1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kiến nghị thừa nhận hoạt động giải thích pháp luật của tòa án

49 570 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 588,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, là xác định được nội dung và phạm vi của hoạt động này thì sẽ có cái nhìn thống nhất về các yếu tố giải thích pháp luật.1 Nguồn pháp luật chính thức ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu

Trang 1

KIẾN NGHỊ THỪA NHẬN HOẠT ĐỘNG

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS HUỲNH THỊ SINH HIỀN ĐỖ THỊ KIM KHUYÊN

Bộ môn: Luật hành chính MSSV: S120034 Lớp: Luật hành chính - K38

Trang 2

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ TÒA ÁN 3

1.1 Khái niệm, phân loại, ý nghĩa giải thích pháp luật 3

1.1.1 Khái niệm giải thích pháp luật 3

1.1.2 Phân loại giải thích pháp luật 5

1.1.3 Ý nghĩa của giải thích 7

1.1.3.1 Giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao ý thức pháp luật ở mỗi chủ thể pháp luật 8

1.1.3.2 Đảm bảo cho pháp luật được nhận thức, thực hiện đúng đắn, thống nhất 8

1.1.3.3 Giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật 8

1.1.3.4 Xóa dần khoảng cách giữa luật thành văn và thực tế, góp phần hoàn thiện pháp luật 9

1.2 Phương pháp giải thích pháp luật 9

1.3 Khái quát chung về Tòa án nhân dân 10

1.3.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân 11

1.3.2 Nhiệm vụ, chức năng của Tòa án nhân dân 13

1.3.2.1 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân 13

1.3.2.2 Chức năng của Tòa án nhân dân 14

1.4 Các mô hình giải thích pháp luật trên thế giới 14

1.4.1 Mô hình Tòa án giải thích pháp luật 14

Trang 5

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

1.4.2 Mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật 16

1.4.3 Mô hình cả ba cơ quan quyền lực giải thích pháp luật 17

1.4.4 Mô hình giải thích pháp luật ở Việt nam hiện nay 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT CỦA TOÀ ÁN 20

2.1 Cơ sở lý luận cho việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án 20

2.1.1 Giải thích pháp luật của Tòa án mang tính tất yếu 20

2.1.2 Giải thích pháp luật của Tòa án mang tính chuyên nghiệp 20

2.1.3 Giải thích pháp luật của Tòa án mang tính khách quan, công bằng 22

2.2 Cơ sở thực tiễn cho việc giải thích pháp luật của Tòa án 23

2.2.1 Giải thích pháp luật của Tòa án góp phần khắc phục những nhượt điểm của

văn bản quy phạm pháp luật, một hình thức pháp luật phổ biến ở nước ta hiện nay 23

2.2.2 Bất cập từ việc trao quyền giải thích pháp luật cho Ủy ban thường vụ Quốc hội 24

2.2.3 Hệ thống Tòa án bằng nhiều cách khác nhau vẫn giải thích pháp luật dù không

được trao quyền 28

2.2.3.1 Tòa án giải thích pháp luật thông qua hoạt động xét xử 28

2.2.3.2 Tòa án giải thích pháp luật thông qua các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán và các văn bản khác của Tòa án 30

2.3 Kiến nghị trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án 35

2.3.1 Thừa nhận quyền giải thích pháp luật của Tòa án thông qua án lệ, phát triển án lệ, đăng tải công khai bản án, quyết định của Tòa án 35

2.3.1.1 Thừa nhận án lệ 35

2.3.1.2 Phát triển án lệ 35

2.3.1.3 Công khai bản án, quyết định của Tòa án 37

2.3.3 Kiểm soát hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án 38

2.3.4 Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán 39

2.3.5 Xây dựng cở sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật của Tòa án 39

KẾT LUẬN 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

hệ thống pháp luật nước ta

Thế nhưng hiện nay, hoạt động giải thích pháp luật không mấy hiệu quả và chưa được chú trọng Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật theo quy định hiện hành là Ủy ban thường vụ Quốc hội Tuy nhiên, việc giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội rất hạn chế và không hiệu quả Khác với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, thông qua việc xét xử những vụ án

cụ thể, Tòa án đã tổng kết kinh nghiệm và ban hành những văn bản pháp luật để hướng dẫn, giải thích việc áp dụng pháp luật Giải thích pháp luật của Tòa án góp phần khắc phục kịp thời những quy định mà pháp luật còn bỏ ngõ, chung chung Tuy nhiên, Tòa

án lại không có thẩm quyền giải thích pháp luật, việc giải thích của Tòa án là không chính thức, do vậy việc áp dụng những giải thích của Tòa án còn hạn chế Chính vì thế, nghiên cứu vai trò giải thích pháp luật của Tòa án là vấn đề thực tiễn đặt ra cần làm rõ để từ đó có nhận thức đúng đắn về việc giải thích pháp luật của Tòa án, và đó là

lý do người viết chọn đề tài “Kiến nghị thừa nhận hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động giải thích pháp luật, lý luận và thực tiễn về vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật Dựa trên những quy định của pháp luật hiện hành về giải thích pháp luật và những hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án trên thực tế Từ đó, đưa ra những kiến nghị

về việc thừa nhận hoạt hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Qua đề tài này, nhằm làm sáng tỏ vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích

Trang 7

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

2

pháp luật và từ đó đưa ra những kiến nghị để trao quyền giải thích cho Tóa án Nhằm phát huy vai trò của giải thích pháp luật Đồng thời, giúp cho hoạt động giải thích có hiệu quả hơn, dẫn đến việc nhận thức, thực hiện pháp luật được thống nhất hơn, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp Trong

đó, phương pháp thường sử dụng là phương pháp sưu tầm và tổng họp các bài nghiên cứu, kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các vấn đề để hoàn thành luận văn

5 Bố cục đề tài

Luận văn được sắp xếp theo kết cấu sau:

Mục lục;

Lời nói đầu;

Chương 1: Khái quát chung về giải thích pháp luật

Chương này, người viết tập trung trình bày những vấn đề lý luận về giải thích pháp luật như làm rõ khái niệm, ý nghĩa, phương pháp giải thích pháp luật Sau đó, là nêu những cơ sở lý luận về Tòa án như khái quát chung về Tòa án, phân tích chức năng, nhiệm vụ của Tòa án, cuối cùng là đưa ra một số mô hình giải thích pháp luật trên thế giới hiện nay

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc giải thích pháp luật của Tòa án Qua những phân tích về mặt lý luận ở chương một, người viết tiếp tục trình bày làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận cho việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa

án, nêu lên những lý do tại sao nên trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án Tiếp theo là phân tích những vấn đề về cơ sở thực tiễn cho việc giải thích pháp luật của Tòa

án, nêu khái quát thực tiễn giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay,Tòa án tiến hành giải thích pháp luật thông qua những hoạt động nào Sau đó, đưa ra những hạn chế về hoạt động giải thích pháp luật hiện nay Cuối cùng là người viết đề xuất một số kiến nghị về việc thừa nhận hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án, để nâng cao hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay

Kết luận;

Tài liệu tham khảo

Trang 8

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ TÒA ÁN

1.1 Khái niệm, phân loại, ý nghĩa giải thích pháp luật

1.1.1 Khái niệm giải thích pháp luật

Ở Việt Nam, thuật ngữ “giải thích pháp luật” xuất hiện lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1959 (khoản 3 Điều 53), nhưng cho đến nay, nước ta chưa có một văn bản pháp luật nào quy định, diễn giải hoặc đưa ra khái niệm về giải thích pháp luật để làm

cơ sở pháp lý xây dựng một lý thuyết chính thống tiên tiến đối với hoạt động này nên dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về giải thích pháp luật cũng chưa được thống nhất Do vậy, việc xác định khái niệm giải thích pháp luật ở Việt Nam là việc làm cần thiết, bởi muốn đánh giá về thực trạng giải thích pháp luật cho chính xác thì phải bắt đầu từ khái niệm giải thích pháp luật Sau đó, là xác định được nội dung và phạm vi của hoạt động này thì sẽ có cái nhìn thống nhất về các yếu tố giải thích pháp luật.1

Nguồn pháp luật chính thức ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp là nguồn thứ yếu và tiền lệ pháp thì chưa được thừa nhận Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm giải thích pháp luật ở Việt Nam Như vậy, việc giải thích pháp luật ở đây là giải thích các điều luật được đặt ra trong các văn bản quy phạm pháp luật hay là giải thích quy phạm pháp luật (gồm quy phạm pháp luật thành văn hay không thành văn)

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng: được hiểu là làm rõ tinh thần và nội dung của các quy phạm pháp luật thành văn và cả không thành văn Vì, bên cạnh quy phạm pháp luật thành văn thì còn có tập quán pháp, tiền lệ pháp cũng cần có sự giải thích

Giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp: là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong văn bản quy phạm pháp luật để

ban thường vụ Quốc hội, số 94-98-106/ĐT, 1999, tr.15

Trang 9

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

4

Định nghĩa trên chỉ nêu lên giải thích pháp luật là việc xác định nội dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó Chưa có làm rõ được tư tưởng của văn bản Đồng thời chưa có nêu rõ giải thích pháp luật là để nhận thức và thực hiện pháp luật được động bộ và thống nhất, chứ không chỉ để áp dụng pháp luật không Định nghĩa trên khá hẹp, chưa thể hiện được hết khái niệm giải thích pháp luật một cách khái quát Định nghĩa trên là định nghĩa giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp vì chỉ giải thích các quy phạm pháp luật thành văn

“Giải thích pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất” 4

Định nghĩa này, nêu lên chủ thể giải thích pháp luật Đồng thời, còn làm rõ về mặt nội dung của quy phạm pháp luật và tư tưởng, tinh thần của nhà làm luật trong quy phạm pháp luật đó Định nghĩa này so với định nghĩa trước thì có phần xác định rõ nghĩa hơn hoạt động giải thích là gì, nhưng giải thích pháp luật là làm rõ nghĩa của quy phạm pháp luật, để nhận thức và thực hiện chứ không thu hẹp lại ở việc áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, khi nói đến quy phạm pháp luật là bao gồm cả luật thành văn và không thành văn nên có thể nói định nghĩa này mang tính khái quát hơn và giải thích pháp luật ở đây được hiểu theo nghĩa rộng

“ Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của

nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất”.5

Theo định nghĩa này thì giải thích pháp luật ở đây chỉ ra được giải thích pháp luật là việc làm sáng tỏ không chỉ về nội dung mà còn làm sáng tỏ về mặt tinh thần và

ý nghĩa của quy phạm pháp luật đó Như vậy, so với định nghĩa trên thì khái niệm này khá rõ nghĩa về hoạt động giải thích pháp luật Cho thấy được nghĩa của quy phạm pháp luật được tiếp cận và giải thích sâu hơn, làm sáng tỏ ý nghĩa của quy phạm pháp luật hơn, nhưng ở đây chỉ đề cập đến giải thích quy phạm pháp luật thành văn, còn quy phạm pháp luật chưa thành văn thì chưa được nhắc đến, nên định nghĩa trên chỉ tiếp cận giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp

một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, 2009, tr.40

Trang 10

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

5

Có định nghĩa tiếp cận giải thích pháp dưới gốc độ chung “Giải thích pháp luật

là hoạt động nhằm làm sáng tỏ về mặt tư tưởng, nội dung của các quy phạm pháp luật, bảo đảm cho sự nhận thức, thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật”.6

Ở đây, định nghĩa này không đề cập đến chủ thể giải thích pháp luật như định nghĩa ở trên, những định nghĩa này về cơ bản đã làm sáng tỏ được hoạt động giải thích pháp luật một cách khái quát hơn so với các định nghĩa trên Qua định nghĩa này cho thấy được hoạt động giải thích là làm sáng tỏ nội dung và tư tưởng của quy phạm pháp luật để nhận thức và thực hiện pháp luật thống nhất Hoạt động giải thích ở đây so với một số định nghĩa trên thì giải thích pháp luật là để thực hiện pháp luật được thống nhất chứ không còn ở việc áp dụng pháp luật nữa, nên có sự mở rộng hơn Ở đây, đề cập đến giải thích pháp luật quy phạm pháp luật là bao gồm cả giải thích quy phạm pháp luật thành văn và quy phạm pháp luật không thành văn Giải thích pháp luật ở đây là giải thích pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng

Như vậy, từ những định nghĩa trên cho thấy giải thích pháp luật đã không thể có một khái niệm tuyệt đối, nhưng những định nghĩa trên vẫn theo cùng một tiêu chí là

giải thích pháp luật để “làm hiểu rõ pháp luật hơn”

Từ những phân tích trên có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về giải thích

pháp luật như sau: “Giải thích pháp luật là hoạt động của các chủ thể nhằm làm sáng

tỏ tư tưởng, nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật để nhận thức, thực hiện pháp luật đúng đắn, thống nhất”

1.1.2 Phân loại giải thích pháp luật

Với cách hiểu giải thích pháp luật theo nghĩa rộng, các nhà khoa học pháp lý đã chia giải thích pháp luật thành nhiều loại khác nhau Căn cứ vào tính chất của chủ thể tiến hành và căn cứ vào giá trị pháp lý thì giải thích pháp luật được chia thành các loại

cơ bản sau:

- Nếu căn cứ vào tính chất của chủ thể tiến hành giải thích, giải thích pháp luật

được phân loại thành giải thích của cơ quan lập pháp, giải thích của cơ quan hành pháp, giải thích của cơ quan tư pháp và giải thích của các cơ quan, tổ chức cá nhân khác như giải thích của các luật sư, thẩm phán, nhà khoa học

- Nếu căn cứ vào giá trị pháp lý của nội dung giải thích, giải thích pháp luật

được phân thành giải thích pháp luật chính thức và giải thích không chính thức

+ Giải thích pháp luật không chính thức: là hình thức giải thích các quy định

của pháp luật mà kết quả của sự giải thích không bắt buộc các chủ thể pháp luật phải

nước và pháp luật, số 10 (126), 2008, tr.18

Trang 11

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

6

xử sự theo, nội dung giải thích của hình thức này không có giá trị về mặt pháp lý, không có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật Chủ thể của hình thức giải thích pháp không chính thức có thể là bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào Hình thức giải thích pháp luật này có tính thông thoáng, tự do, không chịu sự tác động của pháp luật, không theo một quy trình pháp lý bắt buộc nào, không bị hạn chế về thời gian, không bị chi phối bởi cách thức giải thích Tuy nhiên, hình thức giải thích không chính thức này lại tác động tới ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật, tác động gián tiếp đến hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật Giải thích pháp luật không chính thức hoàn toàn không nhân danh nhà nước và không có qui định nào đối với các chủ thể phải hoặc được nhân danh nhà nước mà tiến hành Giải thích pháp luật không chính thức thường xuyên xuất hiện trong đời sống thường nhật, như lời pháp biểu của các nhà chính trị, các nhà hoạt động khoa học, xã hội, thường gặp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các sách chuyên khảo pháp

lý hoặc bình luận về một văn bản pháp luật nào đó Hình thức này, được các luật sư, các nhà nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật sử dụng trong quá trình tranh tụng, nghiên cứu giảng dạy Sản phẩm thường gặp là những sách bình luận về một đạo luật nào đó, hoặc các tài liệu chỉ dẫn sử dụng pháp luật

+ Giải thích pháp luật chính thức: là hình thức hoạt động giải thích pháp luật

được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền Các kết quả giải thích có hiệu lực pháp

lý bắt buộc, và việc giải thích này được ghi nhận trong văn bản giải thích pháp luật Chủ thể, đối tượng, cách thức, quy trình,…của giải thích pháp luật chính thức đều được quy định trong những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.7

Giải thích pháp luật chính thức bao gồm hai hình thức cơ bản là giải thích pháp luật chính thức mang tính quy phạm và giải thích pháp luật chính thức mang tính vụ việc

 Giải thích chính thức mang tính quy phạm: giải thích pháp luật chính thức

mang tính quy phạm có đặc trưng ở chỗ, nó thường là kết quả của sự khái quát hóa thực tế thực hiện và áp dụng pháp luật, từ đó xác định thực hiện và áp dụng thống nhất luật lệ Hoạt động giải thích này có nội dung giải thích được thể hiện dưới dạng một văn bản giải thích pháp luật, mang tính quy phạm được tiến hành bởi một chủ thể có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục nhất định, văn bản thể hiện nội dung giải thích

có hiệu lực giống như hiệu lực của văn bản được giải thích, mang tính bắt buộc chung

đối với mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của nó

cứu lập pháp số 10 (126), tr.19 – 20

Trang 12

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

7

Giải thích pháp luật mang tính quy phạm trong thực tế thường là giải thích các văn bản luật, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp trên, các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

 Giải thích chính thức mang tính vụ việc: là hoạt động giải thích được tiến

hành trong khi một sự việc nhất định phát sinh nhu cầu giải thích pháp luật có liên quan Giá trị pháp lý của kết quả giải thích thuộc hình thức này thường chỉ có hiệu lực đối với một vụ việc pháp lý cụ thể Còn đối với vụ việc pháp lý khác không có hiệu lực, trừ khi giải thích đó được xây dựng thành án lệ Đây thực chất là hoạt động giải thích pháp luật trong quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền mà tập trung và tiêu biểu hơn cả là giải thích của Tòa án trong khi xét xử để đưa ra những

phán quyết

Giải thích pháp luật chính thức mang tính quy phạm và giải thích pháp luật chính thức mang tính vụ việc, là hai hình thức khác nhau nhưng có mối quan hệ tương ứng Bởi vì, giải thích pháp luật mang tính vụ việc cũng vẫn là xem xét từ quy phạm, bắt đầu từ quy phạm, chứ không phải từ vụ việc Vụ việc chỉ xuất hiện với tư cách là một nhu cầu, thuộc quan hệ pháp luật cần điều chỉnh chứ không là đối tượng của giải thích pháp luật, dù nó có vị trí là một loại dữ liệu Còn giải thích mang tính quy phạm xét đến cùng cũng là do những vụ việc có trong các quan hệ pháp luật, vì trong thực tế người ta không giải thích những quy phạm pháp luật mà tự thân nó đã có ý nghĩa rõ ràng và không cần phải giải thích gì thêm Có điều những vụ việc nói ở đây thường là những vụ việc có tính phổ biến và những vụ việc đó chủ yếu nằm ở khu vực “tuân thủ”

và “thi hành” trong việc thực hiện pháp luật, hoặc là những vụ việc mà các nhà làm luật đã tiên lượng được chúng Mối quan hệ này còn thể hiện ở chổ, đôi khi kết quả của một giải thích mang tính vụ việc lại dẫn đến chỉnh sửa một quy phạm và đôi khi một giải thích mang tính quy phạm lại nhờ nó mà giải quyết được những tình huống rất cá biệt trong quan hệ pháp luật rất cụ thể nào đó.8

1.1.3 Ý nghĩa của giải thích pháp luật

Xét về tác dụng và chức năng, giải thích pháp luật có ý nghĩa quan trọng được thể hiện ở những phương diện sau:

Pháp luật có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ dân chủ, phản ánh sự phát triển, trình độ văn hóa của một quốc gia, các giá trị đó của pháp luật chỉ được bảo vệ và phát huy khi pháp luật trở thành hiện thực trong đời sống con người Pháp luật được bảo vệ chủ yếu bằng việc thực hiện những hành vi hợp pháp một cách có ý thức Chính vì thế, giải thích pháp luật sẽ làm rõ ý nghĩa của các quy

Trang 13

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

8

phạm pháp luật, dẫn đến nhận thức đúng đắn các quy định của pháp luật Từ đó, sẽ có những hành vi đúng theo qui định của pháp luật và làm cho pháp luật càng đi sâu vào cuộc sống hơn Khi đó, sẽ làm phát huy các giá trị của pháp luật

Bên cạnh đó, do pháp luật có tính khái quát cao, không trực tiếp điều chỉnh một

quan hệ cụ thể nào, mà chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cùng loại, nhưng trên thực

tế, những quan hệ xã hội lại xảy ra với những biểu hiện riêng biệt, rất phức tạp Tuy nhiên, giải thích pháp luật có khả năng giải quyết tính khái quát này của các quy phạm pháp luật, đưa những quy định pháp luật nay về nghĩa dễ hiểu và cụ thể hơn, rồi từ đó xác định rõ những quan hệ xã hội mà pháp luật mong muốn điều chỉnh, làm giảm bớt tính khái quát, chung chung của pháp luật

1.1.3.1 Giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao ý thức pháp luật ở mỗi chủ thể pháp luật

Ý thức pháp luật bao gồm nhận thức, thái độ và hành vi của con người đối với

pháp luật Tuy nhiên, Giải thích pháp luật đã đem lại những nhận thức nghiêm túc, đúng đắn cho người dân về pháp luật Khi người dân thấy được sự hợp lý, đặc biệt là thấy được giá trị dân chủ, nhân văn trong hệ thống pháp luật của quốc gia thì đó chính

là khởi nguồn của hành vi hợp pháp Bên cạnh đó, giải thích pháp luật góp phần xây dựng thái độ đúng đắn trước pháp luật, gồm thái độ đúng đắn trong công tác lập pháp, hành pháp, tư pháp và thái độ đúng đắn của mỗi công dân trong hành vi pháp lý của mình Hơn nữa, giải thích pháp luật còn đóng góp vào việc thể chế hóa quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp luật tiên tiến, khách quan trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật đáp ứng nhu cầu xã hội đối với một nền pháp luật dân chủ hiện đại

1.1.3.2 Bảo đảm cho pháp luật được nhận thức, thực hiện đúng đắng, thống nhất

Pháp luật được nhận thức đúng đắn, thống nhất sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho người dân tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời, giải thích pháp luật có thể giúp giải quyết các vụ việc phát sinh trong cuộc sống một cách nhanh chóng, chính xác và thống nhất Đưa pháp luật vào cuộc sống hiệu quả hơn Bên cạnh

đó, còn làm cho việc tuân thủ và chấp hành pháp luật được thực hiện nghiêm minh hơn, pháp huy được hiệu quả của pháp luật và đảm bảo được pháp chế

1.1.3.3 Giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt Hình thức này

là việc dựa trên quy định hiện hành, các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các quyết định mang tính chất cá biệt, điều chỉnh những trường hợp cụ thể đối với đối tượng cụ thể

Trang 14

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

9

Đây là một hoạt động nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện một cách triệt để trong thực tế Nếu pháp luật được nhận thức và thực hiện thống nhất nhờ hoạt động giải thích pháp luật thì chắc chắn chất lượng của hoạt động pháp luật được nâng cao hơn, các quyết định áp dụng pháp luật được đảm bảo tính đúng đắn

Hoạt động giải thích pháp luật góp phần khắc phục kịp thời những khiếm khuyết của hoạt động lập pháp và giúp cho việc thực hiện pháp luật được thống nhât, chính xác, đúng với ý chí của nhà làm luật trong từng quy phạm pháp luật Góp phần hoàn thiện pháp luật

1.2 Phương pháp giải thích pháp luật

Để thực hiện giải thích pháp luật, có rất nhiều phương pháp được áp dụng khác nhau và Khoa học pháp lý đã đưa ra được các phương pháp giải thích pháp luật sau đây:

- Phương pháp logic: là phương pháp được thể hiện trong trường hợp nội dung

của quy phạm pháp luật không thể hiện rõ ý chí của Nhà nước Căn cứ vào các công cụ suy luận logic, thông qua việc phán đoán, những quy luật của tư duy để làm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật Nhờ những suy luận logic, cho phép chủ thể giải thích pháp luật xác định nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật vừa khái quát, rõ ràng, chính xác và dễ hiểu.9

- Phương pháp giải thích câu chữ: với phương pháp này người ta làm sáng tỏ

nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ từng từ, từng câu và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữa chúng trong lời văn của quy phạm.10

