1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số hoạt động tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niênthực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện

54 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 689,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước thì tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi hơn vớinhiều hình thức và thủ đoạn khôn khéo do đó để kết quả xét xử được thuậ

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 2012-2014

Đề tài:

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN-THỰC TIỄN

ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

MSSV: S120050LỚP: LUẬT HÀNH CHÍNH-K38

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

Trang 3

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined.

1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.

2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined.

3 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 4

1.1 Khái quát chung về người làm chứng trong Tố tụng hình sự 4

1.1.1Khái niệm người làm chứng 4

1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng 5

1.1.3 Lược khảo quy định của pháp luật về người làm chứng trong Tố tụng hình sự .7

1.2.Người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam 12

1.2.1.Khái niệm người làm chứng chưa thành niên 12

1.2.2.Đặc điểm Người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam .15

1.2.3 Vai trò của Người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự 18

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN-THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 21

2.1 Quy định pháp Luật về một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên 21

2.1.1 Quy định hoạt động lấy lời khai đối với người làm chứng chưa thành niên 21

2.1.2 Quy định hoạt động nhận dạng đối với người làm chứng chưa thành niên .25

2.1.3 Quy định hoạt động đối chất đối với người làm chứng chưa thành niên 27

2.1.4Quy định hoạt động tham gia xét xử đối với người làm chứng chưa thành niên .28

Trang 5

2.2 Thực tiễn hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên vàhướng hoàn thiện 322.2.1 Thực tiễn người làm chứng chưa thành niên khi tham gia hoạt động Tố tụnghình sự 32

2.2.2 Thực tiễn về bảo đảm quyền của người làm chứng chưa thành niên trong tốtụng hình sự 33

2.2.3 Thực tiễn về sự tham gia của người đại diện hợp pháp của người làm chứngchưa thành niên 372.2.4 Cần xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người làm chứng chưa thànhniên 39

2.2.5 Cần hoàn thiện cơ chế Trợ giúp pháp lý cho người làm chứng chưa thành niêntrong Tố tụng hình sự 42

KẾT LUẬN 45

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một xã hội

có những thiết chế pháp Luật chặt chẽ và cụ thể, theo đó chế định“Người làmchứng” phải được quy định cụ thể đảm bảo tính phù hợp với thực tế khách quan vàđảm bảo tính thi hành của pháp Luật Chế định “Người làm chứng” được quy địnhtrong Bộ Luật Tố tụng hình sự Việt Nam là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệngười làm chứng, là chủ thể góp phần xác định rõ sự thật khách quan của vụ ántrong Tố tụng hình sự, lời khai của người làm chứng là một trong những chứng cứ

có vai trò rất quan trọng giúp vụ án được sáng tỏ Cùng với quá trình phát triển kinh

tế đất nước thì tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi hơn vớinhiều hình thức và thủ đoạn khôn khéo do đó để kết quả xét xử được thuận lợi,khách quan thì đòi hỏi vai trò rất lớn của những người tham gia tố tụng như bị hại,người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đặc biệt là người làm chứng người đứng

ra nói lên sự thật khách quan của vụ án, nhất là người làm chứng chưa thành niên để

họ mạnh dạn tham gia tố tụng đây là một đề tài tương đối mới, tài liệu tham khảocòn nhiều hạn chế, các văn bản pháp luật chưa quy định nhiều về người làm chứng,đặc biệt là người làm chứng chưa thành niên nhưng tác giả muốn chọn đề tài này đểnghiên cứu nhằm gúp mọi người có cách hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật

về người làm chứng chưa thành niên về một số hoạt động tố tụng của người làmchứng chưa thành niên, về vai trò, vị trí pháp lý của người làm chứng chưa thànhniên tham gia trong quá trình tố tụng là người rất quan trọng nói lên sự thật để bảo

vệ sự công bằng khách quan cho pháp luật Qua đó giúp mọi người đặc biệt các nhàlàm luật, những người trực tiếp tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụngthấy được vai trò của người làm chứng đặc biệt là quan trọng như thế nào, là ngườiđứng ra nói lên sự thật, khách quan nhất để bảo vệ sự công bằng của pháp luật, để

từ đó mọi người có cách đối xử, ứng xử thích hợp nhất để người làm chứng chưathành niên mạnh dạn tham gia vào các hoạt động Tố tụng hình sự để bảo vệ sự thật,

vì vậy cần có nhiều cơ chế hơn để bảo vệ người làm chứng, các chế độ bồi dưỡngthích hợp nhằm hỗ trợ cho họ điều kiện tốt nhất để tham gia tố tụng

Trang 8

Qua đó pháp luật cần phải có những giải pháp hoàn thiện hơn về các quyđịnh cụ thể, rõ ràng và các chế độ đối với người làm chứng, đặc biệt là người làmchứng chưa thành niên để họ đủ tự tin, đủ điều kiện và an tâm nhất để đứng ra nóilên sự công bằng khách quan của pháp luật.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này hiểu rõ hơn về người làm chứngchưa thành niên được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 ở ViệtNam và các văn bản pháp luật có liên quan bao gồm:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm và vai trò; những quy địnhcủa pháp luật về một số hoạt động Tố tụng hình sự của người làm chứng chưa thànhniên theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản pháp luật

có liên quan

Phân tích, đánh giá tính khả thi của pháp luật về chế định người làm chứngchưa thành niên trong thực tiễn, từ đó nêu lên những bất cập tồn tại trong quy địnhcủa Luật cũng như trong quá trình áp dụng pháp Luật và nêu lên một số giải pháphoàn thiện về chế định người làm chứng chưa thành niên trong hoạt động Tố tụnghình sự

Góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho mọi người nhất là cho người làmchứng chưa thành niên, giúp họ ra tố giác tội phạm và ra làm chứng bảo vệ công lýmột cách mạnh dạn hơn

