1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương

40 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù các văn bản khác có tên gọi giống với tên gọi của các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết, quyết định,… nhưng trình tự ban hành và nội dung của văn bản không được quy định t

Trang 1

CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN

Th.S HUỲNH THỊ SINH HIỀN NGUYỄN THỊ PHƢỢNG

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: S1200067

Lớp: Luật Hành chính K38

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 3

1.1 Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật 4

1.1.4 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật 5

1.2 Khái quát về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 7

1.2.1 Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 7

1.2.2 Đối tượng của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 8

1.2.3 Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 8

1.2.4 Thời điểm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương 9

1.2.5 Ý nghĩa của việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 10

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở TRUNG ƯƠNG 11

2.1 Kiểm tra Luật, nghị quyết của Quốc hội 11

2.1.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra 11

2.1.2 Nội dung kiểm tra 12

2.1.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra 13

2.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội

13

2.2.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra 14

2.2.2 Nội dung kiểm tra 14

2.2.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra 16

2.3 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước 17

2.3.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra 17

2.3.2 Nội dung kiểm tra 17

2.3.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra 17

Trang 4

2.4 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao 18

2.4.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra 18

2.4.2 Nội dung kiểm tra 19

2.4.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra 20

2.5 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 22

2.5.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra 22

2.5.2 Nội dung kiểm tra 22

2.5.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra 24

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở TRUNG ƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 26

3.1 Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luât 26

3.1.1 Đối với Luật, nghị quyết của Quốc hội 26

3.1.2 Đối với Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước 27

3.1.3 Đối với Nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 28

3.1.4 Đối với Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 30

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương 32

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 32

3.2.2 Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 33

3.2.3 Giải pháp về cơ chế chính sách thực hiện công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 34

PHẦN KẾT LUẬN 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Mỗi một đất nước đều quản lý nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật, tuy nhiên

để có được một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thống nhất từ trung ương đến địa phương là cả một vấn đề đối với một quốc gia Do đó để có một hệ thống pháp luật thống nhất thì phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời hạn chế tối đa sự sai trái của văn bản cũng như sự lạc hậu không còn phù hợp của văn bản gây ra, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

Cùng với sự phân công, phân cấp quản lý của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương thì hàng năm có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các cá nhân, các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên Hiện nay, nhân dân phản ánh rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành có nội dung trái với Hiến pháp, Luật vi phạm nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hoạt động kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật là điều rất cần thiết, nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi của nhân dân, tiến tới việc hoàn thiện thống nhất hệ thống pháp luật từ trung ương đến địa phương

Vì vậy cần một cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện, thống nhất hệ thống pháp luật Việt Nam và giúp đời sống nhân dân ngày càng phát triển Vì lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương” để nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu nhằm đề ra phương hướng và biện pháp thích hợp để nâng cao cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đạt được hiệu quả cao góp phần cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu có hệ thống những quy định của pháp luật cùng với việc khảo sát thực tế hoạt động ban hành và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các

cơ quan nhà nước ở trung ương trong những năm gần đây

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của học thuyết Mác – Lênin, tác giả sử

Trang 6

dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp chọn lọc, thu thập và xử lý thông tin liên quan đến đề tài

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ CƠ CHẾ

KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Theo khoản 1 điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

1.1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật

Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật như sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị xã hội không được quyền ban hành

Đó là các cơ quan trong bộ máy nhà nước được thành lập theo quy định của pháp luật và được Nhà nước trao cho thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để từng cơ quan thực thi nhiệm vụ của mình Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành do pháp luật quy định Đây là một trong những tiêu chuẩn để phân biệt cơ quan nhà nước với tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội khác

Như vậy, những văn bản mà chủ thể ban hành không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật mặc dù nội dung của văn bản đó chứa những quy tắc xử

sự chung nhưng vẫn không được xem là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ: Nghị quyết Đảng cộng sản Việt Nam

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung Quy tắc xử sự chung được hiểu là những chuẩn mực được pháp luật quy định

mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia quan hệ xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh Mọi tổ chức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà văn bản quy phạm pháp luật đã quy định đều xử sự thống nhất như nhau Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống khi có sự kiện pháp lý xảy ra

Bất kỳ chủ thể nào rơi vào phạm vi điều chỉnh của văn bản cho dù đã áp dụng rồi hay chưa áp dụng thì vẫn bị văn bản đó điều chỉnh Những văn bản được áp dụng một lần cho một đối tượng cụ thể, và chủ thể khác không phải tuân theo thì văn bản đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà là văn bản cá biệt hoặc văn bản áp dụng