Trang 15

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

10

- Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử: là phương pháp tìm hiểu nội dung

tư tưởng quy định của pháp luật thông qua việc nghiên cứu các điều kiện, hoàn cảnh chính trị - lịch sử tại thời điểm ban hành quy định đó và nhiệm vụ chính trị mà nhà nước mong muốn đạt được khi ban hành các quy định đó Về hoàn cảnh và mục đích, nhiệm vụ chính trị thường được thể hiện ở lời nói đầu của văn bản hay ở phần đầu của mỗi quy phạm pháp luật, còn hầu hết các trường hợp còn lại được thể hiện trong các báo cáo thuyết trình, giải trình, thẩm định, thẩm tra dự án văn bản pháp luật.v.v 11

- Phương pháp giải thích hệ thống: là làm rõ tư tưởng, nội dung quy định của

pháp luật thông qua việc đối chiếu nó với các quy định khác của pháp luật; xác định vị trí, vai trò của quy phạm cần giải thích trong mối quan hệ với chế định pháp luât, trong ngành luật hoặc toàn bộ hệ thống pháp luật.12

Trên thực tế, khi tiến hành giải thích pháp luật, các chủ thể thường không sử dụng một phương pháp nhất định mà kết hợp một số phương pháp với nhau để mang lại hiệu quả cao Bên cạnh đó, người giải thích phải nắm được ý chí của nhà làm luật thông qua việc tìm hiểu những bản dự thảo pháp luật hoặc tìm hiểu lý do ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hoạt động giải thích pháp luật được chính xác, hiệu quả và thống nhất

1.3 Khái quát chung về Tòa án nhân dân

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức, hoạt động và phối hợp tương hỗ, nhịp nhàng nhằm thực hiện chức năng chung của nhà nước Bộ máy nhà nước có sự phân công, phân minh rành mạch và có sự phối hợp nhằm thực hiện tương ứng ba chức năng là: làm luật, thi hành pháp luật, bảo vệ pháp luật Xét về hình thức thực hiện ba chức năng nêu trên có thể chia bộ máy nhà nước thành các hệ thống cơ quan sau:

Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, nguyên thủ quốc gia, hệ thống cơ quan xét xử, hệ thống cơ quan kiểm sát

Trong đó, hệ thống cơ quan xét xử là loại cơ quan có chức năng đặc thù của bộ máy nhà nước Tính đặc thù của cơ quan này thể hiện ở chổ chúng trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước, chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực nhà nước nhưng hoạt động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Trang 16

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

11

Ở nước ta, hệ thống cơ quan xét xử gồm có: hệ thống Tòa án nhân dân (Tòa án nhân dân tối cao, cấp tỉnh, cấp huyện), hệ thống Tòa án quân sự (Tòa án quân sự Trung ương, Tòa án quân khu, Tòa án khu vực) và các Tòa án khác do luật qui định Đứng đầu tòa án nhân dân mỗi cấp là Chánh án Tòa án nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tich nước, có nhiệm kỳ là 5 năm theo nhiệm kỳ của Quốc hội

Trong quá trình tổ chức và hoạt động, Tòa án nhân dân các cấp phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan tổ chức cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm, Tòa án nhân dân xét xử công khai Xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được đảm bảo

1.3.1 Vị trí pháp lý của Tòa án nhân dân

Trong bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan như: cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát, chủ tịch nước, cơ quan xét xử là cơ quan đứng ở vị trí thứ ba trong bộ máy nhà nước

Theo khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Hiến pháp đã xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa

án trong bộ máy nhà nước, Tòa án là cơ quan nắm giữ quyền tư pháp, một trong ba nhánh quyền quan trọng của nước ta Phần nào cho thấy được vị trí pháp lý quan trọng của Tòa án trong bộ máy nhà nước

Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 thì “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Nguyên tắc độc lập trong xét xử của Tòa án được nhấn mạnh và nâng lên ở tầm hiến định Từ quy định trên cho thấy Tòa án khi xét xử phải hoàn toàn độc lập chỉ tuân theo pháp luật Nguyên tắc độc lập

có thể được thể hiện như điểm sau:

Thứ nhất, Thẩm phán và Hội thẩm cùng làm việc với nhau tạo thành một thể thống nhất đó là Hội đồng xét xử, các thành viên trong Hội đồng xét xử phối hợp với nhau tạo thành một bản án trên cở sở biểu quyết theo đa số Tuy nhiên, khi xét xử thì

Trang 17

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

12

Thẩm phán là người nắm giữ phần lý, còn Hội thẩm là người nắm giữ phần tình, những con người này có những suy nghĩ, nhận định độc lập với nhau, để đưa ra những phán quyết hợp tình, hợp lý Vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm phải độc lập với nhau, để tạo được sự công bằng trong xét xử

Thứ hai, Tòa án độc lập với các cơ quan khác được thể hiện ở chổ “nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án” Trong bộ máy nhà nước ta, thì quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng mỗi cơ quan nhà nước lại có

sự phân công một cách rõ ràng Mỗi cơ quan đều có một chức năng, nhiệm vụ riêng,

và mối liên hệ giữa các cơ quan có sự phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, nhằm thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được tốt hơn, hiệu quả hơn Yêu cầu phối hợp ở đây không có nghĩa là các cơ quan khác có quyền tác động lên hoạt động xét xử của Tòa án, mà là mỗi cơ quan phải thực hiện đúng và tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp với nhau trong quá trình hoạt động, nhằm giúp Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử của mình

Đối với cơ quan Đảng, thì về nguyên tắc Tòa án phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, nhưng nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, nên mọi hoạt động của Đảng cũng phải tuân theo pháp luật, nên hoạt động xét xử của Tòa án chỉ tuân theo pháp luật, có nghĩa là Tòa án phải độc lập với các cơ quan khác

Bên cạnh đó, Tòa án còn phải độc lập với cơ quan như Viện kiểm sát, cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Mặc dù, hoạt động xét xử của Tòa

án dựa trên hồ sơ, chứng cứ của cơ quan điều tra, cáo trạng của Viện kiểm sát, nhưng Tòa án phải xem xét lại hồ sơ, đánh giá cáo trạng và có những nhận định riêng của mình, mà ra những phán quyết một cách độc lập Ngoài ra, Tòa án còn là trọng tài giữa bên buộc tội là Viện kiểm sát và bên gỡ tội là luật sư, để đưa ra những pháp quyết công minh, đúng người, đúng tội