Nâng cao trình độ hiểu biết pháp Luật, lý luận của bản thân về vấn đề này

3 Phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian có hạn nên tác giả chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tất cả cácquy định của pháp luật về người làm chứng, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơbản về người làm chứng chưa thành niên được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình

sự năm 2003 và các Văn bản pháp luật liên quan nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm

và vai trò của người làm chứng chưa thành niên, những quy định của pháp luật vềmột số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên nhằmgiúp mọi người có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò, tầm quan trọng của người làmchứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp các quy định văn bản quy phạmpháp luật, tài liệu có liên quan đến chế định người làm chứng, người làm chứngchưa thành niên để làm rõ nội dung đề tài

5 Kết cấu của đề tài

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG

CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Để hiểu rõ hơn về người làm chứng và người làm chứng chưa thành niêntrong Tố tụng hình sự Việt Nam trong chương này người viết nêu khái quát về kháiniệm người làm chứng, về quyền và nghĩa vụ cũng như lược sử hoàn thiện chế địnhngười làm chứng trong pháp Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Từ đó giúp mọi người

có cái nhìn tổng quát hơn về người làm chứng được quy định trong pháp Luật Tốtụng hình sự là như thế nào Qua đó làm tiền đề nghiên cứu về người làm chứngchưa thành niên như khái niệm, đặc điểm và vai trò của người làm chứng chưathành niên khi tham gia hoạt động Tố tụng hình sự có vai trò hết sức to lớn trongphòng chống tội phạm ra sao Trước tiên tác giả tập trung nghiên cứu khái quátngười làm chứng trong Tố tụng hình sự Việt Nam

1.1 Khái quát chung về người làm chứng trong Tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm người làm chứng

Thuật ngữ “Người làm chứng” trong dân gian thường gọi là nhân chứng thìchỉ đơn thuần là người mà theo đó bằng mắt thấy, tai nghe, họ chứng kiến hay ngheđược một hoặc một số tình tiết liên quan đến vụ án

Theo quy định của pháp Luật Tố tụng của nhiều nước trong đó có Việt Nam,người làm chứng trong vụ án hình sự là người bằng mắt thấy, tai nghe hoặc donhững nguồn thông tin khác cung cấp mà biết được những tình tiết có liên quan đến

vụ án được Cơ quan điều tra lấy lời khai, được Toà án triệu tập đến làm chứng tạiphiên toà Tại khoản 1, Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có quyđịnh về người làm chứng là: “ Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ

án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”

Trong Bộ Luật Tố tụng hình sự tiếng việt, người thường được gọi là “Nhânchứng” trong tiếng Anh được gọi là “Người làm chứng” Thuật ngữ này được sửdụng xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự và thuật ngữ “Nhân chứng” cũngthỉnh thoảng được sử dụng Vì vậy hai thuật ngữ “nhân chứng” và thuật ngữ “Ngườilàm chứng” có thể được sử dụng tương đương

Trang 11

Theo Điều 56 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Người làm chứng là ngườibiết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án được Tòa án triệu tập tham gia tốtụng” Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

Người làm chứng trong Tố tụng dân sự được quy định tại Điều 65 Bộ Luật

Tố tụng dân sự, đó là: “Người biết các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án và cóthể được Toà án triệu tập tham gia tố tụng, người làm chứng là người phải có nănglực hành vi dân sự”.1

Nói tóm lại người làm chứng là người đã chứng kiến, trông thấy hoặc nghethấy toàn bộ hoặc một phần nào đó những tình tiết liên quan đến vụ án cần phảiđược triệu tập cho lời khai để làm rõ nội dung vụ án một cách khách quan nhấtnhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung vụ án

1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng

Người làm chứng đóng vai trò rất lớn trong quá trình Tố tụng hình sự Chính

vì vậy để đảm bảo địa vị pháp lý cho người làm chứng Bộ luật Tố tụng hình sự Khitham gia tố tụng người làm chứng phải trực tiếp tham gia tố tụng để trình bày nhữngthông tin mà mình biết về vụ án Theo khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sựnăm 2003 đã quy định cụ thể cho người làm chứng những quyền và nghĩa vụ nhưsau:

* Quyền của người làm chứng:

Thứ nhất: Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp phápkhác của mình khi tham gia tố tụng Khi người làm chứng tham gia vào quá trình

Tố tụng hình sự họ thường bị đe doạ, mua chuộc và dụ dỗ, thậm chí còn bị xâmphạm bởi tính mạng, sức khoẻ và danh dự làm người làm chứng cảm thấy lo lắng,

vì vậy Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có quy định hẳn hoi như trên khi Cơquan nào triệu tập người làm chứng đến để làm chứng thì phải đảm bào an toàn cho

họ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi íchkhác của người làm chứng

1 Bộ Luật Dân sự năm 2005.

Trang 12

Thứ hai: Người làm chứng có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụngcủa cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người làm chứng có quyềnkhiếu nại mọi quyết định, hành vi của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng nếu người làm chứng cảm thấy rằng những hành vi tố tụng trên không tuân thủtheo quy định Bộ Luật Tố tụng hình sự, không đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản củangười làm chứng.