Trang 8

pháp luật Ví dụ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về

an toàn giao thông của ông Nguyễn Văn A Trong trường hợp này thì Quyết định xử phạt trên chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với ông A và sau khi ông A đã chấp hành xong quyết định xử phạt thì quyết định đó hết hiệu lực Từ đặc điểm trên cho thấy văn bản quy phạm pháp luật khác biệt so với các văn bản cá biệt và các văn bản áp dụng pháp luật

Các văn bản dựa trên những quy tắc xử sự chung để áp dụng riêng cho một đối tượng riêng biệt, trong hoàn cảnh cụ thể nhằm xác định quyền và nghĩa vụ mà chủ thể

đó phải thực hiện thì văn bản đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà được gọi là văn bản áp dụng pháp luật ví dụ như: Quyết định kỷ luật, quyết định xử phạt vi phạm hành chính

- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 Mặc dù các văn bản khác có tên gọi giống với tên gọi của các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết, quyết định,… nhưng trình tự ban hành và nội dung của văn bản không được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật

- Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp từ giáo dục, thuyết phục, nêu gương cho đến cưỡng chế thực hiện

Mọi tổ chức, cá nhân nào rơi vào hoàn cảnh, điều kiện mà văn bản đã dự liệu trước đều phải tuân theo và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước thông qua hệ thống Tòa án, nhà tù hoặc các hình thức cưỡng chế khác như: xử phạt,… Đặc điểm này rất khác xa với các văn bản quy phạm xã hội khác như văn bản nội quy của nhà trường thì chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với giáo viên và học sinh trong trường đó, nếu vi phạm nội quy của nhà trường thì bị kỷ luật hay bị thôi việc hoặc thôi học chứ không sử dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

1.1.3 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật

Dựa vào chủ thể ban hành thì văn bản quy phạm pháp luật có hai loại:

Thứ nhất văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành gồm có:

+ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

+ Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

Trang 9

+ Nghị định của Chính phủ

+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

+ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

+ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Thứ hai văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành gồm có:

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

+ Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân

1.1.4 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, phản ánh khái quát những sự việc khách quan liên quan tới quá trình "nâng" ý chí nhà nước lên thành pháp luật, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là những cơ sở quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật, đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình ban hành, sửa đổi hay bãi bỏ các quy phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh tuân theo Theo Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam năm 2008 thì khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

“Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.” 1 Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật

không được ban hành những quy định trái với Hiến pháp Hiến pháp là đạo luật cơ bản

do Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất Ngoài ra khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản cấp dưới không được trái và phải phù hợp với các quy định của văn bản cấp trên cũng như văn bản quy phạm pháp luật khác đã ban hành nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tránh việc chồng chéo, mẫu thuẫn giữa các văn bản trong hệ thống pháp luật

1 Khoản 1, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 10

“Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.” 2 Chủ thể nào có thẩm quyền ban hành loại văn bản nào và hình thức của văn bản như tên gọi, số hiệu, ký hiệu cũng như trình tự, thủ tục ban hành văn bản được quy định rất cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 Vì vậy, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì phải thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định Nếu như một văn bản khi ban hành mà chỉ đúng về hình thức, trình tự, thủ tục ban hành nhưng chủ thể ban hành không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản đó không được xem là văn bản quy phạm pháp luật

“ Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật.” 3 Tính công khai của văn bản được thể hiện từ quá trình soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật bằng việc lấy ý kiến góp ý của nhiều chủ thể liên quan khác đăng tải trên trang thông tin điện tử, cho đến sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải được đăng Công báo thì văn bản mới có hiệu lực thi hành, trừ các văn bản quy phạm pháp luật thuộc bí mật nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh 4 Việc công khai, minh bạch từ khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không những giúp cho người dân sớm biết được định hướng chính sách, pháp luật trong tương lai để chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện, mà còn để người dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, làm cho pháp luật phản ánh được sát hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân Đây cũng

là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đã được đề ra trong nhiều văn kiện của Đảng Vì vậy mỗi khi một luật chuẩn bị được ban hành đều được đăng tải dự thảo trên các trang thông tin điện tử để nhân dân đóng góp ý kiến phản hồi, kiến nghị đối với dự thảo luật

“Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.” 5

Khi một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành thì điều quan trọng đầu tiên là liệu văn bản đó có phù hợp với tình hình thực tế hay không và việc thi hành nó có được thực hiện hay không Điều này đặt ra vấn đề tính khả thi của một văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng, cho nên trước khi ban hành văn bản những chủ thể soạn thảo văn bản cần

2 Khoản 2, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

3 Khoản 3, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

4

Khoản 2, điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

5 Khoản 4, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 11

phải đặc biệt quan tâm đến Bên cạnh đó, chủ thể soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cần phải hướng đến tính dự báo của văn bản để sau khi văn bản được ban hành sẽ

áp dụng được ngoài thực tiễn cuộc sống Nếu một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành mà không sử dụng được thì rất lãng phí về tiền của, công sức, thời gian và một văn bản được ban hành là cả một quá trình thực hiện để có được một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh Đồng thời một văn bản được ban hành mà không có tính khả thi thì khi áp dụng vào thực tế sẽ gây bức xúc trong dư luận, làm cho nhân dân giảm lòng tin vào pháp luật gây ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước

“Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là thành viên.” 6

Đất nước ngày càng phát triển và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều văn bản hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia khác được ban hành Điều ước quốc tế được thực hiện trong nước thì phải nội lực hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và áp dụng vào thực tiễn Cho nên khi ban hành một văn bản quy phạm pháp luật không được làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các văn bản mà Nhà nước ta đã ký với các quốc gia khác, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới

1.2 Khái quát về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

1.2.1 Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Về mặt pháp lý thì không có khái niệm thế nào là “cơ chế” và thế nào là “kiểm tra” Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” Và kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái được định trước

Theo quan điểm của Tiến sĩ Lê Hồng Sơn và Thạc sĩ Phạm Văn Dũng thì:

“Kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản có nội dung sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật Đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc kỷ luật đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, xem xét và xử lý trách nhiệm theo thẩm quyền được giao đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân

6 Khoản 5, điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 12

đã chủ trì, tham mưu trong quá trình soạn thảo văn bản (theo quy định của pháp luật

về công chức, công vụ)”7

Từ các khái niệm trên và theo Điều 87 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, có thể rút ra được khái niệm về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật như sau: cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là cách thức thực hiện quá trình xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến và hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản có nội dung sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái

1.2.2 Đối tượng của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ở trung ương ban hành theo quy định tại điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, trừ Hiến pháp là đối tượng văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra, giám sát

Theo khoản 3, điều 1, nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010

của Chính phủ về Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật quy định “các văn

bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành là đối tượng được kiểm tra.” Đó là các văn bản do

những chủ thể có thẩm quyền ở trung ương cũng như ở địa phương ban hành có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành với tên gọi và hình thức của văn bản quy phạm pháp luật như: các công văn, thông báo, các loại giấy tờ hành chính khác; Văn bản của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thuộc các cơ quan chuyên môn ở trung ương ban hành có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật như: quyết định, thông tư

1.2.3 Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành bằng hai phương thức sau:

Phương thức tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: các cơ quan, cá nhân phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành trong quá trình soạn thảo cho đến sau khi văn bản được ban hành, khi nhận được thông báo của cơ

7

Trang 3, Đặc san Tuyên truyền Pháp luật số 08/2011 của TS Lê Hồng Sơn - Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp và Ths Phạm Văn Dũng - Trưởng phòng Kiểm tra văn bản QPPL Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp

Trang 13

quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng.8

Phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền: cơ quan,

cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các

cơ quan, cá nhân khác ban hành theo thẩm quyền được pháp luật quy định như: cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới ban hành; kiểm tra những văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể khác ban hành liên quan đến ngành, lĩnh vực mình quản lý; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật khi được cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phân công nhiệm vụ.9

1.2.4 Thời điểm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật thì phải kiểm tra qua hai giai đoạn trước (tiền kiểm) và sau khi văn bản quy phạm pháp luật phát sinh hiệu lực (hậu kiểm)

Hầu hết công tác tiền kiểm được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thông qua các quy định về thẩm định, thẩm tra văn bản trong quá trình soạn thảo Trong giai đoạn tiền kiểm, sự kiểm tra tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật trước khi có hiệu lực chủ yếu nhằm tư vấn, giúp đỡ để cơ quan soạn thảo nghiên cứu hoàn thiện dự thảo

