1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

66 911 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, có nguyên nhân quan trọng là việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà hoặc trong quá trình thực hiện không tuân thủ đúng trình

Trang 1

VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Lớp: DT1263B1

Trang 2

Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Trang 3

Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014

Hội đồng phản biện

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 3

1.1 Thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính 3

1.1.1 Thủ tục hành chính 3

1.1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính 4

1.1.2 Cải cách thủ tục hành chính 5

1.1.3 Mục tiêu và ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính 6

1.1.3.1 Mục tiêu 6

1.1.3.2 Ý nghĩa 7

1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tố cáo 7

1.2.1 Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại 7

1.2.2 Khái niệm tố cáo và giải quyết tố cáo 9

1.2.3 So sánh giữa khiếu nại và tố cáo 11

1.3 Mục đích, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 12

1.4 Quá trình hình thành và phát triển những cơ sở pháp lý về thủ tục hành chính trong tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo 12

1.5 Sơ lược quy định của pháp luật hiện hành về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo 17

Trang 5

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 19

2.1 Tiếp dân và tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo 19

2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại 20

2.2.1 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu 20

2.2.1.1 Thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu 20

2.2.1.2 Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu 20

2.2.1.3 Xác minh nội dung khiếu nại lần đầu 21

2.2.1.4 Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu 22

2.2.1.5 Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu 22

2.2.1.6 Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính 23

2.2.1.7 Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu 24

2.2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai 25

2.2.2.1 Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai 25

2.2.2.2 Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai 26

2.2.2.3 Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai 26

2.2.2.4 Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai 27

2.2.2.5 Gửi và công khai quyết định giải quyết khiếu nại 27

2.3 Trình tự thủ tục giải quyết tố cáo 28

2.3.1 Đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ 28

2.3.1.1 Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo 28

2.3.1.2 Xác minh nội dung tố cáo 30

2.3.1.3 Kết luận nội dung tố cáo 31

2.3.1.4 Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo 32

2.3.2 Đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực 33

2.3.2.1 Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực 33

2.3.2.2 Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực 33

2.3.2.3 Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo 34

2.3.3 Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo 34

Trang 6

cáo của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ 34

2.3.3.2 Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực 35

2.3.3.3 Thời hạn giải quyết tố cáo 35

2.3.3.4 Hồ sơ giải quyết tố cáo 35

2.3.3.5 Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp 36

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THỜI GIAN TỚI 38

3.1 Thực trạng công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo 38

3.1.1 Công tác tiếp dân 38

3.1.2 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 40

3.1.3 Những kết quả đạt được 44

3.1.4 Những hạn chế, yếu kém 45

3.1.5 Nguyên nhân 46

3.2 Giải pháp trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo 47

3.2.1 Đổi mới thủ tục hành chính trong tiếp công dân 47

3.2.2 Hoàn thiện thủ tục giải quyết khiếu nại 48

3.2.3 Hoàn thiện thủ tục giải quyết tố cáo 50

3.2.4 Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo cho đội ngũ cán bộ, công chức 52

3.2.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay tại cơ sở và chính quyền địa phương là người chịu trách nhiệm chính trong giải quyết khiếu nại, tố cáo 53

3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 54

KẾT LUẬN 56

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là một vấn đề quan trọng và bức thiết trong bối cảnh nước ta hiện nay khi tình trạng khiếu nại, tố cáo ở nước ta ngày càng gia tăng và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ căn bản của nhân dân, trách nhiệm của những cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc giải quyết khiếu nại tốt hay kém nó thể hiện được chất lượng quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ta Hơn nữa, vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính cũng đang đặt ra cho các nhà khoa học pháp lý những bài toán khó giải, xử lý được vấn đề này sẽ góp phần đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, xây dựng được một bộ máy nhà nước gọn nhẹ nhưng hiệu quả, nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta

Hiện nay khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nước ta phải giải quyết nhiều vấn

đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có việc xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn vốn trong nước và quốc tế, nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề tiếp dân và khiếu nại, tố cáo sẽ góp phần củng cố và gầy dựng lòng tin đối với các nhà đầu tư, cũng như nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã từng bước phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ rệt Quyền dân chủ của nhân dân, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo không ngừng được phát huy Cùng với những thành tựu đạt được trong nhiều lĩnh vực đời sống kinh

tế - xã hội, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân cũng có những diễn biến mới Tuy nhiên, tình hình khiếu nại và tố cáo hiện nay vẫn đang có chiều hướng ngày càng gia tăng, số người trực tiếp đi khiếu nại, tố cáo ngày càng nhiều, tính chất khiếu nại, tố cáo rất gay gắt và phức tạp, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng và vượt cấp lên trên; việc giải quyết còn chậm; tình trạng vi phạm pháp luật còn phổ biến Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên Trong đó, có nguyên nhân quan trọng

là việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà hoặc trong quá trình thực hiện không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật

đã quy định gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân cũng như cơ quan nhà nước khi xem xét, giải quyết

Tình trạng trên đòi hỏi phải nghiên cứu tìm giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tình hình mới Từ

việc nhận thức được điều này người viết đã chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính

Trang 8

trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” làm đề tài nghiên cứu

cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Với tư cách là một công dân của đất nước, tôi muốn nghiên công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền hiện nay, nhằm nâng cao hiểu biết cho bản thân, phổ biến kiến thức pháp luật khiếu nại, tố cáo cho đông đảo quần chúng nhân dân Qua đó, cũng mong muốn nêu ra những bất cập còn tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, và đưa ra những kiến nghị, phương hướng nhằm góp phần khắc phục những thiếu sót, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói riêng, đáp ứng các yêu cầu về thủ tục pháp lý, cũng như môi trường đầu tư trong bối cảnh đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế thế giới của đất nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, kết hợp những kiến thức đã học, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp Bên cạnh đó người viết cũng sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp thống kê, sử dụng các trang thông tin điện tử để tìm kiếm tài liệu, đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn

5 Bố cục đề tài

Luận văn được chia làm ba phần: Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Trong

đó phần nội dung được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính

trong tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục hành chính trong tiếp

công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Chương 3: Thực trạng và giải pháp về cải cách thủ tục hành chính trong tiếp

công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian tới

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1.1 Thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính

1.1.1 Thủ tục hành chính

1.1.1.1 Khái niệm

Theo Từ điển tiếng việt thông dụng, thủ tục là “Cách thức tiến hành một công

động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp là

ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp Trong đó, khái niệm thủ tục hành chính có rất nhiều cách hiểu khác nhau Nhưng theo tinh thần nội dung các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật gần nhất thì “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến

Thủ tục hành chính gồm những nội dung cơ bản sau:

- Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt động quản

lý nhất định

- Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó

- Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể

Cách hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng, biện pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện hiện nay Vì vậy, có thể nói đây là cách hiểu đầy đủ nhất về thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính do pháp luật quy định, toàn bộ các quy phạm về thủ tục hành chính tạo thành chế định quan trọng của luật hành chính Chỉ các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh mới là thủ tục hành chính, còn tất cá các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể nào đó trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không được các quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh thì không phải là thủ tục hành chính

1 Theo từ điển tiếng việt của nxb văn hoá thông tin năm 1998, tr 310

2 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính

Trang 10

1.1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính là thủ tục được áp dụng trong quản lý hành chính nhà nước (lĩnh vực chấp hành điều hành) Nói cách khác thủ tục hành chính được thi hành ngoài trình tự toà án, có thể nói đây là một đặc điểm rất quan trọng của thủ tục hành chính,

nó cho phép phân biệt thủ tục hành chính với các hình thức thủ tục khác thường được gọi là thủ tục tố tụng được tiến hành tại Toà án

Các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ là cách thức trình tự thực hiện quy phạm vật chất của luật hành chính mà còn là hình thức đảm bảo quy phạm vật chất của hầu hết các ngành luật Trong hệ thống pháp luật nước nhà, hình thức thủ tục hình sự bảo đảm thực hiện chỉ quy phạm ngành luật hình sự Nhưng riêng đối thủ tục hành chính một đặc diểm đáng chú ý là nó đảm bảo thực hiện quy phạm của rất nhiều ngành luật như luật hành chính, luật đất đai, luật hôn nhân gia đình

Khác với các hình thức thủ tục tư pháp luôn là các thủ tục được ban hành để giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp pháp luật như tranh chấp dân sự, kinh tế Hoặc để áp dụng các chế tài pháp luật như chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự; còn thủ tục hành chính không phải lúc nào cũng nhằm vào mục đích nói trên

Thủ tục hành chính được tiến hành bởi nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau Trong lĩnh vực tư pháp, việc tiến hành tố tụng được thực hiện theo các thủ tục được quy định chỉ do một số cơ quan nhất định như: Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra thực hiện Trong việc thực hiện thủ tục hành chính lại khác do rất nhiều cơ quan nhà nước khác nhau tiến hành: Các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp; trong quan hệ nội bộ giữa các cơ quan và đối tượng ngoài cơ quan với tư cách quản lý nhà nước

Thủ tục hành chính được quy định bởi nhiều cơ quan khác nhau Đối với các hình thức thủ tục tư pháp: Hình sự, dân sự, lao động Các văn bản quy định về những hình thức này do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, còn đối với văn bản quy định về thủ tục hành chính lại khác Có một số thủ tục hành chính được quy định bởi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng bên cạnh đó phần lớn là do nhiều cơ quan nhà nước khác nhau ban hành

Các văn bản về thủ tục hành chính tản mạn, không tập trung Các văn bản chứa đựng các thủ tục hành chính được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau Chẳng hạn ở lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính có rất nhiều văn bản cụ thể hoá pháp lệnh được ban hành về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý

Trang 11

nhà nước khác nhau hoặc có những thủ tục hành chính được quy định trong các văn

1.1.2 Cải cách thủ tục hành chính

Nếu như nội dung cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 có 5 nội dung là: Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức; tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính thì Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 có thêm nội dung thứ 6 là cải cách thủ tục hành chính4

Như vậy, kết quả quá trình thực hiện công tác cải cách hành chính giai đoạn 2001

- 2010 đã được đúc rút và thấy cần thiết phải đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính nên đã đưa ra nhiệm vụ này thành một trong 6 nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 Chương trình tổng thể cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần thiết trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập của nước ta Hiện nay thủ tục hành chính ở nước ta còn những nhược điểm: Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân; nặng nề, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập Thủ tục hành chính thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch Hiệu quả của nhược điểm trên là gây phiền hà cho việc thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp Chính vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là yêu cầu bức xúc của nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải cách hành chính Nhà nước Trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu thủ tục hành chính nói riêng, nền hành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Kết quả công tác cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 đã đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua

về thủ tục hành chính Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, thủ tục hành chính cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa

Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải

Trang 12

hoàn tất trong một thời gian nhất định Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ

hệ thống nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động

Những yêu cầu của quá trình cải cách thủ tục hành chính:

- Phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính

- Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình thủ tục hành chính

1.1.3 Mục tiêu và ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính

1.1.3.1 Mục tiêu

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước

Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và

5 Điều 2 Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ

Trang 13

Ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính không chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ khía cạnh xã hội, tức là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Hơn thế, đó là một khâu đột phá đúng để xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thống nhất, thông suốt, hiệu quả, chống nạn tham nhũng, tiêu cực, làm lành mạnh hóa bộ máy hành chính

1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tố cáo

1.2.1 Khái niệm khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Khiếu nại là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó cụm từ khiếu nại được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: “Complant” có nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những

chung nhất là việc cá nhân hay tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa chữa một việc làm mà họ cho là không đúng, đã và đang hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ

Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, một quyền có tính chất chính trị và pháp lý của công dân, là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên quan chặt chẽ và chiếm vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việc thực hiện quyền khiếu nại sẽ là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của công dân Chính vì vậy trên cơ sở Hiến pháp, đã có nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước

ta quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, đặc biệt là Luật khiếu nại, tố cáo năm

1998 (được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2004 và 2005) và Luật khiếu nại năm

2011

6 Nguyễn Văn Trình, Từ điển Anh - Việt, Nxb Đồng Nai, 1990, tr.205

7 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiềng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tr.904

Trang 14

Theo quy định của Luật khiếu nại: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức

hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”8 Trong đó:

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người

có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn

đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể Ví dụ: Quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố

A về thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cấp cho gia đình bà B; Quyết định cưỡng chế thi hành án của Chi cục trưởng Thi hành án huyện C đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn D

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm

vụ, công vụ theo quy định của pháp luật Ví dụ: Hành vi không cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư cho Công ty X khi Công

ty này đã nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật; hành vi cản trở việc thi hành

án của một số cán bộ thi hành án huyện Y sau khi bản án Z đã có hiệu lực pháp luật Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Ví dụ: Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X về việc xử lý kỷ luật cách chức Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện do có hành vi vi phạm quy định về quản lý; Quyết định của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Y về việc cảnh cáo Chi cục phó Chi cục Thuế huyện Z thuộc tỉnh do có hành vi bao che cho một số doanh nghiệp trên địa bàn gian lận thuế

Như vậy, khiếu nại quy định trong Luật này được hiểu là khiếu nại hành chính,

đó là khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức Khái niệm này chỉ giới hạn đối với những khiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước

8 Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo

Trang 15

Mục đích của việc khiếu nại trước hết là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại khỏi bị xâm hại bởi những việc làm, những quyết định, chính sách trái pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước Suy rộng ra mục đích của khiếu nại chính là nhằm bảo đảm cho các quy định pháp luật liên quan tới các quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, công dân được thực hiện nghiêm chỉnh; giúp cho hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức nhà nước có hiệu quả, các quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật được sửa đổi hoặc bãi bỏ kịp thời, ngăn ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra từ phía những người thực thi công vụ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Luật Khiếu nại quy định: “Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận

và ra quyết định giải quyết khiếu nại”9 Như vậy, giải quyết khiếu nại gồm 4 giai đoạn: Thụ lý; xác minh tình tiết; nội dung vụ việc khiếu nại, kết luận về tính đúng sai, cơ sở pháp lý của nội dung khiếu nại và cuối cùng là ra quyết định giải quyết khiếu nại

1.2.2 Khái niệm tố cáo và giải quyết tố cáo

Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, được quy định trong Luật tố cáo năm 2011 và nhiều văn bản pháp luật khác

Luật tố cáo quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định

báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” 10

Để hiểu đúng bản chất của tố cáo, chúng ta cần phải xem xét dưới các khía cạnh như: Chủ thể, đối tượng, mục đích tố cáo và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo

Tố cáo trước hết thể hiện ý thức đấu tranh, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật đối với các hành vi vi phạm, người tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn vì lợi ích của nhà nước, của cộng đồng Như vậy, chỉ khi công dân có được ý thức pháp luật, có tinh thần đấu tranh vì sự công bằng, vì sự nghiêm minh của pháp luật thì mới có thể thực hiện việc tố cáo

Ở đây cần phân biệt giữa tố cáo khác với tin báo, tố giác tội phạm Theo quy định của Luật tố cáo, chủ thể của tố cáo là đối tượng được xác định cụ thể, đó là cá nhân và khi tố cáo, họ phải chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp đối với hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng nhất định Mặt khác, khi công dân thực hiện quyền tố cáo đã phát sinh quan hệ pháp luật về tố cáo, trên cơ sở đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ giải quyết và trả lời cho người tố cáo biết Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội

9 Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại

10 Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo

Trang 16

phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”, “Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức

quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với tin báo, tố giác về tội phạm, chủ thể có thể xác định hoặc không xác định, có thể là cá nhân, có thể là cơ quan, tổ chức Đối tượng tố cáo là mọi hành vi vi phạm pháp luật, có thể là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc cũng có thể là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, còn tố giác và tin báo về tội phạm thì đối tượng chỉ bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao và được quy định trong Bộ luật hình sự

Như vậy, đối với tố giác, tin báo về tội phạm, được thực hiện theo quy định của

Bộ Luật tố tụng hình sự; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (không phải là hành vi tố tụng) thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nói chung, bao gồm: vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được thực hiện theo quy định của pháp luật tố cáo; tố cáo đối với hành vi vi phạm điều lệ của các thành viên tổ chức thì được thực hiện theo quy định của Điều lệ của tổ chức đó

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực

Ví dụ: Phát hiện thấy anh B - cảnh sát giao thông nhận tiền của người vi phạm rồi cho đi mà không lập biên bản xử lý, ông C đã lên Công an quận tố giác hành vi của anh B Việc tố giác của ông B có được coi là tố cáo hay không? Các hành vi nào được coi là hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo theo quy định của pháp luật?

11 Điều 3 Thông tư 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC- BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 Hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trang 17

Như vậy, việc tố giác hành vi vi phạm pháp luật của ông C với cơ quan có thẩm quyền trực tiếp quản lý cảnh sát giao thông B trong trường hợp trên được coi là hành

vi tố cáo theo quy định của pháp luật

Luật Tố cáo quy định: “Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về

nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo”12 Giải quyết tố cáo gồm 4 giai đoạn: Tiếp nhận; xác minh nội dung tố cáo; kết luận về tính đúng đắn, khách quan nội dung tố cáo và giải quyết những vấn đề liên quan đến nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật

1.2.3 So sánh giữa khiếu nại và tố cáo

Giữa khiếu nại và tố cáo có điểm chung là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức khi bị xâm phạm Khiếu nại và tố cáo đều có chung căn cứ là vi phạm pháp luật Vì vậy, các thông tin do khiếu nại và tố cáo mang đến đều là những thông tin phản ánh vi phạm pháp luật Do vậy, về bản chất giải quyết khiếu nại, tố cáo là giải quyết xử lý vi phạm pháp luật

Mặc dù giữa khiếu nại và tố cáo có quan hệ gần gũi nhau nhưng giữa chúng có sự khác nhau về nội dung, tính chất, đặc biệt là sự điều chỉnh của pháp luật

Về chủ thể: Chủ thể của khiếu nại là công dân, tổ chức, cơ quan – những

người có quyền lợi liên quan trực tiếp tới hành vi vi phạm pháp luật, còn chủ thể của tố cáo chỉ có thể là công dân - người không có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp tới hành vi vi phạm pháp luật

Về đối tượng: Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành

chính mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối tượng của tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Về mục đích: Mục đích của người khiếu nại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình, còn mục đích của người tố cáo là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể nói chung

Về trách nhiệm pháp lý: Người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm khi

khiếu nại không có căn cứ còn người tố cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý khi cố tình

tố cáo sai sự thật

12 Khoản 7 Điều 2 Luật tố cáo 2011

Trang 18

1.3 Mục đích, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và

vì dân Đảm bảo công bằng xã hội là mục tiêu của chế độ, phát huy dân chủ xã hộ chủ nghĩa vừa là một phương tiện thực hiện quyền làm chủ của công dân, vừa là con đường đảm bảo sự công bằng xã hội Do vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng đắn thể hiện bản chất của chế độ xã hội dân chủ của nhân dân, thể hiện

Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được pháp luật quy định là một trong những quyền cơ bản của công dân Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của kịp thời, đúng đắn trước hết là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của Nhà nước ta với dân Hơn nữa, qua đó Nhà nước điều chỉnh lại các hoạt động để bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ngày càng hoàn thiện hơn

Thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước đã khôi phục, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân, cơ quan, tổ chức Tài sản được trả lại cho dân và thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo nhiều cấp, nhiều ngành đã kịp thời chấn chỉnh những sơ hở trong quản lý kinh tế, yếu kém trong quản lý nhà nước Nhiều văn bản, chế độ, chính sách đã sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới

Giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng đắn có tác dụng tích cực đối với ổn định, phát triển xã hội Ngược lại, nếu giải quyết sai lệch sẽ gây tiêu cực khó lường lòng tin của nhân dân vào chính quyền, công bằng xã hội không được đảm bảo

1.4 Quá trình hình thành và phát triển những cơ sở pháp lý về thủ tục hành chính trong tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám với bản Tuyên ngôn lịch sử đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 1946 long trọng tuyên bố: Tất cả quyền bính trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều của toàn thể nhân dân Việt Nam Nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới do Đảng cộng sản lãnh đạo đã mang đến cho người dân Việt Nam các quyền dân chủ, dân sinh: Các quyền kinh tế, xã

Mặc dù Nhà nước sơ khai mới ra đời còn trăm công nghìn việc và phải lo chống thù trong giặc ngoài, nhưng do thấm nhuần quan điểm về quyền con người, quyền dân

13 Viện khoa học thanh tra, Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, Hồng Thanh, http://www.giri.ac.vn/cong-tac-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-voi- dinh-huong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-cua-dan-do-dan-va-vi-

dan_t104c2744n821tn.aspx?currentpage=1 , [truy cập ngày 25/6/2014]

14 Viện khoa học thanh tra, Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam, Đinh

Văn Minh, nam_t104c2744n819tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 20/6/2014]

Trang 19

http://www.giri.ac.vn/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-phap-luat-ve-khieu-nai-to-cao-o-viet-chủ, quyền hạnh phúc của người dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Việc nhận đơn thư khiếu tố được Người đặt ở tầm cao ngang với

việc đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền Nếu Điều 1 ghi là: “Chính

phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”15, thì Điều 2

qui định: “Nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ

của Uỷ ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát”16

Trong Sắc lệnh số 138b-SL ngày 18/12/1949 cũng vậy, cùng với nhiệm vụ: “Xem

xét thi hành chủ trương của Chính phủ”17 là nhiệm vụ: “Thanh tra sự khiếu nại của

nhân dân”18 Những quy định nói trên nói lên sự quan tâm của Hồ Chủ tịch và Chính

Ngoài ra, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo của công dân Trong Thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946 của Bộ

trưởng Bộ Nội vụ về khiếu tố nói rõ: “Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ thiết

lập trên nền tảng dân chủ, có bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian”20 Thông tư này hướng dẫn cho công dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các

cơ quan, thời hạn để giải quyết khiếu tố

Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân Thông tư xác định:

“Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác của nhân dân là một trách

những nguyên tắc về quyền hạn và nghĩa vụ của nhân dân trong việc khiếu tố; những nguyên tắc về trách nhiệm và tổ chức của các cơ quan hành chính và cơ quan chuyên

20 Thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bộ nội vụ

21 Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 20

môn các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu và giải quyết các loại đơn thư khiếu nại,

tố cáo của nhân dân

Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của Việt Nam dân chủ cộng hoà Hiến pháp đã dành riêng một điều quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi cho người dân

Hiến pháp năm 1959 qui định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền

khiếu nại, tố cáo bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước Những khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”22

Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản nhằm cụ thể hoá Hiến pháp, bảo đảm cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân

Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan Thanh tra của Nhà nước Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ qui định nhiệm

vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ

Thông tư số 60/UBTT ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Trong các văn bản nói trên, Chính phủ đã giao việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân cho Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ, đồng thời quy định cụ thể một số nguyên tắc trong việc giải quyết đơn thư khiếu tố như: Trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chủ yếu thuộc về cơ quan phát sinh vấn đề, trước hết là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan; trình tự xem xét và giải quyết đơn thư khiếu tố của Uỷ ban hành chính các cấp và các ngành chuyên môn Những quy định trên đây của Chính phủ

đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời quy định trách nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp

22 Điều 29 Hiến pháp năm 1959

Trang 21

hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân

Sau khi nước nhà được thống nhất, chúng ta đã ban hành Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1980 Một lần nữa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1980 và so với Điều 29 của Hiến pháp năm 1959 thì qui định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể hơn, chi

tiết hơn “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước

về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó; Các điều khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng; Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường; Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”23

Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Pháp lệnh năm

1981 gồm những quy định chung về quyền khiếu nại, tố cáo và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo

Tiếp đó là những văn bản được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định 58 Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982 của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 12/5/1984 của Hội đồng

Bộ trưởng về việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu lực của hoạt động thanh tra; Chỉ thị số 17-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/7/1989 về kiểm điểm việc thực hiện Pháp lệnh năm 1981 Qua thực tiễn hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh qui định

về việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nước ta quyết định ban hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm

1981

Có thể nói, những quy định của Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện sự đổi mới về mặt nhận thức quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân cũng như công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự đổi mới đó còn rất

ít cơ sở thực tế để phát huy hiệu lực và hiệu quả Những quy định về trình tự, thủ tục