Thứ ba, về mặt cơ cấu tổ chức, thì Tòa án địa phương phải chịu sự quản lý của Tòa án nhân dân tối cao, nhưng về mặt xét xử, thì Tòa án cấp dưới phải độc lập hoàn toàn với Tòa án cấp trên Mặc dù, Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử, Tòa án cấp dưới sẽ dựa vào những hướng dẫn đó mà vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án được chính xác, thống nhất hơn, có nghĩa là Tòa án nhân dân tối cao chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng pháp luật được thống nhât, chứ không có nghĩa là can thiệp vào hoạt động xét xử của nhưng đối với từng vụ án cụ thể thì Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật và diễn biến tại phiên tòa để ra phán xét

Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013: "Tòa án nhân dân là cơ

Trang 18

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

13

quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" Như vậy, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử Ngoài ra, còn có các quy định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về các nguyên tắc trong hoạt động xét xử như: xét xử có hội thẩm tham gia; nguyên tắc xét xử công khai; xét xử tập thể; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được tiếp tục ghi nhận và phát triển ở mức cao hơn, chính xác hơn Ngoài ra, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử giúp cho việc xét xử toàn diện, khách quan, bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được quy định trong Hiến pháp, nguyên tắc này đã được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng tư pháp Có thể thấy được, Hiến pháp tạo ra vị thế mới, điều kiện mới cho sự phát triển của nền tư pháp, có nhiều quy định về xét xử, phần nào chú trọng đến hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm giúp cho Tòa án phát huy hết chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động xét xử Đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được hiệu quả, đúng đắn, khách quan, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, hạn chế thấp nhất các trường hợp oan sai trong hoạt động xét xử của Tòa án, càng khẳng định được vị trí của Tòa án ngày càng được nâng cao trong bộ máy nhà nước

Hiến pháp đã khẳng định Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp Quyền tư pháp thì ngoài quyền xét xử thì còn có các quyền khác như quyền kiểm soát giữa các cơ quan khác trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Quyền kiểm soát ở đây được hiểu là mỗi cơ quan trong việc thực thi quyền lực nhà nước đều phải chịu sự kiểm soát lẫn nhau bằng các quyền cụ thể do pháp luật quy định Đồng thời mỗi cơ quan đều có trách nhiệm thực hiện đúng phạm vi quyền lực của mình, không xâm lấn, không lạm quyền Tuy nhiên, sự phân công, phối hợp, kiểm soát đặt trong nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước Như vậy, ngoài chức năng xét xử thì Tòa án còn thực hiện chức năng kiểm soát các cơ quan khác trong phạm vi quyền lực của mình nhằm bảo đảm cho quyền lực của nhà nước là thống nhất và bảo đảm việc thực hiện các quyền giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp

Từ những phân tích trên cho thấy được vị trí quan trọng của Tòa án trong bộ máy nhà, là cơ quan nắm giữ quyền tư pháp, một trong ba quyền quan trọng trong bộ máy nhà nước Trong hoạt động của mình thì Tòa án lại có một vị trí rất đặc biệt là độc lập hoàn toàn với các cơ quan khác, được quyền kiểm soát các cơ quan khác, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, những cơ quan khác cũng được quyền kiểm soát hoạt động của Tòa án nhưng không được can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án Không chỉ như thế, Tòa án còn độc lập ngay trong chính cơ cấu tổ chức của

Trang 19

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

14

mình, độc lập ngay trong Hội đồng xét xử Ngoài ra, trong lòng của mỗi người dân, Tòa án cũng chiếm một vị trí quan trọng là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, là chổ dựa tinh thần cho người dân về lẽ phải, về công bằng

1.3.2 Nhiệm vụ, chức năng của Tòa án nhân dân

1.3.2.1 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân

Theo khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ của Tòa án nhân dân Đó là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân Như vậy, nhiệm vụ chính của Tòa án là bảo vệ công bằng, lẽ phải trong xã hội Bằng chức năng xét xử của mình, Tòa án đã đưa ra những phán quyết đúng người, đúng tội giải quyết nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả những tranh chấp phát sinh trong xã hội, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, một khi quyền lợi của người dân được đảm bảo, thì sẽ dẫn đến đời sống của người dân được ổn định, đời sống xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh đó, thông qua hoạt động xét xử của mình, điển hình là hoạt động xét

xử tại tòa hay xét xử lưu động, Tòa án đã góp phần phát huy tác dụng giáo dục pháp luật cho người dân, giúp họ hiểu và nhận thức pháp luật một cách đúng đắn nhất Từ

đó, hướng cho họ ý thức sống và làm việc theo pháp luật, nâng cao được ý thức pháp luật trong nhân dân Khi đó, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đảm bảo tốt hơn, Từ đó, có sự tác động ngược lại, làm phát huy hiệu quả tuyệt đối nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án

1.3.2.2 Chức năng của Tòa án nhân dân

Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013: “Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, và theo quy định tại Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002: “Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính

và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật ”

Vậy, qua những quy định của pháp luật hiện hành thì Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, Tòa án xét xử trên hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội như dân

sự, hình sự, hành chính,v.v cho thấy được phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án là rất rộng

Trong nhân dân, Tòa án được xem là chổ dựa tinh thần về công bằng lẻ phải,

Trang 20

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

15

nên một khi có tranh chấp phát sinh thì mọi người thường tìm đến Tòa án, để tìm lại sự công bằng cho mình Chính vì thế, mà Tòa án là nơi thường xuyên tiếp xúc với những mâu thuẫn xã hội nhiều nhất Trước nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, Tòa án phải tiến hành giải quyết các vụ việc này thông qua chức năng xét xử của mình Tòa án tiếp nhận thông tin, từ những vụ việc trên, tiến hành thu thập chứng cứ.v.v để xác minh sự thật của vụ việc và căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành, đưa ra những hướng giải quyết công bằng, hợp tình, hợp

lý Nhằm hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ công lý của mình Đó là, cách mà Tòa án phải thường xuyên thực hiện để duy trùy công đạo trong nhân dân Tư đó, có thể thấy được Tòa án đã thực hiện chức năng xét xử của mình như thế nào