Bên cạnh đó, hoạt động hậu kiểm được quy định chủ yếu trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 với sự giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp dưới và Quốc hội giữ quyền giám sát tối cao.10 Ngoài ra văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước còn chịu sự giám sát của Đại biểu Quốc hội Trong giai đoạn hậu kiểm không có sự kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, tuy nhiên không kiểm tra thì không đồng nghĩa văn bản đó ban hành không sai sót

1.2.5 Ý ghĩa của việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật và những quy định không còn phù hợp để kịp thời xử lý Đây là mục đích quan trọng của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật Chủ thể kiểm tra phải xem xét

kỹ toàn bộ nội dung cũng như hình thức thể hiện của văn bản được kiểm tra, từ đó phát hiện những nội dung trái pháp luật, nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật, và các

8 Khoản 1, điều 11, nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010

9 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 về Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

10 Điều 84 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

Trang 14

văn bản quy phạm pháp luật khác khi ban hành phải tuân thủ Hiến pháp không được ban hành những quy định trái với Hiến pháp Vì vậy, qua cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những văn bản trái Hiến pháp, đi ngược lại ý chí của nhân dân

Đảm bảo quy trình ban hành đúng văn bản quy phạm pháp luật để văn bản được ban hành ra không bị hủy, bị sửa, cũng như văn bản quy phạm pháp luật ban hành đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật phù hợp với ý kiến của nhân dân

Từ đó giúp cho văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sẽ nhanh chóng áp dụng vào tình hình thực tế của đời sống xã hội Qua việc kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật trái luật giúp các chủ thể ban hành văn bản thấy được những mặt còn hạn chế trong công tác soạn thảo ban hành để từ đó nâng cao trình độ lập pháp nhằm hạn chế tình trạng văn bản ban hành gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân

Trang 15

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở TRUNG ƯƠNG

2.1 Kiểm tra Luật, nghị quyết của Quốc Hội

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có quy định về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, chủ yếu là việc kiểm tra trước khi văn bản được ban hành, bao gồm những quy định liên quan đến chủ thể kiểm tra, nội dung kiểm tra, xử lý văn bản

2.1.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra

Đối với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội ban hành sẽ được kiểm tra trước khi ban hành bằng quá trình thẩm định, thẩm tra như sau:

Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội do Chính phủ trình Ngoài ra còn có sự tham gia thẩm định của đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học.11

Bên cạnh hoạt động thẩm định của Bộ Tư pháp thì các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội trước khi trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban hữu quan của Quốc hội (chủ yếu là Ủy ban pháp luật) thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các dự án, dự thảo đó.12

Đây là những quy định về chủ thể thực hiện việc kiểm tra trước khi văn bản được ban hành Hiện nay luật không quy định cụ thể cơ quan có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội sau khi được ban hành

Hiến pháp là luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, tất cả văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý và tất

cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.13 Tuy Hiến pháp có quy định việc vi phạm Hiến pháp sẽ bị xử lý, nhưng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể cơ quan thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành vi phạm Hiến pháp Vì vậy cần phải có quy định cụ thể chủ thể có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của văn bản Luật, nghị quyết của Quốc hội và biện pháp xử lý khi các văn bản này vi hiến nhằm bảo vệ tính tối thượng của Hiến pháp

11 Điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

12

Điều 41 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

13 Điều 119 Hiến pháp năm 2013

Trang 16

2.1.2 Nội dung kiểm tra

Căn cứ khoản 3, điều 36 và điều 43 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, cơ quan thẩm định, thẩm tra tiến hành thẩm định, thẩm tra tập trung vào những vấn đề sau đây:

Sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản.14

Thực tế cho thấy một văn bản được ban hành thì phải đáp ứng được sự cần thiết ban hành văn bản Bởi vì văn bản quy phạm pháp luật ban hành là để điều chỉnh các mối quan hệ đã, đang hoặc sắp diễn ngoài xã hội Nếu một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ra mà không được sử dụng và không ai biết đến thì không cần thiết phải ban hành văn bản đó

Việc kiểm tra phạm vi và đối tượng điều chỉnh của văn bản Luật, nghị quyết giúp cho việc áp dụng pháp luật được rõ ràng không gây nhầm lẫn về đối tượng bị điều chỉnh và góp phần cho người dân biết được mình là đối tượng điều chỉnh của văn bản nào và sẽ căn cứ vào văn bản đó để giải quyết Ví dụ: khi soạn thảo dự thảo ban hành Luật cán bộ, công chức thì cần phải xem xét phạm vi điều chỉnh có phù hợp chưa? còn rộng hay hẹp cần phải điều chỉnh phạm vi lại như thế nào cho phù hợp và đối tượng

mà văn bản điều chỉnh là những đối tượng nào? Vì vậy thông thường một văn bản Luật, nghị quyết được ban hành thì vấn đề được đề cập đầu tiên là phạm vi và đối tượng điều chỉnh

Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản với

hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.15

Đảng là tổ chức chính trị duy nhất và giữ vai trò lãnh đạo, còn nhà nước thì giữ vai trò quản lý qua việc ban hành pháp luật nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng.Vì vậy khi ban hành văn bản Luật, nghị quyết thì phải xem xét sự phù hợp về nội dung của văn bản với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng Ngoài ra cần phải xem xét sự phù hợp nội dung của văn bản với nội dung của các văn bản Luật khác nhằm đảm bảo tính thống nhất tránh sự chồng chéo mâu thuẫn giữa các văn bản Luật với nhau, góp phần tạo nên sự thống nhất trong hệ thống pháp luật

14

Điểm a, khoản 3, điều 36 Luật ban hành văn bả quy phạm pháp luật năm 2008

15 Điểm b, điểm c, khoản 3, điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 17

Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm

để thực hiện.16

Trước khi dự thảo các văn bản luật, nghị quyết được Quốc hội xem xét thông qua thì việc các cơ quan được Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra phải xem xét tính khả thi của văn bản khi đưa vào thực tiễn áp dụng Từ đó cho thấy việc ban hành ra một văn bản luật, nghị quyết cần phải xem xét, kiểm tra khả năng áp dụng văn bản đó vào thực tiễn là một vấn đề rất quan trọng quyết định đến chất lượng hoạt động lập pháp của một quốc gia Ngoài ra, các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội còn là căn cứ để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác, cho nên nếu luật ban hành không thể thực thi được thì các văn bản quy phạm pháp luật dựa vào nó để ban hành như: nghị định, thông tư,… thì cũng không áp dụng vào thực tiễn được

Tuy tính khả thi của các văn bản luật, nghị quyết được kiểm tra trong quá trình soạn thảo và các quan hệ xã hội được các nhà làm luật dự liệu trước, nhưng tình hình

xã hội luôn luôn vận động, thường xuyên thay đổi, cho nên cũng có nhiều tình huống, vấn đề đã xảy ra mà luật chưa có điều chỉnh và khi luật được ban hành để điều chỉnh thì lại phát sinh vấn đề mới

Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.17

Ngôn ngữ và kỹ thuật soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là một trong những vấn đề cần phải quan tâm khi soạn thảo một văn bản quy phạm pháp luật Vì điểm yếu của nhà làm luật thành văn luôn là câu chữ khó có thể diễn đạt hết ý của nhà làm luật Nếu ban hành một văn bản quy phạm pháp luật mà khi đọc vào văn bản không hiểu được, nội dung điều chỉnh chung chung, không cụ thể sẽ gây hiểu nhầm, khó khăn cho việc điểu chỉnh của văn bản và việc áp dụng vào thực tế sẽ không đúng với tinh thần, nội dung của văn bản

2.1.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra

Sau khi dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội được thẩm định, thẩm tra thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.18

2.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Khác với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội có cơ chế kiểm tra rõ ràng trước và sau khi văn bản được ban hành có hiệu lực

16 Điểm d, khoản 3, điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

17

Điểm e, khoản 3, điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

18 Điều 33 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 18

2.2.1 Chủ thể thực hiện việc kiểm tra

Kiểm tra văn bản trước khi được ban hành, kiểm tra thông qua quy định về thẩm định, thẩm tra:

Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hộ do Chính phủ trình Trong một số trường hợp còn

có sự tham gia thẩm định của đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học.19 Các dự án, dự thảo văn bản trên trước khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hồi đồng dân tộc, Ủy ban hữu quan của Quốc hội (đặc biệt là Ủy ban pháp luật) thẩm tra để đảm bảo tính hợp hiến hợp pháp

Đối với pháp lệnh, nghị quyết đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua

mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định thì

Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến.20

Quy định này nhằm nâng cao thẩm quyền của Chủ tịch nước nhưng thực chất Chủ tịch nước chỉ được quyền yêu cầu xem xét lại còn việc quyết định vẫn thuộc về Quốc hội

Sau khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện việc kiểm tra văn bản thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội, đại biểu Quốc hội:

Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

và xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.21 Quy định này nhằm thể hiện vai trò giám sát tối cao của Quốc hội Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan của Quốc hội cho nên mặc nhiên Quốc hội sẽ giám sát, quản lý cơ quan của mình và được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007

Đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định cho thẩm quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành. 22

2.2.2 Nội dung kiểm tra

Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình soạn thảo được quy định tại điều 36 và 43 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Tương tự như dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, dự án

dự thảo của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong quá trình soạn thảo ban hành văn bản phải được thẩm định, thẩm tra theo quy định tại điều 36, 43 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Vì các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban thường

vụ Quốc hội ban hành rất phức tạp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời cũng là văn bản quy phạm pháp luật mà các cơ quan nhà nước cấp dưới dựa

19 Khoản 1, điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

20 Khoản 2, điều 57 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

21

Điều 3, 7 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

22 Điểm đ, khoản 1, điều 3 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

Trang 19

vào đó ban hành ra các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực mình đang quản lý

Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội sau khi văn bản được ban hành quy định tại điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 bao gồm:

- Sự phù hợp của văn bản Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản

quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.23

Pháp lệnh có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp và luật nhưng trong hệ thống văn bản dưới luật nó lại có giá trị pháp lý cao Vì vậy khi xây dựng pháp lệnh phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và luật

Nghị quyết là văn bản được ban hành nhằm giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh giúp cho việc áp dụng văn bản pháp luật được đúng với tinh thần của văn bản luật được ban hành Chính vì vậy mà việc ban hành nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần phải bám sát vào các quy định của văn bản luật để giải thích cụ thể, rõ ràng thống nhất với văn bản mà nghị quyết cần hướng dẫn Bên cạnh đó nghị quyết được ban hành cũng cần phải thống nhất, không chồng chéo mâu thuẫn với hệ thống pháp luật

- Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.24 Mỗi văn bản quy phạm pháp luật đều có tên gọi khác nhau phù hợp với nội dung văn bản được quy định tại điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Cho nên khi ban hành văn bản pháp lệnh, nghị quyết Ủy ban thường vụ Quốc hội phải thể hiện đúng nội dung đã được Quốc hội giao

- Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn

bản.25 Chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội mới có quyền ban hành nghị quyết để giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh Như vậy thẩm quyền giải thích pháp luật thuộc về

Ủy ban thường vụ Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua việc ban hành nghị quyết với nội dung giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh Vì vậy văn bản sau khi ban hành phải kiểm tra xem nội dung văn bản Ủy ban thường vụ Quốc ban hành có phù hợp với thẩm quyền mà pháp luật đã quy định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy

phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.26 Ngoài việc văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới khi ban hành phải thống nhất tránh tình trạng mâu thuẫn,

23 Khoản 1, điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

24 Khoản 2, điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

25

Khoản 3, điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

26 Khoản 4, điều 88 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 20

chồng chéo với văn bản quy phạm pháp của cơ quan cấp trên, mà còn phải thống nhất, phù hợp với các văn bản đang có hiệu lực do chính Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

2.2.3 Kết quả xử lý sau khi kiểm tra

Sau khi cơ quan có trách nhiệm thẩm định dự án, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình đóng góp ý kiến thẩm định thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.27

Sau khi xem xét kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội:

Nếu văn bản được xem xét trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội thì Ủy thường vụ Quốc hội phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác theo quy định tại khoản 1, điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, hoặc Quốc hội có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái luật đó28

Nếu văn bản được xem xét không trái với văn bản quy phạm pháp luật của

Quốc hội thì “Quốc hội ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái

với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”29

Thông qua việc thực hiện quyền giám sát của mình thì khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì đại biểu Quốc hội đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc

xử lý văn bản mà mình ban hành trái đó theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm xem xét, trả lời đại biểu Quốc hội Trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thực hiện đề nghị sửa đổi hoặc hủy một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội theo yêu cầu của Đại biểu Quốc hội thì yêu cầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất.30

Như vậy mặc dù Đại biểu Quốc hội được quyền đề nghị việc sửa đổi hoặc hủy

bỏ văn bản quy phạm pháp luật nhưng việc thực hiện hay không thì còn phụ thuộc vào

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội quyết định

27 Điều 33 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

28 Điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

29

Điểm c, khoản 2, điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

30 Đoạn 2, khoản 1, điều 10 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003

Ngày đăng: 01/10/2015, 23:03

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm