pháp luật còn chồng chéo, bất cập khi thi hành, Chấp hành viên thiếu kiên quyết trong các vụ việc cưỡng chế kê biên…Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật Thi hành án dân sự 2008 điều chỉ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ
BA GIỮ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: DT1263B1
1
Cần Thơ, tháng 11 /
2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
- -
3
Trang 4MỤC LỤC
- -
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài ……… 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ 5
1.1 Khái niệm 5
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 5
1.1.2 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự 6
1.1.3 Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 7
1.1.4 Khái niệm và đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 8
1.1.4.1 Khái niệm biện pháp kê biên tài sản ……… 8
1.1.4.2 Khái niệm xử lý tài sản của người phải thi hành án ……… 8
1.2 Cơ sở lý luận và đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 9
1.2.1 Cơ sở lý luận của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 9
1.2.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 12
1.2.2.1 Đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản ………12
1.2.2.2 Đặc điểm của việc xử lý tài sản của người phải thi hành án ………15
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ 17
2.1 Quy định của pháp luật về biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án 17
Trang 52.1.1 Những trường hợp tài sản của người phải thi hành án không được kê biên 18
2.1.1.1 Đối với cá nhân ……….18
2.1.1.2 Đối với nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ……….18
2.1.2 Thẩm quyền kê biên tài sản 19
2.1.3 Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án 20
2.1.4 Định giá tài sản kê biên của người phải thi hành án 36
2.2 Quy định của pháp luật về biện pháp xử lý tài sản kê biên của người phải thi hành án 38
2.2.1 Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án 38
2.2.2 Bán tài sản đã kê biên để thi hành án 39
2.2.3 Trả lại tài sản kê biên cho người phải thi hành án 40
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN, KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ - BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ 43
3.1 Bất cập trong áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ và những khó khăn gặp phải 43
3.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 43
3.1.2 Những khó khăn thường gặp khi áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 45
3.1.2.1 Về mặt khách quan ……… 45
3.1.2.2 Về mặt chủ quan ……… 52
3.2 Một số kiến nghị để hoàn thiện việc áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ ……….58
3.2.1 Về mặt khách quan ……… 58
3.2.2 Về mặt chủ quan 63
KẾT LUẬN ………64
5
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một bản án, quyết định của Tòa án dù có được xét xử nghiêm minh đến đâu, công việc hòa giải dù có làm tốt đến đâu, song nếu không được thi hành hoặc thi hành không đầy
đủ thì bản án, quyết định đó vẫn chưa mang tính hiện thực vì chưa được thi hành trên thực
tế Để các phán quyết của Tòa án trở thành hiện thực đòi hỏi sự tự nguyện thi hành của các bên có nghĩa vụ Trong trường hợp họ không tự nguyện thi hành thì cần có quyền lực Nhà nước để buộc họ phải thi hành những phán quyết đó Quá trình cơ quan Thi hành án dân sự
tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của người dân chính là quá trình thi hành án dân sự Với mục đích đó hoạt động thi hành án dân sự chính là thước đo thực tế, tính công bằng, hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước Ngoài ra, Thi hành án dân sự còn là cơ sở khẳng định vai trò, uy tín của các cơ quan Nhà nước, là biện pháp và cơ chế đảm bảo của Nhà nước đối với sự bình đẳng quyền của các chủ thể trước pháp luật; đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật
Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành
án được quy định tại khoản 03 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 Cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng, cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung là một trong những hoạt động quan trọng, là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Chấp hành viên áp dụng khi tổ chức thi hành
án Do đó, thi hành dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội Hiệu quả của việc cưỡng chế kê biên tài sản
là cơ sở, tiền đề cho sự thành công và hiệu quả của một vụ thi hành án về tài sản khi đương
sự không tự nguyện thi hành Trong thực tế, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Chấp hành viên luôn phải cân nhắc kĩ lưỡng và phải tuân thủ triệt để trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra Tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các giao dịch dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng làm cho số lượng bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều Trong đó những vụ việc thi hành án áp dụng biện pháp kê biên, xử
lý tài sản cũng gia tăng và ngày càng phức tạp cả về số vụ việc, cũng như số tiền Tuy pháp luật về thi hành án đã được pháp điển hóa và ngày càng hoàn thiện, nhưng trên thực tế khi áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản thì vướng phải nhiều khó khăn, bất cập dẫn đến vụ việc không được thi hành Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế như: sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức còn chưa tốt, các quy định của
Trang 7pháp luật còn chồng chéo, bất cập khi thi hành, Chấp hành viên thiếu kiên quyết trong các vụ việc cưỡng chế kê biên…
Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật Thi hành án dân sự 2008 điều chỉnh thì biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là phức tạp và khó khăn nhất vì biện pháp cưỡng chế này gồm nhiều giai đoạn và được điều chỉnh bởi nhiều văn bản liên quan Vì vậy cần phải có cơ chế pháp lý chặt chẽ, thống nhất nhằm giúp cho việc thi hành án được nhanh chóng, hiệu quả góp phần bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân Vì những lý do trên người viết chọn đề tài “Kê
biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ theo pháp luật Việt Nam” để hoàn thành chương trình học của mình Đặc biệt, qua việc
nghiên cứu đề tài người viết có thể hoàn thiện hơn kiến thức pháp luật và năng lực của bản thân mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu rõ về các quy định của pháp luật về kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ trong Luật Thi hành án dân sự 2008 và các văn bản có liên quan Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng mà rút ra được những bất cập thường gặp phải khi
áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản Từ đó người viết đưa ra một vài giải pháp khắc phục những khó khăn gặp phải góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân với Đảng và Nhà nước Tránh tình trạng cố tình lợi dụng
kẽ hở của pháp luật để xâm phạm đến quyền và lợi ích của người dân
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu đối với những quy định của pháp luật mà Chấp hành viên
áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ theo Luật Thi hành án dân sự 2008, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản khác có liên quan Đề tài không nghiên cứu các biện pháp cưỡng chế khác Trong phạm vi đó, người viết chỉ tìm hiểu những quy định của pháp luật từ khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên tài sản cho đến khi xử lý tài sản xong tài sản kê biên của người phải thi hành án
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
7
Trang 8Để hoàn thành tốt bài viết, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
• Phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu, giải thích về các quy định của pháp luật
• Phương pháp so sánh, đối chiếu, vận dụng các quy định của pháp luật về kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
• Phương pháp tổng hợp để tổng hợp những gì đã phân tích, đưa ra kết quả quá trình nghiên cứu đã đạt được
• Phương pháp liệt kê, thống kê để hiểu rõ hơn về những vấn đề nghiên cứu và thấy được thực trạng khi áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
5 Kết cấu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua ba chương và kết cấu của mỗi chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Ở chương này, người viết sẽ phân tích các cơ sở lý luận xoay quanh biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ thông qua việc tìm hiểu những khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa liên quan đến biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để có được cơ sở pháp lý rõ hơn về biện pháp cưỡng chế này
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Trong chương 2 người viết sẽ trình bày và phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ về trình tự, thủ tục khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này
Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ - bất cập và kiến nghị
Sau khi tìm hiểu và phân tích những quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản thì trong chương này người viết sẽ trình bày thực trạng khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này trên thực tiễn Từ đó thấy được những bất cập và hạn chế trong quy định của pháp luật Trên cơ sở đó người viết cũng đưa ra những kiến nghị để giải quyết những khó khăn, vướng mắc gặp phải
Trang 9Do có phần hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, đồng thời đây cũng là một đề tài mới đối với người viết, cũng như trong chương trình học, nên trong bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, người viết rất mong được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.
Chân thành cảm ơn!
9
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN,
XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN,
KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ
Thi hành án dân sự nói chung, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng là một hoạt động của cơ quan thi hành án để những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên thực tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người được thi hành án và người liên quan khi mà người phải thi hành án không tự nguyện hoặc cố tình trốn tránh nghĩa vụ của mình trong bản án, quyết định của Tòa án Một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đó là biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành
án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ Sau đây người viết xin trình bày một số khái niệm liên quan đến biện pháp cưỡng chế nêu trên
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là một giai đoạn nhằm thực hiện những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân trong cuộc sống, biến các quyết định của Tòa án trong những bản án, quyết định đó thành hiệu lực Giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành trên thực tế Hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan Nhà nước Vì vậy, hoạt động thi hành án dân sự mang tính quyền lực, cưỡng chế, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Xét ở góc độ pháp lý thì Thi hành án dân sự là hoạt động do cơ quan Thi hành án
dân sự tiến hành theo những thủ tục, trình tự nhất định, nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án ra để thi hành1.
Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án; trong quá trình thi hành án dân sự, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự hoãn việc thi hành án dân sự, quyết định tạm đình chỉ thi hành án dân sự để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm…) Tuy nhiên, Thi hành án dân sự lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự
1 Nguyễn Thanh Thủy – Lê Kim Dung, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 – những điều cần biết, nhà xuất bản tư
pháp, xuất bản năm 2004, trang 60.
Trang 11Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án dân sự đạt hiệu quả.
Thi hành án dân sự góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hiệu lực xét xử Mặc
dù quá trình xét xử phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục tố tụng Chủ thể tiến hành tố tụng đều là những người có uy tín, có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cao Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm tính chất của vụ án dân sự là đa dạng và phức tạp Trong khi đó các quy định của pháp luật về nội dung cũng như quy định về thủ tục tố tụng nhiều khi còn chưa chặt chẽ hay còn thiếu Do đó, còn có thể dẫn đến những sai lầm trong quá trình xét xử Vì vậy, Thi hành án dân sự chính là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết bản án của Tòa án, phản ảnh trung thực chất lượng và hiệu quả của toàn
bộ quá trình giải quyết vụ án Từ thực tiễn thi hành án mà mỗi Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án đã tham gia quá trình xét xử có thể rút ra kinh nghiệm
để khắc phục những khiếm khuyết, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của mình Đồng thời cũng là cơ sở để Tòa án nhân dân tối cao tổng kết đúc rút kinh nghiệm đưa ra đường lối xét xử chung, thống nhất trong toàn ngành
Thông qua công tác thi hành án dân sự nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan Thi hành án dân sự mà đó
là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương là sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức hữu quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội Thông qua Thi hành án dân sự ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân ngày càng được nâng cao, vai trò trách nhiệm của các cơ quan tổ chức được đảm bảo, niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật, vào bộ máy của Nhà nước ngày càng được củng cố
1.1.2 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương
sự đã được xác định trong bản án, quyết định được đưa ra thi hành Do vậy, việc tự nguyện thi hành án của các đương sự được coi là biện pháp quan trọng nhất trong hoạt động thi hành
án dân sự Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành án nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn cơ quan thi hành án ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án Trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ tiến hành cưỡng chế thi hành án
11
Trang 12Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức đối với người phải thi hành
án do Cơ quan thi hành án áp dụng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện đúng những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định dân sự đã tuyên của các cơ quan tài phán2.
Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản
1.1.3 Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của
họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án3.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tước bỏ quyền sở hữu của người phải thi hành án đối với tài sản thi hành án, trừ trường hợp tài sản là đối tượng phải thi hành án có giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ thi hành án thì người phải thi hành án sẽ vẫn sở hữu phần tài sản còn lại Biện pháp cưỡng chế đã thể hiện rõ mục đích duy trì trật tự xã hội của nhà nước
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án dù những việc đó trái với ý muốn của người phải thi hành án
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là giải pháp có hiệu quả nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, đảm bảo được hiệu lực của bản
án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải thi hành án Trong thực tiễn cho thấy rằng trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nếu không áp dụng biện pháp cưỡng chế thì sẽ không thể thi hành án được Mặt khác, đây cũng là công cụ quan trọng để bảo vệ triệt để lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án Bên cạnh đó, biện pháp cưỡng chế còn có ý nghĩa trong việc răn
đe, giáo dục ý thức pháp luật của công dân, nâng cao công tác tuyên truyền pháp luật trong thi hành án
2 ThS.Đinh Thị Mai Phương (Chủ biên), Bình luận Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý, xuất bản năm 2006, trang 39.
3 Trang 195 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
Trang 131.1.4 Khái niệm biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
1.1.4.1 Khái niệm biện pháp kê biên tài sản
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một trong những biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự nhằm hạn chế quyền định đoạt của người đang quản lý, sở hữu hoặc đang sử dụng tài sản đối với tài sản đó để đảm bảo việc thi hành án
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản do cơ quan thi hành án áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án chuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán, hủy hoại tài sản
Vì vậy có thể nói biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án là biện pháp
cưỡng chế thi hành án do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án
có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành4
1.1.4.2 Khái niệm xử lý tài sản của người phải thi hành án
Kê biên tài sản chỉ là giai đoạn ban đầu, xử lý tài sản mới là giai đoạn quan trọng bởi
nó chấm dứt được giai đoạn cuối cùng của quá trình thi hành án dân sự và đi đến kết thúc một vụ thi hành án Khi kê biên xong là chiếm tỉ lệ được hơn 50% công đoạn của quá trình kết thúc thi hành án Nhưng kê biên được rồi, xử lý tài sản lại là vấn đề phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn, có khi không xử lý được tài sản Nhất là, trong lúc thị trường bất động sản đang gặp khó khăn và người dân thì thắt chặt việc chi tiêu thì vấn đề xử lý, bán tài sản như là: nhà ở, đất đai, tàu thuyền… rất chậm và không có người mua Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến không xử lý được tài sản sau khi đã hoàn tất giai đoạn kê biên
Sau khi kê biên tài sản, công việc đầu tiên của cơ quan Thi hành án dân sự là phải tiến hành định giá tài sản kê biên để xác định giá trị của tài sản kê biên, nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án góp phần đẩy nhanh tiến độ thi hành án Tiếp đến là phương thức xử lý tài sản kê biên như giao tài sản kê biên cho người được thi hành án, trong trường hợp tài sản đã kê biên nhưng người được thi hành án không nhận thì tiến hành bán tài sản kê biên để thi hành án, việc bán tài sản kê biên được bán theo hình thức bán đấu giá và bán thông qua thủ tục đấu giá Sau cùng là thanh toán tiền tài sản kê biên Ngược lại nếu tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không thể bán được mà người được thi hành án không nhận tài
4 Trang 211 Giáo trình Luật thi hành án dân sự, trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.
13
Trang 14sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản kê biên được trả lại cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác phù hợp nếu có điều kiện Tuy nhiên trường hợp nếu người phải thi hành án không chịu nhận tài sản vẫn chưa có quy định cụ thể để áp dụng thi hành mà trong thực tế đã khiến các Chấp hành viên phải lưu giữ tài sản này trong kho của cơ quan thi hành án mà không có phương án xử lý.
Vì vậy có thể nói, xử lý tài sản của người phải thi hành án là giai đoạn tiếp sau của
việc kê biên tài sản, là việc Chấp hành viên áp dụng những trình tự, thủ tục của pháp luật theo thẩm quyền để những tài sản kê biên được bàn giao cho người được thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án 5
Xử lý tài sản của người phải thi hành án sau khi đã kê biên là một hoạt động chiếm một vai trò vô cùng quan trọng bởi nó bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án cũng như người phải thi hành án Đồng thời, góp phần thực hiện nghiêm kỷ cương, phép nước và nâng cao hơn vai trò nhiệm vụ của người thực hiện công tác thi hành án dân sự
1.2 Cơ sở lý luận và đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
1.2.1 Cơ sở lý luận của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án,
kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Một bản án, quyết định của Tòa án dù có được xét xử nghiêm minh đến đâu, công việc hòa giải dù có được làm tốt đến đâu, nếu không được thi hành hoặc thi hành không đầy
đủ thì bản án, quyết định đó vẫn chưa mang tính hiện thực vì nó chưa thực sự đi vào thực tế Khi Tòa án đưa ra các phán quyết về một vụ kiện hay một vụ án cụ thể thì quyền và lợi ích cũng như nghĩa vụ của đương sự vẫn là những điều còn nằm trên giấy Để các phán quyết đó trở thành thành hiện thực đòi hỏi sự tự nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ Trong trường hợp họ không tự nguyện thi hành thì cần có quyền lực của Nhà nước để buộc họ phải thi hành những phán quyết đó Quá trình Cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành các bản
án, quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân chính là quá trình thi hành án dân sự
Tuy vậy, không phải tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án đều được chấp hành theo đúng quy định của pháp luật Có những bản án, quyết định dù có hiệu lực pháp luật, được đưa ra thi hành nhưng các đương sự vẫn cố tình không thực hiện khiến cho bản án, quyết định dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng cũng chỉ là một “tờ giấy” Vì thế để giải quyết được vấn đề này, cơ quan thi hành án đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc
5 Tài sản kê biên được bàn giao cho người được thi hành án ở đây được hiểu là tài sản kê biên được giao cho người được thi hành án hoặc là tiền được giao cho người được thi hành án sau khi đã bán tài sản kê biên.
Trang 15người phải thi hành án nghiêm chỉnh thi hành các biện pháp theo đúng quy định của pháp luật.
Trong hoạt động thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được bản án, quyết định của Tòa án ghi nhận Quyền tự định đoạt cũng như phương thức thỏa thuận đó của đương sự phải tuân theo quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của người khác Vì vậy mà pháp luật quy định khi bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành thì người phải thi hành án phải tự nguyện thi hành Nếu không tự nguyện thi hành khi
có đủ điều kiện thi hành và đã hết thời hạn tự nguyện theo quy định của pháp luật thì đương nhiên phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nhằm để giải quyết những yêu cầu của đương sự và đảm bảo cho quá trình thi hành án được diễn ra, việc quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình thi hành án, góp phần đảm bảo tính thực tế, thiết thực cho việc thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Biện pháp cưỡng chế kê biên thường được áp dụng để tổ chức thi hành những bản án, quyết định của Tòa án tuyên buộc người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, hoặc không có tiền mặt để trả, mà có tài sản khác, ví dụ như nhà cửa, xe cộ… thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên nhằm tránh việc đương sự tẩu tán, sang nhượng tài sản đó6
Kê biên và xử lý tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự Quyết định về biện pháp cưỡng chế thi hành án chỉ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng lại trốn tránh không tự nguyện thi hành hoặc khi người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán, huỷ hoại tài sản Việc quy định biện pháp cưỡng chế trong trường hợp này là rất hợp lý và kịp thời, tránh được tình trạng người phải thi hành án có tài sản để thi hành nhưng cố tình chậm trễ nhằm có thời gian để tẩu tán tài sản hoặc không có ý định thi hành, gây bất lợi cho người được thi hành và những người có liên quan
Vì vậy tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án bao gồm:
1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án
2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
6 Nguyễn Thanh Thủy – Lê Kim Dung, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 – những điều cần biết, nhà xuất bản tư
pháp, xuất bản năm 2004, trang 202, 203.
15
Trang 163 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án
5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
Trước đây theo Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, biện pháp kê biên tài sản là biện pháp đầu tiên trong số các biện pháp cưỡng chế thi hành án Nhưng hiện nay, theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và gần đây là Luật Thi hành án dân sự 2008, biện pháp kê biên
đứng thứ ba sau biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá
của người phải thi hành án và biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Sở dĩ
pháp luật quy định như vậy bởi vì hiện nay đời sống người dân của chúng ta không ngừng được cải thiện, rất nhiều người có tiền gửi vào tài khoản, thu nhập của người dân được nâng cao nên áp dụng các biện pháp này trước tiên là hoàn toàn đúng đắn Hơn nữa biện pháp kê biên tài sản thường phức tạp hơn các biện pháp khác
Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản
đang do người thứ ba giữ nói riêng được xem như là biện pháp cần thiết và bắt buộc để đảm
bảo hiệu lực, tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời, khôi phục và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người được thi hành án và người có liên quan Chính sự tồn tại của biện pháp cưỡng chế này cũng góp phần tác động vào tâm lý của người phải thi hành án, khiến cho người phải thi hành án có ý thức tự nguyện thi hành án tốt hơn
1.2.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
1.2.2.1 Đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản
Theo Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án; kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một trong sáu biện pháp đó Vì vậy mà biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án có những đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như:
- Thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản nói
của công dân bằng các quy định pháp luật Tuy nhiên, Nhà nước vẫn có thể tước bỏ quyền sở hữu đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể khác khi mà quyền và lợi ích của họ bị xâm hại Cơ quan Thi hành án dân sự là
Trang 17một cơ quan nhà nước Vì vậy mà những quyết định của cơ quan cũng được bảo đảm thi hành bằng quyền lực của nhà nước nhằm góp phần bảo vệ pháp luật một khi các đương sự cố tình không tuân theo;
- Được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không
tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải
thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nói riêng là một trong sáu biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự Cho nên việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này cũng được áp dụng theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự khi mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án;
- Đối tượng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án mà cụ thể đối tượng của biện pháp kê biên
là tài sản của người phải thi hành án Chỉ có tài sản mới có thể tiến hành kê
biên và xử lý theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định;
- Người bị áp dụng thi hành án ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản
án, quyết định do Tòa án tuyên họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự Chỉ tiến hành cưỡng chế thi hành án dân sự khi người phải thi
hành án không tự nguyện thi hành Quy định pháp luật đã tạo điều kiện cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành theo bản án và quyết định của Tòa
án Chính vì vậy mà mới phát sinh quá trình cưỡng chế thi hành án Cho nên sau khi cưỡng chế thi hành án, người phải thi hành án phải chịu những chi phí cưỡng chế theo quy định tại Điều 47 và Điều 73 của Luật Thi hành án dân sự;Biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên quyết định áp dụng có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Ngoài người phải thi hành án là người trực tiếp bị tác động trực tiếp từ việc cưỡng chế thì những người liên quan đến tài sản bị cưỡng chế cũng phải chịu tác động để cho việc thi hành án được thực hiện và bảo vệ được quyền lợi của người được thi hành án và hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
Đối với mỗi một biện pháp cưỡng chế sẽ có một đặc điểm riêng để nhận biết cũng như để cho các Chấp hành viên dễ dàng áp dụng đối với từng vụ việc cụ thể Vì thế mà biện pháp kê biên tài sản còn phải tuân thủ những đặc điểm riêng như sau:
- Mọi tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị kê biên để thi hành án trừ những tài sản không được kê biên đã được quy định tại Điều 87 Luật Thi hành
17
Trang 18án dân sự Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
và người có liên quan thì những tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị
kê biên để thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo bản án hay quyết định của Tòa
án Tuy nhiên, với chính sách nhân đạo và tạo điều kiện cho người phải thi hành
án có thể đảm bảo được nhu cầu sinh sống của bản thân và gia đình, được tiếp tục kinh doanh, bảo đảm quốc phòng và an ninh thì Luật Thi hành án dân sự cũng hạn chế kê biên đối với một số loại tài sản;
- Quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án thuộc về Chấp hành viên phụ trách hồ sơ khi xác định được có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải thi hành án Như vậy, chỉ có Chấp hành viên mới có quyền trực tiếp áp dụng
biện pháp kê biên tài sản đối với người phải thi hành án Để tăng quyền tự chủ cũng như trách nhiệm của Chấp hành viên thì từ khi phân công cho Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án Chấp hành viên có tòan quyền quyết định biện pháp và cách thức thực hiện việc thi hành án theo quy định của pháp luật Vì vậy chỉ khi Chấp hành viên đang phụ trách hồ sơ thi hành án mới
có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án trong vụ việc đang phụ trách khi có căn cứ là tài sản đó của người phải thi hành án;
- Người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với người được thi hành án về tài sản được kê biên để đảm bảo thi hành án; trong trường hợp không thỏa thuận được thì người phải thi hành án có quyền đề nghị thứ tự kê biên tài sản và Chấp hành viên phải chấp hành để nghị đó nếu đề nghị đó không cản trở việc thi hành
án Nếu người phải thi hành án không có đề nghị thì hiện nay có hai nguyên tắc hay được áp dụng để kê biên tài sản dù hiện tại không có quy định cụ thể về thứ
tự kê biên tài sản Nguyên tắc thứ nhất: nếu người phải thi hành án không đề
nghị kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của người phải thi hành án được kê biên trước; nếu người phải thi hành án không có hoặc không đủ tài sản riêng để thi hành án thì mới kê biên đến tài sản chung của
người phải thi hành án với người khác Nguyên tắc thứ hai: trong số những tài
sản thuộc diện kê biên thì kê biên bất động sản trước, sau khi kê biên hết các bất động sản mà vẫn không đủ để thi hành án thì kê biên các động sản;
- Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan Đó là các khoản phải thi hành
theo quyết định của bản án; khoản lãi chậm thi hành án nếu có và các chi phí dự tính mà theo quy định người phải thi hành án phải chịu như chi phí kê biên,
Trang 19giám định chất lượng, định giá tài sản… Nếu người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất có giá trị lớn hơn nghĩa vụ phải thực hiện mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thi Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó.
Nếu tài sản của người phải thi hành án đã được cầm cố, thế chấp cho người khác nhưng tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc cầm cố, thế chấp hoặc người phải thi hành án không còn tài sản nào khác thì Chấp hành viên vẫn cò quyền kê biên tài sản này để thực hiện thi hành án Đây là biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán tài sản thông qua một giao dịch dân sự khác
Trường hợp có tranh chấp về tài sản kê biên thì Chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện ra tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết Cụ thể hơn tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự đã quy định biện pháp xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Đối với tài sản kê biên thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật thì khi kê biên, xử lý tài sản đã
kê biên Chấp hành viên phải thông báo cho các cơ quan liên quan biết
Bằng việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đã làm chấm dứt quyền tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến tài sản bị kê biên Vì khi có tranh chấp về tài sản kê biên thì người phải thi hành án và những người khác vẫn có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự Khi có quyết định kê biên đối với một tài sản nào đó thì chủ sở hữu đã không còn quyền định đoạt tài sản cũng như đã mất quyền sử dụng tài sản của một chủ sở hữu Khi kê biên, chủ sở hữu tài sản sẽ không còn cách nào khác để tẩu tán hay hủy hoại tài sản Với biện pháp này sẽ đảm bảo được quyền lợi của người được thi hành án
Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án chỉ được áp dụng khi
có đủ các điều kiện dưới đây:
Một là, theo bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án có nghĩa vụ trả
tiền cho người được thi hành án;
Hai là, người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được
thi hành án Điều kiện này là đương nhiên và rất hợp lý Vì nếu người phải thi hành án không có tài sản để kê biên hoặc có tài sản kê biên nhưng không đủ cho chi phí cưỡng chế thi hành án thì ý nghĩa của việc tiến hành kê biên sẽ không còn vì không những người được thi hành án không nhận được gì mà còn làm cho quá trình cưỡng chế kê biên thêm lãng phí
và mất nhiều thời gian;
19
Trang 20Ba là, đã hết thời gian tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi
hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Sự tôn trọng quyền tự nguyện thi hành án cho người phải thi hành án và giảm bớt thời gian cũng như chi phí cho quá trình thi hành án mà Luật Thi hành án dân sự đã quy định một khoảng thời gian để cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành Tuy nhiên, sau khoảng thời gian trên mà người phải thi hành án không chịu thi hành hoặc cố tình trốn tránh huỷ hoại tài sản thì phải tiến hành cưỡng chế để bảo vệ quyền
và lợi ích cho người được thi hành án và người liên quan
1.2.2.2 Đặc điểm của việc xử lý tài sản của người phải thi hành án
Việc xử lý tài sản của người phải thi hành án có những đặc điểm sau đây:
Một là, trình tự, thủ tục của việc xử lý tài sản của người phải thi hành án phải được
thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thi hành án dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan Tất cả các quá trình đều phải tuân theo đúng quy trình luật định Điều này nhằm đảm bảo tính pháp chế cũng như giúp cho cơ quan nhà nước dễ dàng quản lý hơn, tránh tình trạng quan liêu, tham nhũng
Hai là, thẩm quyền xử lý tài sản được quy định rộng hơn so với quyền kê biên tài sản
Trong kê biên tài sản thì chỉ có Chấp hành viên mới được tiến hành kê biên thì xử lý tài sản của người phải thi hành án còn có sự tham gia của các chủ thể khác Chẳng hạn như việc bán đấu giá tài sản thì doanh nghiệp, trung tâm dịch vụ đều được thực hiện chức năng bán đấu giá
Ba là, xử lý tài sản của người phải thi hành án là giai đoạn kết thúc của quá trình thi
hành án dân sự Một vụ việc dân sự từ lúc mới phát sinh cho đến khi kết thúc phải trải qua một khoảng thời gian khá dài Khi vụ việc kết thúc, Tòa án phải ra một bản án hay quyết định Nếu đương sự tự nguyện thi hành thì không vấn đề gì, nhưng nếu đương sự có tình trốn tránh nghĩa vụ thì khi đó cơ quan thi hành án sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc đương sự phải chấp hành theo bản án, quyết định của Tòa án Nếu biện pháp cưỡng chế được áp dụng là biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ thì sau khi xử lý tài sản của người phải thi hành án xong thì vụ việc đó mới thực sự kết thúc trên thực tế
Từ những khái niệm và cơ sở lý luận đã trình bày mà Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung và thay đổi một số quy định để biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành
án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ được hoàn thiện hơn, sát với thực tế đời sống nhằm bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của người được thi hành án và những người liên quan Góp phần giữ vững nền pháp chế của nước ta
Trang 22CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN,
XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN,
KỂ CẢ TÀI SẢN ĐANG DO NGƯỜI THỨ BA GIỮ
Việc công tác thi hành án được quy định chi tiết và cụ thể trong Luật Thi hành án dân
sự đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng để việc thi hành án được thi hành một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là một biện pháp cưỡng chế phức tạp, gồm nhiều giai đoạn khác nhau và liên quan đến nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức Vì vậy mà Luật Thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về trình tự và thủ tục khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản nhằm bảo đảm hiệu lực các phán quyết dân sự về tài sản của Tòa án Chính vì thế mà khi quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản thì Chấp hành viên buộc phải tuân thủ một cách chặt chẽ những quy định trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản liên quan nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng tránh gây ra thiệt hại cho người dân
2.1 Quy định của pháp luật về biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án
Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế tài sản được quy định tại khoản 3 điều 71 Luật Thi hành án dân sự Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được hiểu “là việc Chấp hành viên ghi lần lượt từng tài sản là vật, quyền sở hữu trí tuệ, các quyền tài sản của người phải thi hành án và xử lý tài sản đã kê biên nhằm thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi hủy hoại hoặc trốn tránh việc thi hành án” Chỉ kê biên những tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án, bao gồm: tài sản riêng của người đó, phần trong khối tài sản chung của vợ chồng, hoặc trong khối tài sản sở hữu chung với người khác Để bảo đảm việc thi hành án có hiệu quả và đúng pháp luật việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên phải tuân theo những nguyên tắc quy định tại Điều 74, 75, 87 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 8 Nghị định của chính phủ số 58/2009/NĐ-CPquy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
Cần lưu ý là có những tài sản mà theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên
không thể kê biên để thi hành án
Trang 232.1.1 Những trường hợp tài sản của người phải thi hành án không được kê biên
Điều 87 Luật Thi hành án dân sự đã quy định một số tài sản của người phải thi hành
án không được kê biên Với việc quy định chi tiết những tài sản của người phải thi hành án không được kê biên so với quy định này tại Điều 42 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
đã giúp cho quá trình thi hành án được diễn ra chính xác, nhanh gọn hơn rất nhiều Cụ thể như sau:
2.1.1.1 Đối với cá nhân
Để đảm bảo cuộc sống bình thường của công dân, đảm bảo quyền lợi của Nhà nước
và của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp trong trường hợp phải thi hành án, tại khoản 2 Điều 87 đã quy định cụ thể những tài sản của người phải thi hành án là cá nhân không được kê biên Về cơ bản, quy định này vẫn giữ nguyên tinh thần như Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 nhưng được quy định cụ thể hơn Trường hợp người phải thi hành
án là cá nhân thì không được kê biên tài sản liên quan và cần thiết cho sự sống còn của người phải thi hành án và gia đình, đó là lương thực và thuốc men cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình của họ Chấp hành viên cũng không được kê biên công cụ lao động, quần áo, đồ dùng sinh hoạt thông thường cho người phải thi hành án và gia đình của họ nhằm đảm bảo duy trì cuộc sống bình thường và tương lai của họ Công cụ lao động cần thiết không được kê biên ở đây được hiểu là công cụ thông thường cần thiết được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình như cày, bừa, xe đạp…; những công cụ lao động có giá trị lớn như xe ô tô, xe máy, máy cày…thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, bán đấu giá để thi hành án nhưng có trích lại một khoản tiền để người phải thi hành án có thể thay thế bằng một công cụ lao động khác có giá trị thấp hơn Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương cũng không được kê biên nhằm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng như truyền thống uống nước nhớ nguồn
2.1.1.2 Đối với nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức
Khoản 1 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự quy định nhóm tài sản thứ nhất không
được kê biên gồm có: “tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục
vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan
tổ chức” Đối với cơ quan, tổ chức hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp thì cơ
quan Thi hành án dân sự không kê biên các tài sản do ngân sách nhà nước trực tiếp cấp mà yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ tài chính
để thi hành án Trường hợp cơ quan, tổ chức có nguồn thu từ các hoạt động có thu nhập hợp pháp khác thì cơ quan Thi hành án dân sự có quyền kê biên tài sản có được từ các hoạt động
23
Trang 24đó trừ những tài sản như phương tiện thuốc men chữa bệnh, phương tiện dụng cụ của trường học, các phương tiện thuộc cơ sở này.
Khoản 3 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự7 quy định nhóm tài sản của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ không được kê biên Quy định này hướng tới nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường
2.1.2 Thẩm quyền kê biên tài sản
Tại khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 có quy định “Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản nếu có căn cứ cho rằng tài sản đó là của người phải thi hành
án, kể cả quyền sử dụng đất hoặc tài sản đang do người thứ ba giữ” nhưng quy định này không được kế thừa trong Luật Thi hành án dân sự 2008 Tuy nhiên tại khoản 5 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự 2008 có nêu “Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án” Vậy Chấp hành viên phụ trách hồ sơ có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án Lúc này việc lập kế hoạch cưỡng chế và áp dụng biện pháp cưỡng chế như thế nào là thuộc thẩm quyền của Chấp hành viên
Nhằm giúp cho Chấp hành viên thuận lợi trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên đối với tài sản của người phải thi hành án, tránh được việc đến khi tiến hành kê biên rồi mới phát hiện ra tài sản đó không thể kê biên được Từ đó gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người được thi hành án Tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 173/2004/ NĐ-CP có quy định “Trước khi ra quyết định kê biên tài sản, Chấp hành viên còn có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản cung cấp thông tin về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên có đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án đối với người có quyền hay không hoặc tài sản do người phải thi hành án quản lý, sử dụng có phải là tài sản thuê mua tài chính hay không Trong thời hạn năm ngày làm việc, các cơ quan nói trên phải trả lời bằng văn bản cho Chấp hành viên về
7 Theo khoản 3 Điều 87 Luật Thi hành án dân sự quy định không được kê biên tài sản sau của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
Trang 25những nội dung yêu cầu đó” Kế thừa những quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự
2004, Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ ràng và đầy đủ về thủ tục thông báo kê biên tài sản Chấp hành viên phải thông báo trước, trực tiếp bằng văn bản cho người phải thi hành
án, người được thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản kê biên, các cơ quan, tổ chức được quy định tại các Điều 39, 40, 41, 42 Luật Thi hành án dân sự 2008 và Điều 11 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP, trừ trường hợp kê biên nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Việc gửi thông báo về kê biên tài sản nhằm giúp cho Chấp hành viên không gặp khó khăn khi kê biên tài sản mà không biết tài sản đó có
bị cầm cố hay thế chấp hay không
Trong trường hợp tài sản kê biên phải đăng ký tại trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm mà không đăng ký khi Chấp hành viên gửi thông báo việc kê biên tài sản đó thì người được thi hành án sẽ có quyền ưu tiên thanh toán trước
2.1.3 Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án
Chấp hành viên chỉ có thể ra quyết định kê biên tài sản sau khi có kết quả xác minh
về tài sản của người phải thi hành án Chấp hành viên có nhiệm vụ thông báo cho những chủ thể liên quan biết về việc tổ chức kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là trong thời hạn 03 ngày làm việc trước khi kê biên trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án Việc thông báo cưỡng chế kê biên tài sản được quy định tại Điều
38, Điều 39 và Điều 88 Luật Thi hành án dân sự Đối tượng được nhận thông báo không chỉ
là các bên đương sự để kịp thời giam gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn
là các cơ quan có liên quan để thực hiện chức năng do Nhà nước quy định Cụ thể Chấp hành viên phải thông báo trước và trực tiếp bằng văn bản cho người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Ủy ban cấp xã nơi có tài sản kê biên; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và tổ chức liên quan tới việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án Ví dụ:
- Cục Hàng không Việt Nam trong trường hợp tài sản kê biên là tàu bay;
- Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực, trong trường hợp tài sản kê biên là tàu biển
Để việc kê biên được khách quan, khi kê biên tài sản phải có mặt của đương sự Trường hợp đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên Trường hợp không mời được người làm
25
Trang 26chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khóa, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định của pháp luật
Việc trước tiên Chấp hành viên thực hiện khi thực hiện việc kê biên tài sản là công bố quyết định cưỡng chế thi hành án cho tất cả những người có mặt biết rồi giải thích cho người phải thi hành án quyền được đề nghị kê biên tài sản nào trước Việc kê biên tài sản phải được lập biên bản Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người ủy quyền, người làm chứng; đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản Dưới đây là thủ tục kê biên tài sản trong một số trường hợp cụ thể bên cạnh việc tuân theo những quy định chung về thủ tục kê biên tài sản đã nêu trên:
Thủ tục kê biên quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là một tài sản đặc biệt bao gồm các quyền sau: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền liên quan đối với giống cây trồng8
Thủ tục kê biên quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 84 Luật Thi hành án dân
sự Theo đó những quyền sở hữu trí tuệ đã nêu trên vẫn bị liệt kê ngay cả khi người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã chuyển quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Đối với từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khác nhau mà Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ khác nhau của người phải thi hành án
Thủ tục kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, tại Điều 93 Luật Thi hành án
dân sự quy định: “Khi kê biên đồ vật đang bị khóa hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu
cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa, mở gói Trường hợp cần thiết, sau khi mở khóa, phá khóa,
mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 58 luật
8 Xem them Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Trang 27này Việc mở khóa, phá khóa, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.” Trong trường hợp cần thiết sau khi mở khóa,
mở gói Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản cho người phải thi hành án; người thân thích của người thi hành án; hoặc người đang sử dụng bảo quản; cá nhân tổ chức
có điều kiện bảo quản; hoặc Kho bạc nhà nước; bảo quản tại kho của cơ quan Thi hành án dân sự tùy vào tình hình thực tế sự việc và tài sản đó là gì
Trên thực tế, khi được lựa chọn các hình thức giao bảo quản tài sản kê biên, Chấp hành viên đã lựa chọn hình thức bảo quản (đối với tất cả các tài sản là động sản) tại kho của
Cơ quan thi hành án Việc bảo quản tài sản tại kho Cơ quan thi hành án có nhiều thuận lợi và thực sự đem lại hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự, hạn chế được hiện tượng tẩu tán tài sản kê biên như trước đây Đặc biệt đương sự đã thấy được sức mạnh, quyền lực của nhà nước của cơ quan thi hành án nói chung, của Chấp hành viên nói riêng và thấy được tài sản của họ thực sự bị “mất”, buộc họ phải lựa chọn biện pháp thi hành có lợi cho họ, đó là việc
tự nguyện thi hành để họ sớm nhận lại tài sản đang do cơ quan thi hành án thu giữ
Thủ tục kê biên đối với tài sản thuộc sở hữu chung
Trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án ở các cơ quan Thi hành án dân sự thì đối với việc thi hành án về nghĩa vụ trả tiền, phần lớn người phải thi hành
án cố tình kéo dài việc thi hành án và bản thân họ cũng không có thu nhập nào đáng kể để đảm bảo cho việc thi hành Do đó trong trường hợp này, cơ quan Thi hành án phải xác minh tìm tài sản của người phải thi hành án để kê biên bán tài sản lấy tiền thi hành án
Về cơ sở pháp lý cho việc cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung được Luật Thi hành án dân sự quy định tại Điều 749 Như vậy có 2 trường hợp xảy ra như sau:
Trường hợp thứ nhất: chưa xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung
Khi đó trước khi kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung
Trường hợp thứ hai: tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở
hữu của các chủ sở hữu chung Nếu tài sản có thể chia được thì áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án Nếu tài sản chung không chia được hoặc việc chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì có thể áp dụng biện
9 Xem thêm Điều 74 Luật Thi hành án dân sự 2008.
27
Trang 28pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản khi bán tài sản chung.
Thực tế ở địa phương hiện nay có nhiều trường hợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình để đảm bảo thi hành án, vì trong xã hội hiện nay đối với quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà thông thường Nhà nước hay cấp cho hộ gia đình, trong khi đó người phải thi hành
án phần nhiều chỉ là chủ hộ hoặc thành viên trong hộ gia đình đó
Tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng được xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Đây là điểm tiến bộ của Luật Thi hành án dân
sự so với pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 Trong pháp lệnh Thi hành án dân sự chỉ quy định “khi không có tài sản riêng thì Chấp hành viên mới được kê biên phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người khác” Luật Thi hành án dân sự đã phân ra hai trường hợp kê biên tài sản đó là kê biên tài sản thuộc sở hữu chung với người khác và tài sản thuộc sở hữu chung với vợ chồng
Một điều cần lưu ý là trước khi tiến hành cưỡng chế, Chấp hành viên cần phải tiến hành xác minh tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác tại các
cơ quan có chức năng đăng ký tài sản đó như quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP10 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
Mặt khác theo khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự về cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung quy định: “Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản”
Như vậy, theo quy định này, thì khi Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế kê biên bán tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án, chủ sở hữu chung còn lại được quyền
ưu tiên mua tài sản Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn quyền ưu tiên mua
10 Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP có quy định
“…4 Khi xác minh trực tiếp, Chấp hành viên phải xác minh cụ thể điều kiện kinh tế, hiện trạng tài sản, căn cứ vào nội dung trình bày của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khác cung cấp Đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại các cơ quan có chức năng đăng ký tài sản đó.
Đối với người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, kiểm tra hệ thống
sổ sách quản lý vốn, tài sản, xác minh tại các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi hành án Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm
về các nội dung thông tin đã cung cấp”.
Trang 29tài sản chung được thực hiện như thế nào Do đó, khi gặp trường hợp này các Chấp hành viên thường rất lúng túng vì không có căn cứ để xác định thời điểm ưu tiên, thời hạn ưu tiên Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan thì thấy vấn đề định đoạt tài sản chung được quy định tại Điều 223 Bộ luật Dân sự và khoản 3 điều luật này quy định:
Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu
mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có
sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại Thực tế, các Chấp hành viên đã áp dụng quy định này để xử lý quyền ưu tiên mua trong trường hợp cưỡng chế bán tài sản thuộc sở hữu chung theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự
Xét về mặt ý nghĩa của quyền ưu tiên mua tài sản chung, thì việc Chấp hành viên áp dụng khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự là hợp lý, vì quy định quyền ưu tiên mua tài sản thuộc sở hữu chung khi một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình là nhằm bảo
vệ quyền lợi cho chủ sở hữu chung khác, bảo đảm tính ổn định của các mối quan hệ có liên quan đến tài sản chung như vốn góp Tuy nhiên, xét về căn cứ pháp lý thì việc áp dụng như trên còn có những vấn đề cần phải bàn thêm
Thứ nhất, việc Chấp hành viên bán tài sản chung theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là trường hợp bán tài sản để thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án, chủ
sở hữu chung có tài sản bán ở đây là người phải thi hành án Còn trường hợp bán tài sản theo quy định tại Điều 223 Bộ luật Dân sự là một giao dịch thông thường không liên quan đến việc thi hành án, người có tài sản tự mình quyết định việc mua bán này
Thứ hai, việc tổ chức Thi hành án dân sự cần đảm bảo đúng thủ tục, nhanh chóng, hiệu quả thì mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Do đó, áp dụng thời hạn ưu tiên mua tài sản ba tháng đối với bất động sản và một tháng đối với động sản như quy định tại khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự là quá dài, không đảm bảo hiệu quả công tác thi hành án Điều này rõ ràng không đảm bảo tính hiệu quả, trong khi ngành thi hành án đang ra sức rút ngắn thời gian thi hành án, giảm lượng
án chuyển sang năm sau, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, thì việc áp dụng thời hạn ưu tiên như trên là một trở ngại không thể tránh khỏi
29
Trang 30Thứ ba, việc áp dụng thời hạn ưu tiên mua tài sản của chủ sở hữu chung tại khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự để giải quyết việc thi hành án, cưỡng chế bán tài sản là không đảm bảo tính pháp lý, vì như đã trình bày ở trên, tính chất của hai giao dịch này là khác nhau Hơn nữa quy định tại khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự là quy định chung còn trường hợp cưỡng chế thi hành án là lĩnh vực chuyên ngành thuộc điều chỉnh của pháp luật về thi hành
án dân sự
Do đó, cần thiết phải có hướng dẫn việc thi hành khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự về quyền ưu tiên mua tài sản của chủ sở hữu chung để Chấp hành viên có căn cứ giải quyết việc thi hành án đúng pháp luật và đạt hiệu quả
Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp này được quy định tại Điều 91 Luật Thi hành án dân sự, theo đó kể cả trong trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên vẫn
ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án Trong trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên sẽ cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành
án Tài sản bị kê biên đang cho thuê thì người đang thuê tiếp tục được thuê theo hợp đồng đã giao kết
Theo qui định tại khoản 1, Điều 6, Thông tư số VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự thì: Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật
14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-có quy định khác Nếu 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hết thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản
để thi hành án
Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp
Được quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự Nếu người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án thì Chấp hành viên có quyền kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và các chi phí cưỡng chế thi hành án mặc dù hợp đồng cầm cố, thế chấp chưa đến hạn Khi kê biên tài sản đang cầm cố thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết để những người này có
Trang 31thể bảo vệ quyền lợi cho mình Điều này sẽ tránh được những khiếu nại, khiếu kiện không cần thiết trong quá trình kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp.
Thủ tục kê biên vốn góp
Quy định kê biên phần vốn góp của người phải thi hành án là một nội dung mới trong Luật Thi hành án dân sự so với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 Đây là một quy định phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hiện nay, cũng như xu thế phát triển trong tương lai Đất nước chúng ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, cùng với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế Do vậy, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nói chung đang trên đà phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Ngày nay, việc tham gia thành lập, góp vốn vào các doanh nghiệp không còn là điều gì quá mới mẻ đối với người dân Nên việc pháp luật quy định cho phép cơ quan Thi hành án dân sự có quyền kê biên phần vốn góp của người phải thi hành án cũng là một trong những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, hạn chế việc người phải thi hành án lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tẩu tán tài sản bằng hình thức góp vốn vào các đơn vị kinh tế
Tại Điều 92 Luật Thi hành án dân sự quy định về kê biên vốn góp như sau:
“1 Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án
có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
2 Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.”
Như vậy, Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ Chấp hành viên có quyền kê biên phần vốn góp của người phải thi hành án, đồng thời cũng quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin nơi nhận góp vốn của người phải thi hành án Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định trên vào thực tiễn công tác thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác định phần giá trị vốn góp và cách kê biên xử lý phần vốn góp Chẳng hạn như:
Có sự nhầm lẫn giữa phần vốn góp và tài sản thuộc sở hữu chung dẫn đến việc áp dụng sai quy định của pháp luật Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, phần vốn góp là một tài sản đặc biệt, được hình thành thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp và tồn tại song song với sự tồn tại của doanh nghiệp Phần vốn góp và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau Phần vốn góp là tài sản thuộc sản nghiệp của người góp vốn Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp
31
Trang 32của công ty nhận tài sản góp vốn Phần vốn góp không phải là tài sản cụ thể như những tài sản khi đem góp vốn Thế nhưng, không phải lúc nào cũng phân biệt được sự khác nhau này
Do đó, đã có trường hợp Chấp hành viên khi tổ chức thi hành án mà người phải thi hành án
là thành viên góp vốn vào doanh nghiệp đã kê biên chính tài sản người phải thi hành án đã góp vào doanh nghiệp dẫn đến phản ứng, khiếu nại gay gắt của doanh nghiệp
Có khó khăn trong việc xử lý phần vốn góp Về lý thuyết, để xác định giá trị phần vốn góp của người phải thi hành án không phải là việc phức tạp, vì nó được tính trên tỷ lệ vốn mà người đó đã góp vào vốn điều lệ của doanh nghiệp, thông thường có thể căn cứ vào các tài liệu như Giấy phép đăng ký kinh doanh, biên bản góp vốn và sổ sách kế toán của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi đã xác định được phần vốn góp của người phải thi hành án trong doanh nghiệp thì việc kê biên xử lý phần vốn góp đó như thế nào lại là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp vì đây là một tài sản có tính chất pháp lý đặc biệt Phần vốn góp của người phải thi hành án là một phần trong vốn điều lệ của doanh nghiệp Theo quy định của pháp luật thì việc tăng, giảm vốn điều lệ được quy định rất chặt chẽ và phải được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định Hơn nữa, pháp luật còn có những quy định bảo đảm cho sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp, cụ thể Điều 5 Luật Doanh nghiệp quy định:
“1 Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định trong luật này; bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.
3 Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố trưng mua hoặc trưng dụng Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối
xử giữa các loại hình doanh nghiệp.”
Như vậy, khi tiến hành kê biên phần vốn góp của người phải thi hành án trong doanh nghiệp thì chúng ta phải xử lý như thế nào để hạn chế tối đa thiệt hại cho doanh nghiệp và tránh những xung đột pháp luật giữa Pháp luật Thi hành án dân sự và Pháp luật kinh tế
Trang 33 Thủ tục kê biên phương tiện giao thông
đang quản lý, sử dụng phương tiện giao thông phải giao giấy đăng ký phương tiện đó trong trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, người đang sử dụng, phương tiện giao thông được khai thác sử dụng nhưng họ không được cầm cố, chuyển nhượng hay thế chấp phương tiện đó Quy định này nhằm giúp cho người phải thi hành án có thể tiếp tục sử dụng phương tiện giao thông để kiếm sống, đồng thời giúp cho Chấp hành viên không phải thu giữ và quản lý tài sản đó mà vẫn đảm bảo cho tài sản không bị tẩu tán Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên Việc kê biên đối với tàu bay để thi hành án được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bắt giữ tàu bay năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011; việc kê biên tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008
11Điều 96 Kê biên phương tiện giao thông
1 Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có
2 Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp
Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông
3 Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4 Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
33
Trang 34 Thủ tục kê biên tài sản gắn liền với đất và nhà ở
Được quy định tại Điều 94 và 95 Luật Thi hành án dân sự Theo đó, khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất thì phải kê biên cả quyền sử dụng đất trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên; hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó
Nếu nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình thì Chấp hành viên chỉ được kê biên nếu đã xác định được người phải thi hành án không có tài sản nào khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý
kê biên nhà để thi hành án Nếu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác thì chỉ
kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất khi người có quyền sử dụng đất đồng ý; nếu người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị nhà
Như vậy, Chấp hành viên chỉ có thể kê biên nhà ở trong các trường hợp:
- Nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của người phải thi hành án;
- Nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác
và người này đồng ý để Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản bảo đảm thi hành
án Trường hợp người chủ sử dụng đất không đồng ý thì Chấp hành viên không thể kê biên được vì cho đến thời điểm hiện tại chưa có văn bản nào hướng dẫn
cụ thể xác định như thế nào là việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng
kể giá trị căn nhà để Chấp hành viên tiến hành việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án Quy định này gây khó khăn rất nhiều trong thực tiễn thi hành án khi người phải thi hành án có tài sản là căn nhà mà không có tài sản là quyền sử dụng đất và đa số các trường hợp là trên đất của thân nhân, những người thân thích với người phải thi hành án Do đó, việc những người này không bao giờ chấp nhận, đồng ý cho Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản để thi hành án.Bên cạnh đó nhà và đất là các tài sản mang tính đặc thù gắn liền nhau nên khi tách rời nhà hoặc tách rời đất thì không thể không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản còn lại được Điều này là không thể xảy ra trên thực tế và đây cũng là một trong những loại tài sản đặc biệt được quy định riêng biệt về cấp giấy chứng nhận đối với tài sản gắn liền với đất (bao gồm cả quyền sử dụng đất) trong Luật đất đai năm 2013
Ngoài ra vấn đề xác định quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất còn quy định chưa đồng nhất với nhau, cụ thể: khoản 5 Điều 93 Luật nhà ở quy định quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm
Trang 35hợp đồng được công chứng trong khi đó Điều 692 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
Theo hai điều khoản này thì đối với quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu được chuyển giao kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng, còn quyền sử dụng đất thì chuyển giao kể
từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan đăng ký theo quy định của Luật đất đai Vấn đề đặt ra là trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu nhà đồng thời là chủ sử dụng quyền sử dụng đất gắn liền với nhà nhưng trong quá trình thi hành án người phải thi hành án đã tiến hành bán ngôi nhà đó, hợp đồng bán nhà đã được công chứng tại Phòng công chứng và người mua chưa làm (hoặc không làm và cả không muốn làm) thủ tục sang tên đối với ngôi nhà đó, theo Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì quyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho người mua (vì chưa đăng ký), nhưng theo khoản 5 Điều 93 Luật nhà ở thì ngôi nhà đã được chuyển quyền sở hữu cho người mua Chấp hành viên cơ quan thi hành án cũng không thể thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản là căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất đó
để thi hành án
Đồng thời theo quy định tại khoản 5, Điều 115 Luật Thi hành án dân sự thì: Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của luật này
Thực hiện những quy định trên, sau khi Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (hoặc người được thi hành án cung cấp kết quả xác minh) đã xác định: người phải thi hành án chỉ có 01 ngôi nhà là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình; Ngoài ra, người phải thi hành án không có tài sản nào khác Vì vậy, theo quy định của luật, Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý ngôi nhà để thi hành án Sau khi bán đấu giá thành, xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới, trước khi thanh toán các nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên Cơ quan thi hành án mời đại diện chính quyền địa phương, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và các cơ quan liên quan họp bàn để xem xét trích lại cho người phải thi hành
35