23 Điều 73 Hiến pháp năm 1980

Trang 22

cũng tỏ ra không thực tế và quá trình thực hiện có nhiều vi phạm kể cả người khiếu nại, tố cáo cũng như cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết Chính

vì những vấn đề nêu trên cho nên hiệu lực và hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo kể từ sau khi Pháp lệnh 1991 ban hành không có những sự biến đổi tích cực

và gần như đồng thời với việc ban hành Pháp lệnh năm 1991 Nhà nước ta đã có chủ trương nghiên cứu và thiết lập cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường tài phán để khắc phục những nhược điểm của phương thức giải quyết khiếu kiện hành chính từ trước đến nay

Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá IX,

kỳ họp thứ X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân trong đó qui định về sự hình thành tổ chức và về hoạt động xét xử hành chính Ngày 21/5/1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên rất quan trọng đánh dấu sự ra đời của cơ chế tài phán hành chính ở Việt Nam Đây thực sự là một bước tiến đáng kể trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một biểu hiện rõ ràng, cụ thể của sự đổi mới trong nhận thức

về quá trình dân chủ hoá xã hội và bảo vệ các quyền dân sự của công dân Việc xét xử hành chính đã được thực hiện hơn mười năm qua và hiện nay các cơ quan có trách nhiệm đang xây dựng Luật Tố tụng hành chính nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của cơ chế này Đồng thời công tác tiếp dân cũng đã được quan tâm, ngày 15/01/1993, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/CT-TTg về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Đặc biệt, ngày 7/8/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân, đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta quy định cụ thể các nội dung về công tác tiếp công dân như mục đích của việc tiếp công dân, trách nhiệm của Chủ tich Uỷ ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan quản lý trong việc tiếp công dân, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước Trên cơ sở Nghị định số 89/CP, Tổng Thanh tra Nhà nước ban hành Thông tư số 1178/TT-TTNN ngày 25/9/1997 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 89/CP ngày 7/8/1997; Quyết định số 1204/QĐ - TTNN ngày 01/10/1997

Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991 và đã dành một chưng riêng để nói

về công tác tiếp dân Như vậy cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính được thực hiện

24 Dự thảo online, Báo cáo tổng kết việc thực hiện công tác tiếp công dân, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Chính phủ,http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=696&TabI ndex=2&TaiLieuID=1053, [truy cập ngày 28/9/2014]

Trang 23

theo qui định của các văn bản này cho đến nay đã có những kết quả nhất định, đồng thời cũng bộc lộ những vấn đề khó khăn bất cập mà đến nay cần nghiên cứu và Nhà nước ta cũng đang có chủ trương tiến hành đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này

Tại kỳ họp 5 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên những điểm sửa đổi, bổ sung chỉ là những điểm không cơ bản, giải quyết kịp thời một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Chính vì vậy, cũng ngay tại kỳ họp này, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 30/2004/QH11 Trong đó, nêu

rõ “Chính phủ khẩn trương tiến hành tổng kết toàn diện việc thi hành Luật khiếu nại,

tố cáo năm 1998, làm cơ sở cho việc nghiên cứu sửa đổi cơ bản Luật khiếu nại, tố cáo, xây dựng cơ chế hữu hiệu để giải quyết các khiếu kiện hành chính phù hợp với tình hình thực tế của nước ta và thông lệ quốc tế”25

Thực hiện tinh thần của Nghị quyết nêu trên hiện nay Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ khẩn trương nghiên cứu xây dựng Dự án Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, trình Quốc hội thông qua trong thời gian tới, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại và tố cáo Đến ngày 11/11/2011, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật khiếu nại và Luật tố cáo; và Luật Tiếp công dân đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 25/11/2013

Nói đến thủ tục tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là nói đến hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,

tố cáo Như vậy, thủ tục tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo không chỉ đơn thuần là những quy định mang tính nghiệp vụ trong quá tình tiếp nhận, xem xét, kết luận, ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo mà còn bao hàm cả những quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân và cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.5 Sơ lược quy định của pháp luật hiện hành về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Để tăng cường sự gắn bó giữa người dân đối với Đảng và Nhà nước, cần phải thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo Làm tốt công tác này sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế

phát triển Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo

với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo; người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh

25 Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15/6/2004

Trang 24

thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”26

Công tác tiếp công dân có quan hệ chặt chẽ với công tác giải quyết khiếu nại, tố

tiếp công dân, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lan vượt cấp cũng như các bất cập khác trong giải quyết khiếu nại, tố cáo Ở khía cạnh cụ thể tiếp công dân là khâu đầu tiên của quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo Vì vậy, công tác này có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề thuận lợi cho việc giải quyết chất lượng khiếu nại, tố cáo

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm chú trọng thực hiện tốt công tác này, đặc biệt là việc thể chế hoá công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua các văn bản pháp luật như: Luật Khiếu nại 2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Luật Tố cáo 2011, Nghị định

số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo, Thông tư 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo; Luật Tiếp công dân 2013, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân Các văn bản trên quy định trình tự, thủ tục về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, trách nhiệm, nghĩa vụ cán bộ và tổ chức công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các ngành, các cấp

26 Điều 30 Hiến pháp 2013

27 Hướng dẫn nghiệp vụ, Nghiệp vụ tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực Tư pháp, http://www.moj.gov.vn/huongdannv/Lists/TaiLieuNghiepVu/View_Detail.aspx?ItemId=43, [truy cập ngày 12/9/2014]

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

2.1 Tiếp dân và tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo

Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật Tiếp công dân đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố

được thành lập ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và đều có thành lập Ban tiếp công dân, còn việc tiếp công dân ở cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phụ trách và phân công người tiếp dân

Cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp công dân phải có thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa đối với người dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, hướng dẫn công dân trình bày đầy đủ, rõ ràng nội dung khiếu nại, những yêu cầu cần giải quyết, cung cấp những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc; hướng dẫn công dân khiếu nại, tố cáo đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; giải thích cho công dân hiểu đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Giải thích, từ chối tiếp những người khiếu nại, tố cáo về những vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng

thẩm quyền xử lý khiếu nại, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý, kiến nghị, phản ánh cho công dân Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu

Việc tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo gắn liền với việc thực hiện một nhiệm

vụ có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức, đó là hoạt động tiếp công dân Hoạt động này phải được tiến hành thường xuyên bởi vì có rất nhiều trường hợp công dân trực tiếp đến trụ sở cơ quan nhà nước để đưa đơn khiếu nại, tố cáo hoặc trực tiếp trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo

28 Khoản 1 Điều 2 Luật tiếp công dân

29 Quyết định Số: 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/6/2010 về phê duyệt đề án đổi mới công tác tiếp công dân

30 Điều 8 Luật Tiếp công dân

Trang 26

2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại

2.2.1 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu

2.2.1.1 Thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu

Nghiên cứu và xem xét thụ lý khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu

một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện32

Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại: Trường hợp khiếu nại được thụ lý giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết Đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi cho người khiếu nại Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện

để thực hiện việc khiếu nại thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi đến người đại

Luật khiếu nại, tố cáo trước đây

Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại Thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý khiếu nại được thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Như vậy, quy định về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu về cơ bản kế thừa quy định của Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Ngoại trừ các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết theo quy định của Luật, còn lại người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải có trách nhiệm thụ lý giải quyết

2.2.1.2 Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

Luật khiếu nại quy định: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn

31 Điều 27 Luật Khiếu nại

32 Khoản 1 Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định Số: 75/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/10/2012 Quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại

33 Khoản 2 Điều 5 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 27

thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ

đây

2.2.1.3 Xác minh nội dung khiếu nại lần đầu

Xác minh nội dung khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, giúp làm sáng tỏ những nội dung còn khúc mắc làm phát sinh khiếu nại và là cơ sở quan trọng để kết luận về nội dung khiếu nại Việc xác minh được thực hiện theo các bước sau:

Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán

bộ, công chức bị khiếu nại: Luật khiếu nại quy định trong thời hạn quy định tại Điều

28, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm: Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay; trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải

Nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện, Thông tư 07/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính quy định

cụ thể về nội dung kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính bao gồm: Căn cứ pháp lý ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, ban hành quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; nội dung của quyết định hành chính, việc thực hiện hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; trình tự, thủ tục ban hành, thể thức và kỹ thuật trình bày quyết

Sau khi kết thúc việc xác minh, người có trách nhiệm xác minh hoặc Tổ trưởng

Tổ xác minh phải báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại bằng văn bản với người giải quyết khiếu nại hoặc người ban hành quyết định thành lập Tổ xác minh Báo cáo kết quả xác minh của Tổ xác minh phải được các thành viên trong Tổ xác minh thảo luận, đóng góp ý kiến Theo quy định, Báo cáo kết quả xác minh phải gồm các nội dung sau: Đối tượng xác minh; thời gian tiến hành xác minh; người tiến hành

34 Điều 28 Luật Khiếu nại

35 Điều 29 Luật Khiếu nại

36 Điều 6 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 28

xác minh; nội dung xác minh; kết quả xác minh; kết luận và kiến nghị nội dung giải

2.2.1.4 Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu

Đối thoại được coi là một giai đoạn quan trọng trong giải quyết khiếu nại, thể hiện tinh thần công khai, dân chủ trong quá trình giải quyết khiếu nại, là cơ hội để người giải quyết khiếu nại trực tiếp lắng nghe ý kiến của các bên liên quan (người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức,

cá nhân có liên quan) để làm rõ nội dung khiếu nại và những vấn đề còn khúc mắc mà

có thể qua xác minh chưa phản ánh hết, từ đó có căn cứ và cơ sở giải quyết vụ việc Quy định về đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu của Luật khiếu nại cũng có điểm khác so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Nếu Luật khiếu nại, tố cáo trước đây quy định việc gặp gỡ, đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu là yêu cầu bắt

chức đối thoại nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau (trừ trường hợp, đối với quá trình giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức) người giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai bắt buộc phải tổ

công sức cho người giải quyết khiếu nại và các bên có liên quan, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khi thấy cần thiết, người giải quyết khiếu nại có thể tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trước khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại Việc tham khảo ý kiến được thực hiện

quyết định giải quyết khiếu nại được thận trọng, chính xác và khách quan

2.2.1.5 Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Căn cứ quy định của pháp luật, kết quả xác minh nội dung khiếu nại, kết quả đối thoại (nếu có), người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

Nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại nếu có; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại; giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ

37 Điều 18 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

38 Điểm d khoản 1 Điều 44 Luật khiếu nại, tố cáo 1998

39 Điểm b khoản 1 Điều 21 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

40 Khoản 1 Điều 20 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 29

một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại nếu có; quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án hành

Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩm quyền giải quyết phải xem xét, kết luận nội dung khiếu nại và căn cứ vào kết luận đó để ra quyết định giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định giải

Việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: Sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ

Như vậy, so với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Luật khiếu nại đã

bổ sung thêm quy định về việc ra quyết định giải quyết khiếu nại trong trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thống nhất việc thực hiện, đồng thời quy định rõ hơn về trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại trong việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại để thuận tiện trong việc áp dụng

2.2.1.6 Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính

Sau cấp giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại có hai sự lựa chọn: Hoặc khiếu nại tiếp lần hai đến thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Cụ thể:

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày

Trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, các tài liệu có liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai Hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của

41

Khoản 1 Điều 22 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

42 Khoản 3 Điều 31 Luật Khiếu nại

43 Khoản 2 Điều 22 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 30

Luật này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì có quyền khởi kiện vụ án hành

2.2.1.7 Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu

Theo quy định của Luật khiếu nại thì việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ Hồ sơ giải quyết khiếu nại bao gồm các tài liệu như: Đơn khiếu nại, tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp, quyết định giải quyết khiếu nại, biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, biên bản tổ chức đối thoại nếu có và các tài liệu khác có liên quan Quá trình lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và phải lưu giữ hồ sơ theo quy định của pháp luật Trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án

Để việc quản lý hồ sơ được thống nhất, khoa học, phục vụ cho công tác giải quyết khiếu nại cũng như thuận tiện cho việc lưu trữ, tra cứu thông tin, Thông tư 07/2013/TT-TTCP hướng dẫn cụ thể việc lập, quản lý hồ sơ giải quyết khiếu nại như sau:

Người có trách nhiệm xác minh giúp người giải quyết khiếu nại mở, lập hồ sơ giải quyết khiếu nại; tập hợp những thông tin, tài liệu, bằng chứng, chứng cứ liên quan đến nội dung khiếu nại, kết quả xác minh, kết luận, kiến nghị, quyết định giải quyết khiếu nại được hình thành từ khi mở hồ sơ giải quyết khiếu nại đến khi đóng hồ sơ theo trình tự sau: Mở hồ sơ giải quyết khiếu nại (thời điểm mở hồ sơ là ngày thụ lý giải quyết khiếu nại); thu thập, phân loại văn bản, tài liệu, lập mục lục để quản lý; đóng hồ sơ giải quyết khiếu nại (thời điểm đóng hồ sơ là ngày người có thẩm quyền thực hiện xong việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại và công khai quyết định giải

Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ thời điểm đóng hồ sơ, người có trách nhiệm xác minh hoàn thành việc sắp xếp, lập mục lục và bàn giao hồ sơ cho bộ phận lưu trữ của cơ quan được giao xác minh hoặc bàn giao hồ sơ cho bộ phận lưu trữ của

44 Điều 33 Luật Khiếu nại

45 Điều 34 Luật Khiếu nại

46 Khoản 1 Điều 23 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

47 Khoản 2 Điều 23 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 31

2.2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai

Một trong những điểm mới của Luật khiếu nại so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây là quy định cụ thể và tách bạch thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu với thủ tục giải quyết lần hai Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm sự phân định rõ ràng giữa hai cấp giải quyết khiếu nại, tạo thuận lợi cho cả người khiếu nại lẫn người giải quyết khiếu nại Việc phân định rõ ràng này cũng tạo điều kiện cho việc xác định trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp trong giải quyết khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai được quy định cụ thể như sau:

2.2.2.1 Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai

Về cơ bản, quy định về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai cũng tương tự như thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 10 ngày, kể

từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết; trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu

rõ lý do Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, nếu thấy cần thiết, người giải quyết khiếu

quy định này, thông tư 07/2013/TT-TTCP quy định:

Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, người giải quyết khiếu nại có thể mời những người am hiểu chuyên môn về lĩnh vực liên quan đến nội dung khiếu nại, đại diện tổ chức chính trị -

xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia Hội đồng tư vấn giải quyết khiếu nại Tại cuộc họp Hội đồng tư vấn, người giải quyết khiếu nại yêu cầu người có trách nhiệm xác minh báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại, các vấn đề còn có những ý kiến khác nhau cần xin ý kiến tư vấn; các thành viên Hội đồng tư vấn thảo luận và tham gia

ý kiến Các ý kiến tham gia được ghi trong Biên bản họp Hội đồng tư vấn Biên bản có chữ ký của Chủ tịch, Thư ký Hội đồng tư vấn và được gửi cho người giải quyết khiếu nại49

Việc quy định về việc thành lập Hội đồng tư vấn là điểm mới đáng lưu ý của Luật khiếu nại so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Việc quy định về thành lập Hội đồng tư vấn trong giải quyết khiếu nại là kết quả từ tổng kết thực tiễn công tác giải

48 Điều 36 Luật Khiếu nại

49 khoản 2 Điều 20 Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 32

quyết khiếu nại hành chính trong thời gian qua Đây là sự ghi nhận hợp lý và kịp thời, đáp ứng yêu cầu của công tác giải quyết khiếu nại

2.2.2.2 Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai

Theo quy định tại Điều 37 của Luật khiếu nại thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý Ở vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có

quyết khiếu nại lần hai vẫn được quy định như Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được

Xác minh nội dung khiếu nại lần hai, tương tự như việc xác minh trong giải quyết lần đầu, Luật khiếu nại quy định cụ thể về việc xác minh nội dung khiếu nại lần hai nhằm tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động này Theo quy định của Luật khiếu nại thì căn cứ vào nội dung, tính chất của việc khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cho người có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại và kiến nghị giải quyết Việc xác minh trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và khoản 4 của Điều 29 Luật khiếu nại Như vậy, trình tự, thủ tục xác minh nội dung khiếu nại lần hai cũng tương tự như việc xác minh trong quá

2.2.2.3 Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai

Luật khiếu nại quy định trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại tiến hành đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, hướng giải quyết khiếu nại Việc tổ chức đối thoại lần hai thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật khiếu nại, tức là tương

Như vậy, việc quy định về đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai của Luật khiếu nại có điểm khác so với Luật khiếu nại, tố cáo trước đây Theo quy định trước đây thì trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại có thể gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung

50 Điều 37 Luật Khiếu nại

51 Điều 43 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005)

52 Điều 37 Luật Khiếu nại

53 Điều 39 Luật Khiếu nại

Trang 33

khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết54 Đây là quy định mang tính tuỳ nghi phụ thuộc vào lựa chọn của người giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại không bắt buộc phải tổ chức đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai đối với tất cả các vụ khiếu nại Trong khi đó, thực tiễn lại cho thấy, việc đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai là rất quan trọng, giúp người giải quyết khiếu nại, người khiếu nại, người bị khiếu nại nắm bắt thêm thông tin, tình tiết vụ việc, giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề góp phần đưa việc giải quyết được nhanh chóng và hiệu quả hơn Do vậy, việc quy định như trên là phù hợp, đáp ứng yêu cầu trong thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại

2.2.2.4 Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

Luật khiếu nại quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại lần đầu; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại; căn cứ pháp luật

để giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa

vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính; việc bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có và quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà

án55

2.2.2.5 Gửi và công khai quyết định giải quyết khiếu nại

Việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại: Tương tự như giải quyết khiếu nại lần đầu, người giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho các đối tượng có liên quan Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 07 ngày, kể

từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân

Việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại: Công khai quyết định giải quyết định giải quyết khiếu nại là nội dung mới của Luật khiếu nại, tuy nhiên trên thực tế thì nội dung này đã được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng (theo quy định

54 Điều 44 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005)

55 Điều 40 Luật Khiếu nại

56 Khoản 1 Điều 41 Luật Khiếu nại

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thanh tra Chính phủ, Giải quyết khiếu nại tố cáo có trường hợp chưa mạnh dạn sửa sai, Ngọc Thành, http://vov.vn/xa-hoi/giai-quyet-khieu-nai-to-cao-co-truong-hop-chua-manh-dan-sua-sai-356457.vov, [truy cập ngày 20/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại tố cáo có trường hợp chưa mạnh dạn sửa sai
2. Viện khoa học thanh tra, Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam, Đinh Văn Minh, http://www.giri.ac.vn/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-phap-luat-ve-khieu-nai-to-cao-o-viet-nam_t104c2744n819tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 20/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Minh
3. Viện khoa học thanh tra, Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, Hồng Thanh, http://www.giri.ac.vn/cong-tac-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-voi-dinh-huong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-cua-dan-do-dan-va-vi-dan_t104c2744n821tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 25/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
Tác giả: Hồng Thanh
4. Viện khoa học thanh tra, Công tác giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp hiện nay, Nguyễn Đăng Hạnh, http://www.giri.ac.vn/cong-tac-giai-quyet-vu-viec-khieu-nai-to-cao-dong-nguoi-vuot-cap-hien-nay_t104c2744n822tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 25/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp hiện nay
5. Viện khoa học thanh tra, Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Vũ Ngọc Huế, http://www.giri.ac.vn/tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-khieu-nai-to-cao-va-giai-quyet-khieu-nai-to-cao_t104c2744n827tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 30/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Vũ Ngọc Huế
6. Viện khoa học thanh tra, Một số hạn chế, bất cập về thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính, Nguyễn Văn Tuấn, http://www.giri.ac.vn/mot-so-han-che-bat-cap-ve-thu-tuc-giai-quyet-khieu-nai-hanh-chinh_t104c2744n828tn.aspx?currentpage=2 , [truy cập ngày 5/7/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hạn chế, bất cập về thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Viện khoa học thanh tra
7. Viện khoa học thanh tra, Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp dân, Trần Lan Hương, http://www.giri.ac.vn/quan-diem-cua-dang-nha-nuoc-va-chu-tich-ho-chi-minh-ve-cong-tac-tiep-dan_t104c2715n1684tn.aspx?currentpage=1, [truy cập ngày 19/7/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp dân
Tác giả: Trần Lan Hương
8. Viện khoa học thanh tra, Một số vấn đề về khiếu nại đông người, vượt cấp, Trần Văn Long, http://www.giri.ac.vn/mot-so-van-de-ve-khieu-nai-dong-nguoi-vuot-cap_t104c2715n804tn.aspx?currentpage=3, [truy cập ngày 22/7/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về khiếu nại đông người, vượt cấp
Tác giả: Trần Văn Long
10. Viện khoa học thanh tra, Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Ngô Mạnh Toan, http://www.giri.ac.vn/hoan-thien-phap-luat-khieu-nai-to-cao-theo-yeu-cau-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia_t104c2715n1218tn.aspx?currentpage=8, [truy cập ngày 18/8/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Ngô Mạnh Toan
11. Hướng dẫn nghiệp vụ, Nghiệp vụ tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực Tư pháp,http://www.moj.gov.vn/huongdannv/Lists/TaiLieuNghiepVu/View_Detail.aspx?ItemId=43, [truy cập ngày 12/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực Tư pháp
12. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước, Luật tiếp công dân có nhiều quy định mới, Lê Vĩnh Ninh,http://sonongnghiepbp.gov.vn/index.php?language=vi&nv=thanhtra&op=Tin-tuc-su-kien/Luat-tiep-cong-dan-co-nhieu-quy-dinh-moi-11, [truy cập ngày 20/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tiếp công dân có nhiều quy định mới
Tác giả: Lê Vĩnh Ninh
Nhà XB: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước
13. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Áp dụng pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo: Thực trạng và hướng hoàn thiện, Hồ Thị Thu An,http://tintuc.vibonline.com.vn/Home/Xay-dung-phap-luat/6532/Ap-dung-phap-luat-to-cao-va-giai-quyet-to-cao-Thuc-trang-va-huong-hoan-thien, [truy cập ngày 25/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo: Thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Hồ Thị Thu An
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
14. Dự thảo online, Báo cáo tổng kết việc thực hiện công tác tiếp công dân, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Chính phủ,http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=696&TabIndex=2&TaiLieuID=1053, [truy cập ngày 28/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết việc thực hiện công tác tiếp công dân, Thanh tra Chính phủ
15. Thanh tra Chính phủ, Tổng kết công tác Thanh tra năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013, Ngọc Thành,http://thanhtra.gov.vn/ct/news/Lists/ThongTinBaoCaoThongKe/View_Detail.aspx?ItemID=19, [truy cập ngày 15/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác Thanh tra năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013
Tác giả: Thanh tra Chính phủ
Năm: 2012
16. Tạp chí cộng sản, Giải quyết khiếu nại tố cáo là tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ, TTXVN,http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=29274&print=true, [truy cập ngày 15/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại tố cáo là tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ
18. Thanh tra tỉnh Nghệ An, Một số vướng mắc trong thực hiện Luật Khiếu nại năm 2011, Lưu Đức Nam,http://www.ldld.nghean.gov.vn/wps/portal/thanhtratinh/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3i_MG9_TxPDUGcnPyczA09HU6NQYw8PY38XY_2CbEdFANN_YZQ!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/web+content+thanh+tra+tinh/ttt/lvcm/kntc/7aa8e98043b77d0ca939f9d4350f1a2d, [truy cập ngày 15/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc trong thực hiện Luật Khiếu nại năm 2011
19. Báo pháp luật, Thảo luận về khiếu nại đông người, Bình An, http://baophapluat.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=81565, [truy cập ngày 16/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về khiếu nại đông người
20. Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương, Cần xây dựng văn bản quy định về thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, Minh Quang, http://stnmt.binhduong.gov.vn/3cms/can-xay-dung-van-ban-quy-dinh-ve-thuc-hien-quyet-dinh-giai-quyet-khieu-nai-co-hieu-luc-phap-lua.htm,[truycậpngày16/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần xây dựng văn bản quy định về thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Tác giả: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w