Giải quyết tố cáo: Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.21 Quyết định hành chính: Quyết định hành
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
THUỘC THẨM QUYỀN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH THUỘC TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Diệp Thành Nguyên Nguyễn Văn Tuấn
Bộ môn: Luật hành chính MSSV: S120097
Lớp: DT1263B1
Cần Thơ, tháng 11/2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 4
1.1 Sơ lược quá trình hình thành pháp luật về khiếu nại, tố cáo 4
1.2 Một số vấn đề khái quát về khiếu nại, tố cáo 8
1.2.1 Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại 8
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại 8
1.2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại 10
1.2.2 Khái quát về tố cáo và giải quyết tố cáo 10
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tố cáo 10
1.2.2.2 Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết tố cáo 12
1.2.3 Các khái niệm liên quan 13
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của giải quyết khiếu nại, tố cáo 14
1.4 Những hành vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại, tố cáo 16
1.5 Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo, khiếu nại và khởi kiện hành chính 19
1.6 Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực) 22
1.6.1 Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực) 23
1.6.2 Những điểm mới của Luật Tố cáo năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực) 30
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO THUỘC THẨM QUYỀN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 36
2.1 Quyền và nghĩa vụ của công dân khi thực hiện khiếu nại, tố cáo 36
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại 36
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại 38
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo 39
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo 40
2.2 Khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân 41
Trang 42.2.1 Khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân 41
2.2.1.1 Khiếu nại trong hoạt động hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân 42
2.2.1.2 Khiếu nại trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân 42
2.2.2 Tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân 43
2.3 Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân 43
2.3.1 Tiếp nhận, phân loại và xử lý khiếu nại, tố cáo 43
2.3.1.1 Tiếp nhận, phân loại khiếu nại, tố cáo 43
2.3.1.2 Xử lý đơn khiếu nại 46
2.3.1.3 Xử lý đơn tố cáo 46
2.3.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo 48
2.3.2.1 Giải quyết khiếu nại 48
2.3.2.2 Giải quyết tố cáo 51
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH THUỘC TỈNH ĐỒNG THÁP 54
3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức và hoạt động của địa bàn 54
3.1.1 Đặc điểm chung của thành phố Cao Lãnh 54
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh 56
3.2 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp 58
3.2.1 Những mặt đạt được của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 58
3.2.2 Những tồn tại của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 63
3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 65
3.3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp 66
3.3.1 Giải pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 66
3.3.2 Kiến nghị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận Quyền khiếu nại, tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quyền công dân, quyền con người Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là thực hiện quyền dân chủ trực tiếp Một mặt, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ, phản kháng hợp pháp trước các hành vi vi phạm pháp luật, mặt khác, thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo công dân tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát xã hội; kiểm tra, giám sát Nhà nước Như vậy, bằng việc phản hồi thông tin trực tiếp cho các chủ thể quản lý, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo còn là sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội Quyền khiếu nại, tố cáo được hình thành và bảo đảm thực hiện trên cơ
sở một hệ thống pháp luật đầy đủ, pháp luật được tôn trọng và Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật
Ngày 11 tháng 11 năm 2011, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã ban hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân là một trong những biện pháp
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, phát hiện khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời củng cố mối quan hệ và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác khiếu nại, tố cáo nói chung, công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp nói riêng, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp cũng như Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác này Phòng khiếu tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh và các phòng nghiệp vụ trong đơn vị
đã kịp thời thông tin cho nhau những trường hợp khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành Kiểm sát để có sự phối hợp giải quyết nhanh chóng đáp ứng phần nào nguyện vọng của nhân dân, không để xảy ra các điểm nóng
về khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn biến phức tạp có chiều hướng gia tăng, với nhiều vụ, việc diễn ra gay gắt, khiếu nại vượt cấp Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên là do pháp luật khiếu nại, tố cáo còn một số hạn chế, nhiều quy định còn thiếu tính cụ thể; quy định về cấp giải quyết làm ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của quá trình giải quyết Khi có khiếu nại,
tố cáo thì việc giải quyết của các cơ quan, tổ chức còn thiếu trách nhiệm, làm cho nhân dân bức xúc làm cho tình hình khiếu nại, tố cáo phức tạp thêm
Từ thực trạng khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, cùng với những vấn đề của pháp luật khiếu
Trang 6nại, tố cáo trước yêu cầu của cải cách hành chính và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân Do đó việc chọn đề tài “ Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân - Thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp ” nhằm phản ánh phần nào tình hình
thực tế cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một cách tổng quan về các quy định của pháp luật đối với vấn
đề khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Giúp hiểu rõ hơn quy định, quy trình về vấn đề khiếu nại, tố cáo cũng như thực tiễn của hoạt động này tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài là một lĩnh vực nghiên cứu của chuyên ngành luật học, nhưng do hạn chế
về mặt thời gian và tài liệu nghiên cứu nên người viết chỉ giới hạn nghiên cứu đề tài xoay quanh Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 Đặc biệt là người viết chỉ tập trung làm rõ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân Qua đó, người viết đã liên kết với thực tiễn về hoạt động khiếu nại,
tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp nhằm đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác này trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được người viết sử dụng chủ yếu các phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp sưu tầm, trích lục số liệu để làm sáng tỏ về mặt khoa học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khiếu nại, tố cáo
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết khiếu nại, tố
cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3: Thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Ở chương 1 này người viết trình bày một cách khái quát một số vấn đề lý luận liên quan đến sơ lược quá trình hình thành, khái niệm khiếu nại, tố cáo và các khái niệm liên quan Qua đó, người viết đã nêu lên các nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo; các hành
vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại tố cáo nhằm đảm bảo công tác giải quyết đúng theo quy định của pháp luật Đồng thời, người viết cũng phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo và khiếu nại với khởi kiện hành chính nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của bản thân khi khiếu nại, tố cáo Cuối cùng, người viết trình bày những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 (hết hiệu lực) để thấy rõ sự kế thừa và những điểm mới của quy định pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
1.1 Sơ lược quá trình hình thành pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại, tố cáo có vai trò to lớn trong việc giữ gìn ổn định trật tự xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng Do đó, mặc dù trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, Nhà nước ta luôn khẳng định khiếu nại, tố cáo là một quyền của công dân và được ghi nhận trong những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, Luật, Sắc lệnh
Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hoà về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt là văn bản pháp luật đầu tiên có nội dung liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo, mặc dù trong văn bản này chỉ có khái niệm khiếu nại chứ không đề cập đến tố cáo mà dùng thuật ngữ phản ánh, nhưng việc thành lập và quy định các quyền hạn của Ban thanh tra trong Sắc lệnh thì thấy rằng Ban thanh tra có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Bộ máy Nhà nước, có quyền tiếp nhận và giải quyết các thư phản ánh của người dân đối với việc làm vi phạm pháp luật của những người trong bộ máy chính quyền (mà hiện nay gọi là giải quyết tố cáo)
“Nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các đơn thư khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh”.1
Thông tư số 60-UBTTr ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo của công dân Thông tư đã có sự phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo cũng như cách xử
lý đối với từng loại đơn Theo đó, Đơn khiếu nại là để chỉ những sự việc của đương sự
1
Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hoà về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt
Trang 8khiếu nại vì quyền lợi bị thiệt hại, yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết (đơn đề đạt nguyện vọng xếp vào loại đơn khiếu nại); Đơn tố cáo là đơn nói những hành vi sai phạm của cán bộ, cơ quan làm sai chế độ, chính sách, pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của tập thể và của Nhà nước Trường hợp đơn vừa khiếu nại vừa tố cáo thì xem xét việc nào là chủ yếu mà xếp vào việc đó.2
Triển khai thực hiện Điều 73 Hiến pháp năm 1980 và nhằm xây dựng thể chế
về khiếu nại, tố cáo, ngày 27/11/1981 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân Đây là văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo, là văn bản đầu tiên hình thành chế định pháp luật về tố cáo Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục, xác định thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân
Pháp lệnh gồm 34 điều, quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm giải quyết khiếu nại tố cáo; cơ quan quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại,
tố cáo của công dân năm 1981, ngày 29 tháng 3 năm 1982 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân Nghị định này quy định về quyền và trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục trong việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Ngày 07 tháng 5 năm 1991, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh năm 1991 (thay thế cho Pháp lệnh năm 1981) với mục đích để bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hướng dẫn cụ thể Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân, Thủ thướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/HĐBT ngày 28 tháng 01 năm 1992 về việc thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân Nghị định này đã
có sự phân biệt rõ ràng giữa khiếu nại và tố cáo Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bằng hình thức gửi đơn hoặc trực tiếp trình bày Trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thu thập tài liệu, chứng cứ lập thành hồ sơ và ra văn bản kết luận, quyết định giải quyết Nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
Nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định pháp luật về khiếu nại và tố cáo, Luật Khiếu nại, tố cáo được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 Ngày 15 tháng 6 năm 2004 tại kỳ họp thứ 5, Quốc
2
Khoản 3, Điều 4, Thông tư số 60-UBTTr ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo của công dân
Trang 9hội khoá XI đã thông qua Luật số 26/2004/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; tiếp đến ngày 29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp thứ
8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật số 58/2005/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004
Tuy nhiên, các Luật sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005 chỉ sửa đổi, bổ sung một số quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, phần tố cáo không có sự thay đổi
Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, Nghị định chủ yếu hướng dẫn việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại, các quy định về tố cáo và giải quyết
tố cáo trong Nghị định vẫn được quy định như trong Nghị định số 53/2005/NĐ-CP
Tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp lên Trung ương, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó một phần do cơ quan hành chính nhà nước ở một số địa phương còn thiếu trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế; kỷ luật, kỷ cương hành chính trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa nghiêm Do đó, ngày 27/10/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg về chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Chỉ thị yêu cầu: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước phải tổ chức thi hành và thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư và các văn bản chủ đạo khác của Đảng, Nhà nước Khi công dân đến trụ sở, cán bộ tiếp công dân thuộc bất cứ cơ quan nào cũng phải có trách nhiệm tiếp, lắng nghe nguyện vọng của dân, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật
Ngoài những văn bản pháp luật chung về khiếu nại, tố cáo, trong từng lĩnh vực quản lý hành chính, các cơ quan nhà nước đều ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác giải quyết tố cáo, điển hình như: Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng
6 năm 2004 của Quốc hội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản
lý hành chính nhà nước; Nghị quyết số 715/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số
Trang 102278/2007/QĐ-TTCP ngày 24 tháng 10 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ ban hành quy chế lập, quản lý hồ sơ thanh tra, hồ sơ giải quyết khiếu nại, hồ sơ giải quyết tố cáo; Quyết định số 530/2006/QĐ-TLĐ ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành quy định về Công đoàn giải quyết và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo
Đồng thời, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đều ban hành quy định
về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của bộ, ngành hoặc quy chế tiếp công dân, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị trên địa bàn tỉnh, thành phố, như: Thông tư số 02/2011/TT-UBDT ngày 15/7/2011 quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Uỷ ban Dân tộc; Thông tư số 03/2010/TT-BTTTT ngày 14/01/2010 quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông; Quyết định số 06/2007/QĐ-BTP ngày 27/6/2007 của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Tư pháp
Riêng trong ngành kiểm sát đã ban hành Quyết định số V7 ngày 06 tháng 02 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy chế
59/2006/QĐ-VKSTC-về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát
Như vậy, hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam nhìn chung rất đầy đủ và chi tiết, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được Hiến pháp ghi nhận và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật khiếu nại, tố cáo; Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định trong tất cả các ngành, lĩnh vực của cuộc sống, bảo đảm công dân thực hiện quyền tố cáo của mình một cách đầy đủ Tuy nhiên, trên thực tế công tác giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế, hiệu quả giải quyết các vụ việc tố cáo chưa cao do các quy định về trách nhiệm giải quyết tố cáo còn chung chung, nhiều đầu mối đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, người tố cáo chưa được bảo vệ đúng mức, còn bị đe doạ, trả thù, trù dập; các chế định về khiếu nại và tố cáo thường được quy định chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật, nhiều trường hợp cả người tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo vẫn chưa phân biệt được tố cáo và khiếu nại Để thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền công dân, xây dựng
xã hội dân chủ, văn minh và hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Dự
án Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã được đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007 – 2011) tại Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội Trải qua quá trình soạn
Trang 11thảo, lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân dân, các bộ, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Ngày 25 tháng 8 năm 2010 Chính phủ đã trình Dự
án Luật Tố cáo ra trước Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XII
(Tờ trình số 100/TTr-CP) Ngày 11 tháng 11 năm 2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật Khiếu nại, Luật
Tố cáo có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2012
1.2 Một số vấn đề khái quát về khiếu nại, tố cáo
1.2.1 Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại
Khiếu nại là “đề nghị xét lại một quyết định hoặc một sự việc mà mình không đồng ý”.3
Trong lịch sử lập hiến và lập pháp của nước ta, quyền con người, quyền công dân và những bảo đảm pháp lý cho những quyền đó luôn là vấn đề quan trọng của Đảng, Nhà nước và xã hội rất quan tâm Trong bản Hiến pháp năm 1946, mặc dù chưa
có điều khoản nào trực tiếp quy định về quyền khiếu nại của công dân, nhưng với nền tảng là nền dân chủ nhân dân thì đó là cơ sở cho việc hình thành quyền khiếu nại của công dân trong các bản Hiến pháp sau này Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp đầu tiên quy định trực tiếp về quyền khiếu nại của công dân: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường.4 Hiến pháp năm 1980 quy định đầy đủ và phát triển hơn quyền khiếu nại của công dân đã được quy định trong Hiến pháp 1959 Hiến pháp năm 1980 quy định: Công dân có quyền khiếu nại với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử
lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại.5 Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, một văn bản chuyên biệt về khiếu nại, tố cáo đã được ban hành là: Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27 tháng 11 năm 1981 Hiến pháp năm 1992 ra đời đã phát triển hoàn thiện hơn quy định về khiếu nại của công dân: “Công dân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
Trang 12của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.6 Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành một đạo luật chuyên biệt về khiếu nại là: Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011 Gần đây nhất Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2014, đã quy định: Mọi người có quyền khiếu nại với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại hoặc lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống, vu cáo làm hại người khác
Khiếu nại có các đặc điểm sau: Một là, chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan,
tổ chức hoặc cán bộ công chức; Hai là, chủ thể bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại; Ba
là, đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức liên quan đến chủ thể khiếu nại; Bốn là, thủ tục, thẩm quyền khiếu nại do pháp luật quy định chặt chẽ; Năm là, căn cứ khiếu nại là khi chủ thể khiếu
nại có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể
khiếu nại; Sáu là, mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của chủ thể khiếu nại
Như vậy, “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.7
1.2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại
Việc giải quyết khiếu nại có những vai trò và ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết khiếu nại thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân Bởi vì, khiếu nại là một trong những cách thức
cơ bản thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân Điều này còn xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Văn kiện của Đảng đã xác
Trang 13định: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở”.8
Cho nên việc giải quyết khiếu nại cần được quan tâm để giải quyết kịp thời, hiệu quả và đúng pháp luật
Thứ hai, việc giải quyết khiếu nại là cách thức để khôi phục và bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Đồng thời, thông qua việc khiếu nại
và giải quyết khiếu nại mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền hiểu đầy đủ hơn ý chí, nguyện vọng của công dân, nhằm kịp thời đề ra các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ ba, thông qua việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại giúp cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phát hiện sự vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý hành chính của nhà nước Trên cơ sở đó, Nhà nước có biện pháp xử lý, loại trừ và ngăn chặn những vi phạm
Thứ tư, việc giải quyết khiếu nại góp phần quan trọng vào việc chấn chỉnh cơ
quan nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức; nhằm góp phần bảo đảm hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Thông qua đó để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, góp phần củng cố và tăng cường pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước
1.2.2 Khái quát về tố cáo và giải quyết tố cáo
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tố cáo
Cũng như quyền khiếu nại, quyền tố cáo là một quyền cơ bản của công dân Quyền tố cáo và quyền khiếu nại gắn bó chặt chẽ với nhau và có nhiều điểm tương đồng với nhau Khi quyền khiếu nại bắt đầu được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam thì quyền tố cáo cũng được quy định và hai quyền này thường được quy định trong cùng một điều của Hiến pháp Khi quyền khiếu nại được quan tâm đầy đủ hơn thì quyền tố cáo cũng được quan tâm đầy đủ hơn Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp đầu tiên quy định trực tiếp về quyền tố cáo của công dân Hiến pháp năm 1959 quy định: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước Những việc tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường.9 Hiến pháp năm 1980 quy định đầy đủ và phát triển hơn quyền tố cáo của công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm1959 Hiến pháp năm 1980 quy định: Công dân có quyền tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan
Trang 14nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo.10 Hiến pháp năm 1992 ra đời đã phát triển hoàn thiện hơn quy định về tố cáo của công dân Công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo hoặc lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.11 Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014,
đã quy định: Mọi người có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo hoặc lợi dụng quyền tố cáo để vu khống,
vu cáo làm hại người khác
Tố cáo có những đặc điểm sau: Một là, chủ thể tố cáo là cá nhân (gồm có
công dân và người nước ngoài) Cơ quan, tổ chức không là chủ thể của tố cáo, tức
không có quyền tố cáo; Hai là, chủ thể bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo; Ba là, đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất
kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; Bốn là, thủ tục tố cáo do pháp luật quy định chặt chẽ; Năm là, mục đích của tố cáo không chỉ là
bảo vệ quyền và lợi ích của người tố cáo mà còn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, công dân khác
Tóm lại, “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo năm 2011 quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.12
1.2.2.2 Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết tố cáo
Việc giải quyết tố cáo có những vai trò và ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, cũng như việc giải quyết khiếu nại, việc giải quyết tố cáo thể hiện
sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân Bởi vì, tố
Trang 15cáo là một trong những cách thức cơ bản thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân Cho nên, việc giải quyết tố cáo cũng phải được quan tâm để giải quyết kịp thời và đúng pháp luật
Thứ hai, việc giải quyết tố cáo là cách thức để khôi phục và bảo vệ lợi ích của
nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại do hành
vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân bất kỳ trong xã hội
Thứ ba, thông qua việc tố cáo và giải quyết tố cáo giúp cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phát hiện tình trạng vi phạm pháp luật, diễn biến và nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật trong xã hội Trên cơ sở đó, Nhà nước có biện pháp
xử lý, loại trừ và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội
Thứ tư, việc giải quyết tố cáo còn góp phần quan trọng vào việc phát hiện
những vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nói chung và của cán bộ, công chức nói riêng; từ đó có biện pháp xử lý và chấn chỉnh các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhằm góp phần đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước Điều này càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong khi mà Đảng, Nhà nước và nhân dân rất quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí Văn kiện của Đảng đã xác định: “Toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có quyết tâm chính trị đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí… Hoàn thiện
cơ chế dân chủ, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền, phát hiện, đấu tranh với các hiện tượng tham nhũng”.13
1.2.3 Các khái niệm liên quan
Người khiếu nại: Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,
công chức thực hiện quyền khiếu nại.14
Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại:
Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân.15
Người bị khiếu nại: Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính,
Trang 16hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại.16
Người giải quyết khiếu nại: Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.17
Giải quyết khiếu nại: Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và
ra quyết định giải quyết khiếu nại.18
Người tố cáo: Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo.19
Người bị tố cáo: Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố
cáo.20
Người giải quyết tố cáo: Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết tố cáo
Giải quyết tố cáo: Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội
dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.21
Quyết định hành chính:
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.22
Hành vi hành chính: Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính
nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.23
Quyết định kỷ luật: Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.24
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là quyết định có hiệu lực thi hành và người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Trang 17Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm: quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà trong thời hạn do pháp luật quy định người khiếu nại đã không khiếu nại tiếp hoặc không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án; quyết định giải quyết khiếu nại lần tiếp theo mà trong thời hạn khiếu nại do luật định người khiếu nại không khiếu
nại tiếp
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.3.1 Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật
Tuân theo Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả các hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như trong hoạt động của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc tuân theo các quy định của pháp luật là nguyên tắc mang tính cơ bản nhất
Tuân theo Hiến pháp, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh nói riêng có nghĩa là phải tuân theo pháp luật cả trong xác minh thẩm quyền; trong tiếp nhận đơn thư; trong xác minh, nghiên cứu vụ việc; trong ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật Có như thế mới có thể giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách đúng đắn, triệt để và đạt hiệu quả
1.3.2 Nguyên tắc dân chủ, công khai
Đảng và Nhà nước ta không ngừng phấn đấu để xây dựng một nhà nước dân chủ, thực sự của dân, do dân, vì dân Để thực hiện tốt điều đó nguyên tắc dân chủ, công khai đang được đặc ra đối với mọi hoạt động quản lý nhà nước
Khiếu nại, tố cáo được coi là phương thức trực tiếp để thực hiện quyền dân chủ của công dân Bởi vậy, dân chủ công khai trong giải quyết khiếu nại, tố cáo càng là một đòi hỏi quan trọng Nguyên tắc này đòi hỏi người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải lắng nghe ý kiến của các bên, đảm bảo tự do dân chủ, bình đẳng trước pháp luật Trong giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại cần phải có trách nhiệm đối thoại trực tiếp với người khiếu nại và người bị khiếu nại để làm rõ nguyên nhân khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại
Phải tạo điều kiện cho các bên trình bày quan điểm của mình về nội dung vụ việc cũng như dự kiến cách thức giải quyết Đối với quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại phải triệu tập người khiếu nại, người bị khiếu nại để đối thoại khi cần thiết Có thể nói đây là hình thức “tranh tụng” theo thể thức hành chính, nếu làm tốt sẽ khắc phục tệ quan liêu, một chiều khi giải quyết khiếu nại, tố cáo Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo từ lúc tiếp nhận đơn cho tới khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo cuối cùng đều phải công khai, minh bạch, mọi trình tự
Trang 18thủ tục, mọi quyết định liên quan tới vụ việc mà người giải quyết khiếu nại đưa ra phải được công bố công khai cho người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo và người
có quyền và lợi ích liên quan được biết Vì thế yêu cầu đề cao nguyên tắc này ngày càng cao
1.3.3 Tôn trọng sự thật khách quan, thận trọng và vô tư
Nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu riêng đối với hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, mà nó còn là yêu cầu chung đối với tất cả các hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các cơ quan quản lý nhà nước
Nguyên tắc này đòi hỏi công dân, cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc khiếu nại phải phản ánh trung thực, đúng sự thật mọi tình tiết, diễn biến của sự việc, không lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo người khác Bởi nếu cung cấp thông tin không chính xác sẽ dẫn đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không chính xác của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với người giải quyết khiếu nại, tố cáo nguyên tắc này đòi hỏi phải nhìn nhận sự việc một cách trung thực như nó vốn có, không phụ thuộc vào ý muốn của các bên đương sự, cũng như không phụ thuộc vào ý nghĩ chủ quan của bản thân người giải quyết khiếu nại, tố cáo, bởi nếu không sẽ nhận đến ngộ nhận, ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng, ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Để làm được điều đó, người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải nắm vững các quy định của pháp luật và tuân theo các quy định đó trong quá trình giải quyết Bởi, chỉ có tuân theo pháp luật thì mới có thể vô tư, khách quan, thận trọng Khi tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan, người có thẩm quyền phải thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu khi cần thiết Người giải quyết khiếu nại có thể gặp gỡ nhân chứng, trưng cầu giám định, yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin cho mình, kể cả việc có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế
Đồng thời, người giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi, không cản trở và phải cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình
1.3.4 Giải quyết kịp thời và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật
Yêu cầu này không chỉ là yêu cầu đối với giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hoạt động tư pháp mà nó còn là yêu cầu chung của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Việc giải quyết nhanh chóng kịp thời sẽ tránh được những bức xúc, thiếu tin tưởng trong nhân dân, đồng thời tiết kiệm được nhiều tiền của của nhân dân cũng như của Nhà nước do khiếu nại, tố cáo dây dưa, kéo dài
Trong giai đoạn hiện nay giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời và nhanh chóng đang là một nguyên tắc cần được đề cao
Trang 191.4 Những hành vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại, tố cáo
Thứ nhất, các hành vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại
Trong quá trình thực hiện việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại không phải lúc nào người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại hoặc cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác tham gia quan hệ này cũng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do nhận thức về pháp luật của các chủ thể liên quan còn hạn chế hoặc do vì lợi ích chưa thoả đáng cho nên đã cố ý không thực hiện, thậm chí chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, đưa việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại đạt hiệu quả, tránh việc lợi dụng quyền khiếu nại hoặc quyền công dân để gây rối làm mất ổn định xã hội, Luật Khiếu nại năm 2011 đã có các quy định cấm đối với một số hành vi trong quá trình khiếu nại, giải quyết khiếu nại tùy theo đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Điều 6 của Luật Khiếu nại năm 2011 đã đưa ra các hành vi bị nghiêm cấm Cụ thể là: cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch các thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp luật; ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định; bao che cho người bị khiếu nại; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại; cố tình khiếu nại sai sự thật; kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng; lợi dụng việc khiếu nại để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; xuyên tạc, vu khống, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, người thi hành nhiệm vụ, công vụ khác; vi phạm quy chế tiếp công dân; vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Đồng thời, cũng quy định các biện pháp xử lý như: Tại Điều 68 Luật Khiếu nại
2011 quy định: “Người nào có một trong các hành vi quy định tại các khoản 5, 6, 7 và
8 Điều 6 của Luật Khiếu nại hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”
Thứ hai, các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo
Trang 20Những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tố cáo và giải quyết tố cáo được quy định tại Điều 8 Luật Tố cáo năm 2011, bao gồm: Gây khó khăn, phiền hà đối với việc thực hiện quyền tố cáo của công dân; Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết tố cáo; Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo; Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết tố cáo; Không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây phiền hà cho người bị tố cáo; Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; Cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết tố cáo; Cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo; Bao che người bị tố cáo; Cố ý tố cáo sai sự thật; kích động, cưỡng ép, dụ
dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; mạo danh người khác để tố cáo; Mua chuộc, hối lộ người giải quyết tố cáo; đe doạ, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo; Lợi dụng việc tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự công cộng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác; Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo; Vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
Theo quy định tại Điều 46 của Luật Tố cáo, người giải quyết tố cáo có hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 8 của Luật Tố cáo hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật trong việc giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Điều 48 của Luật Tố cáo cũng quy định rõ: Người tố cáo và những người khác có liên quan có hành vi quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật Tố cáo hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Những quy định nêu trên, đều được kế thừa các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 Để triển khai hiệu quả các quy định này, nhằm hạn chế hành vi khiếu nại, tố cáo sai sự thật trong thời gian tới cần thực
hiện đầy đủ các giải pháp: Một là, cần tuyên truyền sâu rộng Luật Khiếu nại, Luật Tố
cáo đến cá nhân, tổ chức và toàn thể nhân dân để nắm rõ các quy định của pháp luật, đặc biệt là các hành vi nghiêm cấm và quy định xử lý các hành vi khiếu nại, tố cáo sai
sự thật Hai là, cần ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
khiếu nại, lĩnh vực tố cáo và triển khai thực hiện nghiêm túc, tránh tình trạng thiếu
nghị định xử phạt như trước đây Ba là, khi thụ lý đơn thư khiếu nại, tố cáo cần phân
loại cụ thể nội dung nào đúng sự thật thì phải nghiêm túc giải quyết; đối với nội dung
Trang 21sai sự thật sau khi có kết luận chính thức thì phải chuyển đến cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Có như vậy, sẽ hạn chế được các đơn thư khiếu nại, tố cáo sai sự thật, cũng như tình trạng các đơn thư kéo dài, vượt cấp, phức tạp như thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo như thời gian qua.25
Nhà nước khuyến khích công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật, do vậy nhà nước có cơ chế động viên đối với người có thành tích trong việc tố cáo Thể hiện được tính đặc thù của việc khen thưởng trong lĩnh vực tố cáo và giải quyết tố cáo, Luật Tố cáo quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần.26 Điều 21 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo đã quy định cụ thể về các loại khen thưởng như sau: Huân chương Dũng cảm; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương; Giấy khen để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo, phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật
Việc khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc tố cáo giải quyết tố cáo được thực hiện theo pháp luật về thi đua khen thưởng Như vậy, không phải tất cả mọi người tố cáo đều được khen thưởng mà chỉ người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất và tinh thần
1.5 Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo, khiếu nại và khởi kiện hành chính
Thứ nhất, điểm khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo
Việc phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo của mình đúng thủ tục và đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu nại, tố cáo Khiếu nại và tố cáo khác nhau ở những điểm
cơ bản sau:
Một là, về chủ thể thực hiện khiếu nại, tố cáo
Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại là cá nhân, cơ quan hay tổ chức và cá nhân,
cơ quan hay tổ chức phải bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành
25
Đỗ Văn Nhân, Cần xử lý thật nghiêm người khiếu nại, tố cáo sai sự thật,
http://www.sotuphapqnam.gov- cao-sai-s-tht&catid-=100:nghien-cu-trao-i&Itemid=93 , [truy cập ngày 24/10/2014].
.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1211:cn-x-ly-tht-nghiem-ngi-khiu-ni-t-26
Điều 45 Luật Tố cáo năm 2011
Trang 22chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ có thể là
cá nhân, một người cụ thể Cá nhân có quyền tố cáo mọi hành vi vi phạm mà mình biết được, hành vi vi phạm đó có thể tác động trực tiếp hoặc không tác động đến người tố cáo
Hai là, về đối tượng của khiếu nại, tố cáo
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức Những quyết định và hành vi này phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, của mình và của người khác Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo có thể tác động trực tiếp hoặc không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của người tố cáo, nhưng người tố cáo vẫn có quyền
tố cáo
Ba là, về mục đích của khiếu nại, tố cáo
Mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp
của người khiếu nại Mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của
người tố cáo mà còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân khác và nhằm trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân
Bốn là, về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo
Người khiếu nại có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Người tố cáo phải tự mình (không được uỷ quyền cho người khác) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến bất kỳ tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước nào
Người khiếu nại được quyền rút khiếu nại Người tố cáo không được rút tố cáo
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố cáo sai sự thật thì phải bồi thường thiệt hại
Người khiếu nại có quyền khiếu nại lần thứ hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Toà án khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (mà không cần phải có căn cứ cho rằng việc giải quyết khiếu nại không đúng pháp luật) Còn người tố cáo chỉ được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết chứ không được khởi kiện ra toà án
Năm là, về thẩm quyền giải quyết
Trang 23Cơ quan hoặc người có trách nhiệm nhận và giải quyết khiếu nại lần đầu là cơ
quan có người thực hiện hành vi hành chính hoặc người đã ra quyết định hành chính Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng Hành chính
Cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo là cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chức năng nào thì có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc chức năng của cơ quan
đó Trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tiếp nhận tố cáo nhưng xét thấy trách nhiệm giải quyết tố cáo không thuộc chức năng của cơ quan mình thì phải chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người tố cáo biết Hành
vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà bị tố cáo thì họ không có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về
nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp
Sáu là, về thời hạn giải quyết
Thời hạn giải quyết khiếu nại 27 căn cứ vào số lần khiếu nại của người khiếu
nại Đối với khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý và 45 ngày đối
với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày, đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn) Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 70 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn)
Thời hạn giải quyết tố cáo 28 là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý Trường hợp cần thiết, người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày
Bảy là, về bản chất của khiếu nại, tố cáo
Trang 24Bản chất của khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, còn bản chất của
tố cáo là việc người tố cáo báo cho người có thẩm quyền giải quyết tố cáo biết về hành
vi vi phạm pháp luật
Thứ hai, điểm khác nhau giữa khiếu nại và khởi kiện hành chính
Về khái niệm:khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Đối với khởi kiện hành
chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại đến cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm.29
Về chủ thể giải quyết: đối với khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết là
chủ thể chịu trách nhiệm về quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại Còn đối với khởi kiện hành chính thì chủ thể giải quyết là cơ quan tài phán như Tòa án, trọng tài
Về thời hiệu: đối với khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính Còn thời hiệu khởi kiện hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính
Về trình tự, thủ tục giải quyết: khiếu nại được giải quyết theo quy định của luật
Khiếu nại năm 2011, còn khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện theo luật tố tụng
Hành chính năm 2010
1.6 Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực)
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2004,
2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo nhằm thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
29
Diệp Thành Nguyên, Tài liệu hướng dẫn học tập môn Pháp luật về khiếu nại và khiếu kiện hành chính, Đại
học Cần Thơ, năm 2012, tr 02
Trang 25đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay Hai Luật này đã được Chủ tịch nước ký lệnh công bố và có hiệu lực từ ngày 01/7/2012.30 Sau đây người viết xin được giới thiệu những nội dung mới của hai Luật nói trên
1.6.1 Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực)
Luật Khiếu nại năm 2011 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 2, ngày 11/11/2011 và đã được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh công bố và Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm
200531 thì Luật Khiếu nại năm 2011 có những điểm mới sau:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh
Tại Điều 1, Luật Khiếu nại tiếp tục quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; đồng thời có quy định rõ hơn về việc tiếp công dân; quản lý và giám sát công tác giải quyết khiếu nại Ngoài ra, để bảo đảm quyền khiếu nại của công dân được quy định phù hợp với Luật tố tụng Hành chính năm 2010, thực tiễn giải quyết khiếu nại hiện nay và kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật Khiếu nại quy định cụ thể tại Điều 3 về áp dụng pháp luật
về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Thứ hai, về khái niệm “Quyết định hành chính”
Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì “Quyết định hành chính”
là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một
số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.32
Quy định về thuật ngữ trên của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 dẫn đến thực tế
có nhiều cách hiểu khác nhau về “Quyết định hành chính” Đó là:
Quyết định hành chính phải là văn bản thể hiện dưới hình thức Quyết định do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước; các loại văn bản thể hiện dưới hình thức khác như kết luận, thông báo, công văn thì không được coi là quyết định hành chính và không thuộc đối tượng được khiếu nại
Trang 26Quyết định hành chính bao gồm cả văn bản thể hiện dưới hình thức Quyết định
và văn bản thể hiện dưới hình thức khác do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành
Đối với văn bản của cơ quan nhà nước không được thể hiện dưới dạng hình thức Quyết định nhưng có chứa đựng nội dung quản lý hành chính nhà nước thì không được coi là quyết định hành chính mà coi đó là hành vi hành chính
Từ các cách hiểu khác nhau này nên việc thi hành việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trên thực tế chưa được thống nhất
Để khắc phục tồn tại này và phù hợp với Luật tố tụng Hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại đã quy định cụ thể về quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại:
“Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề
cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.33
Thứ ba, về trình tự khiếu nại
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì trong mọi trường hợp, người khiếu nại phải khiếu nại lần đầu với người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính”.34 Quy định này đã hạn chế quyền được khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án của công dân
Để khắc phục hạn chế trên, tại Điều 7 Khoản 1 Luật Khiếu nại quy định: “Người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng Hành chính” mà không nhất thiết chỉ được khiếu nại với người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại như trước đây Việc khởi kiện
vụ án hành chính tại Toà án vẫn có thể thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết khiếu nại
Việc quy định trình tự khiếu nại như trên vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc lựa chọn các hình thức giải quyết khiếu kiện của mình, bảo đảm quyền
tự sửa chữa của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính khi bị khiếu nại, đồng thời tạo ra cơ chế giải quyết khiếu nại khách quan, dân chủ, kịp thời và hiệu quả hơn
Thứ tư, về khiếu nại nhiều người
Trang 27Trên thực tế, tình trạng khiếu nại nhiều người diễn ra khá phổ biến, đòi hỏi Nhà nước xem xét, giải quyết để ổn định tình hình chính trị - xã hội Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị trong việc xử lý đối với loại khiếu nại này, Luật Khiếu nại đã quy định mới tại Khoản 4, 5, Điều 8, Chương II, Chương III và Chương
V về việc khiếu nại nhiều người với các quy định: Nhiều người đến khiếu nại trực tiếp (Khoản 4, Điều 8); nhiều người khiếu nại qua đơn (Khoản 5, Điều 8); đại diện nhiều người khiếu nại (Khoản 4, Điều 60); địa điểm để công dân thực hiện khiếu nại nhiều người và giải quyết khiếu nại nhiều người (Chương V) và quyết định giải quyết khiếu nại nhiều người (Khoản 3, Điều 31) Còn trình tự, thủ tục giải quyết đối với khiếu nại nhiều người vẫn tuân theo trình tự, thủ tục chung như giải quyết đối với từng người
Thứ năm, về các khiếu nại không được thụ lý giải quyết
Ngoài những khiếu nại không được thụ lý để giải quyết mà Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định tại Điều 32, Luật Khiếu nại đã bổ sung thêm một số trường hợp khiếu nại không được thụ lý để giải quyết, cụ thể:
Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi
bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định
Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại
Thứ sáu, về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và của luật
sư, trợ giúp viên pháp lý
Để khắc phục tình trạng này, kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật Khiếu nại đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và của luật sư, bổ sung thêm quyền
và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý
Về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại:35 So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998, Luật Khiếu nại đã quy định bổ sung người khiếu nại có thêm các quyền như quyền được uỷ quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; nếu người khiếu nại là người trong diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của
35
Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011
Trang 28pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc uỷ quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền tham gia đối thoại hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; quyền được biết, đọc, sao chụp, sao chép tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; quyền được yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước và quyền được yêu cầu người giải quyết khiếu nại
áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại
Về quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại: So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998, Luật Khiếu nại đã quy định bổ sung thêm các quyền như quyền được biết, đọc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; quyền yêu cầu cá nhân,
cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước và người bị khiếu nại có nghĩa vụ tham gia đối thoại hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; chấp hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.36
Về quyền, nghĩa vụ của luật sư, Trợ giúp viên pháp lý:37 Đây là nội dung hoàn toàn mới so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 Cụ thể là luật sư, Trợ giúp viên pháp
lý có quyền tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được uỷ quyền; xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; được nghiên cứu hồ sơ vụ việc, ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Bên cạnh đó Luật Khiếu nại cũng quy định luật sư, trợ giúp viên pháp lý tham gia giải quyết khiếu nại có nghĩa vụ xuất trình thẻ luật sư, thẻ trợ giúp viên pháp
lý và quyết định phân công trợ giúp pháp lý, giấy yêu cầu giúp đỡ về pháp luật hoặc giấy uỷ quyền của người khiếu nại; thực hiện đúng nội dung, phạm vi mà người khiếu nại đã uỷ quyền
Thứ bảy, về thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Trang 29Kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật Khiếu nại tiếp tục quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có quyết định hành chính, hành vi hành chính; khiếu nại lần hai do Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết (từ Điều 17 đến Điều 26) Bên cạnh đó, Luật Khiếu nại đã có quy định mới về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các
cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Khoản 3, Điều 21); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Khoản 4, Điều 23) và Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (Khoản 3, Điều 26)
Thứ tám, về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
Luật Khiếu nại đã bổ sung một số quy định mới về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cho phù hợp với thực tiễn theo hướng đơn giản, công khai, dân chủ, nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người khiếu nại Cụ thể là làm rõ và bổ sung nhiều quy định mới về xác minh nội dung khiếu nại;38 trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu thì có thể đối thoại trong trường hợp yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau, song đối với giải quyết khiếu nại lần hai thì bắt buộc phải đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, hướng giải quyết khiếu nại
Đối với vụ việc khiếu nại phức tạp, nếu thấy cần thiết, người giải quyết khiếu nại lần hai thành lập Hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến giải quyết khiếu nại Để bảo đảm tính minh bạch trong giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo một hoặc một số hình thức công khai gồm: công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
Thứ chín, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, bảo đảm cho các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, Luật Khiếu nại đã bổ sung Mục 4, Chương III về thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật Cụ thể là Điều 44 Luật Khiếu nại quy định về quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Điều 45 quy định về những người có trách nhiệm thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Điều 46 quy định cụ thể về
38
Điều 29 Luật Khiếu nại năm 2011
Trang 30thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật đối với những người có trách nhiệm thi hành theo 03 nhóm đối tượng là người giải quyết khiếu nại, người khiếu nại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Các quy định mới này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, tăng cường trách nhiệm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức
Thứ mười, về khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
Khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là một loại khiếu nại, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng là một loại khiếu nại, giải quyết khiếu nại đặc thù liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cán bộ, công chức nên cần có cơ chế giải quyết riêng trong Luật Khiếu nại Hơn nữa Luật Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với loại việc này Do vậy, Luật Khiếu nại đã có một số các quy định mới là: về xác minh nội dung khiếu nại đối với quyết định kỷ luật;
về tổ chức đối thoại
Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại: đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức có hiệu lực pháp luật thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức làm việc có trách nhiệm công bố công khai quyết định giải quyết đến toàn thể cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đó; bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.39
Thứ mười một, về việc tổ chức tiếp công dân
Công dân đến trình bày không phân biệt loại việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và thực tế cho thấy chỉ phân loại được nội dung vụ việc của công dân sau khi
đã tiếp nhận, nghiên cứu sơ bộ bước đầu đơn của công dân Trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật Khiếu nại dành một chương quy định
về tổ chức tiếp công dân với những quy định mới sau:
Một là, trụ sở tiếp công dân của các cơ quan Đảng và Nhà nước được tổ chức ở
trung ương và địa phương để tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.40 Như vậy, so với Luật Khiếu nại,
tố cáo năm 1998 thì Luật Khiếu nại không chỉ quy định tiếp công dân ở các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà mở rộng ra cả ở các cơ quan của Đảng
Trang 31Hai là, Luật Khiếu nại đã quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức trong công tác tiếp công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, quy định trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân và của người phụ trách trụ sở, địa điểm tiếp công dân
Ba là, về nội dung, Luật Khiếu nại quy định việc tiếp công dân không chỉ tiếp
công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo mà còn cả các kiến nghị, phản ánh thể hiện những tâm tư, vướng mắc nói chung của công dân Đây là nội dung mới nhằm bảo đảm thực hiện quyền dân chủ của nhân dân;
Bốn là, để bảo đảm cho việc tiếp công dân đạt hiệu quả cao, Luật Khiếu nại quy
định cán bộ tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân trong hai trường hợp: (1) khi người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về vụ việc đã được kiểm tra xem xét
và đã có quyết định hoặc kết luận giải quyết của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và đã được trả lời đầy đủ và (2) những người vi phạm quy chế tiếp công dân
Năm là, để gắn trách nhiệm với người có trách nhiệm, Luật Khiếu nại đã quy
định người phụ trách trụ sở, địa điểm tiếp công dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan
có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo của người có trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.6.2 Những điểm mới của Luật Tố cáo năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực)
Một là, về phạm vi điều chỉnh
Luật Tố cáo năm 2011 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi
phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức,
cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Đây là điểm mới cơ bản của Luật Tố cáo Hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực theo Luật Tố cáo bao gồm tất cả các hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong xã hội, kể cả
vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức ngoài phạm vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ
và vi phạm của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam Trình tự, thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của từng loại đối tượng nêu trên được quy định cụ thể tại Chương III và Chương IV của Luật Tố cáo năm 2011
Trang 32Hai là, về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải
quyết tố cáo
Trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998, Luật Tố cáo đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo Cụ thể là:
Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo: Điều 9 Luật Tố cáo đã quy định bổ sung
người tố cáo có thêm các quyền và nghĩa vụ như:
Thứ nhất, quyền giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác là
quyền đương nhiên của người tố cáo và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm quyền này của người tố cáo Vì đây là quyền của người
tố cáo nên người tố cáo có thể thực hiện hoặc không thực hiện;
Thứ hai, quyền được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo
về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết; được quyền tố cáo tiếp; được khen thưởng theo quy định của pháp luật;
Thứ ba, nghĩa vụ phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về
nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra
Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo: Điều 10 Luật Tố cáo đã bổ sung quy định
người bị tố cáo có quyền và nghĩa vụ:
Quyền được nhận thông báo kết quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; được xin lỗi, cải chính công khai do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra
Nghĩa vụ giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra
Quyền, nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo: Điều 11 Luật Tố cáo đã quy định
một điều mới về quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo Theo đó, người giải quyết tố cáo có các quyền và các nghĩa vụ sau:
Người giải quyết tố cáo có các quyền: Yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản
về hành vi bị tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh, thu thập chứng
Trang 33cứ để giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và kết luận về nội dung tố cáo; quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Người giải quyết tố cáo có các nghĩa vụ: Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo; áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo; không tiết lộ thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kết luận về nội dung tố cáo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình gây ra.41
Ba là, về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Kế thừa quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ được quy định cụ thể hơn tại Điều 12 của Luật Tố cáo năm 2011 Để cụ thể hoá nguyên tắc trên, tại Điều 13 Luật Tố cáo quy định cụ thể, chi tiết về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Ngoài quy định cụ thể hơn về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan hành chính thì Luật Tố cáo năm 2011 còn quy định: Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức trong cơ quan khác của Nhà nước như: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với cán bộ
là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức trong đơn
vị sự nghiệp công lập; thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi pháp pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức.42 Đây chính là điểm mới cơ bản về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong Luật
Trang 34Bốn là, về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về
quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Đây là nội dung mới được quy định tại Điều 31 Luật Tố cáo quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Theo đó, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan
đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo
cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết
Tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
Năm là, việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được Luật Tố cáo quy định cụ thể hơn về trách nhiệm phân loại và xử lý của người giải quyết tố cáo, thời hạn kiểm tra, xác minh hay thời hạn chuyển đơn tố cáo và các quy định cụ thể về các trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo
Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực (Điều 31) Đây là nội dung mới của Luật Tố cáo bao gồm các quy định trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được thực hiện như đối với tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trừ trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay Đối với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có
cơ sở để xử lý ngay thì việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự: người có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực mà mình quản lý, người tiếp nhận tố cáo phải trực tiếp tiến hành hoặc báo cáo người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo, áp dụng các biện pháp cần thiết để đình chỉ hành vi vi phạm và kịp thời lập biên bản về hành
vi vi phạm pháp luật (nếu có); việc xác minh, kiểm tra thông tin về người tố cáo được
Trang 35thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo thấy cần thiết cho quá trình xử lý hành
vi bị tố cáo
Sáu là, về trách nhiệm của người giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ
xác minh nội dung tố cáo
Để thu thập các thông tin, tài liệu làm rõ nội dung tố cáo, kết luận đúng sai về nội dung tố cáo, trên cơ sở các quy định trước đây, Luật Tố cáo năm 2011 quy định về quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo, người xác minh nội dung tố cáo, đồng thời luật cũng đã quy định cụ thể về xác minh, kết luận nội dung tố cáo Theo đó, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan Thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo; trường hợp giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo thì phải có quyết định xác minh bằng văn bản Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, các tài liệu, bằng chứng có liên quan, người xác minh nội dung tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo Trong trường hợp người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tự mình thực hiện việc xác minh thì kết luận nội dung tố cáo và quyết định xử lý theo thẩm quyền; trường hợp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
Bảy là, về việc xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo
Việc xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo là khâu cuối cùng và quan trọng trong quá trình xem xét, giải quyết tố cáo Việc xử lý khách quan, đúng pháp luật có tác dụng tích cực đối với việc phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời khuyến khích, động viên ý thức đấu tranh của nhân dân chống lại các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội Luật Tố cáo đã có quy định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo đối với cả hai nhóm hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi
vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Tám là, về việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp
Tại Điều 27 Luật Tố cáo quy định việc tố cáo tiếp, các điều kiện để tố cáo tiếp và việc xem xét, giải quyết của cơ quan, tổ chức cấp trên Theo đó, khi quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc người tố cáo có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết Đối với trường hợp quá thời hạn mà tố cáo không được giải quyết thì người đứng đầu cơ quan cấp trên yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết, trình bày rõ lý
do việc chậm giải quyết tố cáo; có biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm của người
Trang 36có trách nhiệm giải quyết tố cáo; trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu
cơ quan cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt việc tố cáo; trường hợp việc giải quyết của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại theo đúng trình tự Luật Tố cáo quy định
Chín là, về công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm
bị tố cáo
Để đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng, Luật Tố cáo đã quy định một số nội dung mới về công khai nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.43 Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm công khai kết luận nội dung
tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bằng các hình thức: công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố cáo công tác; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Việc công khai này phải bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước
Mười là, về bảo vệ người tố cáo
Bảo vệ người tố cáo là nội dung quan trọng và càng trở nên cần thiết hơn trong việc đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng trong điều kiện hiện nay Luật Tố cáo đã bổ sung mới Chương V, từ Điều 34 đến Điều 40 về bảo vệ người tố cáo bao gồm các quy định về nơi thực hiện bảo vệ người tố cáo, đối tượng bảo vệ, thời hạn bảo
vệ và người có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo Đồng thời luật cũng có quy định việc quy định người tố cáo phải có văn bản yêu cầu bảo vệ chỉ áp dụng trong trường hợp họ
có căn cứ cho rằng bị phân biệt đối xử về việc làm, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân, hay nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xác định các biện pháp bảo
vệ phù hợp, bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo
Có thể nói, Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo được ban hành đã thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phát huy quyền dân chủ cao hơn, nhất là về công tác giải quyết khiếu nại hành chính và công tác giải quyết tố cáo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
43
Điều 30 Luật Tố cáo năm 2011
Trang 37CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO THUỘC THẨM QUYỀN
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì việc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân không chỉ thể hiện ở nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền mà còn được thể hiện thông qua chức năng giám sát, bảo đảm cho hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp theo đúng quy định của pháp luật Trong chương 2 này người viết nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của công dân khi khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 và Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSTC-V7 ngày 06 tháng 02 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao về việc ban hành quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát
2.1 Quyền và nghĩa vụ của công dân khi thực hiện khiếu nại, tố cáo
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
2.1.1.1 Quyền của người khiếu nại
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: người khiếu nại
là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức thực hiện quyền khiếu nại Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân Người khiếu nại không chỉ là công dân, cơ quan, tổ chức của Việt Nam mà gồm cả cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài Khoản 1 Điều 3 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của Luật Khiếu nại, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”
Để thực hiện được quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã cụ thể hóa các khía cạnh liên quan để bảo đảm việc thực hiện quyền khiếu nại của công dân.44 Quyền của người khiếu nại được quy địnhtại Khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 cụ thể sau:
44
Giáo trình Trung cấp lý luận – Hành chính, Học Viện chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị – Hành chính, năm 2010, tr 177