án các cấp trong thời gian vừa qua cũng đãđược nâng lên, giảm các vụ, việc oan, sai Từ cơ sở thực tiễn đó và nhằm thể chế các quanđiểm của Đảng về xác định mô hình tố tụng Việ t Nam, Hiến pháp năm 2013 đã quy định

“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo ”.19 Đây là nguyên tắc mới được ghinhận trong Hiến pháp năm 2013 mà Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) vàLuật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 không có quy định

17 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 185, điều 244 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), điều 52, điều 53.

18 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), điều 131 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân, điều 6.

19 Hiến pháp năm 2013, điều 103, khoản 5.

Trang 15

1.1.2.6 Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

“Thực hiện chế độ hai cấp xét xử ” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Tòa

án Việt Nam; là biểu hiện của dân chủ và tiến bộ trong hoạt động tố tụng Nguyên tắc này

đã được nêu trong Ngh ị định thư số 7 bổ sung cho Công ước Bảo vệ quyền con người vàcác quyền tự do cơ bản ngày 22 tháng 11 năm 1984, và được chúng ta khẳng định lạitrong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003, BộLuật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) , Luật Tố tụng hành chính năm

2010.20Mục đích bao trùm của việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nhằm đảm bảo việcxét xử đúng pháp luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đương sự; xâydựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án; đồng thờitrực tiếp thực hiện sự giám sát của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa áncấp dưới Thực hiện chế độ hai cấp xét xử tức là vụ án mà bản án hoặc quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực phá p luật thì có thể kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật địnhđược Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm

Và hiện nay nguyên tắc này lại lần nữa được ghi nhận tại khoản 6, điều 103 Hiến

pháp năm 2013 với nội dung: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm ” Về bản

chất thì cách thể hiện của Hiến pháp năm 2013 có kế thừa song có bao hàm những nộidung mới đó là khẳng định hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Hoạt độnggiám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án không phải là cấp xét xử Có như vậy thì những vụviệc được Tòa án xét xử đã có hiệu lực pháp luật (đã qua xét xử ở cấp phúc thẩm) phảiđược thi hành, tránh khiếu nại kéo dài Nguyên tắc này cũng nhằm xác định trách nhiệmcủa ngành Tòa án trong công tác xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án các cấp cóthẩm quyền phải đảm bảo chất lượng xét xử cao nhất

1.1.2.7 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự

Đây là nguyên tắc dân chủ được ghi nhận tại khoản 7, Điều 103 Hiến pháp năm

2013 Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộluật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Luật tố tụng hành chínhnăm 2010.21

20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 11; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 20; Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), điều 17; Luật tố tụng hành chính năm 2010, điều 19.

21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 11; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sữa dổi, bổ sung năm 2001), điều 9; Luật tố tụng hành chính năm 2010, điều 11.

Trang 16

Quyền bào chữa và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp là quyền cơ bản của công dânđược pháp luật đảm bảo thực hiện , góp phần đảm bảo việc xét xử của Tòa án được toàndiện và khách quan Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, bị can, bị cáo

có quyền tự bảo chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình T rong một số trường hợpluật định thì Tòa án hoặc cơ quan chức năng phải chỉ định luật sư bào chữa.22 Đây đượcxem là một nguyên tắc đặc thù chỉ có trong tố tụng hình sự Trong tố tụng dân sự, tố tụnghành chính thì không được gọi là “quyền bào chữa” mà thay vào đó là “qu yền bảo vệ lợiích hợp pháp của mình”, các đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hoặc người khácbảo vệ lợi ích hợp pháp của mình

1.1.3 Cơ cấu tổ chức và thẩ m quyền của Tòa án nhân dân các cấp

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 tại Điều 2 quy định hệ thống cơ quan xét

xử của nước ta gồm: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và CácTòa án quân sự

1.1.3.1 Tòa án nhân dân tối cao

Theo quy định tại Điều 1 04 của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhândân năm 2002 tại Điều 18 thì Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành phần của Tòa án nhân dân tối cao bao gồm:Chánh án, Phó chánh án, các Thẩm phán và Thư ký Tòa án

Cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tối cao gồm: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao, Các Tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc

- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: là cơ quan xét xử cao nhất theo thủtục giám đốc thẩm, tái thẩm và là cơ quan hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất phápluật Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, các Phó Chánh án,các Thẩm phán, nhưng tổng số thành viên không quá 17 người.23

- Các Tòa chuyên trách: gồm có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động,Tòa hành chính Các Tòa chuyên trách này có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những

22 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 57.

23 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 21.

Trang 17

vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng cáo kháng nghị Mỗi Tòa bao gồm cóChánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án.24

Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền:25

- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luậtcủa Tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tốtụng

1.1.3.2 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( Tòa án nhân dân cấp tỉnh)

- Ủy ban Thẩm phán: có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng nghị Ủy ban thẩmphán gồm Chánh án, các Phó Chánh án và một số Th ẩm phán nhưng tổng số thành viênkhông quá 09 người.26

- Các Tòa chuyên trách gồm: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động,Tòa hành chính Các Tòa này có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng và phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị Mỗi Tòa chuyên tráchgồm Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án

24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 23.

25 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 20.

26 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 29.

Trang 18

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:27

- Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng

- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm cưa có hiệu lực pháp luậtcủa Tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của Tòa án cấp huyện bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

1.1.3.3 Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( Tòa án nhân dân cấp huyện)

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Tòa án nhân dân cấp huyện là cơ quanxét xử ở địa phương; gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhândân và Thư ký Tòa án.28 Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán do Chánh án Tòa án nhândân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức,29 Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhândân cấp huyện bầu ra.30

Tòa án nhân dân cấp huyện có cơ cấu đơn giản nhất trong hệ thống cơ quan Tòa

án, không có Hội đồng Thẩm phán, Ủy ban Thẩm phán và các Tòa chuyên trách như T òa

án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh mà chỉ có bộ máy giúp việc

Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 tại Điều 32, khoản 2thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng

1.1.4 Tòa án quân sự

Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 tại Chương IV vàtrong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 thì Tòa án quân sự là cơ quan xét xửcủa nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Tòa án nhân dân được tổchức trong quân đội để xé t xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức,

27 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 28.

28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 32.

29 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 25.

30 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, điều 41.

Trang 19

công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểmtra tình trạng sẵn sàng chiến đấu,31…Về cơ cấu tổ chức, Tòa án quân sự bao gồm: Tòa ánquân sự trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực.

1.1.4.1 Tòa án quân sự Trung ương

Theo Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 tại Điều 21 thì Tòa án quân sựtrung ương thuộc cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao Tòa án quân sự trung ươnggồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán và Thư ký Tòa án

Cơ cấu tổ chức của Tòa án quân sự trung ương gồm có: Uỷ ban Thẩm phán, cácToà phúc thẩm và bộ máy giúp việc

Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 tại Điều 22 thì Tòa

án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án hình sự mà bản án,quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các Tòa án quân sự cấp dưới trực tiếp bị khángcáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; giá m đốc thẩm, tái thẩm những vụ

án hình sự mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án quân sự cấpdưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng và giám đốc việc xét xử của cácTòa án quân sự cấp dưới

1.1.4.2 Tòa án quân sự quân khu và tương đương

Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 tại Điều 25 thì Tòa

án quân sự quân khu và tương đương gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán,Hội thẩm quân nhân và Thư ký Tòa án

Tòa án quân sự quân khu và tương đương có cơ cấu tổ chức gồm có: Ủy ban Thẩmphán và bộ máy giúp việc

Theo quy định trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 tại Điều 26 thìTòa án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ ánhình sự không thuộc thẩm quyền hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực

31 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002, điều 3.

Trang 20

nhưng Tòa án quân sự quân khu và tương đương lấy lên để xét xử; phúc thẩm các vụ ánhình sự mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các Tòa án quân sự cấpdưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; giám đốc thẩm, tái thẩmnhững vụ án hình sự mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án quân

sự cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng và giải quyết những việckhác theo quy định của pháp luật

1.1.4.3 Tòa án quân sự khu vực

Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực được quy địnhtrong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sựnăm 2002 tại Điều 29

Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự vềnhững tội phạm theo quy định của B ộ luật tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội hoặckhi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung đoà ntrưởng hoặc tương đương trở xuống; giải quyết những việc khác theo quy định của phápluật

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.2.1 Khái niệm gia đình

“Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết

thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của họ với nhau

Trang 21

theo quy định của Luật này”.32 Theo luật định thì gia đình là một tập những chủ thể cóquan hệ pháp lý đặc biệt, do tính đặc biệt của quan hệ xã hội giữa họ.

Gia đình là một đơn vị sản xuất: theo nghĩa cổ điển, gia đình là nơi tạo ra các sảnphẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp từ kết quả lao động của các thành viên Theo nghĩahiện đại, gia đình là nguồn cung ứng lao động cho xã hội

Gia đình là một đơn vị tiêu dùng: gia đình có ngân sách chi tiêu chung và tiến hànhmua sắm, thụ hưởng dịch vụ như một đơn vị tiêu thụ

“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quantrọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổquốc”.33 Trong quan niệm truyền thống, đất nước được hình dung như gia đình lớn màviệc tổ chức và vận hành chỉ là sự phóng to mô hình gia đình nhỏ, gồm những người gắn

bó với nhau trên cơ sở huyết thống hoặc hôn nhân Trong quan niệm hiện đại, gia đình lànơi mà các công dân nhỏ tuổi chuẩn bị về mọi mặt để tham gia vào đời sống xã hội.34

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về tâm - sinh lý của người chưa thành niên

1.2.2.1 Khái niệm về người chưa thành niên

Theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, các nhà làm luậtkhông đưa ra khái niệm cụ thể về người chưa thành niên, mà lấy tiêu chí tuổi đời để xácđịnh đối tượng thuộc độ tuổi nào là người chưa thành niên được quy định như sau:

Theo quy định tại Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990 thì

“Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó cóquy định tuổi thành niên sớm hơn”

Bên cạnh Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu của Liênhợp quốc về quản lý tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại Hội ĐồngLiên Hợp Quốc thông qua ngày 14-12-1992 cũng đề cập đến khái niệm “ người chưathành niên là người dưới 18 tuổi” Hướng dẫn Ri adh về phòng ngừa phạm pháp ở ngườichưa thành niên được Liên hợp quốc thông qua ngày 14-12-1990 không đưa ra khái niệm

32 Luật hôn nhân & gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), điều 8, khoản 10.

33 Luật hôn nhân &gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), lời nói đầu.

34Huỳnh Thị Trúc Giang và Nguyễn Thị Mỹ Linh, Tập bài giảng Luật hôn nhân &gia đình , Khoa Luật- Đại học Cần

Thơ, 2012, tr.1.

Trang 22

cụ thể về người chưa thành niên, song thông qua các quy định giúp chúng ta hiểu rằngngười chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm ngườichưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, vậy nên Công ước Liên hợp quốc vềquyền trẻ em có nhiều điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi của ngườichưa thành niên

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 tại Điều 18 nêu rõ : “Người từ đủ mười tám

tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.

Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định rõ: “Người chưa

thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung

Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” Vậy theo quy định này thì

người chưa thành niên cũng là người chưa đủ 18 tuổi

Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên

là người lao động dưới 18 tuổi ”.35

Như vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành gần như thống nhấtquan điểm: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”

Thông qua việc giới hạn độ tuổi của người chưa thành niên , ta có thể đưa ra khái

niệm người chưa thành niên như sau: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển

đầy đủ về thể chất, tinh thần, c hưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành

vi của mình”.36

1.2.2.2 Đặc điểm về tâm - sinh lý của người chưa thành niên

35 Bộ luật lao động năm 2012, điều 161.

36Nguyễn Quang Lộc, Tòa án nhân dân tối cao, Công tác xét xử những vụ án liên quan đến người chưa thành niên ,

http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=39802171& article_details=1,[ngày truy cập 20-6-2014].

Trang 23

Người chưa thành niên là nhóm tuổi có những sự thay đổi mạnh mẽ nhất về thểchất trong cuộc đời của mỗi người Dưới góc độ sinh học, nó là giai đoạn chuyển biến từmột đứa trẻ non nớt thành một người lớn khỏe mạnh.37 Sự trưởng thành nhanh chóng gầnnhư đột biến ấy không chỉ gây ngạc nhiên cho mọi người xung quanh mà còn cho chí nh

cả những đứa trẻ ở vào lứa tuổi này, làm cho các em cảm thấy lúng túng, không làm chủđược cảm xúc và hành động của mình Chẳng hạn, sự phát triển mất cân bằng giữa tim vàmạch máu đã gây ra sự thiếu máu từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm hoạt độngcủa hệ tim mạch bị rối loạn (tim đập nhanh, dễ mệt mỏi, dễ bị kích thích, dễ nổi nóng…)

Những sự mất cân bằng về sinh lý là điển hình của người chưa thành niên, nhưngchúng chỉ tạm thời và sẽ qua đi theo sự trưởng thành Tuy nhiên, một số hành vi và sựchọn lựa của người chưa thành niên có thể gây hậu quả suốt đời nếu các em thiếu sựhướng dẫn và hỗ trợ của người lớn

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về sinh lý, đời sống tâm lý của người chưa thànhniên cũng có những biến đổi sâu sắc Ở lứa tuổi này, người chưa thành niên có nhiều biểuhiện bồng bột, nhất thời, buồn vui vô cớ, tính khí nắng mưa thất thường, cư xử nông nổi,hay làm phức tạp hóa vấn đề…Đồng thời, lứa tuổi này có khả năng gặp nhiều “rủi ro”, vìcác em chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm sống để tự giải quyết được những vấn đề củamình, nhưng lại muốn khẳng định bản thân như một người từng trải và bản lĩnh Do đó,nếu không có sự giáo dục đúng mực từ phía gia đình, nhà trường và xã hội thì các em sẽrất dễ có những hành động sai lầm, dẫn đến hệ lụy đáng tiếc và lâu dài

Trong độ tuổi chưa thành niên, khuynh hướng làm người lớn biểu hiện rất rõràng.38Biểu hiện của khuynh hướng này trước tiên là về mặt nhận thức, người chưa thànhniên thường rất ham hiểu biết, thích khám phá, trải nghiệm nên thường có những hành vihết sức mạo hiểm Đây cũng là nguyên nhân khiến người chưa thành niên rất dễ bị lôi kéovào những hành vi xấu mà không nhận biết được và dễ bị lây nhiễm những tệ nạn xã hộinhư cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, đánh nhau khi ở vào tuổi chưa thành niên để rồi khi

37Đặng Vũ Cảnh Linh, Viện nghiên cứu truyền thống và phát triển, Về tuổi vị thành niên với chính sách đối với vị

thành niên hiện nay, vsf-chinh-sach-i-vi-v-thanh-nien-hin-nay1&catid=48%3Atrao-doi-toa-dam&Itemid=84&lang=en , [ngày truy cập 24- 6-2014].

http://tadri.org/index.php?option=com_content&view=article&id=266%3Av-tui-v-thanh-nien-38Nguyễn Thị Bích Hồng, Mục văn bút, Tâm lý và cách giáo dục trẻ vị thành niên,

thanh-nien&catid=50:bai-viet-cua-cac-tac-gia-khach&Itemid=90 , [ngày truy cập 15-7-2014].

Trang 24

http://www.mucvuvanbut.net/index.php?option=com_content&view=article&id=686:tam-li-va-cac-giao-duc-tre-vi-trưởng thành đã không thể dễ dàng từ bỏ những tệ nạn này.39 Về tình cảm, người chưathành niên có cảm xúc rất mảnh liệt, rất nhạy cảm, khó kiềm chế, muốn được sự quan tâm

và biểu lộ tình cảm của người khác

1.2.3 Mối liên hệ giữa gia đình và sự phát triển của người chưa thành niên

Gia đình luôn có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách củangười chưa thành niên.40 Giáo dục gia đình không chỉ tác động mạnh mẽ đến s ự hìnhthành nhân cách của trẻ em ở giai đoạn ấu thơ mà nó còn quyết định sự phát triển, hoànthiện nhân cách của chúng trong các giai đoạn của cuộc đời , đặc biệt là giai đoạn chưathành niên Vì vậy, “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự l à tế bào lànhmạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thànhnhân cách của con trẻ, đặc biệt là trẻ vị thành niên”.41

Gia đình hạnh phúc, các em cảm nhận được tình yêu thương , sự che chở, giúp đỡlẫn nhau của các thành viên trong gia đình, sự chăm sóc và giáo dục của ông bà, cha mẹ,giúp các em có một môi trường phát triển lành mạnh, góp phần kéo giảm và ngăn ngừatình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên Nhưng nếu gia đình không hạnhphúc, các em thường xuyên chứng kiến những mâu thuẫn, cãi vả hoặc hành vi mang tínhchất bạo lực thì những lời nói, những hình ảnh đó sẽ dần ăn sâu vào tâm trí và từng ngàylàm tổn thương về tâm lý của các em và từ hành vi đó làm cho các em trẻ trở nên thô bạotrong suy nghĩ và hành động và là nguyên nhân dẫn đến những hành động thiếu suy nghĩgây nguy hại cho xã hội

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ CỦA VIỆC THÀNH LẬP TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA

THÀNH NIÊN

39Đặng Vũ Cảnh Linh, Viện nghiên cứu truyền thống và phát triển, Về tuổi vị thành niên với chính sách đối với vị

thành niên hiện nay, vsf-chinh-sach-i-vi-v-thanh-nien-hin-nay1&catid=48%3Atrao-doi-toa-dam&Itemid=84&lang=en , [ngày truy cập 15- 7-2014].

http://tadri.org/index.php?option=com_content&view=article&id=266%3Av-tui-v-thanh-nien-40Nguyễn Thị Hảo, Tạp chí của Ban tuyên giáo trung ương, Giáo dục trẻ vị thành niên trong gia đình hiện nay,http://www.tuyengiao.vn/Home/MagazineContent?ID=1633 , [ngày truy cập 20-7-2014].

41Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011,

tr.

77.

Trang 25

2.1 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ GIA ĐÌNH

2.1.1 Tình hình giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên phạm tội

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ emnăm 1990 Việt Nam cũng đã xây dự ng được một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lýquan trọng cho công tác bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong các vụ ánhình sự nói riêng Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án trong thời gian qua cho thấy, tỷ

lệ tội phạm do người chưa thành niên thực hiện vẫn có chiều hướng gia tăng; cơ cấu, tổchức, tính chất tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; có không ít trường hợp đã

bị Toà án xét xử, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhưng hiệu quả của việc áp dụnghình phạt chưa cao, t ỷ lệ người chưa thành niên tái phạm còn nhiều Theo Báo cáo của Bộ

Tư pháp, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 14.000 -16.000 người chưa thành niên viphạm pháp luật, chiếm 15 – 18% tổng số tội phạm xảy ra trên cả nước.42Trong năm 2009,

có 14.466 trường hợp; nam giới vi phạm chiếm 96,9% thuộc nhóm tuổi từ 16 tuổi đến 18tuổi Từ năm 2006 đến năm 2010, tình trạng này có xu hướng giảm nhưng không ổn định.Đáng lưu ý, tỷ lệ đối tượng bị xử lý hình sự tăng (năm 2007 là 27,1%, năm 2010 là 36%)

và hình phạt phổ biến mà Tòa án áp dụng là tù có thời hạn Theo số liệu thống kê của Tòa

án nhân dân tối cao thì năm 2007, ngành Tòa án đã xét xử 5466 bị cáo/3845 vụ (42trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm); năm 2008 là 4581 bị cáo/3216 vụ (43trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm); năm 2009 là 3710 bị cáo/2722 vụ (42trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm); năm 2010 xét xử 3418 bị cáo/2582 vụ(47 trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm); năm 2011xét xử 3243 bị cáo/2355

vụ (35 trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm); năm 2012 xét xử 6180 bịcáo/4557 vụ (52 trường hợp là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm) 43

2.1.2 Tình hình giải quyết các vụ án có người bị hại là trẻ em, người chưa thành niên

Qua công tác phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng cho thấy, cùngvới sự biến động, gia tăng của tội phạm nói chung, tội phạm xâm hại trẻ em và người

42Cẩm Vân, Bộ Tư pháp, Thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên: Bảo vệ trẻ em trước “sóng gió”

cuộc đời ,http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=4496 , [ngày truy cập 5-7-2014].

43Tòa án nhân dân tối cao, Đề án thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam ,

http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/tandtc.BMDT_PTL.showsavedoc?PFILE=6142660.DOC , [ngày truy cập 2014].

Trang 26

5-7-chưa thành niên cũng tăng lên đáng kể, các em thường là nạn nhân của nhóm tội xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người như tội: giết người, cố ýgây thương tích, xâm hại tình dục, mua bán người Đặc biệt là tội hiếm dâm trẻ em, có nơichiếm đến hơn 50% tổng số vụ phạm tội hiếp dâm Theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, trong

10 năm từ 2001 đến năm 2010, có khoảng 10.000 trẻ em bị xâm hại tình dục; riêng năm

2009, có tới 1.800 trường hợp; đa số nạn nhân là nữ ở độ tuổi 13 tuổi đến 15 tuổi (chiếm57,46%); số trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại chiếm tới 13,20% Theo số liệu thống kê củaTòa án nhân dân tối cao thì năm 2011, ngành Tòa án phải xét xử 1.156 vụ xâm hại tìnhdục trẻ em; năm 2012 là 1.392 vụ; năm 2013 là 1830 vụ; trong đó số vụ án hiếp dâm trẻ

em năm 2011 là 550 vụ; năm 2012 là 603 vụ; năm 2013 là 704 vụ; số các vụ án trẻ em bịmua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt cũng có chiều hướng tăng lên (năm 2011 là 43 vụ;năm 2012 là 41 vụ; năm 2013 là 67 vụ) Bên cạnh đó, cũng có nhiều vụ án ngược đãi,hành hạ trẻ em nghiêm trọng xảy ra, gây bức xúc trong xã hội như: vụ Huỳnh ThanhGiang và Mã Ngọc Thơm hành hạ cháu Hào Anh (14 tuổi) ở C à Mau; vụ Nguyễn Mùi vàĐoàn Thị Hồng Yến hành hạ con nuôi Nguyễn Thục Phi (10 tuổi) ở Quảng Ngãi; vụ BùiHữu Đạt gây thương tích nặng cho con nuôi là cháu Hồng Anh (4 tuổi) ở Hà Nội.44

2.1.3 Tình hình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

Trong điều kiện nền kinh tế xã hội phát triển và sự du nhập các giá trị mới, hiệnđại từ bên ngoài khiến nền tảng gia đình truyền thống Việt Nam cũng có nhiều thay đổi.Những năm 1990 trở về trước, việc g iải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình chiếm

tỷ lệ nhỏ, thì từ những năm 1990 đến nay, tình hình giải quyết các vụ việc về hôn nhân vàgia đình có xu hướng tăng, đặc biệt là các vụ án ly hôn.45

Cách xác định một vụ việc là vụ việc về hôn nhân và gia đình được căn cứ vàoĐiều 27 và Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Trong số các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa án đã giải quyết thì có những vụviệc liên quan đến quyền và lợi ích của người chưa thành niên và cũng có những vụ việckhông liên quan đến quyền và lợi ích của đối tượng này

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì năm 2007, số các vụ việc vềhôn nhân và gia đình mà ngành Tòa án giải quyết là 70.204 vụ việc; năm 2008 là 76.152

44Tòa án nhân dân tối cao, Đề án thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam ,

http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/tandtc.BMDT_PTL.showsavedoc?PFILE=6142660.DOC , [ngày truy cập 2014].

5-7-45 Bộ Tư pháp, Tòa hôn nhân & gia đình: Không để HN & GĐ lẫn trong dân sự,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4584 , [ngày truy cập 20-7-2014].

Trang 27

vụ việc; năm 2009 là 89.609 vụ việc; năm 2010 là 97.627 vụ việc; năm 2011 là 115.331

vụ việc Trong số các vụ việc về hôn nhân và gia đình, số các vụ việc ly hôn năm 2007 là61.231 vụ việc; năm 2008 là 69.485 vụ việc; năm 2009 là 75.558 vụ việc; năm 2010 là105.047 vụ việc; năm 2011 là 113.234 vụ việc; trong số các vụ việc về ly hôn thì số vụ lyhôn có con là người chưa thành niên chiếm tỷ lệ từ 45% - 60%.46

2.1.4 Mối liên hệ giữa gia đình và tình hình phạm tội ở người chưa thành niên

Tình hình phạm tội ở người chưa thành niên xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân,nhưng xuất phát từ hoàn cảnh gia đình là nguyên nhân cơ bản nhất Gia đình bao giờ cũng

là nơi ảnh hưởng đầu tiên và xuyên suốt trong quá trình phát triển và hình thành nhâncách ở người chưa thành niên Qua khảo sát cho thấy đa số các trường hợp phạm tội ởngười chưa thành niên đều có xuất thân từ hoàn cảnh gia đình không đầy đủ, thiếu sựquan tâm, chăm sóc và giáo dục của gia đình hoặc không được sự giáo dục đúng đắn từphía gia đình Trong số người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam thì có đến hơn 70%trẻ không được sự quan tâm, chăm sóc đầy đủ từ phía gia đình.47 Theo Học viện an ninhnhân dân, sau khi phân tích hoàn cảnh gia đình của số người chưa thành niên phạm tộicho thấy: 30% em phạm tội có bố, mẹ nghiện ma túy, ham mê cờ bạc; 21% em có giađình làm ăn phi phá p; 8% em có anh chị có tiền án, tiền sự; 10,2% em mồ côi cả cha lẫnmẹ; 32% em có bố mẹ ly hôn; 49% em bị cha mẹ đánh đập, chửi mắng; 21% em đượcnuông chiều quá mức và 75% em không được gia đình quan tâm quản lý…48 Theo kếtquả nghiên cứu của Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao năm 2010, trong số

2209 học sinh các trường giáo dưỡng được hỏi thì có tới 49,81% học sinh đã sống trongcảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc ác của bố mẹ; số em bị bố đánh chiếm 23%, bị dìghẻ, bố dượng đánh chiếm 20,3%.49

Như vậy, hoàn cảnh và sự giáo dục của gia đình là yếu tố cơ bản, quyết định sựhình thành nhân cách, thái độ và hành vi xử sự của người chưa thành niên đối với xã

46Tòa án nhân dân tối cao, Đề án thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam,

http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/tandtc.BMDT_PTL.showsavedoc?PFILE=6142660.DOC , [ngày truy cập 2014].

5-7-47Ngô Hoàng Oanh, Học viện tư p háp, Tình hình tội phạm vị thành niên, thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp ,

http://hocvientuphap.edu.vn/desktops/news/download.aspx?id=284 , [ngày truy cập 4-8-2014].

48Báo gia đình, Đừng quay lưng lại với trẻ em phạm tội , em-pham-toi-1630.htm , [truy cập ngày 4-8-2014].

http://giadinh.net.vn/gia-dinh/dung-quay-lung-lai-voi-tre-49Tòa án nhân dân tối cao, Đề án thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên ở Việt Nam ,

http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/tandtc.BMDT_PTL.showsavedoc?PFILE=6142660.DOC , [ngày truy cập 2014].

Trang 28

2.2 NHỮNG BẤT CẬP VỀ CƠ C ẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

2.2.1 Những bất cập về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

2.2.1.1 Không có Tòa chuyên trách để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

Theo số liệu thống kê về tình hình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và giađình,51thì các vụ việc về hôn nhân và gia đình ngày càng tăng và diễn biến phức tạp Các

vụ việc về hôn nhân và gia đình thường xuất phát từ quan hệ hôn nhân hoặc gia đình cótính huyết thống hoặc nuôi dưỡng, nên việc giải quyết các vụ việc này có tính đặc thùhơn so với giải quyết các vụ việc dân sự thông thường Theo TS Phạm Quý Tỵ - Thứtrưởng Bộ Tư pháp: Khi giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình, yếu tố pháp lý vàyếu tố tình cảm đan xen vào nhau giữa các bên trước, trong và sau k hi khi giải quyết vụ

án Trong vụ án hôn nhân và gia đình về mặt pháp lý, các bên đã giải quyết dứt điểm,nhưng về mặt đạo đức truyền thống của dân tộc các bên vẫn bị ràng buộc lẫn nhau và cóthể kéo dài đến suốt cuộc đời.52 Mặt khác, việc giải quyết các vấn đề gia đình có ảnhhưởng sâu sắc đến đời sống tâm lý của từng thành viên trong gia đình, có tác động tíchcực hoặc tiêu cực đế n định hướng phát triển của người chưa thành niên là thành viêntrong gia đình đó Tuy nhiên, hệ thống Tòa án hiện nay vẫn không có Tòa chuyên trách đểgiải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, mà giao chung cho Tòa dân sự giải quyết.Trong khi số lượng các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa giải quyết chiếm sốlượng đáng kể trong tổng số các vụ việc dân sự Theo số liệu thống kê của Tòa án nhândân tối cao, từ ngày 30/9/2000 đến ngày 30/9/2011 Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý3.143.746 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân gia

50Hoàng Minh Khôi, Viện nghiên cứu lập pháp, Đặc điểm và một số nguyên dẫn tới vi phạm pháp luật của người

chưa thành niên,http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ThucTienPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=165 , [ngày truy cập 4-8-2014].

51 Xem mục 2.1.3 Luận văn này.

52Bộ Tư pháp, Tòa hôn nhân & gia đình: Không để HN & GĐ lẫn trong dân sự ,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4584 , [ngày truy cập 20-7-2014].

Trang 29

đình Trong đó, số vụ việc về hôn nhân và gia đình là 875.282 (chiếm khoảng 30% tổng

số vụ việc dân sự đã thụ lý).53Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác xét xử

Vì vậy, với tình hình hiện nay rất cần một Tòa chuyên trách để giải quyết tốt vấn

đề về hôn nhân và gia đình, nâng cao ý thức và trách nhiệm của các thành viên của giađình trong việc chăm sóc, giáo dục con cái Góp phần hạn chế, ngăn ngừa người chưathành niên vi phạm pháp luật, tạo môi trường lành mạnh để họ phát triển thể chất và nhâncách

2.2.1.2 Không có Thẩm phán chuyên trách để giải quyết các vụ việc về hôn nhân

và gia đình

Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy, việc xét xử các vụ việc về hôn nhân và giađình còn nhiều hạn chế mà nguyên nhân kể đến là chưa có Thẩm phán chuyên trách CácThẩm phán được phân công giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình ở Tòa án nhândân các cấp không được phân công chuyên trách thụ lý, giải quyết các vụ việc về hônnhân và gia đình, mà phải kiêm nhiệm, thụ lý nhiều vụ việc khác nên chất lượng giảiquyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Tòa án chưa cao

Xuất phát từ tính đặc thù trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đìnhnên yêu cầu bức thiết là cần đào tạo đội ngũ T hẩm phán và thành lập Tòa chuyên tráchđược giao nhiệm vụ giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình nhằm bảo đảm chocông tác xét xử của Tòa án nhân dân đúng pháp luật và chất lượng ngày càng cao

2.2.1.3 Không có thủ tục tố tụng riêng để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

Công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình thật ra rất phức tạp khôngnhư công tác giải quyết các vụ việc dân sự thông thường do tính đặc thù trong việc giảiquyết các vụ việc này Theo tâm sự của nhiều cán bộ Tòa án có nhiều năm kinh nghiệmthì khi thụ lý giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, cán bộ Tòa án phải làm việcrất vất vả trong việc thu thập chứng cứ, đến quá trình xét xử Việc áp dụng pháp luật đểgiải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình cũng rất khó khăn vì quan hệ này thường đượcxác lập trong thời gian rất dài, mà pháp luật thì có nhiều thay đổi Mặc dù vậy, hệ thốngTòa án vẫn không có quy trình riêng để giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà

áp dụng giống như quy trình giải quyết các vụ việc dân sự khác Điều này ảnh hưởng rất

53Bộ Tư pháp, Dự thảo online, Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Hôn nhân & gia đinh năm 2000 ,

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU_COBAN/Attachments/1131/ 10.bc153-BTP_tong_ket_Luat_HNGD.doc , [ngày truy cập 20-7-2014].

Trang 30

lớn đến chất lượng công tác xét xử Vì vậy, việc thành lập Tòa chuyên trách với thủ tục tốtụng riêng dành cho việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình là rất cần thiết.

2.2.2 Những bất cập về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên

2.2.2.1 Không có Tòa chuyên trách để giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên

Hiện nay để giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên tại Tòa ánnhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì tùy thuộc vào lĩnh vực vi phạm mà docác Tòa chuyên trách tương ứng thụ lý giải quyết Tuy nhiên, công tác giải quyết các vụviệc liên quan đến người chưa thành niên, ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật,thì cần phải hết sức chú ý đến đặc điểm tâm - sinh lý của đối tượng này người chưa thànhniên là người còn hạn chế về nhận thức hành vi của mình, dễ bị kích động, xúi giục lôikéo thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Chính vì vậy, khi xử lý hình sự đối với đốitượng này, cần phải cân nhắc, xem xét trong quan hệ hai mặt Họ vừa là chủ thể của hành

vi phạm tội, vừa là nạn nhân của môi trường xã hội không lành mạnh Việc xem xét tráchnhiệm pháp lý của họ luôn phải đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm bảo vệ, chăm sóccủa gia đình, nhà trường và xã hội.54

Hơn nữa trước tình hình gia tăng tội phạm người chưa thành niên như hiện nay lànỗi lo chung của toàn xã hội, cho nên việc thành lập Tòa chuyên trách là yêu cầu khá chquan nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án về nhóm đối tượng này

2.2.2.2 Không có Thẩm phán chuyên trách để giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên

Pháp luật hiện hành quy định, người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở lĩnh vựcnào thì Tòa chuyên trách tương ứng sẽ giải quyết Theo quy định này thì Tòa khó có thểphân công Thẩm phán chuyên xử lý những vụ việc liên quan đến người chưa thành niên.Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các Thẩm phán, đặc biệt là ở Tòa án nhân dân cấphuyện, chưa qua đào tạo hoặc mới chỉ được đào tạo ngắn hạn về kỹ năng xét xử đối vớingười chưa thành niên Việc trang bị cho đội ngũ Thẩm phán các kiến thức, hiểu biết vềtâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm

54Mai Thoa, Về việc xây dựng Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam (Kỳ 3) , Báo điện tử Công lý,

2013, viet-nam-ky-3-42879.html , [ngày truy cập 4-8-2014].

Trang 31

http://congly.com.vn/phap-dinh/nghiep-vu/ve-viec-xay-dung-toa-an-gia-dinh-va-nguoi-chua-thanh-nien-tai-liên quan đến người chưa thành niên chưa được các cơ sở đào tạo cũng như hệ thống Tòa

- Độ tuổi bị can, bị cáo là người chưa thành niên, trong một số trường hợp do chứng

cứ, tài liệu (giấy khai sinh, sổ đăng k ý khai sinh…) chứng minh về độ tuổi (ngày, tháng,năm sinh) của bị can, bị cáo không thống nhất nên xảy ra tình trạng mỗi cơ quan tiến hành

tố tụng căn cứ vào những tài liệu khác nhau để xác định độ tuổi của bị can, bị cáo Dẫnđến quan điểm xử lý khác nha u đối với người chưa thành niên phạm tội

- Vấn đề đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo Mặc dù pháp luật quy định khi

cơ quan tiến hành tố tụng khi tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người chưa thànhniên thì phải đảm bảo quyền bào chữa cho các bị can, bị cáo Nhưng trong thực tiễn, cómột số vụ việc bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp từ chối bào chữa và được các

cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết khác nhau nên ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bịcan, bị cáo

Mặt khác, theo PGS TS - Trung tướng Trần Văn Độ, Phó chá nh án Tòa án nhândân tối cao, hiện tại những hành vi phạm tội của người chưa thành niên được đưa ra xét

xử về cơ bản vẫn do Tòa án các cấp xét xử theo thủ tục chung và phần lớn là do Tòa ánnhân dân cấp huyện xét xử, chưa chú ý đến thủ tục đặc biệt 56

Tuy nhiên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định thủ tục tố tụng áp dụngđối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên mà chưa cóquy định thủ tục tố tụng áp dụng đối với người bị hại, ngư ời làm chứng là người chưa

55Mai Thoa, Về việc xây dựng Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam (Kỳ 2) , Báo điện tử Công lý,

2013, viet-nam-ky-2-42879.html , [ngày truy cập 4-8-2014].

http://congly.com.vn/phap-dinh/nghiep-vu/ve-viec-xay-dung-toa-an-gia-dinh-va-nguoi-chua-thanh-nien-tai-56Hoàng Vững, Thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên: Cơ hội để Vị thành niên "làm lại" , 2014, Báo điện tử Gia đình Việt Nam,http://giadinhvn.vn/vn/Tintuc/XAHOI/5069-Thanh-lap-Toa-an-gia-dinh-va-nguoi-chua- thanh-nien-Co-hoi-de-Vi-thanh-nien-lam-lai.aspx?print=1 , [ngày truy cập 30 -8-2014].

Trang 32

thành niên, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại,người làm chứng là người chưa thành niên , nhất là gần đây tình trạng người chưa thànhniên bị lợi dụng, xâm hại, lạm dụng, bóc lột đang gia tă ng nhanh chóng.57

Do những quy định thiếu rõ ràng và chưa đầy đủ của pháp luật nên chưa đủ sức đểphòng ngừa tội phạm cũng như việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chưathành niên Vậy nên, việc thành lập Tòa chuyên trách cho người chưa thành niên sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho việc bổ sung, hoàn thiện thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho ngườichưa thành niên

2.3 NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾ T CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI TÒA ÁN

NHÂN DÂN HIỆN NAY

2.3.1 Những bất cập trong công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

2.3.1.1 Việc giao con là người chưa thành niên cho cha hay mẹ nuôi dưỡng còn nhiều sai sót

Qua thực tiễn xét xử cho thấy việc giao con là người chưa thành niên cho cha hoặc

mẹ nuôi dưỡng còn nhiều sai sót như: giao cho người không có đủ điều kiện nuôi con,không hỏi ý kiến của con từ đủ 9 tuổi trở lên, hoặc không chú ý đến tâm sinh lý của con;không quyết định người có trách nhiệm cấp dưỡng hoặc quyết định mức cấp dưỡng nhưngkhông bảo đảm cuộc sống của người con Do không có Tòa án chuyên trách để giải quyếtnên trong khi giải quyết nhiều loại án, Toà án không điều tra kỹ lưỡng về khả năng kinh tếcủa mỗi bên nên có trường hợp đã buộc đương sự góp phí tổn nuôi con gần hết thu nhậphàng tháng; cũng có trường hợp Tòa án buộc đóng góp phí tổn nuôi con quá thấp hoặckhông buộc bên không nuôi con phải đóng góp phí tổn nuôi con, dù họ có khả năng và bênnuôi con kinh tế khó khăn; cũng có trường hợp buộc bên đóng góp phí tổn nuôi con phảiđóng một lần, với số tiền lớn, nên họ không có khả năng thi hành

2.3.1.2 Lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên có liên quan trong việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình chưa được quan tâm đúng mức

Trong các vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án chỉ tập trung vào giải quyết cácquan hệ giữa những người đã trưởng thành trong gia đình mà chưa quan tâm đến lợi ích tốt

57Hoàng Thư: Tòa chưa đủ sức để ngăn trẻ vị thành niên tái phạm, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam , 2012,

nien-2067245/ , [ngày truy cập 30-8-2014].

Trang 33

http://www.phapluatvn.vn/tuphap/xaydungpl/201205/Can-nhung-phien-xu-ngan-chan-hieu-qua-toi-pham-vi-thanh-nhất của người chưa thành niên có liên quan Những thiếu sót trong việc giao con là ngườichưa thành niên là một minh chứng quan trọng Tại khoản 2 điều 92 Luật Hôn nhân và Giađình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) quy định: “ Vợ, chồng thoả thuận về ngườitrực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu khôngthoả thuận được thì Toà án quyế t định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vàoquyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyệnvọng của con Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu cácbên không có thoả thuận khác” Thế nhưng Luật và các văn bản hướng dẫn cũng khônghướng dẫn rõ cụm từ “quyền lợi về mọi mặt” nên rất khó khăn trong việc giải quyết Mặtkhác, pháp luật cũng chưa quy định rằng khi Tòa án quyết định giao con chưa thành niêncho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi thì phải xem xét thêm điều kiện khác như có thuận lợi choviệc thăm nom cháu của những người thân thích khác (ông bà nội, ngoại, cô, chú, bác,cậu, dì) nhằm duy trì mối quan hệ gần gũi về huyết thống và mối quan hệ bạn bè ở khudân cư, trường học của người con trong trường hợp này.

Do những quy định thiếu rõ ràng, chưa đầy đủ của các văn bản quy phạm pháp luậtcho thấy lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên có liên trong vụ việc về hôn nhân vàgia đình chưa được quan tâm đúng mức

2.3.2 Những bất cập trong công tác giải quyết các vụ việc về người chưa thành niên

2.3.2.1 Năng lực của những người tiến hành tố tụng chưa đáp ứng yêu cầu xét xử người chưa thành niên phạm tội

Theo tại khoản 1 Điều 302 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Điềutra viên tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có hiểubiết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng,chống tội phạm của người chưa thành niên Những yêu cầu đối vớ i Điều tra viên nhằmbảo đảm rằng Điều tra viên khi tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can chưa thành niên sẽ

có cách thức xử sự đúng mực, đúng tâm lý, cảm thông với các em, tìm được phương thứchợp lý để khơi gợi, thúc đẩy sự hợp tác của các em trong quá t rình làm sáng tỏ sự thựckhách quan của vụ án, thấu hiểu những diễn biến tâm - sinh lý của các em trong quá trìnhthực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay chưa có đội ngũ Điều tra viênchuyên trách khi tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên, dẫn đến thực trạng, một

Trang 34

số Điều tra viên khi lấy lời khai người chưa thành niên thì “mặt hầm hầm, thậm chí đậpbàn, quát tháo”, làm cho các em bị hoảng loạn, nhiều khi khai sai sự thật.58

Điều tra viên vi phạm trong việc lấy lời khai và hỏi cung người chưa thành niên

Theo quy định của tại khoản 2 Điều 306 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì: “Trong

trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất h oặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng.” Tuy nhiên, thực tế trong nhiều vụ án đã vi phạm nghi êm trọng quy định này.

Cụ thể là có nhiều vụ các Điều tra viên đã tự động đưa các em về trụ sở công an hỏi cung

mà không thông báo cho gia đình, người giám hộ biết Nhiều em đã bị ảnh hưởng về thầnkinh, có dấu hiệu rối loạn thần kinh hoặc trí nhớ Việc nà y dẫn đến hậu quả ảnh hưởng rấtnặng nề đến tâm lý, nhiều em vì quá sợ nên đã khai không chính xác.59

Mặc dù khi tiến hành hoạt động truy tố đối với người chưa thành niên phạm tội thìKiểm sát viên phải đạt yêu cầu theo quy định tại k hoản 1 Điều 302 B ộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 Tuy nhiên, đội ngũ Kiểm sát viên đa số đều không chuyên trách giải quyếtcác vụ án liên quan đến người chưa thành niên , chưa qua khóa đào tạo về tâm – sinh lýcủa người chưa thành niên nên gặp khó khăn trong việc xác định rõ: tuổi, trình độ pháttriển về thể chất và tinh thần, mức nhận thức về hành vi phạm tội, điều kiện sinh sống vàgiáo dục, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên phạm tội.60 Docòn hạn chế về năng lực dẫn đến lập luận của Kiểm sát viên thiếu chặt chẽ nên trongnhiều phiên tòa xét xử, Kiểm sát viên có phần đuối lý so với Luật sư bào chữa Điều nàyảnh hưởng không nhỏ chất lượng của hoạt động truy tố

Một số Kiểm sát viên không phân biệt được sự khác nhau về thủ tục tố tụ ng giữa

vụ án người chưa thành niên với vụ án người đã thành niên, thậm chí có người còn chorằng các quy định về thủ tố tụng đối người chưa thành niên chỉ là hình thức, việc giải

58 Vi Trần: Tòa cho vị thành niên: Không thể trì hoãn , Báo điện tử Pháp luật TP.HCM, 2008,

http://phapluattp.vn/216658p1015c1074/toa-cho-vi-thanh-nien-khong-the-tri-hoan.htm , [ngày truy cập 20-7-2014].

59Đỗ Thị Phượng, Luật Hình sự: Thực tiễn điều tra, truy tố, xé t xử và thi hành án hình sự đối với người chưa thành

niên, http://luathinhsu.wordpress.com/2009/11/23/thuc-tien-dieu-tra-truy-to-xet-xu-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien/ , [ngày truy cập 20-7-2014].

60 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 302, khoản 2.

Trang 35

quyết hai loại án này không có gì khác biệt.61

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì: “Thẩm phán tiến hành tố

tụng đối với người chưa thành niên phạm tội là người có những hiểu biết cần thiết về tâm

lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của

hiện nay ở nước ta vẫn chưa có đội ngũ Thẩm phán chuyên xử lý các vụ việc về ngườichưa thành niên, các Thẩm phán phải thực hiện xét xử đối với cả người chưa thành niên

và người đã t hành niên Bên cạnh đó, việc xác định như thế nào là “có những hiểu biếtcần thiết” theo yêu cầu của Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa được hướng dẫn cụ thể.Theo PGS.TS - Trung tướng Trần Văn Độ, Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì hiệnnay, do Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về các vấn đề liên quan đến người chưathành niên nên họ không nắm bắt được hết các đặc điểm về tâm - sinh lý, nguyên nhân vàđiều kiện phạm tội của người chưa thành niên, từ đó làm cho Thẩm phán gặp nhiều khókhăn, lúng túng khi xét xử các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên.63

Do không được trang bị những kiến thức, kỹ năng xét hỏi đối với người chưathành niên khi họ phạm tội nên trong thực tế khi xét xử các Thẩm phán thể hiện thái độnghiêm trọng, lạnh lùng, quá t tháo và giận dữ khi thẩm vấn làm cho các bị cáo là ngườichưa thành niên cảm thấy căng thẳng, sợ hãi Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến khảnăng khai báo sự thật và tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng của bị cáo là người chưathành niên, và đây là nguyên nhân dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án đối với ngườichưa thành niên phạm tội không khách quan, thiếu chính xác.64

Cùng với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân có vị trí và vai trò hết sức quan trọngtrong quá trình xét xử Nhưng trình độ của Hội thẩm hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu củahoạt động xét xử Theo quy định của pháp luật thì người được bầu hoặc được cử làm Hội

61 Hoàng Thư: Tòa chưa đủ sứ c để ngăn trẻ vị thành niên tái phạm , Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, 2012,

nien-2067245/ , [ngày truy cập 30-8-2014].

http://www.phapluatvn.vn/tuphap/xaydungpl/201205/Can-nhung-phien-xu-ngan-chan-hieu-qua-toi-pham-vi-thanh-62 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 302, khoản 1.

63Phương Thuận, Phiên tòa không có vành móng ngựa, Báo điện tử Gia Đình , 2012, luat/phien-toa-khong-co-vanh-mong-ngua-20120625112825316.htm , [ngày truy cập 17-7-2014].

http://giadinh.net.vn/phap-64Đỗ Thị Phượng, Luật Hình sự , Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với người chưa thành

niên, http://luathinhsu.wordpress.com/2009/11/23/thuc-tien-dieu-tra-truy-to-xet-xu-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien/ , [ngày truy cập 17-7-2014].

Ngày đăng: 01/10/2015, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w