1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình tại toà án nhân dân huyện châu thành, tỉnh đồng tháp

62 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 856,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp c Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chun

Trang 1

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: S120027 Lớp: Luật VB2- Đồng Tháp

Cần Thơ, 11/2014

Trang 2

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Trang 3

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Trang 4

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

MỤC LỤC



LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH 1.1 Một số khái niệm chung 4

1.1.1 Khái niệm ly hôn 4

1.1.2 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng 5

1.1.3 Khái niệm vợ chồng sống chung với gia đình 6

1.1.4 Khái niệm chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn 7

1.2 Ý nghĩa của quy định về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 8

1.3 Lược sử phát triển quy định pháp luật về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 10

1.3.1 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Cổ đại 10

1.3.2 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Cận đại 10

1.3.3 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Hiện đại 11

1.3.3.1 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 12

1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 12

Trang 5

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

1.3.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010) 13

1.3.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 14

CHƯƠNG 2 CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2.1 Căn cứ chia tài sản chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 15

2.2.Nguyên tắc chia tài sản chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 19

2.3.Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 23

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 3.1 Tình hình giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp 26

3.2 Một số bất cập và giải pháp khi chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp 28

3.2.1 Bất cập và giải pháp về công sức đóng góp 28

3.2.2 Bất cập và giải pháp về chứng cứ chứng minh 33

Kết luận 38

Trang 6

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình

Nhận định được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Biểu hiện ở việc, Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân

và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền

bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình Nhất là khi hai vợ chồng sau khi kết hôn về chung sống bên nhà chồng hoặc nhà vợ, sau khi ly hôn phát sinh nhiều mâu thuẫn trong việc chia tài sản trong khối tài sản chung với các thành viên trong gia đình nhiều thế hệ cùng sinh sống và xây dựng khối tài sản chung

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc áp dụng các quy định trên vào thực tiễn không tránh khỏi những vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn ở các cấp Tòa án Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề “ Chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống

Trang 7

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Là sinh viên được học tập tại trường, với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng; người

viết đã mạnh dạn chọn đề tài “ Chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, người viết chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung, chia tài sản chung và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn theo Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật, phát hiện những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực chia tài

sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

3 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biện chứng của lý luận khoa học Mác – Lê-Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, phương pháp nghiên cứu, phân tích luật viết Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như so sánh, tổng hợp…

4 Kết cấu của luận văn :

Chương 1: Khái quát về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ

chồng sống chung với gia đình

Trong chương này tác giả tập trung nghiên cứu tìm hiểu một số khái niệm, ý nghĩa và lịch sử phát triển chế định chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn nhằm nêu khái quát về chia tài sản chung khi vợ chồng chung sống với gia đình

Chương 2 : Chia tài sản chung khi ly hôn của vợ chồng trong trường hợp vợ

chồng chung sống với gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trang 8

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Nội dung chương hai người viết tập trung tìm hiểu và phân tích quy định của pháp luật hiện hành về quy định chia tài sản chung trrong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn, nhằm hiểu rõ hơn chế định của nhà làm luật, áp dụng vào công tác bản thân sau này

Chương 3 : Thực tiễn áp dụng pháp chia tài sản chung khi ly hôn của vợ chồng

trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Thực tiễn giải quyết một số vụ án ly hôn tại toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp mà người viết tìm hiểu để thấy được những thuận lợi khó khăn vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án ly hôn, trong đó giải quyết các vụ liên quan đến trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình

Trang 9

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG

HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Hôn nhân là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng, bởi vì nó được xây dựng trên

cơ sở tình yêu chân chính giữa hai bên nam và nữ gắn bó và thỏa mãn những tình cảm trong đời sống gia đình, xây dựng gia đình bền vững hạnh phúc Nhưng sau khi kết hôn, trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và cả hai vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa thì pháp luật quy định cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng bằng việc giải quyết ly hôn

Theo từ điển tiếng Việt, ly hôn được hiểu nôm na là vợ chồng bỏ nhau một cách hợp pháp1, về mặt pháp lý, theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng 2

Vậy theo các nhà làm luật, ly hôn được giải thích cặn kẽ và chi tiết hơn, đó là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do người vợ hoặc người chồng yêu cầu hoặc do hai bên thuận tình, được tòa án nhân dân công nhận bằng bản án xử cho ly hôn hoặc bằng quyết định thuận tình ly hôn Hay nói cách khác: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật

Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được

1

2 Khoản 8, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010

Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều

đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình

Trang 10

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Theo Lê-Nin “ thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “ tan rã ” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh ” Nhưng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và bản chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nước và của xã hội

Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng, ngoài hai vợ chồng không một người nào khác có thể yêu cầu ly hôn được Mặt khác, nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn nhằm bảo vệ quyền lợi cho mỗi người, cho

xã hội và đảm bảo các nguyên tắc của hôn nhân xã hội chủ nghĩa Theo hệ thống pháp luật hiện hành của nhà nước ta, chỉ có tòa án nhân dân mới có quyền xét xử ly hôn

Ly hôn là một mặt của hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Trong trường hợp đó thì ly hôn là một việc cần thiết cho cả hai vợ chồng và cho xã hội, vì nó giải phóng cho tất cả mọi người, cả vợ chồng và con cái

1.1.2 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng

Khi ly hôn việc chia tài sản chung của vợ chồng là cần thiết, việc chia tài sản chung đáp ứng được nhu cầu vật chất khi chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng

“Chia tài sản chung của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng 3 , dựa trên những điều kiện nhất định nhằm bảo đảm cho các bên tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung”

Trong đời sống gia đình Việt Nam, việc có nhiều thế hệ cùng chung sống trong một mái nhà trở nên phổ biến Do một mặt về truyền thống báo đáp công sinh thành

nên các cặp vợ chồng sau khi kết hôn vẫn chung sống với cha mẹ bên vợ hoặc chồng để

3 Khoản 1 Điều 95, Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trở

Trang 11

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

thành một nhu cầu tất yếu đáp ứng được nhu cầu thực tế đặt ra Một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội Mặt khác giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ việc.Việc chia tài sản chung của vợ chồng cần xác định được đâu là tài sản chung đâu là tài sản riêng của vợ chồng, để khi ly hôn việc chia tài sản vợ chồng có thể

tự thỏa thuận, nếu hai bên không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Xuất phát từ thực tế trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng Trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vẫn giữ nguyên nội dung chia tài sản chung của vợ chồng Trong nhiều năm qua chế định này đã từng bước đi vào cuộc sống phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam

1.1.3 Khái niệm vợ chồng sống chung với gia đình

Gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội, là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ

sở về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ, giáo dục con cái, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đở của nhà nước và xã hội

Vợ chồng chung sống với gia đình là khi hai vợ chồng cùng chung sống với các thành viên trong gia đình cha mẹ và con cái, ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại

và cháu cùng chung sống trong gia đình Có thể có những thân thuộc khác cùng sống chung lâu dài và ổn định trong gia đình với tư cách là một thành viên của gia đình, có

sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, có thể chăm sóc phụng dưỡng họ Mặc khác, nước ta là một nước đang phát triển, đời sống kinh tế hộ gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề về kinh tế họ chưa đủ điều kiện để có thể ra ở riêng, xây dựng cuộc sống riêng, nên còn phụ thuộc vào cha mẹ bên vợ hoặc bên chồng

Không chỉ có vợ chồng, cha mẹ và con cái, ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại và cháu cùng chung sống trong gia đình Có thể có những thân thuộc khác cùng sống chung lâu dài và ổn định trong gia đình với tư cách là một thành viên của gia đình như chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, v.v

Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong gia đình, trong đó mối quan

hệ của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Các thành viên cùng sống chung

Trang 12

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình.Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau Quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam

Tóm lại, vợ chồng chung sống với gia đình là khi hai vợ chồng cùng chung sống với các thành viên trong gia đình cha mẹ và con cái, ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại và cháu cùng chung sống trong gia đình và những thân thuộc khác

1.1.4 Khái niệm chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

Việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà

ly hôn là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi chung sống với gia đình bên chồng hoặc bên vợ

Tài sản chung mà hai vợ chồng có được khi hôn nhân được xác lập khi cả hai về nhà cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ chung sống, cùng nhau đóng góp công sức tạo dựng khối tài sản chung của gia đình Khi ly hôn họ có thể tự thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án

chia tài sản chung đó, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình

không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.4

Nhưng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia

4 Khoản 1 Điều 96, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Như vậy ngoài việc dự liệu nguồn gốc, căn cứ thành phần các loại tài sản thuộc

sở hữu chung của vợ chồng, thì nhà làm luật còn căn cứ vào nguyên tắc suy đoán để xác định những tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng đang có tranh chấp, nhưng không đủ

cơ sở để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tài sản chung Đây là quy định

Trang 13

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nó xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, thông qua công tác xét xử và nhằm hướng tới việc đảm bảo cao nhất quyền và lợi ích của các bên

Vấn đề khó khăn ở đây là khi họ cùng chung sống với gia đình bên chồng hoặc

vợ, khi ly hôn việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn gặp rất nhiều khó khăn, do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải là tài sản do cả hai vợ chồng cùng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng

sẽ là tài sản chung của vợ chồng

Tài sản do vợ, chồng tạo ta có thể là tài sản tự tay vợ hoặc chồng tạo ra phục vụ cho nhu cầu của gia đình, thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như nhà cửa, xe cộ, vật dụng trong gia đình…Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do vợ chồng tạo ra không chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra, mà còn là những tài sản mà vợ hoặc chồng bỏ tiền vàng, công sức để vun đắp cho gia đình

Tóm lại, chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng chung sống vớigia đình

ly hôn là việc vợ chồng tự thoả thuận hay yêu cầu toà án chia tài sản chung khi khối tài sản chung đó nằm trong khối tài sản chung của gia đình bên chồng hoặc bên vợ

1.2 Ý nghĩa của quy định về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

Đối tượng của luật Hôn nhân và gia đình là các quan hệ hôn nhân và gia đình, tức là các quan hệ về nhân thân và tài sản (bao gồm quan hệ về kết hôn, ly hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và đưa ra quy định về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình và con cái, v.v

Luật hôn nhân và gia đình 2000 ly hôn dựa trên những điều kiện nhất định, nhằm

bảo đảm cho các bên tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung khi hai vợ chồng cùng chung sống với gia đình ông bà cha mẹ và con cái,

có thể có những người thân thuộc khác cùng sống chung lâu dài và ổn định trong gia đình với tư cách là một thành viên của gia đình, có sự liên kết của nhiều người dựa trên

cơ sở về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau

Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Vậy nhà nước sẽ làm gì để “ bảo

hộ hôn nhân và gia đình”? Có rất nhiều biện pháp mà một biện pháp không thể thiếu

Trang 14

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

được là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân

và gia đình Trong gia đình Xã hội chủ nghĩa, vợ chồng cùng nhau chăm lo gánh vác công việc gia đình, do đó tài sản của vợ chồng không chỉ để phục vụ cho bản thân mà còn cho cả các thành viên khác trong gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở xem xét mối liên hệ của tài sản và cuộc sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định vợ chồng có tài sản chung

Việc nhà nước ta quy định về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn nhằm góp phần xây dựng hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình,

kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng sau khi ly hôn Việc sau khi ly hôn là gia đình thật sự tan vỡ, hôn nhân không còn tồn tại, dẫn đến nhiều hệ lụy về tinh thần lẫn vật chất, nếu như cùng chung sống với gia đình mà ly hôn, việc chấm dứt tình cảm khi ly hôn họ bước ra khỏi mái ấm một thời cần có một số tài sản trong tay để có thể họ đã vun đắp công sức vào khối tài sản chung của gia đình được chia đúng theo công sức mình bỏ ra phù hợp với quyền lợi giúp họ mưu cầu hạnh phúc sau này

Đối với gia đình cha mẹ khi đón con trở về sau ly hôn về tinh thần phần nào suy sụp thì khi nhà nước ta quy định chế định chia tài sản chung trường hợp sống chung với gia đình mà ly hôn thì bù đắp phần nào khi trong tay những đứa con của họ có trong tay một số tài sản nhất định phần nào giảm bớt gánh nặng cho gia đình, bản thân họ

Về mặt xã hội cũng đảm bảo được tính công bằng xã hội khi lao động đóng góp xây dựng gia đình thì khi không cùng chung sống nữa thì được đền bù công sức đã bỏ

ra góp phần ổn định cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển

Việc quy định chế định này có ý nghĩa quan trọng đối với các vị thẩm phán khi tiến hành xét xử hay chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, nhất là khi vợ chồng chung sống với gia đình

1.3 Lịch sử phát triển quy định pháp luật về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1.3.1 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Cổ đại

Trang 15

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục tùng trong đó người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng Chế độ sở hữu chung của

vợ chồng cũng được xác lập nhưng vẫn còn hạn chế

Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc Triều Hình Luật dưới triều Lê và

bộ Hoàng Việt Luật Lệ dưới thời nhà Nguyễn Cả hai bộ luật này đều ghi nhận sự tồn tại chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ chồng, đấy chính là “tần tảo điền sản”

Về vấn đề chia tài sản chung cổ luật phong kiến Việt Nam quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng : khi một bên chết trước và chia tài sản chung của

vợ chồng khi ly hôn Do hạn chế của xã hội bấy giờ nên quyền lợi của người vợ cũng chưa thực sự được đảm bảo

Trường hợp vợ chồng ly hôn, việc phân chia tài sản chung được quy định trong Quốc triều hình luật như sau: Nếu ly hôn mà có con thì tài sản chung không được chia; nếu vợ chồng không có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho hai người Trường hợp người vợ “phạm gian” mà ly hôn thì không những không được chia tài sản chung, mà còn không lấy lại được tài sản riêng

Như vậy luật Phong kiến do vẫn còn mang nặng tư tưởng lễ giáo, gia trưởng, đề cao, coi trọng vị trí, vai trò của người chồng trong gia đình, người đàn ông trong xã hội nên quyền lợi của người phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng và chưa được bảo đảm

1.3.2 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Cận đại

Sau khi hoàn tất tiến trình xâm lược, để đảm bảo và duy trì nền móng cai trị thực dân ở nước ta, thực dân Pháp đã chia nước ta ra làm ba miền với ba chế độ để dễ bề cai trị ở mỗi miền áp dụng các Bộ luật Dân sự riêng, trong đó quy định điều chỉnh các quan

hệ về hôn nhân và gia đình

- Tại Bắc kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1931

- Tại Trung kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1936

- Tại Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm 1883

Pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng như cổ luật là chia khi một bên chết trước và chia tài sản chung khi ly hôn Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Bộ dân luật năm

1931 quy định, nếu vợ chồng có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng sẽ không được chia theo nguyên tắc chia đôi mà người vợ chỉ được chia một phần trong tài sản chung tuỳ theo kỷ phần mà người vợ đã đóng góp Nếu “phạm gian” mà ly hôn thì phần

Trang 16

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

mà người vợ được chia sẽ bị bớt đi một nửa Nếu người vợ ly hôn mà không có con thì

sẽ được lấy lại kỷ phần của mình và một nửa tài sản chung

Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước, Bộ dân luật năm 1931 quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi người vợ còn sống mà cải giá

Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng tạo sản, toàn

bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng Do đó không đặt ra vấn đề chia tài sản

Như vậy chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ pháp lý của giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình Thời kỳ này quyền lợi của người phụ nữ, người vợ hầu như không đươc pháp luật xem xét, coi trọng nên quy định

về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn không được nhà làm luật soạn thảo

1.3.3 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình trong Luật Hiện đại

Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời

Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn chú trọng tới việc soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của Cách mạng

Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân gia đình là: Sắc lệnh số 97-SL và sắc lệnh số 159-SL Sắc lệnh vẫn duy trì các trường hợp chia tài sản chung của luật cũ, tuy nhiên việc quy định về vấn đề chia tài sản còn rất chung chung, Sắc lệnh chưa quy định rõ về cách thức chia, nguyên tắc chia cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung

Ở thời kỳ này Nhà nước ta chưa ban hành bộ luật Dân sự mới, thay vào đó là việc duy trì áp dụng Bộ dân luật năm 1931 và Bộ dân luật năm 1936 trên cơ sở có chọn lọc các yếu tố tiến bộ, xóa bỏ các quy định hủ tục, lạc hậu Mà theo các bộ dân luật này quy định, chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản Do đó việc Sắc luật chỉ quy định các trường hợp chia mà chưa dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn áp dụng nguyên tắc chia đôi

1.3.3.1 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959

Năm 1959, lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình được ra đời, hay còn gọi là

Đạo luật số 13 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 tài sản chung của vợ chồng

là tài sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trước và sau khi kết hôn đều

Trang 17

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

là tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận tài sản riêng Luật quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là:chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước và chia khi ly hôn

Trong luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định khi ly hôn việc chia tài sản

sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có 4 Chương, 35 Điều, đã khắc phục được những hạn chế của hai sắc lệnh khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Đồng thời khẳng định được bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp

lý của Nhà nước, phục vụ nhân dân lao động, là nền móng để từng bước xây dựng nghành luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta Việc quy định ở Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định : “ Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia phải đảm bảo quyền lợi của người vợ và lợi ích của việc sản xuất.” Tuy chưa phân định rõ quy định chia tài sản trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn, nhưng quy định chia tài sản khi ly hôn trong gian đoạn này tạm thời giải quyết những khó khăn bất cập trong việc chia tài sản chung của

vợ chồng

1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Nhà nước ban hành vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới

Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong ba trường hợp: Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trước và chia trong thời kỳ hôn nhân Về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi.Trong Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định

Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây:

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

Trang 18

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có 10 Chương, 56 Điều, quy định rõ trường hợp chia tài sản trong trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình

1.3.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010)

Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 có 13 chương và 110 Điều, trong đó dành riêng một điều luật quy định việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình mà ly hôn tại Điều 96 :

“ 1.Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản

của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải

quyết

2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”

Do có những thay đổi về điều kiện kinh tế-xã hội trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 có những thay đổi khắc phục những bất cặp của các văn bản luật Hôn nhân và gia đình trước, việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn là một ví dụ, nhằm làm luật Hôn nhân và gia đình nước ta hoàn thiện hơn

Trang 19

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

1.3.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm 9 chương, 133 điều, có hiệu lực từ

khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc chia tài sản trong trường hợp

vợ chồng chung sống với gia đình được quy định tại Điều 61 như sau:

“ 1 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của

vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều

59 của Luật này.”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nội dung về việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn không có gì thay đổi so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010

Như vậy trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thực tế lúc bấy giờ

mà việc quy định về chia tài sản chung của vợ chồng có khác nhau Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đang ngày một củng cố và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan

hệ hôn nhân và gia đình ngày một tốt hơn, nhất là trong việc quy định chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn Đồng thời thúc đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh

Trang 20

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

CHƯƠNG 2 CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

2.1 Căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn

Chia tài sản chung khi vợ chồng chung sống với gia đình là một trong những trường hợp chia tài sản sau khi ly hôn

Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“1 Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết

2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tại Điều 96 việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình Theo nội dung điều luật thấy rằng căn cứ để chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình là dựa vào công sức đóng góp của mỗi người vào việc tạo lập duy trì phát triển khối tài sản chung đó

Thực ra nếu dựa vào câu chữ của điều luật, ta thấy rằng việc chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình sẽ có hai căn cứ, phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể:

-Trường hợp thứ nhất, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia

đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình

Khi cùng chung sống với gia đình thì việc cùng lao động đóng góp sức lực tiền của để xây dựng gia đình, cải thiện đời sống là nhu cầu thiết yếu của các cặp vợ chồng, nhưng khi ly hôn “tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác

Trang 21

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

định được” thì việc chia tài sản khi ly hôn dựa vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập duy trì phát triển khối tài sản chung đó

- Trường hợp thứ hai, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia

đình có thể xác định được thì chia vào phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản chung đó để chia

Khi có sự rõ ràng về tài sản chung, tài sản riêng, việc chia tài sản dể dàng hơn trong khối gia sản của gia đình, tài sản của vợ chồng được xác định theo phần, và việc chia tài sản chung đó dựa vào nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tại Điều 61, việc chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình được quy định như sau:

“1 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản

của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn giữ nguyên nội dung tại khoản 1 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “ Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 quy định căn cứ để chia tài sản chung khi ly hôn vẫn dựa vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Chia ra hai trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn trong

Trang 22

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình : nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung với gia đình không xác định được thì dựa vào công sức đóng góp để chia; nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung với gia đình xác định được thì dựa vào phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản để chia theo Khoản 2 Điều 61 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 : “ trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà

tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để

chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Phát triển từ Khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung tại khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi hướng dẫn việc chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình về tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn được quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“ 1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và

5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60,

61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết

2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp

để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch

Trang 23

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

4 Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung

mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác

5 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để

tự nuôi mình

6 Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và

Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Khi quan hệ hôn nhân tồn tại, hai bên cùng chung sức xây dựng cơ sở vật chất cho gia đình bên chồng hay bên vợ mà vợ chồng sống chung, việc xác định phần trong khối tài sản chung dựa trên công sức đóng góp là rất khó khăn, thường là người vợ trong vai trò là lao động gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái vẫn được xem là lao động có thu nhập Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đưa ra căn cứ xác minh công sức đóng góp, nhưng thực tế đây không phải là việc đơn giản Bởi vì khi kết hôn, ít ai ghi chép thành văn bản ngày công lao động, như làm nội trợ hay công sức lao động bản thân với gia đình, đóng góp cho gia đình, để sau này khi ly hôn có căn cứ chứng minh rằng mình đã lao động đóng góp như thế nào để thoả thuận với gia đình hay đưa ra chứng cứ để yêu cầu toà án chia tài sản chung khi ly hôn Do vậy, khi gia đình tan vỡ, nếu các bên không tìm thấy ở nhau một sự thông cảm nào (gia đình bên chồng và “nàng dâu” hay gia đình bên vợ và “chàng rể”) thì việc chứng minh công sức đóng góp gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là không thể

Việc vợ, chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng, khi ly hôn, tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình bên vợ hoặc bên chồng không xác định được, Điều 96 Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình, cả vợ, chồng đã đóng góp công sức vào việc tạo lập duy trì phát triển khối tài sản chung của gia đình một cách rõ ràng, có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia

Trang 24

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Khi chia tài sản trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tại Điều 96 thì dựa vào “công sức đóng góp” Việc căn cứ vào “công sức đóng góp” gặp khó khăn khi Luật hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể Tuy nhiên trong khoa học luật vẫn có một số công trình nghiên cứu, bình luận, phân tích về công sức đóng góp để làm căn cứ để chia tài sản

khi ly hôn như quyển Đinh Thị Mai Phương, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

Để đảm bảo tính công bằng, sự phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, không phải trường hợp nào khi quyết định Toà án đều chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi bên, mà vẫn cân nhắc và xem xét đến công sức đóng góp, hoàn cảnh cụ thể mỗi bên cho thấu tình đạt lý Toà án chỉ quyết định chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi bên khi xét thấy công sức tạo lập, phát triển tài sản chung của vợ chồng ngang nhau Toà án vẫn có thể quyết định chia phần nhiều hơn hoặc ít hơn cho mỗi bên

vợ, chồng khi ly hôn

Khi xã hội Việt Nam còn mang nặng tính gia trưởng, người trụ cột trong gia đình thường là người chồng, người vợ tuy cùng đóng góp công sức (có thể bằng hoặc hơn chồng) vun vén cho gia đình nhưng khi ly hôn không chứng minh được mình đã bỏ công sức tiền của và cả tâm huyết của mình vào khối tài sản chung đó Việc xác định công sức đóng góp gặp rất nhiều khó khăn, đương sự phải tự mình chứng minh công sức đóng góp bản thân vào khối gia sản Khi đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thì việc chia tài sản như là việc giành quyền lợi về vật chất, ai cũng muốn giành quyền lợi cho bản thân Chính lúc này hôn nhân giữa hai vợ chồng đã chấm dứt tình cảm thì cần có sự sòng phẳng về tài sản Thực tiễn Toà án giải quyết các vụ án ly hôn nhất là vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn thì vẫn căn cứ vào hoàn cảnh của mỗi bên, nuôi con nhỏ và tình trạng tài sản chung của gia đình

2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn

Trong thực tế xã hội nước ta hiện nay, sau khi kết hôn nhiều cặp vợ chồng vẫn

chung sống với cha mẹ gia đình chồng hoặc vợ

Trong các văn bản cũ của pháp luật phong kiến Việt Nam, do ảnh hưởng của tư

tưởng trọng nam, khinh nữ nên các vụ ly hôn có sự thiệt thòi về phần tài sản cho người phụ nữ Pháp luật nước ta ngày nay thừa nhận sự bình đẳng của vợ chồng trong mọi lĩnh vực, ngay cả khi vợ chồng sống chung với gia đình bên chồng hay bên vợ, đều được đảm bảo quyền lợi trước pháp luật Theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và

Trang 25

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

gia đình 2000 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn dựa trên nguyên tắc

cho các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình mà ly hôn nguyên tắc chia vẫn dựa trên nguyên tắc của Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp chung sống với gia đình được quy định tại Điều 59 Cụ thể như sau:

1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và

5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60,

61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết

2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch

4 Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung

mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác

5 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để

tự nuôi mình

Trang 26

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

6 Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và

Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

Việc vợ chồng tự thỏa thuận về chia tài sản chung khi ly hôn sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, tạo điều kiện cho việc thì hành án sau này Mặt khác tránh tư tưởng được thua trong khiếu kiện, kéo dài vụ án một cách không cần thiết; tránh được

sự bất đồng, không thỏa mãn với quyết định phân chia của Tòa tạo sự bình thường hóa quan hệ giữa các bên sau khi ly hôn để có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con cái, sớm

ổn định cuộc sống gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

đề cao và tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng, mặc dù quy định việc vợ chồng

có quyền thỏa thuận chia tài sản chung nhưng không đặt ra yêu cầu phải được sự công nhận của Tòa án Tuy nhiên để tránh việc thỏa thuận của vợ chồng nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ, tẩu tán tài sản, việc thỏa thuận của vợ chồng trong việc chia tài sản chung khi ly hôn phải phù hợp với các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình

Truờng hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau, có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết Về nguyên tắc, phần của vợ chồng trong khối tài sản chung là ngang bằng nhau, do đó khi vợ chồng ly hôn, tài sản chung được chia đôi Tuy vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ chồng và những người khác có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản của vợ chồng, trong từng trường hợp cụ thể, tài sản chung của vợ chồng không thể chia đôi mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc khác, cụ thể theo quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

“ a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên

bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.”

Trang 27

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Từ bản chất của quan hệ sở hữu chung hợp nhất về tài sản của vợ chồng, mọi tài sản, thu nhập hợp pháp mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung, nhưng trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình tài sản được tính theo phần trong khối tài sản chung

Do cuộc sống chung của gia đình không thể tự tay một bên vợ hoặc chồng có thể xây đắp được, mà nó phải là kết quả đóng góp của các thành viên trong gia đình Tuy nhiên vấn đề đặt ra là ý thức của các bên trong việc vun sức xây dựng mái ấm gia đình, khi một bên tích cực tạo lập, phát triển, duy trì khối tài sản chung, còn bên kia thì hoang phí, phá tán tài sản chung Do đó để bảo vệ quyền lợi của bên có ý thức trong việc xây dựng gia đình, việc phân chia tài sản chung cần có sự cân nhắc về công sức đóng góp của các bên

Một điều cần lưu ý, việc xem xét đến “công sức đóng góp” của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì phát triển tài sản chung không có nghĩa là xem xét xem vợ, chồng ai là người làm ra nhiều tài sản trong gia đình hoặc ai là người trực tiếp làm ra tài sản Nếu hiểu như vậy, vô hình chung không thừa nhận sự tồn tại của sở hữu chung hợp nhất về tài sản của vợ chồng

Bên cạnh xem xét “công sức đóng góp”, “hoàn cảnh của mỗi bên” cũng được nhà làm luật quan tâm và xem như một tiêu chí khi phân chia tài sản chung của vợ chồng Tòa án xem xét đến khả năng lao động, điều kiện sức khỏe của các bên vợ, chồng để phân chia tài sản chung, nhằm tạo điều kiện nhanh chóng ổn định cuộc sống của các bên sau khi ly hôn

Khoản 2 Điều 96 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”

Sau khi ly hôn việc đảm bảo đời sống kinh doanh sản sản xuất được quy định cụ thể trong Điểm c Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điểm c Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”.Theo nguyên tắc này Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì cần phải căn cứ vào đặc điểm nghề nghiệp, điều kiện lao động sản xuất, hoàn cảnh sống của mỗi bên vợ chồng để phân chia tài sản chung của vợ chồng cho phù

Trang 28

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

hợp, đảm bảo cho các bên vợ, chồng sau khi ly hôn được nhanh chóng đi vào ổn định cuộc sống riêng

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.Theo nguyên tắc này thì những tài sản có thể chia bằng hiện vật thì chia theo hiện vật, nếu không thể chia bằng hiện vật thì chia theo giá trị, tức là thanh toán bằng tiền Và cũng để đảm bảo công bằng trong quyền lợi của mỗi bên thì bên nhận được vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng sẽ thanh toán phần giá trị chênh lệch

Ngoài ra, Khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và Khoản 4 Điều

59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng Trong

đó tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy, trường hợp có tranh chấp về tài sản riêng thì vợ, chồng phải có nghĩa vụ chứng minh, nếu không chứng minh được thì đó sẽ là tài sản chung của vợ chồng

Như vậy, trên cơ sở việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn phải tuân thủ nguyên tắc chung thì các Tòa án khi xem xét giải quyết các vụ việc trong thực tiễn, còn phải biết kết hợp hài hòa các nguyên tắc trên; có như vậy mới đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên về vấn đề tài sản, đồng thời tránh được những tranh chấp kéo dài giữa vợ chồng mà có thể bị kháng nghị đến cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm

2.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn

Hậu quả của việc ly hôn sẽ kéo theo sự chấm dứt hoàn toàn của quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản

Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn chính là vấn đề của sự rạch ròi về tài sản chung

và tài sản riêng của vợ chồng và của cả gia đình

Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“1 Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết

Trang 29

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”

Khi nói đến những hậu quả của ly hôn là nói đến những hệ luỵ ảnh hưởng đến

bản thân những người trong cuộc, gia đình và cả xã hội Khi bản án ly hôn được tuyên

nó thừa nhận sự tan vỡ của một gia đình, mọi quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình được giải quyết dựa trên cơ sở quyết định hoặc bản án của Toà án, không loại trừ các thoả thuận khác của các bên đương sự Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn nằm trong những hậu quả của

ly hôn

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc phát triển về nội dung ở khoản

2 Điều 61 không làm thay đổi tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Cụ thể Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này”