Thứ ba: Người làm chứng có quyền được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí

đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp Luật Người làm chứng cóquyền yêu cầu cơ quan triệu tập mình thanh toán các khoản chi phí cho mình khiđược triệu tập tham gia Tố tụng hình sự

* Nghĩa vụ của người làm chứng:

Một là: Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý dochính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì

có thể bị dẫn giải Theo quy định của pháp luật khi tiến hành Tố tụng hình sự màngười làm chứng vắng mặt không lý do chính đáng và sự vắng mặt đó ảnh hưởngrất lớn trong quá trình tố tụng thì sẽ bị dẫn giải

Hai là: Người làm chứng phải khai trung thực tất cả những tình tiết mà mìnhbiết về vụ án Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có

lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ Luật hìnhsự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ Luậthình sự

Điều 307 và Điều 308 Bộ Luật hình sự quy định việc chịu trách nhiệm củangười làm chứng như sau:

Điều 307 quy định về trách nhiệm hình sự khi khai báo gian dối hoặc cungcấp tài liệu sai sự thật

“ Điều 307 Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật

1 Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào mà kết luận, dịch, khaigian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnhcáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

Trang 13

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến

ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù

từ ba năm đến bảy năm

4 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định từ một năm đến năm năm”

Điều 308 Bộ Luật hình sự quy định về trách nhiệm hình sự khi từ chối khaibáo hoặc từ chối cung cấp tài liệu

“ Điều 308 Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấptài liệu

1 Người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2Điều 22 của Bộ Luật này hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám địnhhoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo,cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

2 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định từ một năm đến năm năm”

Qua đó chúng ta thấy rằng quyền và nghĩa vụ của người làm chứng đượcpháp luật quy định khá cụ thể, thậm chí có những chế tài thật nghiêm khắc khingười làm chứng khai báo gian dối, không trung thực làm sai lệch ảnh hưởngnghiêm trọng đến quá trình Tố tụng hình sự thì sẽ bị xử lý theo quy định của phápluật

1.1.3 Lược khảo quy định của pháp luật về người làm chứng trong Tố tụng hình sự

Theo Hệ thống pháp Luật Tố tụng hình sự ở Việt Nam, chế định “ Người làmchứng” là một trong những chế định được hình thành từ lâu đời Trải qua nhữngthăng trầm nhất định trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp Luật Tố tụng hình sựViệt Nam, cho đến nay chế định “Người làm chứng” trong Bộ Luật Tố tụng hình sựnăm 2003 cơ bản đã xây dựng được một cách đầy đủ hơn góp phần phát huy vai trò

Trang 14

tích cực của người làm chứng trong tất cả các quá trình của tố tụng Tuy nhiên chođến nay vẫn chưa có một văn bản nào định nghĩa thống nhất về chế định “Ngườilàm chứng” Mặc dù Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 không nêu một cách cụ thểkhái niệm về người làm chứng nhưng căn cứ quy định tại Điều 55 Bộ Luật Tố tụnghình sự năm 2003 là “Người nào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án hình sựthì đều có thể triệu tập đến làm chứng”2 thì theo đó người làm chứng được hiểu làngười biết được các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự chẳng hạn như thời gian,địa điểm xảy ra vụ án, động cơ, mục đích, người thực hiện tội phạm và được các Cơquan tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án được triệu tậpđến để làm chứng, khai báo sự thật tất cả những gì mình biết, tất cả những gì liênquan đến vụ án với các cơ quan có thẩm quyền nhằm góp phần làm sáng tỏ nộidung vụ án đó.

Như vậy, Tại khoản 1 Điều 55 Bộ Luật Tố tụng năm 2003 quy định: “Ngườinào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể triệu tập đến làm chứng”.Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án, nhận thức củangười làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhìn thấy,nghe thấy hay nghe người khác kể lại Những tình tiết mà người làm chứng biếtđược có thể liên quan đến chứng cứ được quy định tại Điều 64 Bộ Luật Tố tụnghình sự năm 2003 hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án có ýnghĩa chứng minh Việc họ biết được các tình tiết vụ án là một thực tế khách quan,không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan hay của các cơ quan tiến hành tố tụng

Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 người làm chứngkhông được hưởng bất kỳ một quyền dân sự nào trong khi phần lớn những chủ thểtham gia tố tụng khác tùy theo mức độ đều được Bộ Luật này quy định quyền vànhững bảo đảm cho việc thực hiện quyền của họ trong Tố tụng hình sự Trong khi

Bộ Luật quy định họ phải thực hiện một loạt các nghĩa vụ như: phải có mặt khiđược cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập và phải khai đúng sự thật, nếu khai báogian dối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải

2 Bộ Luật TTHS năm 2003.

Trang 15

chịu chế tài hình sự và bị xử lý theo pháp luật3 Sự “Phân biệt đối xử” này trái vớinguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” quy định tại Điều

3 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 55 BộLuật Tố tụng hình sự năm 2003 một trong những nguyên tắc quan trọng trong Tốtụng hình sự nhằm đề cao và tôn trọng các quyền của con người theo nghĩa rộngtrong mọi hoạt động tố tụng Điểm tiến bộ của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003

là đã bổ sung một loạt quyền của người làm chứng trong Tố tụng hình sự, điều màkhông thể tìm thấy trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 bao gồm các quyền:quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản; quyền được khiếu nại; Quyền đượcthanh toán chi phí khi đi làm chứng Các quyền của người làm chứng thể hiện tạikhoản 3 Điều 55 như sau:”3 Người làm chứng có quyền: a) Yêu cầu cơ quan triệutập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợi íchhợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; b) Khiếu nại quyết định, hành vi tốtụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; c) Được cơ quan triệu tập thanhtoán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật” Việc bổ sungtrong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 những quy định về đảm bảo quyền và lợiích hợp pháp của người làm chứng trong Tố tụng hình sự là cần thiết vì các lý dosau:

Thứ nhất: Người làm chứng tham gia vào hoạt động Tố tụng hình sự, trướchết với tư cách là một con người và đồng thời là người tham gia đảm bảo công lý.Nên họ xứng đáng được hưởng các quyền dân sự và được pháp Luật hình sự bảođảm các quyền con người, quyền công dân của họ được thực thi trên thực tế

Thứ hai: Tuy pháp Luật quy định nhiều nguồn chứng cứ trong Tố tụng hình

sự nhưng theo ý nghĩa nguyên thủy của chứng cứ thì có hai loại chứng cứ quantrọng đó là vật chứng và nhân chứng (người làm chứng) Người làm chứng có vị trí,vai trò đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình chứng minh tội phạm, đôi khi lời khai của

họ còn có tác dụng hơn cả vật chứng trong quá trình điều tra tội phạm Do đó việcbảo đảm pháp luật các quyền Tố tụng của người làm chứng sẽ góp phần giúp các cơquan tiến hành tố tụng xác định sự thật của vụ án hình sự một cách khách quan, toàn

3 Bộ Luật TTHS năm 1988.

Trang 16

diện, đầy đủ Theo nghĩa rộng, quyền con người của người làm chứng trong Tố tụnghình sự là khả năng được hưởng, được làm trong Tố tụng hình sự Còn theo nghĩahẹp là quyền của người làm chứng được làm những gì mà Bộ Luật Tố tụng hình sựquy định Quyền của người làm chứng thể hiện trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm

2003 (khoản 3 Điều 55) bao gồm quyền Hiến định và quyền Luật định

Quyền Hiến định: Xuất phát nguyên tắc có tính chất Hiến định“ Ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự,kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được

quy định trong Hiến pháp và Luật”( Điều 3, Hiến pháp 2013 “Nhà nước bảo đảm và

phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảmquyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, cóđiều kiện phát triển toàn diện)4 Phần lớn các quyền của người làm chứng quy địnhtại Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 được cụ thể hóa từ các quyền Hiếnđịnh của công dân quy định trong đạo luật cơ bản của Nhà nước (Hiến pháp) cụ thể:

Điểm a khoản 3 Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định một tậphợp các quyền của người làm chứng yêu cầu cơ quan triệu tập họ khi tham gia tốtụng bảo vệ về:“Tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợiích hợp pháp khác của người làm chứng” Điều Luật này là sự cụ thể hóa một sốquyền cơ bản của công dân thuộc nhóm quyền về dân sự và kinh tế được (Điều 14,khoản 1, Hiến pháp năm 2013, quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,

xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”)long trọng tuyên bố như: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, quyền đượcpháp luật bảo hộ về sức khỏe, quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự, quyền đượcpháp luật bảo hộ về nhân phẩm (quy định tại Điều 20, Hiến pháp năm 2013; Điều 7

Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003); Quyền được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữuđối với tài sản, thu nhập hợp pháp (Điều 58 Hiến pháp 2013) Điểm a khoản 3 Điều

55 còn là sự cụ thể hóa một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Tố tụng

4 Hiến pháp năm 2013.

Trang 17

hình sự nguyên tắc bảo hộ tính mạng sức khỏe danh dự, nhân phẩm tài sản của côngdân, được quy định tại Điều 7 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: “ Người

bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thíchcủa họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tàisản thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cầnthiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” Việc Bộ Luật Tố tụng hình sự năm

2003 xác định rõ quyền của người làm chứng được yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệtính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp phápkhác của mình khi tham gia tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cótrách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định củapháp luật là một đòi hỏi khách quan, thể hiện thái độ trách nhiệm của Nhà nước đốivới dân để nhân dân có thể tin tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tộiphạm Đây còn là sự đánh dấu lần đầu tiên trong hoạt động Tố tụng hình sự vấn đềbảo vệ nhân chứng được quy định trong Luật, đó còn là dấu hiệu thể hiện phápLuật Tố tụng hình sự Việt Nam đang xích gần với Thông lệ quốc tế trong lĩnh vựcnày Về quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩmquyền tố tụng” quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm

2003 là sự cụ thể hóa một trong những quyền Hiến định cơ bản của công dân thuộcnhóm quyền về chính trị quy định tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 là công dân có:

“Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Theo Điều 15 Hiếnpháp năm 2013 thì “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và Luật quyđịnh”

Quyền Luật định (quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003): Ngoàiviệc cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của công dân, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm

2003 còn quy định thêm quyền của người làm chứng như: “Được cơ quan triệu tậpthanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật” (điểm

c, khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003) Quy định này được coi làmột “Đặc quyền” của người làm chứng mà những người tham gia tố tụng với tưcách hỗ trợ cho hoạt động Tố tụng hình sự khác không có như người giám định,

Trang 18

người phiên dịch…Vì trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 không có quy định

về bảo đảm quyền của người làm chứng trong Tố tụng hình sự nên không thể sosánh đánh giá về quy định của luật thực định Việc bổ sung các quy định về quyềncủa người làm chứng trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 là cơ sở để tiếp tụchoàn thiện chế định người làm chứng trong pháp Luật Tố tụng hình sự của ViệtNam Những sửa đổi bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền của người làm chứng trong

Tố tụng hình sự là dấu hiệu thể hiện pháp Luật Tố tụng hình sự hiện hành đã quantâm đến quyền con người theo nghĩa rộng cụ thể là đã bảo đảm một số quyền Hiếnđịnh và Luật định cho người làm chứng một chủ thể tham gia tố tụng, tuy có vai tròđặc biệt quan trọng trong việc góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng, chứng minhtội phạm nhưng lại không được pháp luật Tố tụng hình sự trước đây cho hưởng bất

kỳ một quyền lợi nào Tuy nhiên về thực thi các quyền tiến bộ này trên thực tế còncần phải thảo luận nhiều vì chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội như mụctiêu đề ra Nhìn chung cho đến nay chế định người làm chứng được quy định rõràng và cụ thể hơn cho thấy pháp luật ngày càng hoàn thiện so với các giai đoạntrước có nhiều quy định cụ thể về người làm chứng, về quyền và nghĩa vụ của họkhi tham gia Tố tụng hình sự góp phần hoàn thiện chế định người làm chứng

1.2 Người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm người làm chứng chưa thành niên

Ngay tại Điều 1 của Luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 đãkhẳng định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”5; dự thảo Luật Trẻ em đãtăng độ tuổi trẻ em lên 18 tuổi và chúng ta đã có Luật Thanh niên năm 2005 vàThanh niên là từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi Như vậy, chúng ta đã có tên để gọi chotừng đối tượng Tuy nhiên, trong dự thảo Luật trẻ em thiếu sự thống nhất trong sửdụng các thuật ngữ, sử dụng không mang tính pháp lý, chưa căn cứ vào các luậtđang có hiệu lực để xưng tên một cách thống nhất như tại chương IV dự thảo Luật,tên gọi là “Tư pháp thân thiện với trẻ em” nhưng từ Điều 83 trở đi thì sử dụng thuậtngữ “Người chưa thành niên” khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệmtrẻ em Về mặt pháp lý, để xác định con người trong giai đoạn nào đó người ta dựa

5 Luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004.

Trang 19

vào độ tuổi Khái niệm người chưa thành niên dựa vào sự phát triển về mặt thể chất

và tinh thần của con người Hiện nay, khái niệm này được hiểu một các đa nghĩa vàcòn gây nhiều tranh luận Trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành, khi điều chỉnhnhững lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã có những quy định không giốngnhau về khái niệm, độ tuổi và phạm vi áp dụng Luật Trong quá trình Tư pháp, vềthực tế và tâm lý, khi nói đến trẻ em thì con người nói chung, người tham gia tốtụng nói riêng cũng sẽ dành tình cảm cho trẻ em cao hơn, nhưng khi nó đến cụm từ

“Người chưa thành niên” họ sẽ có cảm nhận các em đã gần như người lớn và đôikhi xem các em như người lớn để điều tra, truy tố, xét xử của Tố tụng hình sự Theopháp Luật Việt Nam, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Khái niệm đủ

ở đây có nghĩa là đúng đến ngày đủ tuổi

Theo quy định của pháp Luật Tố tụng của nhiều nước trong đó có Việt Nam,người làm chứng trong vụ án hình sự, là người bằng mắt thấy, tai nghe hoặc donhững nguồn thông tin khác cung cấp mà biết được những tình tiết có liên quan đến

vụ án được Cơ quan điều tra lấy lời khai, được Toà án triệu tập đến làm chứng tạiphiên toà Tại khoản 1, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có quyđịnh về người làm chứng là: “ Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ

án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”

Như vậy người làm chứng chưa thành niên bao gồm: Trẻ em và người từ 16đến dưới 18 tuổi, là người biết về những tình tiết liên quan đến vụ án trong tất cảquá trình tố tụng Do đặc điểm người làm chứng chưa thành niên là người chưa pháttriển toàn diện, đầy đủ về thể lực và trí tuệ, thể chất và tinh thần; là người đang ởgiai đoạn phát triển và hình thành nhân cách

Theo Bộ Luật Tố tụng hình sự tiếng việt nhân chứng là người chưa thànhniên là người thường được gọi là “Nhân chứng” trong tiếng Anh được gọi là

“Người làm chứng” Thuật ngữ này được sử dụng xuyên suốt trong Bộ Luật Tốtụng hình sự và thuật ngữ “Nhân chứng” cũng thỉnh thoảng được sử dụng Vì vậy

Trang 20

hai thuật ngữ “Nhân chứng” và thuật ngữ “Người làm chứng” có thể được sử dụngtương đương6.

* Các văn bản Pháp Luật liên quan về người làm chứng, người làm chứng chưa thành niên.

Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Chính phủ Việt Nam ký vào năm

1997 và các văn kiện quốc tế bổ sung Tư pháp về người chưa thành niên bao gồm:Bản quy tắc về các chuẩn mực tối thiểu của Liên hiệp quốc về quản lý tư phápngười chưa thành niên; quy tắc Bắc Kinh; Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về hànhđộng đối với trẻ em trong hệ thống Tư pháp hình sự; Hướng dẫn về Tư pháp đối vớitrẻ em là người bị hại và người làm chứng của tội phạm năm 2003 của Cơ quanQuốc tế về quyền trẻ em; Quy tắc Liên hiệp quốc về bảo vệ người chưa thành niên

bị tước đoạt quyền tự do năm 1990; các ngyên tắc cơ bản dành cho nạn nhân của tội

ác và lạm dụng quyền lực năm 1985; Hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về tư pháptrong các vấn đề liên quan đến nạn nhân và nhân chứng của tội ác năm 2005, nhằm

để bảo vệ và thúc đẩy các quyền trẻ em, người chưa thành niên khi tham gia vào cácthủ tục xét xử của Toà án

* Pháp luật Việt Nam:

Các thủ tục Tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên được quy địnhchung trong Bộ Luật Tố tụng hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan

so với Quốc tế chúng ta chưa có văn bản pháp luật riêng về thủ tục Tố tụng đối vớingười chưa thành niên đặc biệt đối với người làm chứng chưa thành niên cụ thể: chỉ

có chương XXXII từ điều 301-310 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy địnhthủ tục đối với người chưa thành niên là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bịcáo là người chưa thành niên chưa có quy định đối với bị hại và nhân chứng chưathành niên

Tuy nhiên trong Thông tư số BLDTBXH ngày 12/7/2011 có một số quy định về người làm chứng chưa thành

01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-6Tài liệu tập huấn “Người chưa thành niên phạm tội, nạn nhân và nhân chứng”, Vụ

1, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Hà Nội năm 2012

Trang 21

niên nhưng chưa thật sự rõ ràng đầy đủ do đó pháp luật trong nước cần phải có quyđịnh rõ ràng cụ thể hơn về chế định người làm chứng chưa thành niên khi tham giavào quá trình tố tụng.

1.2.2 Đặc điểm người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam

Thứ nhất: Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh rằng người làm chứng từ

ba tuổi trở lên có thể cung cấp các thông tin chính xác về những gì đã xảy ra đối vớimình Tuy nhiên người làm chứng chưa thành niên đặc biệt là các em nhỏ tuổi, cáchgiao tiếp khác với người trưởng thành và không có khả năng diễn đạt suy nghĩ, ký

ức, ý tưởng và khái niệm theo cách người trưởng thành Do đó để có được lời khaichính xác từ các em đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải có kỹ năng và biệnpháp nghiệp vụ được điều chỉnh sao cho phù hợp với độ tuổi và mức độ phát triểncủa các em

Thứ hai: Đa số nhân chứng là người chưa thành niên điều thấy không quen và

sợ khi tham gia vào thủ tục Tố tụng hình sự Các nghiên cứu cho thấy sự căng thẳng

và môi trường lạ hoặc gây sợ hãi không chỉ tạo sự lo lắng cho người chưa thànhniên, mà còn ảnh hưởng đến khả năng tập trung và suy nghĩ sáng suốt của các em.Các cảm xúc và sự lo lắng ở mức độ cao đã được chứng minh là phá vỡ kỹ năngnhận thức và giao tiếp của các em, dẫn đến lời khai thiếu chính xác, có sai sót vàthiếu thống nhất Đối với người làm chứng chưa thành niên khi ở nhà các em thôngminh và ăn nói lưu lót, nhưng có thể cảm thấy sợ hải khi được lấy lời khai ở đồncông an khiến các em không thể cung cấp được các thông tin hữu ích Để tiếp tục

vụ việc và truy tố thành công người phạm tội trong các vụ án có liên quan đếnngười làm chứng chưa thành niên thì Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm pháncần điều chỉnh phương pháp tiếp cận của mình nhằm làm giảm sự lo lắng hồi hộpcủa người làm chứng chưa thành niên để các em có thể tham gia đầy đủ vào quátrình tố tụng Việc làm giảm những chấn thương tâm lý có thể xảy ra với ngườichưa thành niên sẽ giúp tăng độ chính xác và đầy đủ trong lời khai của người làmchứng chưa thành niên, tăng khả năng có được một kết quả thành công của thủ tục

Tố tụng hình sự Thông thường các tội ác gây ra đặc biệt là đối với người chưa

Trang 22

thành niên như hiếp dâm hoặc xâm hại tình dục thường diễn ra trong bí mật, ítngười chứng kiến và ít bằng chứng hỗ trợ điều tra Chính vì vậy lời khai và sự hợptác của người làm chứng chưa thành niên là điều cần thiết giúp cho quá trình tố tụngdiễn ra nhanh chóng và kịp thời.

Thứ ba: Người làm chứng chưa thành niên là người chưa phát triển toàn diện

về thể chất và tinh thần là người luôn phải chịu những thiệt thòi về sức khỏe, họctập, tinh thần dễ bị tổn thương, làm gián đoạn và ảnh hưởng đến sự phát triển bìnhthường của các em về sau Vì vậy cần được chia sẻ, đồng hành và chăm sóc về mặttâm lý, xã hội của các em là vô cùng thiết yếu nhằm giúp các em tạo được sự cânbằng, ổn định về mặt tinh thần, vững vàng, tự tin hơn trong các giai đoạn của quátrình tố tụng Hỗ trợ tâm lý có thể giúp trẻ giảm bớt sự lo lắng, căng thẳng và đểcảm thấy tự tin hơn khi đương đầu với tội phạm

Thứ tư: Người làm chứng chưa thành niên có vai trò đặc biệt trong việc cộngtác, phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm

Họ cung cấp lời khai hoặc các thông tin khác góp phần giải quyết đúng đắn, kháchquan vụ án hình sự nên họ có nguy cơ bị kẻ phạm tội và đồng bọn của chúng đedoạ, khống chế, trả thù bằng việc thực hiện các hành vi xâm hại tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản với ý đồ nhằm ngăn cản hoặc trả thù do sự cộngtác, phối hợp đó Đặc biệt, người làm chứng chưa thành niên không có lợi ích liênquan đến vụ án sẽ là đối tượng có nguy cơ bị trả thù cao hơn so với những ngườitham gia tố tụng khác

Thứ năm: Những tác động của người phạm tội hoặc thân nhân của họ nhưmua chuộc, đe dọa, gây thiệt hại là nguyên nhân dẫn đến một số vụ án hình sựkhông được làm rõ hoặc không được xử lý triệt để và dẫn đến các kết quả tiêu cựckhác, khiến người làm chứng chưa thành niên thường bị hoang mang, lo sợ, khôngdám tố giác Thủ đoạn đe đoạ, khống chế, trả thù người tố giác, người làm chứngphổ biến như sau:

Lợi dụng những yếu điểm về thể chất, tinh thần của người làm chứng chưathành niên, những quan hệ huyết thống, bí mật về đời tư của người làm chứng để

Trang 23

tác động, làm cho họ bị tiết lộ, hoặc sẽ bị xâm hại nếu cung cấp thông tin về tộiphạm cho các cơ quan tiến hành tố tụng.

Người phạm tội hoặc thân nhân của họ trực tiếp hoặc thông qua người thứ ba

cố ý gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản cho người làm chứngchưa thành niên hoặc người thân thích của họ do việc họ đã hợp tác với cơ quan cóthẩm quyền, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của đốitượng

Đối với người làm chứng chưa thành niên thì nguy cơ bị kẻ phạm tội đe dọa,khống chế càng cao hơn so với người đã thành niên Người làm chứng chưa thànhniên chưa hoàn thiện về tâm lý, nhận thức, tình cảm, ý chí, tính cách, có sự nhậnthức xã hội nói chung, sự hiểu biết về pháp luật nói riêng còn non nớt, khả năng tự

đề phòng và tự bảo vệ mình hạn chế, khả năng ứng phó với những tình huống gâycấn, phức tạp chưa cao và chưa biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ của của người thân,của những người, những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ công dân nên bị kẻphạm tội đe dọa, khống chế hơn người đã trưởng thành Chính vì vậy, làm chứngchưa thành niên đã không dám hợp tác, hoặc hợp tác không tích cực với các cơquan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án hình sự

Thứ sáu: Người làm chứng chưa thành niên trong các vụ án hình sự, đặc biệt

là trong các vụ xâm hại tình dục, bị buôn bán, bị cưỡng bức, bạo hành có nguy cơ bịmiệt thị và phân biệt đối xử và ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống hiện tại cũng nhưtương lai của các em Thường dẫn đến tình trạng giấu diếm, không muốn tiết lộ thânphận của mình vì sợ bị cười chê, bị xã hội khinh thường nên không dám đứng ra tốcáo tội phạm như:

Người làm chứng chưa thành niên và người thân, gia đình họ, đặc biệt lànhững vụ án mang tính nhạy cảm, thường giấu diếm tình trạng của mình và vì vậy

họ khó tiếp nhận được sự hỗ trợ cần thiết của các cơ quan chức năng, khó tiếp cậnđược với các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội

Người làm chứng chưa thành niên có xu hướng không muốn tiết lộ thânphận của mình, khiến họ luôn lo lắng, căng thẳng, tự cô lập mình, cảm thấy tuyệt

Trang 24

vọng và suy nhược nhanh chóng Nên khó hoặc không nhận được sự chăm sóc và

hỗ trợ tinh thần cần thiết, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của họ

Thứ bảy: Những hạn chế về sự phát triển thể chất, cộng với những tác độngcủa tội phạm làm tổn hại sức khỏe, thể chất người làm chứng chưa thành niên cóthể sẽ thấy mệt mỏi, căng thẳng khi cung cấp thông tin, lời khai, khi nhận dạng.Việc lấy lời khai kéo dài hoặc số lần khai báo thường xuyên sẽ khiến các em cóbiểu hiện mệt mỏi ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ

Khó khăn khác là Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khaingười làm chứng chưa thành niên nếu không có thái độ thân thiện, nhẹ nhàng, sửdụng ngôn ngữ phù hợp thì rất khó khai thác được thông tin từ các em Người làmchứng chưa thành niên vốn là đối tượng nhạy cảm, dễ bị tổn thương, do vậy, việctiếp xúc trao đổi với trẻ luôn cần có sự chuẩn bị và cân nhắc sao cho cuộc gặp gỡgiữa nhân viên hỗ trợ và trẻ diễn ra càng tự nhiên càng tốt, ngôn ngữ được sử dụngcần đơn giản, dễ hiểu, gần gũi và phù hợp với từng độ tuổi của trẻ

Vì vậy, nơi lấy lời khai người bị hại, người làm chứng chưa thành niên nếukhông được bố trí theo cách thức thích hợp sẽ làm các em cảm thấy mất an toàn,không thoải mái

Thứ tám: Toà án thường là những môi trường rất nghiêm trang và lạ lẫm đốivới người làm chứng, đặc biệt đối với người làm chứng chưa thành niên, làm các

em rất lo lắng, sợ hãi khi phải tham gia giai đoạn này Các em sợ phải nhìn thấy bịcan, bị cáo, lo lắng vì phải nói về những sự kiện nhạy cảm và mọi người sẽ biếtnhững gì đã xảy ra đối với các em Những lo lắng này có thể ảnh hưởng rất tiêu cựctới ý chí và khả năng tham gia đầy đủ vào quá trình Tố tụng hình sự của người chưathành niên

1.2.3 Vai trò của người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự

Trong sự phát triển không ngừng của xã hội, quyền tự do dân chủ của nhândân ngày càng được tôn trọng và phát huy trong mọi lĩnh vực của đời sống, đòi hỏi

cả pháp Luật nội dung và pháp Luật tố tụng phải có điều chỉnh phù hợp Vấn đề dânchủ bình đẳng và bảo vệ quyền con người trong Tố tụng hình sự luôn là động lực và

Trang 25

thước đo của tiến bộ xã hội là yêu cầu tôn trọng, bảo vệ hiệu quả quyền con ngườinói chung và quyền tự do dân chủ quyền bình đẳng của các bên trong hoạt động Tốtụng hình sự nói riêng Do đó việc bảo đảm quyền cuả người làm chứng đặc biệt làngười làm chứng chưa thành niên trong hoạt động Tố tụng hình sự để bảo đảm hơnnữa quyền của người làm chứng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người làmchứng đứng ra nói lên sự thật góp phần ý nghĩa lớn trong hoạt động cải cách Tưpháp trong các quá trình tố tụng hiện nay ngày càng được áp dụng mạnh mẽ hơn.Người làm chứng trong vụ án hình sự nhất là người làm chứng chưa thành niên có ýnghĩa đặc biệt quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan, tạo cơ sở choTòa án ra phán quyềt đúng người đúng tội, đảm bảo nguyên tắc “Không để lọt tộiphạm và không làm oan người vô tội”, do người làm chứng chưa thành niên có vaitrò thật quan trọng trong tất cả các quá trình tố tụng nhằm đảm bảo nói lên sự côngbằng trong vụ án Do đặc điểm tâm lý người làm chứng chưa thành niên chưa pháttriển toàn diện, chưa hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ pháp lý như người trưởng thành nên việc tham gia vào tố tụng là việc

có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần không nhỏ trong công tác đấu tranh vàphòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay của các Cơ quan tiến hành tố tụng

vì vậy với sự tham gia của các em đòi hỏi tất cả các cơ quan phải tạo điều kiện thậtthuận lợi nhất để các em mạnh dạn và chủ động hơn trong công tác đấu tranh chốngtội phạm góp phần vào nhiệm vụ chung của đất nước Tóm lại người làm chứngchưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, lànhững đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là khi họ tham gia vào quá trình tốtụng để giải quyết các vụ án do đó các Cơ quan tiến hành tố tụng phải tuỳ theo lứatuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân mà họ cần được bảo vệ theo quy địnhcủa pháp luật khi tham gia Tố tụng hình sự vì vậy sự tham gia của người làm chứngchưa thành niên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh với tộiphạm góp phần rất lớn vào quá trình cải cách Tư pháp hiện nay Vì vậy chúng tathấy được tầm quan trọng của người làm chứng nhất là người làm chứng chưa thànhniên trong Tố tụng hình sự họ chính là những người chứng kiến hay nghe thấynhững dấu hiệu của tội phạm được các Cơ quan chức năng triệu tập đến để làm

Trang 26

chứng, nhằm làm sáng tỏ vụ án Do còn nhỏ tuổi khả năng phát triển thể chất, tinhthần chưa hoàn thiện với những gì chứng kiến được nhưng dám đứng ra nói lên sựthật góp phần vào việc chung là trách nhiệm công dân làm tròn với xã hội, đất nước

có ý nghĩa hết sức to lớn vào công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm hiệnnay Qua đó chúng ta thấy được vai trò hết sức to lớn của người làm chứng, đặc biệt

là người làm chứng chưa thành niên là quan trọng như thế nào trong quá trình Tốtụng hình sự hiện nay, người làm chứng chưa thành niên tham gia với tư cách độclập, khai báo trung thực, khách quan là yếu tố không nhỏ góp phần quan trọng nóilên sự thật khách quan trong quá trình giải quyết vụ việc đẩy nhanh quá trình Tốtụng hình sự được nhanh chóng và kịp thời góp phần không nhỏ vào hoàn thiện cảicách Tư pháp hiện nay

Trang 27

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM

CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN-THỰC TIỄN ÁP DỤNG

VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Do quy định của pháp Luật về người làm chứng chưa thành niên còn nhiềuhạn chế, pháp Luật chưa quy định nhiều nên khi tìm hiểu quy định của pháp Luật vềhoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên là rất khókhăn Để hiểu rõ hơn về quy định của pháp Luật về hoạt động Tố tụng hình sự đốivới người làm chứng chưa thành niên khi tham gia vào Tố tụng hình sự là như thếnào, trước hết ta tìm hiểu một số quy định cụ thể hoạt động về hoạt động Tố tụnghình sự đối với người làm chứng chưa thành niên như sau: Hoạt động lấy lời khai,hoạt động đối chất, nhận dạng, hoạt động tham gia xét xử và dẫn giải người làmchứng chưa thành niên Cụ thể về người làm chứng chưa thành niên, về sự tham giacủa người đại diện hợp pháp trong một số hoạt động Tố tụng hình sự cụ thể, nhữnghoạt động phù hợp với lứa tuổi các em, cách thức tiến hành lấy lời khai, triệu tậpngười làm chứng chưa thành niên và vấn đề trợ giúp pháp lý cho các em khi thamgia vào Tố tụng hình sự ra sao trước hết ta tìm hiểu về một số hoạt động Tố tụnghình sự cụ thể của người làm chứng chưa thành niên như sau:

2.1 Quy định pháp Luật về một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên

2.1.1 Quy định hoạt động lấy lời khai đối với người làm chứng chưa thành niên

Lấy lời khai là một cuộc nói chuyện có lập kế hoạch trước, không mang tínhbuộc tội được thực hiện với nạn nhân hoặc nhân chứng nhằm thu thập các thông tin

sự thật một cách công bằng về những gì mà người làm chứng chưa thành niên đãchứng kiến hoặc nghe thấy, các buổi lấy lời khai nhằm mục đích để các Điều traviên đưa ra câu hỏi và thu thập thông tin7

Bộ Luật Tố tụng hình sự không hạn chế độ tuổi làm chứng, vì vậy trongtrường hợp biết các tình tiết liên quan đến vụ án, người chưa thành niên có thể được

7 Tài liệu tập huấn “Người chưa thành niên phạm tội, nạn nhân và nhân chứng”, Vụ 1, Viện kiểm sát nhân

dân Tối cao, Hà Nội năm 2012.

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLDTBXH ngày 12 tháng 7 năm 2011 quy định hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLDTBXH
Năm: 2011
1. Lại Hợp Việt, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về Tố tụng hình sự và Tố tụng dân sự, Tạp chí kiểm sát, Hà Nội năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về Tố tụnghình sự và Tố tụng dân sự
2. Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong Tố tụng hình sự, Tạp chí KHPL số 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong Tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Nhà XB: Tạp chí KHPL
Năm: 2007
3. Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1(phần chung), NXB Chính trị Quốc gia năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1(phần chung)
Tác giả: Phạm Văn Beo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
4. Tài liệu tập huấn “Người chưa thành niên phạm tội, nạn nhân và nhân chứng”, Vụ 1, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Hà Nội năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn “"Người chưa thành niên phạm tội, nạn nhân và nhânchứng”
1. Phạm văn Hùng, Hệ thống điều tra thân thiện với người chưa thành niên, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/hanh-chinh-hinh-su-tu-phap/he-thong-111ieu-tra-than-thien-voi-nguoi-chua-thanh-nien[Truy cập 09/09/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống điều tra thân thiện với người chưa thành niên
Tác giả: Phạm văn Hùng
2. TS. Phan Thị Hương Thuỷ, Bảo đảm quyền của người làm chứng trong Bộ Luật tố tụng hình sự, http://www.lawvietnam.com.vn[Truy cập 10/09/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền của người làm chứng trongBộ Luật tố tụng hình sự
6. Trần Văn Hội, Cần bổ sung quyền miễn trừ và thống nhất độ tuổi người làm chứng trong tố tụng hìnhsự,http://www.daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=274 180 [Truy cập 19/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần bổ sung quyền miễn trừ và thống nhất độ tuổi ngườilàm chứng trong tố tụng hình"sự
3. Luatvadoanhnhan.com/law_club.php?id=53[Truy cập 12/09/2014] Link
8. Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11 ngày 04 tháng 7 năm 2006 của Bộ Công an hướng dẫn ban hành quy trình bảo vệ phiên Toà, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra Toà Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w