Bên cạnh đó, Tòa án thông qua hoạt động xét xử của mình mà phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm phát huy nhiệm vụ bảo vệ pháp luật của Tòa án

1.4 Các mô hình giải thích pháp luật trên thế giới

Yếu tố có tính quyết định nội dung hoạt động giải thích pháp luật là chủ thể giải thích Vì thế có thể lấy tên chủ thể giải thích pháp luật để gọi tên những mô hình giải thích pháp luật cơ bản trên thế giới

1.4.1 Mô hình Tòa án giải thích pháp luật

Đây cũng là mô hình khá phổ biến trên thế giới, điển hình nhất là ở Hoa Kỳ, Anh Theo mô hình này, chủ thể giải thích pháp luật thuộc về Tòa án Thẩm quyền của Tòa án trong giải thích pháp luật được ghi nhận trong những văn bản pháp luật quan trọng của quốc gia hoặc cũng có thể không có quy định pháp luật nào ghi nhận rõ về thẩm quyền này, nhưng trong thực tế, Tòa án được coi là chủ thể hiển nhiên của hoạt động giải thích pháp luật Ở Hoa Kỳ và các nước điển hình của mô hình này, tất cả các Tòa án đều có quyền giải thích pháp luật, đây là việc làm thường xuyên, tất yếu của việc áp dụng pháp luật trong quá trình Tòa án thực hiện chức năng xét xử 13 Các quốc gia đề cao án lệ chính là các quốc gia gần như chỉ giao trọng trách giải thích pháp luật cho Tòa án Họ quan niệm “chỉ có Tòa án mới có chức năng phán xét các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội”, quyền tư pháp là quyền được “nói ra luật” 14 và các Tòa án là người phân xử ý nghĩa của luật, là người làm dễ hiểu luật

Trang 21

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

16

Theo mô hình này đối tượng của giải thích pháp luật nhìn chung không bị hạn chế, có thể là bất cứ hình thức pháp luật nào, từ hiến pháp các đạo luật, các văn bản dưới luật và các hình thức khác của pháp luật

Theo mô hình này, hiệu lực của sản phẩm giải thích pháp luật của các Tòa án có giá trị đối với những vụ việc, tình huống cụ thể, cũng có giá trị áp dụng đối với những trường hợp khác nếu như giải thích trong bản án đó trở thành án lệ, được sử dụng trong quá trình xét xử về sau

Theo mô hình này, quy trình giải thích pháp luật về cơ bản hòa trộn vào quy trình xét xử, hình thức thể hiện của sản phẩm giải thích nằm trong nội dung các bản

án, quyết định của Tòa án Vì cấu thành của một phán quyết tư pháp bên cạnh các phần như: thông tin cơ bản, dữ kiện, kết luận, phần lý lẽ Phần lý lẽ chứa đựng các lý

lẽ, lập luận, các cách giải thích pháp luật, các cách giải thích về phán quyết, đây là phần trung tâm của bản án Phần lý lẽ của bản án có thể dựa trên nhiều nguồn khác nhau: một là, sự giống nhau của các dữ kiện đối với phán quyết trước, hai là, các ý kiến giải thích và tranh luận của các thẩm phán từng được lưu lại bằng văn bản

Tòa án Anh từ trước tới nay thường công bố quan điểm của các thẩm phán trong một phiên tòa Tòa án tối cao Hoa Kỳ áp dụng phương thức là, một trong số các thẩm phán sẽ viết ra ý kiến tổng hợp của tất cả các thẩm phán thành văn bản Toàn văn các ý kiến này được xuất bản để mọi người ở Hoa Kỳ hay ở trên toàn thế giới có thể xem xét lại ngay những lập luận mà theo đó các phán quyết quan trọng được đưa ra Điều này có tác động lớn đến các Thẩm phán, đến trách nhiệm của họ đối với các phán quyết, các quyết định giải thích pháp luật của họ

Những ưu điểm của mô hình này:

Thứ nhất, từ cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực theo học thuyết “tam quyền phân lập” Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở các quốc gia được tổ

chức và hoạt động trong thế kiềm chế, đối trọng nhau Đây là điều kiện lý tưởng để các Tòa án phát huy thế mạnh của họ Tòa án được trao thẩm quyền giải thích pháp luật chính là cách tốt nhất để hạn chế việc lạm quyền, là cơ sở để tạo nên sự cân bằng, đối trọng về quyền lực đối với hai hệ thống cơ quan quyền lực còn lại 15

Thứ hai, từ truyền thống sử dụng án lệ Án lệ là những phán quyết, kết luận của

Tòa án trong khi giải quyết những vụ việc cụ thể, được thừa nhận để làm khuôn mẫu cho việc giải quyết các vụ việc tương tự về sau Do đó các Thẩm phán của các quốc gia theo mô hình Tòa án giải thích khi giải quyết một vụ việc cụ thể phải đối mặt với

2014, tr.64

Trang 22

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

Thứ ba, Hiến pháp là đạo luật gốc, nên cần phải được bảo vệ từng câu từng chữ

của mỗi quy phạm, thì việc giao cho Tòa án giải thích hiến pháp và các đạo luật khác cũng là điều dễ hiểu Do đó, khi giải thích hiến pháp, hay để tuyên bố một đạo luật nào

đó là vi hiến, không có giá trị áp dụng, các Thẩm phán phải đặc biệt chú trọng trong việc phân tích câu chữ hiến pháp, phân tích các bối cảnh xã hội để xác minh độ tương thích và độ phù hợp của các đạo luật với hiến pháp Đây cũng là yếu tố quan trọng bắt buộc các Thẩm phán, các Tòa án phải có năng lực và kỹ năng thực sự trong giải thích pháp luật.17

Mô hình Tòa án giải thích pháp luật là mô hình hết sức coi trọng hình thức giải thích pháp luật mang tính vụ việc

1.4.2 Mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật

Mô hình này tồn tại điển hình ở các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và các nước Liên Xô (cũ), Canada, Cuba, Trung Quốc,Việt Nam, v.v

Theo mô hình này, chủ thể giải thích pháp luật là các cơ quan lập pháp như Nghị viện, Hội đồng Nhà nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội và thường được ghi nhận chính thức trong các văn bản pháp luật quan trọng của quốc gia như: Hiến pháp và các đạo luật cơ bản và thẩm quyền của các cơ quan này thường rất lớn

