Tìm hiểu nhận thức chung về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự chúng ta sẽ thấy rõ vị trí, thẩm quyền và phạm vi tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát, từ đó ta
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: S120045
Lớp: Văn Bằng 2 - Đồng Tháp
Cần Thơ tháng 11/2014
Trang 2
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VỤ KIỆN DÂN SỰ 3
1.1 Một số khái niệm liên quan 3
1.1.1 Khái niệm về vụ kiện dân sự 3
1.1.2 Khái niệm Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự 4
1.2 Vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự (giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2004) 5
1.2.1 Vai trò của Viện công tố (tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân) trong vụ kiện dân sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 5
1.2.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1981 6
1.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1988 7
1.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2002 8
1.2.5 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự theo luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 8
1.2.6 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 10
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự theo pháp luật hiện hành 12
1.3.1 Chức năng của Viện kiểm sát 12
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự 14
1.3.3 Vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự 16
Trang 5CHƯƠNG 2:PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM
SÁT TRONG VỤ KIỆN DÂN SỰ 20
2.1 Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự theo thủ tục sơ thẩm 20
2.1.1 Giai đoạn trước phiên tòa sơ thẩm 20
2.1.1.1 Xác định vụ kiện dân sự Viện kiểm sát tham gia 20
2.1.1.2 Phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa 22
2.1.1.3 Nghiên cứu hồ sơ vụ kiện dân sự 22
2.1.2 Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm 23
2.1.2.1 Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng 23
2.1.2.2 Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng 25
2.1.2.3 Viện kiểm sát tham gia hỏi 26
2.1.2.4 Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm 27
2.1.2.5 Viện kiểm sát kiểm sát việc tuyên án 28
2.1.3 Giai đoạn sau phiên tòa sơ thẩm 29
2.2 Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự theo thủ tục phúc thẩm 30
2.2.1 Kháng nghị phúc thẩm 30
2.2.2 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát trước khi mở phiên tòa phúc thẩm 33
2.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử phúc thẩm 34
2.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát sau phiên tòa xét xử phúc thẩm 37
2.3 Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 38
2.3.1 Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 38
2.3.1.1.Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 39
2.3.1.2.Thời hạn kháng nghị, thay đổi, bổ sung, và rút kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 39
2.3.1.3 Nội dung, hình thức và gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 40
2.3.1.4 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 41
Trang 62.3.3 Vai trò của Viện kiểm sát tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 45 2.3.4 Vai trò của Viện kiểm sát sau khi mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái
thẩm 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG VỤ KIỆN
DÂN SỰ 47 3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động của viện kiểm sát nhân dân trong những
năm qua 47
3.1.1 Thành tựu đạt được của ngành kiểm sát trong những năm qua 47 3.1.2 Một số hạn chế chung của ngành kiểm sát trong những năm qua và
đề xuất hoàn thiện pháp luật 49
3.1.2.1 Một số hạn chế chung của ngành kiểm sát trong những năm qua 49
3.1.2.2 Đề xuất một số biện pháp chung 50
3.2 Những vướng mắc, bất cập về vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện
dân sự 51
3.2.1 Những vướng mắc ở giai đoạn sơ thẩm 51
3.2.1.1 Về kiểm sát trả lại đơn khởi kiện 51 3.2.1.2 Về việc kiểm sát Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án cho Viện kiểm
sát 52
3.2.1.3 Về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp 53 3.2.1.4 Sự không thống nhất về quy định nội dung bài phát biểu của Viện
kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm 54
3.2.2 Những vướng mắc ở giai đoạn phúc thẩm 56
3.2.2.1 Về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp 56 3.2.2.2 Về thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi bắt đầu phiên tòa phúc
thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm 56
3.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện
dân sự 56
3.3.1 Một số đề xuất ở giai đoạn sơ thẩm 56
3.3.1.1 Về kiểm sát trả lại đơn khởi kiện 56
Trang 73.3.1.3 Bổ sung chế tài khi Tòa án không chấp hành văn bản kiến nghị 58
3.3.1.4 Về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp 59
3.3.1.5 Về bài phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm 59
3.3.2 Một số đề xuất ở giai đoạn phúc thẩm 60
3.3.2.1 Về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp 60
3.3.2.2 Về thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm 60
3.3.2.3 Hiểu đúng về sự tham gia của Viện kiểm sát trong phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm 61
KẾT LUẬN 63
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử chế định Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam trong tố tụng dân sự nói chung và trong vụ kiện dân sự nói riêng, kể từ khi thành lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tính đến nay đã trãi qua gần 70 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển
và thực hiện được nhiều nội dung cải cách tư pháp quan trọng Bước sang thế kỷ XXI, tiến trình cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam trong lĩnh vực dân sự đã phát triển ngày càng sâu rộng Sau khi Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 ra đời, chức năng, phạm vi và thẩm quyền của Viện kiểm sát đã có những thay đổi căn bản so với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm
1989 Viện kiểm sát thôi không thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự, kiểm sát việc điều tra lập hồ sơ của Toà án, không có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Phạm vi tham gia phiên tòa xét xử dân sự của Viện kiểm sát cũng bị thu hẹp một cách đáng kể, điều này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trong điều kiện thực tiễn của Việt nam, trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, chưa có điều kiện để mời luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình
và đội ngũ luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên toà, hệ thống pháp luật còn bất cập, thiếu ổn định, quản lý hành chính nhà nước còn nhiều sơ hở, hoạt động bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp còn bất cập so với yêu cầu cải cách tư pháp.Thực tế, có nhiều vụ kiện dân sự giải quyết chưa đảm bảo tính khách quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài, khiếu kiện đông người làm mất ổn định trật tự xã hội nhưng Viện kiểm sát không kịp thời phát hiện để kháng nghị Trước thực trạng nêu trên, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XII ngày 29/3/2011, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự nói chung và trong vụ kiện dân sự nói riêng Với việc ban hành Bộ luật Tố tụng Dân
sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 chức năng kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự của Viện kiểm sát nhân dân có sự điều chỉnh Thẩm quyền, phạm vi tham gia tố tụng của Viện kiểm sát được xác định cụ thể và rộng hơn so với trước, đặc biệt, mở rộng phạm vi tham gia các phiên tòa xét xử dân sự sơ thẩm, phúc thẩm
Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự nói chung và trong vụ kiện dân sự nói riêng, từ đó đánh giá thực trạng về hoạt động của
Trang 9Viện kiểm sát nhân dân trong thực tiễn để tìm ra những ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế cũng như những nguyên nhân dẫn đến hạn chế Trên cơ sở đó, nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn vai trò của Viện kiểm sát
trong vụ kiện dân sự, nên người viết đã chọn đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát
trong vụ kiện dân sự”
2 Phạm vi nghiên cứu
Viện kiểm sát nhân dân là một trong các cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà nước ta Do là một cơ quan quan trọng nên vai trò của Viện kiểm sát nhân dân rất rộng bao gồm các lĩnh vực: tố tụng hình sự, tố tụng dân sự…Trong lĩnh vực tố tụng dân sự Viện kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự Trong phạm vi luận văn này người viết chỉ nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự
3 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên những quy định của các văn bản pháp luật hiện hành , trên cơ sở kế
thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước, cùng với những báo cáo tổng hợp từ thực tiễn những thành tựu đạt được và những hạn chế tồn tại, từ đó người viết mong muốn đánh giá rõ thực trạng về vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự Qua đó phân tích rõ những ưu điểm, khuyết điểm, để mạnh dạn đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu một cách có hiệu quả cần có phương pháp nghiên cứu khoa học và phù hợp Trong luận văn này người viết vận dụng chủ yếu là phương pháp phân tích luật viết, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn để thực hiện việc nghiên cứu đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài được người viết nghiên cứu và sắp xếp như sau: bên cạnh phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung người viết trình bày như sau:
- Chương 1: Nhận thức chung về vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân
Trang 10CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VỤ KIỆN DÂN SỰ
Dân sự là việc của đôi bên nhưng việc tự định đoạt của đôi bên hoặc khi đôi bên không tự thỏa thuận được mà phải do tòa án giải quyết thì phải đúng với đường lối, chính sách và pháp luật, phù hợp với phong tục, truyền thống và đạo đức xã hội
Vì thế, trong quá trình giải quyết các vụ kiện dân sự, sự tham gia của Viện kiểm sát
là tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, công bằng đúng trình tự thủ tục mà pháp luật về tố tụng dân sự đã quy định, nhằm kịp thời phát hiện, xử lý
vi phạm trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự Tìm hiểu nhận thức chung về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự chúng ta sẽ thấy
rõ vị trí, thẩm quyền và phạm vi tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát, từ đó ta
có thể thấy rõ vai trò của Viện kiểm sát trong việc tham gia các phiên tòa giải quyết các vụ kiện dân sự, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giải quyết các vụ kiện dân sự của Tòa án
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về vụ kiện dân sự
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, Nhà nước bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể
đó được khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ (Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi) Các Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật Trong phạm vi chức năng của mình Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác (Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002) Do vậy, khi
có chủ thể khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý vụ án và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Trang 11Trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự gọi chung các vụ việc dân sự là vụ án dân sự Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi tắt là BLTTDS sửa đổi)
đã có sự phân biệt rõ vụ án dân sự và việc dân sự Điều 1 BLTTDS sửa đổi quy định: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là
vụ việc dân sự) tại Toà án ” Để dễ phân biệt và tránh sự nhầm lẫn, người viết sẽ
sử dụng thuật ngữ “Vụ kiện dân sự” để chỉ vụ án dân sự trong BLTTDS sửa đổi
Vụ kiện dân sự là vụ kiện mà giữa các bên đương sự trong vụ việc đó có những mâu thuẫn bất hòa về quyền và nghĩa vụ dân sự mà bản thân họ không thể tự giải quyết được nên họ yêu cầu Tòa án giải quyết1
Từ định nghĩa trên theo người viết vụ kiện dân sự là các tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động giữa các bên đương sự mà bản thân họ không thể tự giải quyết được nên họ yêu cầu Tòa án giải quyết Đặc trưng của vụ kiện dân sự bao giờ cũng có tranh chấp giữa hai bên, trong đó có một bên yêu cầu tòa án buộc bên kia phải thực hiện một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động
1.1.2 Khái niệm Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
Hiện nay không có khái niệm cụ thể về Viện kiểm sát, nhưng theo quy định của các Điều 20, 21, 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi tắt là Luật TCVKSND) năm 2002 và Điều 21 BLTTDS sửa đổi, thì Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động là một trong những công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi tắt là VKSND), sử dụng các quyền năng pháp lý được pháp luật quy định, để kiểm sát việc tuân theo pháp luật
1
Trương Thanh Hùng, Giáo trình Luật tố tụng dân sự năm 2008 (cập nhật, bổ sung năm 2012), Khoa luật
Trường Đại học Cần Thơ, tr.02
Trang 12của Tòa án nhân dân, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự có căn cứ, kịp thời, đúng pháp luật
Để Viện kiểm sát có thể thực hiện tốt chức năng kiểm sát của mình đối với hoạt động giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự thì hệ thống Viện kiểm sát cũng được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ như tổ chức hệ thống Tòa án
và hệ thống cơ quan thi hành án dân sự Theo đó, hệ thống tổ chức Viện kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao; các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các Viện kiểm sát quân sự (Điều 30 Luật tổ chức VKSND) Trong đó, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thi hành án dân
Trong thời gian từ năm 1946 đến năm 1958, nhà nước ta không thành lập cơ quan thi hành quyền công tố riêng Công tố viện lúc đó nằm trong hệ thống Tòa án
Ở Tòa án sơ cấp không có tổ chức công tố riêng Ở tòa án đệ nhị cấp có một biện lý
và các phó biện lý Ở Tòa thượng thẩm gồm có một chưởng lý, một hay nhiều phó chưởng lý và những tham lý Tất cả mọi hoạt động của Công tố viện thuộc thẩm quyền điều khiển và kiểm soát của chưởng lý trong quản hạt Ở tòa đệ nhị cấp, biện
lý chỉ đạo mọi hoạt động công tố, chỉ đạo, giám sát hoạt động tư pháp cảnh sát (các điều 15, 49, 51 và 52 Sắc lệnh số 13 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ
Trang 13cộng hòa ngày 24/01/1946; các điều 21 và 22 Sắc lệnh số 51 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 17/4/1946)2
Năm 1950, nước ta diễn ra cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất Trong đợt cải cách tư pháp này, thủ tục tố tụng dân sự đã có một số thay đổi cho phép Công tố viện được tham dự nhiều hơn vào các hoạt động giải quyết các vụ án dân sự Theo
đó Sắc lệnh số 85/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 22/5/1950 quy định Viện công tố có quyền kháng cáo về việc hộ cũng như việc hình; nếu Biện lý xét thấy việc hòa giải phạm đến trật tự chung thì có quyền kháng cáo tới Tòa án có thẩm quyền; Ngoài ra, thẩm phán thi hành các bản án dân sự dưới
sự kiểm soát của Công tố viện (Điều 15, 10, 19 Sắc lệnh số 85-SL)
Ngày 29/4/1958 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa họp lần thứ 8 đã quyết định lập Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án, lập Viện Công tố Trung ương và hệ thống Công tố, cả 2 tách khỏi Bộ tư pháp Viện Công tố Trung ương có quyền hạn và trách nhiệm ngang một bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau Nghị quyết của Quốc hội, ngày 01/7/1959, Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố Tiếp sau đó, ngày 06/8/1959 Viện trưởng Viện Công tố Trung ương ban hành Thông tư số 601-TCCB giải thích và thi hành Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 của Thủ tướng chính phủ
Theo các văn bản trên, nhiệm vụ cụ thể của Viện Công tố trong vụ kiện dân
sự đã được xác định là: Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của cá Tòa án; giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án dân sự; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của công dân So với các quy định trước đây, thẩm quyền của Viện Công tố đã được mở rộng thêm một bước là giám sát hoạt động xét xử của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự Đây là thay đổi quan trọng đối với hoạt động của Viện Công tố, chuẩn bị cho sự ra đời ngay sau đó của Viện kiểm sát nhân dân với một chức năng bao trùm là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế - xã hội và tư pháp
1.2.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn
từ năm 1960 đến năm 1981
Ngày 31/12/1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp năm 1959, trong đó Điều 105 Hiến pháp quy định : “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
2
Khuất Văn Nga, Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Tư
pháp, Hà Nội 2008
Trang 14các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định.”
Theo quy định trên thì VKSND có một chức năng hoàn toàn khác hẳn với Viện công tố trước đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Từ Viện Công tố nay đã chuyển thành VKSND được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ương xuống địa phương và không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính ở địa phương Cụ thể hóa những nội dung Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi tắt là Luật TCVKSND) năm 1960 quy định VKSND: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án3
Quyền hạn và nhiệm vụ của VKSND trong vụ kiện dân sự được quy định cụ thể tại các Điều 17, 18, 19 Luật TCVKSND năm 1960 Đó là quyền khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích Nhà nước và của nhân dân; quyền kháng nghị những bản án của Tòa án chưa có hiệu lực hoặc đã
có hiệu lực pháp luật; quyền tham dự phiên họp của Ủy ban Thẩm phán và Hội đồng thẩm phán cùng cấp bàn về việc xét xử và áp dụng pháp luật; quyền kiểm sát việc chấp hành các bản án của Tòa án nhân dân
1.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn
từ năm 1981 đến năm 1988
Sau khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980 Vai trò của VKSND được tiếp tục khắng định trong Điều 138 Hiến pháp năm 1980: “Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình.”
Để cụ thể hóa những quy định về VKSND trong Hiến pháp năm 1980, Quốc hội đã thông qua Luật TCVKSND năm 1981 Tại các Điều 12, 13, 14, 15, 16 và 17 Luật TCVKSND năm 1981 quy định vai trò của VKSND như sau: khởi tố hoặc yêu
3
Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960
Trang 15cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân; tham gia tố tụng tại phiên tòa của Tòa án nhân dân cùng cấp; yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án dân sự của Tòa án; tham dự phiên họp của Ủy ban thẩm phán và Hội đồng Thẩm phán cùng cấp bàn về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử; kiểm sát việc thi hành bản án dân sự của Tòa án
1.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự giai đoạn
từ năm 1989 đến trước năm 2002
Ngày 22/8/1988, Luật sửa đổi, bổ sung Luật TCVKSND được Quốc hội thông qua, tiếp sau đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 được thông qua ngày 07/12/1989 Việc ra đời Luật sửa đổi, bổ sung Luật TCVKSND và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho các hoạt động tố tụng dân sự, đồng thời vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự nói chung và vụ kiện dân sự nói riêng được quy định rõ ràng và đầy đủ hơn Đặc biệt, cũng trong giai đoạn này, Luật TCVKSND năm 1992 được ban hành để cụ thể hóa những quy định về VKSND trong Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của giai đoạn đổi mới và cũng là Hiến pháp đầu tiên ghi nhận VKSND
có 2 chức năng: kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố, vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự nói chung và vụ kiện dân sự nói riêng được tiếp tục khẳng định một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn và đầy đủ hơn
Căn cứ theo Luật TCVKSND năm 1992, khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ kiện dân sự và những việc khác do pháp luật quy định, VKSND có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây4
- Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;
4
Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992
Trang 16- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
1.2.5 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ kiện dân sự theo luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
Cùng với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Luật TCVKSND được Quốc hội khóa X thông qua ngày 02/4/2002 tại kỳ họp thứ 11 Với sự ra đời của Luật TCVKSND năm 2002, đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử hơn 40 năm hình thành và phát triển của ngành kiểm sát đó là: VKSND không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế,
xã hội (kiểm sát chung) nữa mà tập trung vào hai nhiệm vụ lớn đó là thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Được xây dựng trong bối cảnh công cuộc cải cách tư pháp của đất nước đã
có những bước đi mạnh mẽ, Luật TCVKSND năm 2002 thể hiện những quan điểm,
tư tưởng về cải cách tư pháp trong các nghị quyết của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi về VKSND Theo quy định tại khoản 4 Điều
3 Luật TCVKSND năm 2002, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp trong lĩnh vực dân sự bằng công tác: Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân
sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
Luật TCVKSND năm 2002 đã tiếp tục khẳng định vị trí, chức năng, nhiệm
vụ của VKSND trong tố tụng dân sự, đề cao trách nhiệm của VKSND trong hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình tố tụng giải quyết các vụ kiện dân sự Đây là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của ngành kiểm sát, với việc quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật TCVKSND năm 2002 về thẩm quyền của VKSND được kiểm sát việc thụ lý vụ kiện của Tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND được thực hiện trong mọi giai đoạn của tố tụng dân sự, từ khi Tòa án thụ lý đơn kiện cho đến khi thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
để kiểm tra giám sát hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Tại
Khoản 3 Điều 21 Luật TCVKSND năm 2002 quy định VKSND phải: “Tham gia
các phiên Tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án” Điều đó có nghĩa là VKSND phải tham gia hết tất cả các phiên tòa xét
xử từ sơ thẩm, phúc thẩm, đến giám đốc thẩm và tái thẩm các vụ kiện dân sự Và cũng có nghĩa là nếu VKSND vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Việc quy định này, đã thể hiện lên quan điểm của nhà làm luật muốn nâng cao lên
Trang 17vai trò của VKSND trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự của Tòa
án
Đây cũng là lần đầu tiên vấn đề phạm vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự đã được quy định một cách thống nhất và rõ ràng trong Luật TCVKSND Theo quy định tại các Luật TCVKSND trước đây, các hoạt động cụ thể của VKSND trong lĩnh vực dân sự được quy định tại Chương kiểm sát xét xử Đã có sự nhầm lẫn giữa hai chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
và thực hành quyền công tố trong các hoạt động cụ thể của VKSND Chẳng hạn, có lúc có nhận thức cho rằng quyền khởi tố vụ án dân sự cũng là một quyền năng thực hành quyền công tố, nhân danh quyền lực công để đưa vụ án ra tòa Với các quy định mới trong Luật TCVKSND năm 2002, đặc biệt các chương đã được điều chỉnh lại theo nội dung mới: phạm vi thực hành quyền công tố chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự (Chương II, III), các chương sau của Luật TCVKSND năm 2002 không quy định thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố nữa Điều đó đã biểu hiện một cách rõ ràng, rành mạch nhận thức thống nhất là :
Quyền công tố của VKSND chỉ thực hiện trong tố tụng hình sự Điều đó cũng có
nghĩa là: theo quy định mới của Luật TCVKSND năm 2002, VKSND khi thực hiện
quyền hạn, nhiệm vụ trong tố tụng dân sự chỉ là thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp Do đó thay vì quy định mọi hoạt động
của VKSND trong chương Kiểm sát xét xử bao gồm cả hai lĩnh vực hình sự và dân
sự như cách quy định của các Luật TCVKSND trước đây, Luật TCVKSND năm
2002 đã mở rộng quy định thành một chương riêng (Chương IV): “Kiểm sát việc
giải quyết các vụ án dân sự…” Điều đó thể hiện quan điểm tăng cường chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản của Luật TCVKSND năm 2002 so với các Luật TCVKSND trước đây liên quan đến công tác kiểm sát dân sự của ngành kiểm sát5
xã hội của Đảng , tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết tranh chấp, ngày
15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI
5
Khuất Văn Nga, Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Tư
pháp, Hà Nội 2008
Trang 18đã thông qua BLTTDS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại
kỳ họp thứ 5 Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 Sự ra đời của BLTTDS có ý nghĩa nhiều mặt BLTTDS ra đời đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển các giao dịch về dân sự, kinh tế, lao động trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; trên nhiều phương diện, BLTTDS cũng đã thể hiện những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách
tư pháp thể hiện trong lĩnh vực tố tụng dân sự như: Cho phép áp dụng chung một loại thủ tục cho các loại vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động mà trước đây được áp dụng riêng rẽ với những khác biệt không nhỏ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền trách nhiệm và thời hạn tố tụng; BLTTDS cũng đã thể hiện đầy đủ hơn những đặc trưng cơ bản của ngành luật tố tụng dân sự mang tính phổ quát mà pháp luật hầu hết các nước đã ghi nhận như: Nguyên tắc quyền quyết định tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Tư tưởng đổi mới lớn nhất trong BLTTDS là ở những vấn đề nói lên quan điểm hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào các tranh chấp dân sự trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Mặc dù trong Chương II, những nguyên tắc cơ bản, tại Điều 21 vẫn quy định kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự như là một trong những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo hoạt động tố tụng, tuy nhiên, đối chiếu giữa các quy định trong BLTTDS với các quy định trong Luật TCVKSND năm 2002, chúng ta nhận thấy có những thay đổi sau đây:
Thứ nhất, VKSND các cấp không thực hiện quyền khởi tố vụ án như trước
đây; VKSND không tự mình xác minh, điều tra thu thập chứng cứ; trong trường hợp cần thu thập chứng cứ, Viện kiểm sát yêu cầu các bên tham gia vụ kiện cung cấp chứng cứ chứng minh để phục vụ cho việc tham gia phiện tòa hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát
Thứ hai, Viện kiểm sát không tham gia 100% các phiên tòa sơ thẩm xét xử
các vụ tranh chấp dân sự Đối với các phiên tòa phúc thẩm các vụ kiện dân sự, Viện kiểm sát cũng không tham gia 100% mà chỉ tham gia phiên tòa trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ kiện
đó6
; hoặc trong trường hợp sau phiên tòa sơ thẩm, đương sự có đơn kháng cáo với
lý do Tòa án thu thập chứng cứ không đầy đủ và không khách quan trước và trong phiên tòa sơ thẩm và chỉ tham gia trong trường hợp này khi đương sự khiếu nại về việc Tòa án thu thập chứng cứ
6
Khoản 2, Điều 264 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004
Trang 19Tuy BLTTDS có những quy định thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức kiểm sát của VKSND trong tố tụng dân sự nói chung và trong vụ kiện dân sự nói riêng, so với Luật TCVKSND năm 2002 nhưng có một điểm khác quan trọng mà các văn bản pháp quy trước đây chưa quy định, đó là khẳng định Viện kiểm sát là một trong các cơ quan tiến hành tố tụng, Viện trưởng và Kiểm sát viên
là người tiến hành tố tụng Xuất phát từ quy định Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành
tố tụng, BLTTDS quy định cụ thể , rõ ràng Tòa án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp các bản án, quyết định giải quyết các vụ kiện dân sự để Viện kiểm sát xem xét thực hiện quyền kháng nghị khi phát hiện có quy phạm pháp luật Tòa án phải gửi thông báo về việc thụ lý vụ án7
, phải gửi thông báo về việc kháng cáo8 cho Viện kiểm sát cùng cấp
Với những quy định như trên, BLTTDS đã khẳng định phương thức quan trọng nhất để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ kiện dân sự là kiểm sát các quyết định giải quyết và xử lý vụ kiện dân sự của Tòa án để góp phần bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự theo pháp luật hiện hành
1.3.1 Chức năng của Viện kiểm sát
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có quyền lập hiến, thực hiện quyền lập pháp và phân công quyền lực Nhà nước Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, Quốc hội chỉ trực tiếp thực hiện quyền giám sát của mình trong những phạm vi mà Quốc hội thấy cần thiết nhất, quan trọng nhất
Thực tế cho thấy, từ khi có Hiến pháp năm 1959 đến nay, Quốc hội không thể và không cần thiết phải tự mình trực tiếp giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước Quốc hội đã giao cho VKSND thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong phạm vi được Quốc hội giao cho (quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội từ năm 1960 đến năm 2002 và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp từ năm 2002 đến nay) Việc Quốc hội giao cho VKSND thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội trước đây và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay là xuất phát từ chỗ Viện kiểm sát do cơ quan lập pháp cao nhất của Nhà nước là Quốc
Trang 20hội lập ra, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất và độc lập so với các cơ quan Nhà nước khác VKSND là cơ quan không nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp và cơ quan xét xử Mặt khác, Quốc hội đã giao cho VKSND thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật như nêu ở trên, còn xuất phát từ nhu cầu và
sự đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, giữa các ngành, các cơ quan Nhà nước với nhau9
Việc xây dựng BLTTDS là thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện và qua thực tiễn công tác giải quyết vụ kiện dân sự gặp nhiều khó khăn nhất là từ phía các đương sự
và cơ quan Viện kiểm sát giám sát hoạt động tư pháp của Tòa án Do vậy, ngày 29/3/2011 Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nói chung, vụ kiện dân sự nói riêng được tiếp tục quy
định trong Điều 21 BLTTDS sửa đổi: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân
sự kịp thời, đúng pháp luật ”
Ngày 28/11/2013 Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 2013), theo đó chế định VKSND được quy định từ điều 107 đến điều 109 Hiến Pháp Hiến pháp năm 2013 đã có những nội dung mới quan trọng về chế định VKSND; Hiến pháp tiếp tục ghi nhận VKSND có chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời, bổ sung, làm rõ những nguyên tắc mới, tiến bộ của tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến hoạt động của VKSND, đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong Luật TCVKSND (sửa đổi) Do đó, sửa đổi Luật TCVKSND theo yêu cầu cải cách tư pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý đổi mới toàn diện
về hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, các nguyên tắc hoạt động, chuẩn hóa các chức danh tư pháp và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự giám sát bên trong và bên ngoài hệ thống, nhất là sự giám sát của các cơ quan dân cử
Dự thảo luật cụ thể hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, các quy định của Hiến pháp năm 2013, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý cho hoạt động của ngành KSND, tháo gỡ nhiều khó khăn của thực tiễn
9
Minh Đạo, Kiểm sát các hoạt động tư pháp- chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí
kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 10, năm 2012, tr 17-20
Trang 21Căn cứ vào Hiến pháp năm 2013, yêu cầu cải cách tư pháp, kế thừa các quy định hiện hành chức năng VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dự thảo 15-8 Luật TCVKSND sửa đổi đã làm rõ khái niệm, phạm vi, trách nhiệm, nội dung các thẩm quyền của VKSND khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Cụ thể tại Điều 4 Dự thảo 15-8 Luật TCVKSND sửa đổi quy định:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là các hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trong việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo về tư pháp và các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các hoạt động tư pháp khác tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong vụ kiện dân sự được quy định trong Hiến pháp, Luật TCVKSND, BLTTDS và các văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết các vụ kiện dân sự Từ quy định của Điều 21 BLTTDS sửa đổi, cũng như quy định của Điều 2 Luật TCVKSND năm 2002 về nhiệm vụ của toàn ngành Kiểm sát nhân dân10
và quy định của Điều 20 Luật TCVKSND năm 200211, có thể xác định nhiệm
vụ của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự là:
10
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được
xử lý theo pháp luật.
11
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh
tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời.
Trang 22- Bảo đảm việc giải quyết các vụ kiện dân sự ở Tòa án các cấp nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ, và kịp thời
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn sứ và đúng pháp luật
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời
Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định của BLTTTDS sửa đổi, ngày 08/10/2012 VKSND tối cao
đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu ban hành Thông tư liên tịch số 4/2012/TTLT ngày 01/8/2012, hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi về kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Ngày 08/10/2012 Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng ban hành quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Ban hành kèm theo Quyết định
số 567/QĐ-VKSTC ngày 8/10/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Khi kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ kiện dân
sự, Viện kiểm sát nhân dân có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây12:
- Kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ kiện dân sự; kiểm sát việc Tòa án thông báo trả lại đơn khởi kiện
- Tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTDS sửa đổi
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xem xét kiến nghị, đề nghị hoặc phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại Điều 310a, 310b BLTTDS sửa đổi
- Tại các phiên tòa Kiểm sát viên tham gia hỏi đương sự và những người tham gia tố tụng khác; phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; phát biểu quan điểm về việc giải quyết đối với bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTDS và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một
số quy định của BLTTDS về kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT)
12
Điều 4 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Ban hành kèm theo quyết định số 567/QĐ-VKSTC ngày 8/10/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Trang 23- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại các phiên tòa; kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ kiện dân sự của Tòa án nhằm phát hiện vi phạm để kháng nghị hoặc kiến nghị, yêu cầu thực hiện theo quy định của BLTTDS sửa đổi
- Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ kiện dân sự để xem
xét, quyết định việc kháng nghị
- Yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 94 BLTTDS để thực hiện thẩm quyền kháng nghị
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án
- Kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại Điều 310a BLTTDS
- Yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật khi đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Điều 286, Điều 310 BLTTDS
- Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị với Tòa án khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự theo quy định của pháp luật
- Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ kiện dân sự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải tăng cường công tác phát hiện vi phạm pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng để kiến nghị với cơ quan xét xử kịp thời khắc phục đối với từng vụ việc; định kỳ sáu tháng, một năm tổng hợp các vi phạm để kiến nghị cơ quan xét xử cùng cấp rút kinh nghiệm
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Dự thảo 15-8 Luật TCVKSND sửa đổi quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh13
Về công tác kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự, Dự thảo 15-8 Luật
:
- Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện
- Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết, xét xử vụ kiện
- Thu thập tài liệu, chứng cứ; tham gia các phiên tòa, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật
Trang 24- Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, người tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng
- Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3.3 Vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự
Ngày 29/3/2011 Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 với nhiều nội dung đổi mới Một trong những vấn đề đổi mới quan trọng là sửa đổi, bổ sung quy định về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo hướng mở rộng thẩm quyền tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát Trước đây, theo quy định tại khoản 2 điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ
mà các đương sự có khiếu nại, nay tại BLTTDS sửa đổi, Điều 21 được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi tham gia phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát:
"Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự, các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà
ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm"
Viện Kiểm sát tham gia quá trình tố tụng dân sự nhằm phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ kiện và đặc biệt phát hiện vi phạm của người tiến hành tố tụng, để có biện pháp kiến nghị, kháng nghị khắc phục và xử
lý kịp thời, góp phần giúp Tòa án ra bản án, quyết định đúng pháp luật
Đối với các vụ kiện dân sự mà Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Trước khi
mở phiên tòa, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ kiện dân sự nhằm giúp Kiểm sát viên nắm vững được hệ thống chứng cứ, tình tiết của vụ án, làm cơ sở cho việc bảo
vệ quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng Tại phiên toà sơ thẩm, theo Điều 234 BLTTDS sửa đổi quy định về việc phát biểu của Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Trang 25của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; đối với những người tham gia tố tụng dân sự kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Như vậy, tại phiên toà sơ thẩm Viện kiểm sát không có quyền đưa ra quan điểm, đường lối giải quyết vụ án về nội dung; ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát chỉ đánh giá có vi phạm hay không vi phạm thủ tục tố tụng dân sự của thẩm phán, của Hội đồng xét xử là người tiến hành
tố tụng Đối với những người tham gia tố tụng kiểm sát viên có quyền đánh giá việc chấp hành pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung của họ khi tham gia tố tụng Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Kiểm sát viên chú ý hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng từ thời điểm thụ lý vụ án
để thực hiện tốt nhiệm vụ quyền hạn của mình Tuy nhiên, quy định này không làm giảm trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp mà nội hàm chứa đựng trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm bản án của Toà án đúng pháp luật Vì vậy, sau khi chủ toạ tuyên án, Kiểm sát viên tham gia phiên toà có trách nhiệm kiểm sát tính đúng đắn trong phán quyết của Toà án để xem xét việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, có
sự chuẩn bị cần thiết cho việc tham gia phiên toà phúc thẩm
Kháng nghị phúc thẩm của VKSND đối với bản án dân sự sơ thẩm của Tòa
án là một trong những biện pháp thể hiện rõ nét nhất chức năng kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc giải quyết vụ án của Tòa án Kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân góp phần phát hiện và khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, của Nhà nước và bên thứ ba
Kháng nghị của Viện kiểm sát là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát đối với bản án của Tòa án là có vi phạm pháp luật, để yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền đưa vụ án dân sự ra xem xét lại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm khắc phục những vi phạm pháp luật của bản án đó
Nhìn chung, việc tham gia phiên tòa sơ thẩm và buộc Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa phúc thẩm không chỉ phản ánh thực trạng công tác giải quyết vụ kiện dân sự đang có vấn đề tác động bất lợi đến đời sống xã hội; với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bảo đảm việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, vị trí vai trò của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan tư pháp đang được Đảng, Nhà nước tin tưởng, ghi nhận
1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự
Nghiên cứu về pháp luật tố tụng dân sự, ta nhận thấy được vị trí và vai trò không thể thay thế được của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự nói chung,
Trang 26và trong vụ kiện dân sự nói riêng Trước đây, theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự thì VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật, tham gia tất cả các phiên tòa dân sự Do đó, việc kiểm sát có điều kiện thực hiện chức năng, nhiệm vụ tốt hơn Từ đó, góp phần đảm bảo lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Tuy nhiên, khi BLTTDS ra đời quy định về sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự nói chung và trong vụ kiện dân sự nói riêng đã bọc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật TCVKSND
Vì thế, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND tham gia bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích của công dân gặp nhiều khó khăn Xuất phát từ lý
do trên, BLTTDS sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự theo hướng mở rộng phạm vi tham gia tố tụng của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và quy định khá cụ thể các trình tự, thủ tục tố tụng dân sự Việc đưa Viện kiểm sát trở lại với những quyền và nghĩa vụ đối với vụ kiện dân sự thật
sự là cần thiết, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự
Nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự sẽ dể dàng hơn cho chúng ta trong việc nhận thấy vai trò của Viện kiểm sát không thể thay thế được trong hệ thống tư pháp, tố tụng dân sự đặc biệt là trong vụ kiện dân sự Sự tham gia của VKSND góp phần phát hiện và đẩy lùi những hạn chế, tiêu cực, thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự của Tòa án, đồng thời góp phần năng cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán trong hoạt động giải quyết vụ kiện dân sự Ngoài ra
sự tham gia của Viện kiểm sát đã làm cho quá trình giải quyết vụ kiện dân sự được tiến hành nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm mọi bản
án của tòa án có căn cứ và đúng pháp luật, mọi bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật
Tóm lại, việc nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát trong vụ kiện dân sự góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực tiễn quá trình tiếp tục đổi mới vị trí, vai trò và việc hoàn thiện mô hình hoạt động của VKSND trong vụ kiện dân sự Có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các
vụ kiện dân sự, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ kiện dân sự của Tòa án khách quan, có căn cứ, đúng pháp luật
Trang 27CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG VỤ KIỆN DÂN SỰ
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về Chiến lược cải cách tư pháp, ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự như
là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự Khi thực hiện nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ, việc dân sự kịp thời đúng pháp luật (Điều
21 BLTTDS sửa đổi) Trong các điều luật cụ thể ở giai đoạn tố tụng, BLTTDS sửa đổi quy định lại và mở rộng hơn sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Ngoài việc tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các vụ, việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân còn tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với các vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công, quyền sử dụng nhà, đất hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Những nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và xã hội về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự
2.1 Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự theo thủ tục sơ thẩm
2.1.1 Giai đoạn trước phiên tòa sơ thẩm
2.1.1.1 Xác định vụ kiện dân sự Viện kiểm sát tham gia
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS sửa đổi, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ kiện dân sự sau đây:
- Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, việc thu thập chứng cứ có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp quy định tại Điều 85 BLTTDS sửa đổi, và được quy định cụ thể tại các điều 86, 87, 88, 89, 90, 92, 93 và 94 BLTTDS sửa đổi
Trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự, kể từ khi thụ lý đến khi xét xử sơ thẩm, nếu phát hiện vụ kiện dân sự thuộc một trong các trường hợp nêu trên, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm
Đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng;
Trang 28Tài sản công là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được hình thành từ nguồn do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
Ví dụ: Vụ kiện dân sự tranh chấp về tài sản của một cơ quan nhà nước mà tài sản đó được mua sắm từ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp Trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm
- Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở bao gồm:
Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất hoặc ai là người có quyền sở hữu nhà ở;
Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất đối với một thửa đất có diện tích là 500 m2 hiện do B đang quản lý, sử dụng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải trả lại thửa đất đó cho A Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm
Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (ví dụ: tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở; tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhà ở…) Đối với tranh chấp về hợp đồng
có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở
đó không phải là đối tượng của hợp đồng, thì không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm
Ví dụ : A vay ngân hàng B số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị 1 tỷ đồng Đến thời hạn trả
nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không xử lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch, không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ Trong vụ
án dân sự này, đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng chứ không phải
là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa
Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở;
Trang 29Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ
Tranh chấp trong các giao dịch dân sự khác có đối tượng giao dịch là quyền
2.1.1.2 Phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, đối với các vụ kiện dân sự Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án thông báo việc thụ lý vụ việc dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và gửi cho Tòa án Trường hợp vụ kiện dân sự có tình tiết phức tạp, phiên tòa có thể kéo dài nhiều ngày và xét thấy cần thiết thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thể phân công Kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa Trước khi mở phiên toà nếu Toà án nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, thì Toà án chuyển ngay đơn yêu cầu đó cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp xem xét Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì Tòa án phải gửi yêu cầu đó cho Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Toà án biết việc thay đổi hay không thay đổi Kiểm sát viên Nếu thay đổi Kiểm sát viên, thì Viện kiểm sát thông báo họ tên của Kiểm sát viên thay thế.Trường hợp không thay đổi Kiểm sát viên, thì Viện kiểm sát thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do không thay đổi Tuy nhiên, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 46 BLTTDS thì khi được Viện trưởng phân công, Kiểm sát viên phải từ chối tham gia phiên tòa và nêu rõ lý do từ chối
2.1.1.3 Nghiên cứu hồ sơ vụ kiện dân sự
Khi nhận được hồ sơ vụ kiện dân sự, Kiểm sát viên có nghĩa vụ phải nghiên cứu hồ sơ, vào sổ thụ lý Mục đích của việc nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm giúp cho Kiểm sát viên nắm vững được hệ thống chứng cứ, tình tiết vụ án, làm cơ sở cho việc bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng Trong thời
Trang 30hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại
hồ sơ cho Tòa án
Sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ kiện, Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cho ý kiến chính thức về việc giải quyết vụ kiện Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên dự kiến nội dung, chuẩn bị bài phát biểu trình bày ý kiến của Viện Kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 234 BLTTDS sửa đổi Khi chuẩn
bị ý kiến phát biểu tại phiên tòa, Viện kiểm sát chỉ được phát biểu theo nội dung cho phép của pháp luật
2.1.2 Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm
2.1.2.1 Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ kiện dân sự theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát, nhằm thực hiện chức năng của Viện kiểm sát đó là “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”
Khi tham gia phiên tòa, Viện kiểm sát phải có hồ sơ kiểm sát, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phải nắm vững nội dung, chứng cứ của vụ kiện, các căn cứ pháp luật áp dụng và ý kiến của Lãnh đạo Viện về việc giải quyết
vụ kiện Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng, kiểm tra số lượng, điều kiện tham gia Hội đồng xét xử của mỗi thành viên Hội đồng xét xử, đối chiếu danh sách Hội đồng xét xử trên thực tế với danh sách Hội đồng xét xử được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử; kiểm tra tư cách pháp lý của Thư ký Tòa án
Những người tiến hành tố tụng bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Để đảm bảo tính khách quan cũng như hiệu quả giải quyết vụ kiện dân sự, những người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau:
- Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Người thân thích của đương sự là người có quan hệ sau đây với đương sự:
Trang 31+ Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương sự;
+ Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của đương sự;
+ Là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự;
+ Là cháu ruột của đương sự, mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột
- Họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án
đó Ví dụ: Hội thẩm nhân dân đã tham gia với tư cách là người làm chứng…
- Có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn : Có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều
46 của BLTTDS thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan
hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế ) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án không vô tư trong khi làm nhiệm vụ Ví dụ: Hội thẩm nhân dân là anh em kết nghĩa của nguyên đơn; Thẩm phán là con rể của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Thủ trưởng cơ quan nơi vợ của Thẩm phán làm việc mà có căn cứ rõ ràng chứng minh
là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế
Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét xử vụ kiện dân sự Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký Tòa án là người thân thích với nhau hoặc nếu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên được phân công xét xử phúc thẩm vụ kiện dân sự có người thân thích là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ kiện đó
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
- Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau Ví dụ: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có mối quan hệ thân thích với nhau và cùng
là thành viên của một Hội đồng xét xử Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: khi có hai người trong Hội đồng xét xử thân thích với nhau, thì chỉ có một người phải từ chối hoặc bị thay đổi Việc thay đổi ai trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định, tại phiên
Trang 32tòa do Hội đồng xét xử quyết định Việc xác định Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong cùng một Hội đồng xét xử là người thân thích với nhau được thực hiện tương
tự theo hướng dẫn tại tiểu Mục 2.2 Mục 2 Phần II của Nghị quyết này
- Họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
vụ kiện đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ kiện theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Đã tham gia xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ kiện đó là đã tham gia giải quyết vụ kiện và đã ra bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm hoặc quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đình chỉ vụ kiện
- Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ kiện đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án
Ngoài ra, Thư ký Tòa án phải bị thay đổi khi đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư
ký Tòa án
Nhằm đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, đảm bảo tính khách quan, khi phát hiện thấy trong thành phần Hội đồng xét xử có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, hoặc phát hiện Thư ký Tòa án thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát yêu cầu Hội đồng xét xử quyết định việc thay đổi người đó để đảm bảo Viện kiểm sát có quyền đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án
Trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Viện kiểm sát
về việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án mà vẫn tiếp tục xét
xử thì Kiểm sát viên vẫn phải tham gia phiên tòa nhưng ngay sau phiên tòa Kiểm sát viên báo cáo với Lãnh đạo Viện để quyết định việc kháng nghị
2.1.2.2 Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng
Nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, sau khi kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát cũng phải kiểm tra tư cách pháp lý của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác gồm: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người đại diện
Để đảm bảo sự vô tư, khách quan của người giám định, người phiên dịch cũng như tính trung thực của kết quả giám định, nội dung phiên dịch, pháp luật
Trang 33cũng quy định các trường hợp mà người giám định, người phiên dịch buộc phải từ chối hoặc bị thay đổi đó là:
- Người giám định, người phiên dịch đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự hoặc có căn cứ cho rằng người giám định có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ;
- Người giám định, người phiên dịch đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong cùng vụ kiện đó;
- Người giám định, người phiên dịch đã tiến hành tố tụng trong vụ kiện đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên
Trường hợp phiên tòa sơ thẩm vụ kiện dân sự có sự tham gia của người giám định, người phiên dịch mà Viện kiểm sát phát hiện người giám định, người phiên dịch thuộc một trong các trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Hội đồng xét xử quyết định việc thay đổi người đó nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng trong giải quyết vụ kiện
Trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Viện kiểm sát
về viêc thay đổi người giám định, người phiên dịch mà vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phải tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng ngay sau phiên tòa, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình để quyết định việc kháng nghị
Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát đối với trường hợp Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa theo quy định tại các điều 199, 204, 205, 206 BLTTDS sữa đổi, có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:
- Đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất;
- Người làm chứng, người giám định, người phiên dịch vắng mặt mà sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử vụ kiện
- Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa, nhưng Viện kiểm sát xét thấy cần phải hoãn phiên tòa để chờ có sự tham gia của người này nhằm bảo đảm giải quyết vụ kiện được đúng đắn
Trong các trường hợp Viện kiểm sát đề nghị hoãn phiên tòa nêu trên nhưng Hội đồng xét xử không chấp nhận và vẫn tiếp tục xét xử thì Viện kiểm sát vẫn phải tham gia phiên tòa Sau phiên tòa, Viện kiểm sát xem xét để quyết định kháng nghị
Viện kiểm sát kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi
Trang 34kết thúc phiên tòa, bao gồm các thủ tục bắt đầu phiên tòa; thủ tục hỏi tại phiên tòa; thủ tục tranh luận tại phiên tòa; thủ tục nghị án và tuyên án Yêu cầu Hội đồng xét
xử khắc phục kịp thời nếu phát hiện có vi phạm về thủ tục tố tụng
2.1.2.3 Viện kiểm sát tham gia hỏi
Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân, sau đó đến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự và những người tham gia tố tụng khác; trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì Kiểm sát viên hỏi sau đương sự15
Trách nhiệm chứng minh vụ kiện, xác định sự thật khách quan tại phiên tòa
là trách nhiệm của Hội đồng xét xử Thông qua việc việc hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết, nội dung của vụ kiện qua đó làm cơ sở cho việc quyết định giải quyết tranh chấp của vụ kiện Viện kiểm sát tham gia hỏi là nhằm để kiểm tra chứng cứ và để khắc phục vi phạm trong việc hỏi của Hội đồng xét xử, đồng thời qua đó cũng khẳng định được sự cần thiết của việc tham gia tố tụng của Viện kiểm sát tại phiên tòa
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát hỏi các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét nguồn gốc, tính có căn cứ và hợp pháp, khách quan của các tài liệu, chứng
cứ do các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc do Tòa án tiến hành thu thập Có quyền yêu cầu Hội đồng xét xử cho nghe băng, đĩa ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS sửa đổi; nhận xét kết quả giám định, hỏi về những vấn đề chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết quả giám định với các tình tiết khác của vụ kiện dân sự
Nếu phát hiện người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát phải yêu cầu Hội đồng xét xử thực hiện16
Khi tham gia hỏi, Kiểm sát viên phải tôn trọng sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa; tôn trọng quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; Đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu; câu hỏi không được mang tính chất gợi ý trước hướng trả lời Khi hỏi xong, Kiểm sát viên phải tập trung lắng nghe câu trả lời; ghi lại thông tin trong câu trả lời; phân tích thông tin trong câu trả lời, so sánh, đối chiếu với câu hỏi để xem câu trả lời đã đáp ứng được yêu cầu của câu hỏi hay chưa
Trang 35Kiểm sát viên có thể hỏi lại, hỏi bổ sung Khi kết thúc đợt hỏi, Kiểm sát viên nói với Chủ tọa là mình đã hỏi xong17.
2.1.2.4 Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ kiện của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án18
.Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ kiện dân sự, sau khi những người tham gia
tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về các nội dung sau19:
- Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ kiện, kể từ khi thụ lý vụ kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án;
- Trong trường hợp Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục các
vi phạm về thủ tục tố tụng, thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận, thì phải nêu rõ lý
do Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án và phải được ghi vào biên bản phiên toà
- Phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án, không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ kiện
Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm, đường lối giải quyết vụ kiện về nội dung, Viện kiểm sát chỉ đưa ra ý kiến đánh giá
có vi phạm hay không vi phạm về thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử Đối với những người tham gia tố tụng, Viện kiểm sát có quyền đánh giá việc chấp hành pháp luật tố tụng của họ từ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện, đánh giá việc chấp hành pháp luật nội dung trong quan hệ pháp luật mà họ tham gia Mặc dù, Điều 234 BLTTDS sửa đổi giới hạn phạm vi ý kiến của Viện kiểm sát tập trung đánh giá việc tuân thủ pháp luật tố tụng nhưng không làm giảm trách nhiệm của Viện kiểm sát
17
Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, Hoạt động của Kiểm sát viên khi giải quyết vụ án dân sự
an-dan-suhtml , [truy cập ngày 06/8/2014]
Trang 36trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Viện kiểm sát luôn có trách nhiệm bảo đảm bản án quyết định của Tòa án đúng pháp luật Vì vậy, sau khi bản án, quyết định được tuyên, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm nếu thấy cần thiết
2.1.2.5 Viện kiểm sát kiểm sát việc tuyên án
Viện kiểm sát phải kiểm sát việc tuyên án theo các nội dung quy định tại các điều 238, 239 BLTTDS sửa đổi Bản án là văn bản tố tụng có ý nghĩa chính trị,
xã hội cũng như pháp lý quan trọng Bản án thể hiện kết quả xét xử của Tòa án đối với các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì vậy, bản án phải chính xác về nội dung, chặt chẽ về hình thức pháp lý Do tính quan trọng của bản án, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phải lắng nghe toàn văn bản án, ghi chép phần nhận định và quyết định của bản án để xác định tính khách quan của bản án thông qua hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa Trường hợp nhận thấy có vấn đề nào không có căn cứ trong nội dung bản án thì Viện kiểm sát xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm20
2.1.3 Giai đoạn sau phiên tòa sơ thẩm
Để đảm bảo cho các đương sự trong vụ kiện biết rõ được quyền và nghĩa vụ của mình mà tòa án đã quyết định trong bản án dân sự sơ thẩm, nhằm đảm bảo cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị, Tòa án phải có trách nhiệm trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án; Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp21
Vì vậy, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án gửi kịp thời bản án cho Viện kiểm sát theo đúng qui định, nhằm kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án để xem xét thực hiện quyết định việc kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền Viện kiểm sát tiến hành thực hiện các hoạt động sau22
- Viết báo cáo kết quả kiểm sát xét xử sơ thẩm Báo cáo phải được lập thành hai bản, một bản báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình, đồng thời lưu vào hồ sơ kiểm sát; một bản gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
20
Viện kiểm sát nhân dân tối cao- trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, Giáo trình đào tạo nghiệp
vụ kiểm sát tập 6, lưu hành nội bộ, Hà Nội 2013
Trang 37http://tks.edu.vn/info_know/view/186 _2.1.-Hoat-dong-cua-Kiem-sat-vien-khi-kiem-sat-viec-giai-quyet-vu Yêu cầu Tòa án gửi kịp thời bản án cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 241 BLTTDS
- Đề xuất với Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nếu xét thấy bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về nội dung hoặc về thủ tục tố tụng, cụ thể:
+ Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nếu thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS cùng cấp đã hết
+ Kiểm sát viên đề xuất với Lãnh đạo Viện có văn bản báo cáo đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nếu thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên
đã hết
- Sao gửi bản án, quyết định sơ thẩm, thông báo về việc kháng cáo của Toà
án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để kiểm tra xem xét
2.2 Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát giải quyết các vụ kiện dân sự theo thủ tục phúc thẩm
2.2.1 Kháng nghị phúc thẩm
Để đảm bảo việc giải quyết vụ kiện dân sự đúng pháp luật, pháp luật quy định Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tố tụng dân sự Khi không đồng ý với bản án, quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ kiện Việc Viện kiểm sát phản đối bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ kiện được gọi là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Kháng nghị phúc thẩm của VKSND đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân là một trong những biện pháp thể hiện rõ nét vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, nhằm phát hiện và khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, Nhà nước và bên thứ ba, bảo đảm tính hợp pháp
và có căn cứ cho các bản án và quyết định sơ thẩm trước khi đưa ra thi hành
Để thực hiện việc kháng nghị Viện kiểm sát phải xác định đúng thẩm quyền của mình, trong việc kháng nghị bản án, quyết định Điều 250 BLTTDS sửa đổi quy
định: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng
nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”
Trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự Tòa án cấp sơ thẩm có thể ra nhiều quyết