Trong quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng đây là là mối quan hệ thiêng liêng về bản chất không vụ lợi, sẵn sàng chia sẽ và hi sinh vì nhau, là quan hệ nền tảng để xây dựng một gia đình hạnh phúc nền vững Các cuộc hôn nhân tan vỡ dẫn đến ly hôn, về bản chất đều xuất phát từ mối quan hệ này bị một trong hai bên phá vỡ Về nguyên tắc khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, sự chấm dứt quan hệ vợ chồng

là hậu quả mà các bên ý thức được rõ ràng, quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng

sẽ chấm dứt hoàn toàn, dẫn theo mối quan hệ gia đình giữa người con rể với gia đình bên vợ hay người con dâu với gia đình bên chồng chấm dứt

Sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan

hệ tài sản giữa vợ, chồng cũng hoàn toàn chấm dứt Tài sản riêng của người nào thì vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó, nhưng phải có nghĩa vụ chứng minh, nếu không chứng minh được thì sẽ coi đó là tài sản chung Về tài sản chung với gia đình sẽ chia theo phần trên cơ sở xem xét đến công sức đóng góp và hoàn cảnh của các bên Mỗi bên được sở hữu một phần tài sản và hoàn toàn độc lập trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó

Quan hệ tài sản chấm dứt nói lên tính chất của vấn đề ly hôn, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản đầu tiên ảnh hưởng đến chính những người trong cuộc, đời sống sau

Trang 30

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

này của bản thân Sự thiếu công bằng là điều khó tránh khỏi nhưng vẫn phải đảm bảo

sự chính xác tối đa khi phân chia, dựa trên nguyên tắc tự thoả thuận, nói khác hơn đó là

sự tự nguyện của đôi bên, đây cũng là bản chất tốt đẹp của hôn nhân, mang giá trị nhân văn sâu sắc khi bước ra khỏi cuộc sống hôn nhân và gia đình cần nêu cao tinh thần nhân ái, hạn chế tối đa những xung đột giữa vợ, chồng làm tổn thương gia đình, cha mẹ

vợ, chồng và chính các con là người chịu hậu quả nặng nề nhất về vật chất lẫn tinh thần

Việc yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản khi vợ chồng chung sống với gia đình

ly hôn tuân thủ theo Điều 96 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000: tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình

Khoản 2 Điều 96 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định : “Trong trường hợp

vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”

Hậu quả của việc “trích” ra từ khối tài sản chung của gia đình để chia cho vợ hoặc

chồng từ tài sản chung thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng Công việc trích ra này do đương sự tự thoả thuận hay Toà án đứng ra xem xét và trích phần tài sản xác định được Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng tuỳ vào từng vụ án cụ thể mà có những khó khăn khác nhau Đối với những tài sản đã được xác định là tài sản chung nhưng việc chia lại gặp vướng mắc trong việc định giá tài sản, sau đó nhận phần chênh lệch khi xác định tài sản chung

Việc chia tài sản chung là cần thiết để đảm bảo điều kiện sống cho mỗi bên sau khi

ly hôn Song đây cũng là hậu quả pháp lý nặng nề nhất, về vật chất lẫn tinh thần của vợ chồng, của cả gia đình với tư cách là một tế bào của xã hội

Trang 31

Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia

đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

CHƯƠNG 3 THỰC TIỂN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH LY HÔN Ở TOÀ ÁN NHÂN

DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

3.1 Tình hình giải quyết các vụ án Hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nằm dọc theo Quốc lộ 80, Số

82, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Địa điểm Toà án nằm ngay trung tâm kinh tế xã hội của huyện, thuận tiện cho việc tiếp xúc giải quyết yêu cầu, thưa kiện của người dân trong và ngoài địa bàn

Biên chế của Toà án nhân dân huyện Châu Thành gồm có 01 Chánh án, 02 Phó Chánh án, 07 Thẩm phán, 05 Thư ký, 01 Bảo vệ

Tuy còn gặp không ít khó khăn về môi trường làm việc, cũng như áp dụng pháp luật vào công việc xét xử và giải quyết án nhưng toàn thể công nhân viên chức luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Theo báo cáo tổng kết giải quyết các vụ án Hôn nhân gia đình của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong năm 2011 Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý 2355 vụ

án Hôn nhân gia đình, trong đó giải quyết được 2276 Năm 2012 thụ lý 2705 vụ, giải quyết 2615 vụ Năm 2013 thụ lý 3075 vụ, giải quyết 2970 vụ So với năm 2011, các vụ

án hôn nhân và gia đình năm 2013 tăng lên đáng kể, việc áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án Hôn nhân gia đình gặp nhiều bất cập, trong đó giải quyết các vụ tranh chấp ly hôn chia tài sản chung khi vợ chồng chung sống với gia đình ly hôn gặp không ít khó khăn

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w