Quyền giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp thường được Hiến pháp ghi nhận như một quyền độc lập, nhưng trong thực tế, nhiều khi nhiệm vụ giải thích pháp luật lại thiên về việc “lập pháp bổ sung” Vì cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật thường đảm nhiệm nhiều hoạt động khác theo thẩm quyền ghi nhận trong hiến pháp và luật bên cạnh chức năng giải thích pháp luật Nên việc giải thích pháp luật chưa được chú trọng mà chỉ thường là quy định bổ sung thêm chứ không phải tập trung làm rõ ý nghĩa của quy phạm pháp luật Còn các chủ thể khác như cơ quan Tư pháp, cơ quan Hành pháp được cho rằng đó chỉ là cơ quan áp dụng pháp luật, nên công việc giải thích pháp luật không được trao chính thức

Trang 23

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

18

Theo mô hình này, đối tượng của giải thích pháp luật chủ yếu là quy phạm pháp luật, số lượng cũng hạn chế, thường gồm Hiến pháp, luật và một số văn bản quan trọng như văn bản pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc nghị định của Chính phủ

Chủ thể có quyền yêu cầu giải thích pháp luật trong mô hình này cũng hạn chế,

mà thường là các chủ thể có quyền trình các dự án luật, như ở Việt Nam chủ thể yêu cầu giải thích pháp luật là: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 15 Nghị quyết số 26/2004/NQ-QH11 ngày 15/6/2004 về việc ban hành quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Theo mô hình này, quy trình giải thích pháp luật được quy định khá cụ thể, chi tiết Các bước của quy trình giải thích pháp luật gần giống như quy trình xây dựng pháp luật Khi tiếp nhận được yêu cầu, một cơ quan nhất định sẽ được ủy quyền soạn thảo giải thích pháp luật, sau đó chủ thể có thẩm quyền họp, thảo luận, thông qua và công bố công khai trên công báo

Sản phẩm giải thích ở mô hình này thường không có phần lý lẽ, lập luận pháp

luật Sản phẩm giải thích đôi khi khó phân tách với nội dung hướng dẫn, bổ sung, quy định chi tiết để thực hiện pháp luật

Mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật, sở dĩ có các đặc điểm trên vì các

quốc gia theo mô hình này, về tổ chức nhà nước, cơ bản theo nguyên tắc “tập quyền”

Quyền lực là tập trung, thống nhất, không hoặc ít có sự kiềm chế, đối trọng Quốc hội (hoặc Nghị viện) là cơ quan quyền lực cao nhất, do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí

và nguyện vọng của nhân dân Quốc hội là cơ quan lập pháp và mặc nhiên, cơ quan lập pháp được xem là mới đủ khả năng nắm bắt và lý giải được chuẩn xác ý chí của pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành Trong mô hình này, Tòa án không có thẩm quyền trong việc giải thích pháp luật

Tuy nhiên, đã từ lâu các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa truyền thống không còn giữ nguyên mô hình giải thích pháp luật mà chủ thể là cơ quan lập pháp, họ đã và đang trao quyền chính thức giải thích pháp luật cho Tòa án thực hiện chức năng này hoặc ủy quyền nhiều hơn cho Tòa án thực hiện chức năng này 18

Mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật là mô hình ít giải thích pháp luật mang tính vụ việc, luôn tăng cường hình thức giải thích mang tính quy phạm

Trang 24

GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Đỗ Thị Kim Khuyên

19

1.4.3 Mô hình cả ba cơ quan quyền lực giải thích pháp luật

Chủ thể giải thích pháp luật theo mô hình này có thể là cơ quan thuộc cả ba nhánh quyền lực của Nhà nước, gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp

Mô hình này, điển hình là Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia khác Ở Nhật Bản, gần như quyền lực giải thích pháp luật được trao cho ngành Hành pháp Tuy nhiên, Tòa án cũng đã tích cực hơn trong việc giải thích pháp luật Giai đoạn kinh tế trùy truệ, kéo dài tại Nhật Bản trong thập niên cuối của thế kỷ XX được cho là do việc thực thi quyền lực quá mức của ngành Hành pháp Để đối phó các nhà lãnh đạo chính trị đã quyết định chuyển một số quyền lực của ngành Hành pháp sang cho Tòa án

Ở Hàn Quốc, Tòa Hiến pháp có thẩm quyền tối cao giải thích Hiến pháp và các văn bản luật khác Tuy nhiên, cơ quan Lập pháp và Hành pháp cũng được ủy quyền giải thích Hiến pháp và các văn bản luật 19

Đối với nhóm chủ thể giải thích pháp luật thuộc cơ quan Hành pháp, Lập pháp, hoạt động giải thích pháp luật của họ thường là kiêm nhiệm, giải thích theo ủy quyền của chủ thể khác, trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép

Chủ thể thuộc cơ quan lập pháp giải thích pháp luật bằng bản thân văn bản luật, nó: giải thích pháp luật của cấp cao hơn vì rằng chúng cần phải được đặt trong phạm vi ý nghĩa của luật cấp cao hơn 20

Điểm đáng lưu ý của mô hình này là, mặc dù nhiều chủ thể cùng có quyền giải thích pháp luật, nhưng Tòa án ngày có vai trò quan trọng Giải thích pháp luật của các

cơ quan khác đều được Tòa án xem xét lại cho từng vụ việc cụ thể, nếu các giải thích

là đúng thẩm quyền, hợp lý, giải thích đó sẽ được Tòa án thừa nhận, nếu không sẽ bị hủy bỏ Như vậy, giải thích pháp luật của các chủ thể khác đều phải chịu sự xem xét lại của Tòa án

1.4.4 Mô hình giải thích pháp luật ở Việt nam hiện nay

Mô hình giải thích pháp luật ở Việt Nam là mô hình cơ quan Lập pháp giải thích pháp luật Tại Điều 74 Hiến pháp năm 2013 quy định chủ thể giải thích pháp luật

là Ủy ban thường vụ Quốc hội

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định, chủ thể yêu cầu giải thích pháp luật là: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc,

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm