1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

69 745 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 781,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

20 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP……….22 2.1 Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trá

Trang 1

Bộ môn Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:

Phạm Thị Mỹ Linh

MSSV: S120042 Lớp: Luật VB2 Đồng Tháp - K38

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Trang 2

  

Trang 3

  

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 4

1.1 Khái niệm về bồi thường thiệt hại, chế độ bồi thường, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và phân loại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.1.1 Bồi thường thiệt hại 4

1.1.1.2 Chế độ bồi thường 7

1.1.1.3 Tai nạn lao động 7

1.1.1.4 Bệnh nghề nghiệp 10

1.1.2 Phân loại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 11

1.1.2.1 Tai nạn lao động 11

1.1.2.2 bệnh nghề nghiệp 12

1.2 Đặc điểm, đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ bồi thường và căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 13

1.2.1 Đặc điểm của chế độ bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 13

1.2.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 14

1.2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường đối với tai nạn lao động 15

1.2.3.1 Có hành vi vi phạm pháp luật gây ra 15

1.2.3.2 Có thiệt hại xảy ra 16

1.2.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại 16

1.2.3.4 Có lỗi của người vi phạm 17

1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về chế độ bồi thường trong luật lao động 17

1.3.1 Đảm bảo và củng cố kỷ luật trong quan hệ lao động 17

1.3.2 Đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động 18

Trang 5

lao động, bệnh nghề nghiệp 18

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Lao động năm 1994 18

1.4.2 Giai đoạn từ khi có Bộ luật Lao động năm 1994 đến nay 20

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP……….22

2.1 Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 22

2.1.1 Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 22

2.1.2 Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 23

2.2 Chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 26

2.2.1 Điều kiện để người lao động được bồi thường thiệt hại 26

2.2.1.1 Đối với người bị tai nạn lao động 26

2.2.1.2 Đối với người bị bệnh nghề nghiệp 27

2.2.2 Mức bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 27

2.3 Chế độ trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động 31

2.3.1 Trường hợp được trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động 31

2.3.2 Mức trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động 32

2.4 Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo và thời hạn khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 33

2.4.1 Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo và thời hạn khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động 33

2.4.1.1 Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động 33

2.4.1.2 Thời hạn khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động 36

2.4.2 Thống kê, báo cáo và thời hạn thống kê, báo cáo bệnh nghề nghiệp 37

2.4.2.1 Thống kê, báo cáo bệnh nghề nghiệp 37

2.4.2.2 Thời hạn thống kê, báo cáo bệnh nghề nghiệp 38

2.5 Lập hồ sơ và thời gian thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 38

Trang 6

NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 41

3.1 Thực trạng về chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 42 3.2 Một số bất cập trong quy định pháp luật về chế độ bồi thường trong tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và đề xuất hoàn thiện pháp luật 49 3.3 Một số ý kiến nhằm hạn chế tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở nước ta 52

KẾT LUẬN 55

Trang 7

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 1 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Việc xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là không thể tránh khỏi trong quá trình lao động, chúng xảy ra từ những nguyên nhân khác nhau như do người sử dụng lao động vì mục đích lợi nhuận mà người sử dụng lao động không trang bị những phương tiện bảo hộ cá nhân trong lao động, hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, hoặc do nhận thức của người lao động về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn kém mà tự gây ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho mình

Dù tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra do nguyên nhân nào thì người lao động cũng là người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất, bị ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe Do đó, Bộ luật Lao động quy định chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích, bù đắp người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Kể từ khi ban hành Bộ luật Lao động cho tới nay đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Bên cạnh đó các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng được ban hành Điều đó cho thấy chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và sự phát triển của lực lượng lao động Đến nay thì các quy định về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ngày càng được hoàn chỉnh Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì các quy định về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn có nhiều thiếu sót, bất cập mà những thiếu sót, bất cập đó là ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Điển hình như pháp luật lao động hiện hành chỉ quy định nước ta chỉ

có 29 bệnh nghề nghiệp nhưng trên thực tế bệnh nghề nghiệp có nhiều hơn nhưng không được hưởng chế độ

Vì thế, người viết chọn đề tài: “Chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp” Với mục đích phân tích những thiếu sót, bất cập về các quy

định của chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Qua đó, người viết đưa ra một số ý kiến, đề xuất liên quan đến chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 8

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 2 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

Người viết nghiên cứu đề tài với mục tiêu như sau:

Tìm hiều những vấn đề lý luận chung về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Phần quy định của pháp luật người viết không đi sâu vào nghiên cứu quy định hiện hành về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Thay vào đó, người viết sẽ tìm hiểu một cách khái quát quy định của pháp luật về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp qua các thời kỳ cụ thể từ năm 1945 đến nay Để cho người đọc thấy các quy định về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được bổ sung, thay đổi, hoàn thiện qua các thời kỳ và chỉ ra những bất cập, thiếu sót của các quy định hiện hành về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Từ đó người viết đưa ra một số ý kiến,

đề xuất liên quan đến chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

3 Phạm vi nghiên cứu

Bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Lao động chia thành các loại như bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật Tuy nhiên trong phạm vi nghiên của luận văn tốt nghiệp, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về loại bồi thường thiệt hại về tính mạng

và sức khỏe do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ra, tức là chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin được sử dụng nghiên cứu, xây dựng các vấn đề của luận văn

Phương pháp lịch sử được sử dụng nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp qua các thời kỳ cụ thể là từ năm 1945 đến nay;

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn;

Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với các quy định của pháp luật trước đây về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị

Trang 9

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 3 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

5 Kết cấu đề tài

Đề tài “Chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”

bao gồm những phần chủ yếu sau:

Mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và ba chương chính Chương 1: Lý luận chung về chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chương 2: Quy định pháp luật về chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chương 3: Thực trạng về chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật

Trang 10

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 4 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI

NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

1.1 Khái niệm về bồi thường thiệt hại, chế độ bồi thường, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và phân loại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Bồi thường thiệt hại

Xã hội là tổng hòa các mối quan hệ đa dạng, phức tạp giữa các cá nhân, tổ chức

và cả Nhà nước Trong thực tế nếu các mối quan hệ hệ đó được thực hiện một cách tự do

mà không có sự ràng buộc thì khả năng xâm phạm quyền và gây thiệt hại cho người khác

để đảm bảo quyền và lợi ích của mình luôn xảy ra Do vậy vấn đề “bồi thường thiệt hại” luôn được đặt ra trong hệ thống pháp luật của quốc gia

Để hiểu được khái niệm “bồi thường thiệt hại” cần phải hiểu các từ ngữ “bồi

thường” và “thiệt hại”

Theo từ điển Tiếng việt thì bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, thiệt

hại là mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của1

Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ thiệt hại được hiểu là: “Tổn thất về tính

mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” 2

Thiệt hại phân làm hai loại là thiệt hại vật chất, gồm tài sản bị mất bị hủy hại, bị

hư hỏng, chi phí hợp lý phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng lẽ phải thu được và những tổn thất về tinh thần như danh dự, uy tính, tên tuổi, nhân thân là những yếu tố có vai trò trong việc tạo lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ cá nhân và cộng đồng của chủ thể bị xâm hại Tuy nhiên, trong bài viết này chỉ nghiên cứu vấn đề thiệt hại về tính mạng và sức khỏe

Bồi thường thiệt hại được hiểu theo nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau như:

Về phương diện kinh tế, bồi thường thiệt hại được hiểu là nghĩa vụ của người gây

ra thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản cho người khác mà trái với quy định pháp luật thì phải khắc phục những hậu quả mà mình đã gây ra bằng việc hoàn trả cho người bị thiệt hại một khoản tiền nhất định

1 Từ điển tiếng việt, Nxb Thanh niên, Hà Nội, năm 2011

2 TS Nguyễn Hữu Chí - ThS Đỗ Gia Thắng, Chế độ bồi thường trong Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà

Nội, năm 2006, trang 10

Trang 11

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 5 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

Về phương diện pháp luật, sự tồn tại của thiệt hại đặt ra yêu cầu giải quyết quan

hệ giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại theo tiêu chí, khuôn khổ mà pháp luật quy định Theo quy định thì chủ thể gây thiệt hại phải có nghĩa vụ khắc phục hậu quả đã gây

ra cho chủ thể bị thiệt hại (trừ trường hợp gây thiệt hại vì lý do bất khả kháng) Nghĩa vụ này là lẽ công bằng, bởi vì nó đảm bảo được quyền, lợi ích của chủ thể bị thiệt hại, một mặt loại bỏ sự tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân, mặt khác xác định trách nhiệm của chủ thể đối với hoạt động của chính mình trước quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người

Về phương diện pháp lý, trong quan hệ lao động, khi người lao động và người sử

dụng lao động xác lập một quan hệ lao động thì đồng thời giữa họ xuất hiện một quan hệ nghĩa vụ Nghĩa vụ này do pháp luật quy định hay do các bên tự thỏa thuận với nhau trong hợp đồng lao động Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ giữa các bên có thể xảy ra hành vi vi phạm, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản Do đó, pháp luật đặt ra quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều đó có nghĩa là chủ thể gây thiệt hại

phải có trách nhiệm pháp lý với hậu quả mà mình gây ra Để tìm hiểu khái niệm bồi

thường thiệt hại dưới góc độ pháp lý cần hiểu được thế nào là trách nhiệm pháp lý

Trong khoa học pháp lý, trách nhiệm thường được hiểu theo hai nghĩa: trách

nhiệm chủ động (có trách nhiệm), và trách nhiệm bị động (chịu trách nhiệm) Nếu trách nhiệm chủ động được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ mà chủ thể phải thực hiện, thì trách nhiệm bị động được hiểu là những hậu quả bất lợi mà chủ thể phải gánh vác do không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ của mình3

Trách nhiệm pháp lý được hiểu là những phản ứng của Nhà nước đối với hành vi

vi phạm pháp luật Tùy theo mức độ vi phạm, các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước pháp luật 4

Nói cách khác thì trách nhiệm pháp lý là chế tài chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được áp dụng, vì biện pháp cưỡng chế mang lại hậu quả bất lợi cho chủ thể vi phạm

Sau khi vi phạm pháp luật chủ thể thường có xu hướng che đậy hành vi vi phạm của mình để tránh việc chịu hậu quả pháp lý bất lợi của trách nhiệm pháp lý Vì thế, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là vấn đề phải đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi

ích xã hội, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt

động của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhằm thu thập, xác minh các yếu tố liên quan

3 , 4 , 5 Ts Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội,

năm 2011, trang 143-144

Trang 12

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 6 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

đến hành vi vi phạm và chủ thể vi phạm để áp dụng chế tài tương thích với hành vi vi phạm đó5

Sỡ dĩ Nhà nước phải truy cứu trách nhiệm pháp lý là để trừng phạt những chủ thể

có hành vi vi phạm pháp luật gây ra hậu quả xấu cho xã hội, trốn tránh trách nhiệm mà chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phải thực hiện Các chủ thể khi tham gia vào quan

hệ pháp luật luôn hoạt động có lý trí và ý chí, nghĩa là họ nhận thức được việc mình làm

và họ có khả năng tự lựa chọn cách thức xử sự sao cho phù hợp với pháp luật và đạo đức

xã hội, nhưng các chủ thể lại lựa chọn cách xử sự trái pháp luật nên phải gánh chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình

Điều 35 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; Người làm công ăn lương được đảm bảo các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi”

Nhà nước luôn bảo vệ quyền công dân trong quá trình lao động, người sử dụng lao động phải đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho người lao động trong quá trình lao động cụ thể được quy định trong Bộ luật Lao động hiện hành Tuy nhiên trong quá trình lao động người sử dụng lao động có thể vì lợi ích của mình hoặc do hoàn cảnh nào đó mà có những hành vi vi phạm quyền, lợi ích của người lao động Để ngăn chặn và khắc phục những hành vi vi phạm pháp luật gây ra, Nhà nước đã sử dụng nhiều biện pháp

khác nhau trong đó bồi thường thiệt hại có thể coi là một chế định để bảo vệ các quan hệ

lao động, bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động không bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp luật

Quan hệ bồi thường thiệt hại do Bộ luật Lao động điều chỉnh chỉ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ lao động và hành vi gây thiệt hại phải liên quan đến quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động Những hành vi gây thiệt hại của những chủ thể không phải là chủ thể của quan hệ lao động gây ra thì không do Bộ luật Lao động hiện hành điều chỉnh

Bồi thường thiệt hại là quy định được đặt ra nhằm bảo vệ người bị thiệt hại Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại, bù đắp những thiệt hại hoặc một phần thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra đối với người bị thiệt hại Những thiệt hại ấy dù là thiệt hại

về vật chất hay tinh thần đều được đền bù bằng một lượng vật chất nhất định do luật quy định hay do các bên thỏa thuận

Bồi thường thiệt hại trong luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh

khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên

Trang 13

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 7 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người bị hại6

Bồi thường thiệt hại trong luật lao động chia thành các loại như bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật Trong bài viết này thì người viết chỉ nghiên cứu về loại bồi thường thiệt hại về tính mạng và sức khỏe, người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người lao động khi xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động

1.1.1.2 Chế độ bồi thường

Chế độ là hệ thống tổ chức, tổng hợp các quy định về một vấn đề Khi đề cập tới

một loại chế độ về một vấn đề nào đó nghĩa là nói đến tổng hợp những quy định về vấn

đề đó, những quy định này có thể do pháp luật quy định hay do các bên thỏa thuận Trong luật lao động, chế độ bồi thường cũng là tổng hợp những quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên trong hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề về trách nhiệm bồi thường khi có hành vi gây thiệt hại Nếu như không có những quy định này thì không thể

áp dụng trách nhiệm bồi thường đối với người vi phạm

Chế độ bồi thường trong luật lao động là tổng hợp các quy định về căn cứ, mức

độ, phạm vi, cách thức, biện pháp thực hiện bồi thường thiệt hại mà căn cứ vào đó các bên có liên quan thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra những điều kiện thỏa mãn quy định của pháp luật hoặc sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng lao động7

Tức là khi một bên có hành vi vi phạm pháp luật hoặc thỏa thuận giữa các bên gây thiệt hại cho bên kia, thì bên bị thiệt hại căn cứ vào những quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận như mức độ thiệt hại, phạm vi thiệt hại mà yêu cầu bên gây thiệt hại phải

có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như thế nào

1.1.1.3 Tai nạn lao động

Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn gây

tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm

vụ lao động”

Nếu dừng lại ở quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 tai nạn được xem là tai nạn lao động khi xảy ra trong quá trình lao động tức là khi người lao động thực hiện

6 TS Nguyễn Hữu Chí - ThS Đỗ Gia Thắng, Chế độ bồi thường trong Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà

Nội, năm 2006, trang 16

7 TS Nguyễn Hữu Chí - ThS Đỗ Gia Thắng, Chế độ bồi thường trong Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà

Nội, năm 2006, trang 24

Trang 14

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 8 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

quyền và nghĩa vụ của lao động đã cam kết với người sử dung lao động trong hợp đồng lao động Còn những tai nạn lao động xảy ra trong thời gian vệ sinh cá nhân, đoạn đường

đi và về giữa nơi ở và nơi làm việc, thời gian nghỉ giải lao có được xem là tai nạn lao động không thì Bộ luật lao động hiện hành chưa nêu rõ Tuy nhiên, Nghị định số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động đã hướng dẫn rõ thêm những trường hợp mà luật chưa nêu rõ:

Tai nạn lao động là tai nạn gây thương tổn cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tấm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc 8

Quy định chỉ rõ tai nạn xảy ra trong thời gian lao động và có sự quản lý trực tiếp

của người sử dụng lao động thì được xem là tai nạn lao động Thời gian lao động bao

gồm thời gian thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, thời gian giải lao, vệ sinh cá nhân

Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ

ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động quy định: “Tai nạn được coi là tai nạn lao

động là tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở” Nghị định thừa nhận tai nạn xảy ra trên đoạn

đường đi và về giữa nơi ở và nơi làm việc là tai nạn lao động Tuy nhiên Nghị định lại

không giải thích tai nạn xảy ra do nguyên nhân nào thì xem là tai nạn lao động, vấn đề

này cũng gây nhiều khó khăn và tranh cãi, có hai quan điểm khác nhau về quy định hiện hành:

Quan điểm thứ nhất cho rằng nên bỏ quy định này vì quan hệ lao động do hai bên thiết lập, tự nguyện thỏa thuận về thời gian, địa điểm làm việc, do đó người sử dụng lao động chỉ chịu trách nhiệm trong quá trình lao động, thời gian mà họ đơn phương tổ chức, quản lý theo kế hoạch của mình và sẽ là vô lý nếu như bắt họ phải chịu trách nhiệm khi người lao động tự nguyện đến nơi làm việc và chủ động về phương tiện của mình Còn nếu người lao động không có lỗi, họ sẽ được bên thứ ba gây thiệt hại bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 Quan điểm này cho rằng trách nhiệm trong trường hợp này của người sử dụng lao động chỉ dừng lại ở trách nhiệm đạo đức, tức là dựa trên

sự tự nguyện Quan điểm này không phù hợp do Bộ luật Lao động năm 2012 xây dựng

8 Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của

bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

Trang 15

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 9 SVTH: Phạm Thị Mỹ Linh

trên tinh thần bảo vệ người lao động nhưng vẫn đảm bảo quyền, lợi ích của người sử dụng lao động Người lao động cần phải đảm bảo được cuộc sống nếu người sử dụng lao động không chịu trách nhiệm bồi thường thì cuộc sống của người lao động không đảm bảo

Quan điểm thứ hai cho rằng không nên coi tất cả tai nạn xảy ra trên đoạn đường

đi và về của người lao động đều là tai nạn lao động, bởi vì có những tai nạn xảy ra mà nguyên nhân không liên quan đến quan hệ lao động thì không thể coi là tai nạn lao động Người viết đồng ý với quan điểm này vì nếu tai nạn xảy ra mà nguyên nhân tai nạn là do người lao động uống rượu say sau giờ làm việc, không làm chủ được tốc độ thì không được xem là tai nạn lao động Trường hợp này cũng được luật dự liệu trước nên quy định

tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở 9 Tai nạn xảy ra ở một nơi nhất định mà nơi đó phải nằm trên tuyến đường từ nơi ở của người lao động đến nơi làm việc và khoản thời gian phù hợp với độ dài của tuyến đường từ nơi ở của người lao động đến nơi làm việc, thời gian được tính từ lúc người lao động kết thúc công việc và về đến nơi ở hoặc thời gian bắt đầu

từ nơi ở đi đến nơi làm việc

Trường hợp người lao động thực hiện công việc không thuộc công việc, nhiệm

vụ theo hợp đồng lao động mà thực hiện theo yêu cầu của người sử dụng lao động, khi xảy ra tai nạn thì có xem tai nạn đó có phải là tai nạn lao động hoặc trường hợp người lao động bị nhiễm độc đột ngột do tiếp xúc trực tiếp với một lượng lớn chất độc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công việc lao động, có thể gây tử vong hoặc gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận chức năng nào của cơ thể người lao động thì có xem là tai nạn lao động không thì Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn hiện hành chưa quy định

Trước đây, các trường hợp trên được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động cũ năm 1994, cụ thể quy định tại Thông tư Liên tịch số 12/2012 ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế hướng

dẫn việc khai báo điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động quy định trường hợp “Tai

nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của người sử dụng lao dộng hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động” 10 và Thông tư số 10/2003 ngày 18 tháng 4 năm

2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định về

9 Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao

động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

10 Điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2012 ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn việc khai báo điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động

Trang 16

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 10 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

trường hợp “Tai nạn lao động xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại

trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tấm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc)” 11 Tuy nhiên các quy định này không được áp dụng để hướng dẫn thi

hành Bộ luật Lao động hiện hành 2012 vì các quy định này giải thích, hướng dẫn Bộ luật Lao động năm 1994 đã hết hiệu lực pháp luật

Các quy định hiện hành về tai nạn lao động được áp dụng đối với cả người đang học nghề, tập nghề và thử việc 12 Quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn vì người đang học nghề, tập nghề và thử việc cũng làm việc cùng điều kiện môi trường, thực hiện công việc, nhiệm vụ như người lao động, khả năng xảy ra tai nạn là không thể tránh khỏi Vì thế người đang học nghề, tập nghề và thử việc cần được bảo vệ như người lao động

1.1.1.4 Bệnh nghề nghiệp

Trước đây khái niệm bệnh nghề nghiệp được quy định tại Điều 106 Bộ luật Lao

động năm 1994 “Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của

nghề nghiệp tác động đối với người lao động”

Sau đó, Thông tư Liên tịch số 08/1998 ngày 20 tháng 4 năm 1998 của Bộ Y tế,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề

nghiệp đã bổ sung thêm một số chi tiết về khái niệm bệnh nghề nhiệp: “Bệnh nghề

nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động Bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng Bệnh nghề nghiệp không thể phòng tránh được”

Đến nay khái niệm bệnh nghề nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ

luật Lao động hiện hành năm 2012 quy định: “Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do

điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động”. Khái niệm bệnh nghề nghiệp trong Bộ luật Lao động mới năm 2012 cũng không có gì thay đổi so với Bộ luật Lao động cũ năm 1994, nhưng Bộ luật Lao động năm 1994 có văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề nghiệp và bổ sung một số chi tiết như bệnh nghề nghiệp xảy ra từ từ hoặc cấp tính và bệnh nghề nghiệp không thể phòng tránh được, còn Bộ luật Lao động năm 2012 vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết về bệnh nghề nghiệp

11 Thông tư số 10/2003 ngày 18 tháng 4 năm 2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về hướng dẫn việc

thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

12 Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 17

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 11 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

Hiện nay có 29 bệnh nghề nghiệp được bồi thường quy định tại Thông tư số 10/2003 ngày 18 tháng 4 năm 2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Thông tư số 42/2011 ngày 30 tháng 11 năm 2011 của Bộ Y tế

bổ sung bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm

và hướng dẫn tiêu chuẩn chẩn đoán, giám định và Thông tư số 44/2013 ngày 24 tháng 12 năm 2013 của Bộ Y tế về việc bổ sung bệnh bụi phổi – talc nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm và hướng dẫn tiêu chuẩn chẩn đoán giám định

Từ quy định của pháp luật người lao động chỉ được xem là mắc bệnh nghề nghiệp khi điều kiện, môi trường làm việc phải độc hại, bệnh người lao động mắc phải là bệnh đặc trưng do yếu tố độc hại đó gây ra và phải được quy định trong danh mục bệnh nghề nghiệp đã quy định

Nhằm đảm bảo sức khỏe của người lao động, người sử dụng lao động phải tổ chức cho người lao động khám sức khỏe định kỳ và có hồ sơ riêng biệt để theo dõi bệnh của người lao động tốt hơn Khoản 2 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

“Người bị bệnh nghề nghiệp phải được điều trị chu đáo, khám sức khỏe định kỳ, có hồ sơ sức khỏe riêng biệt”

1.1.2 Phân loại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.1.2.1 Tai nạn lao động

Khoản 3 Điều 12 Nghị định số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ nghỉ ngơi và an toàn

lao động, vệ sinh lao động phân loại tai nạn lao động thành ba loại gồm: “Tai nạn lao

động chết người; tại nạn lao động nặng; tai nặng lao động nhẹ” Nghị định này chỉ quy

định việc phân loại mà không giải thích, hướng dẫn Hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể, giải thích cho việc phân loại tai nạn lao động gây khó khăn cho việc xác định các loại tai nạn lao động

Trước đây, để có thể dễ dàng xác định các loại tai nạn lao động thì Thông tư Liên tịch số 12/2012ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và

Bộ Y tế hướng dẫn việc khai báo điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động đã giải thích, hướng dẫn về phân loại bệnh nghề nhiệp như sau:

Tai nạn lao động chết người là tai nạn mà người bị nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn hoặc chết trên đường đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu; chết trong thời gian

Trang 18

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 12 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

đang điều trị; chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra Trường hợp người bị nạn chết trong thời gian đang điều trị hoặc chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động phải có kết luận của cơ quan Pháp y hoặc Hội đồng Giám định Y khoa có thẩm quyền

Tai nạn lao động nặng là tai nạn mà người bị nạn bị ít nhất một trong các chấn thương được quy định tại Phục lục

Tai nạn lao động nhẹ là những loại tai nạn mà người bị nạn không thuộc trường hợp tai nạn lao động chết người và tai nạn lao động nặng

Việc phân loại tai nạn lao động trên thể hiện cụ thể từng loại tai nạn lao động, nhưng không thể áp dụng để giải thích cho việc phân loại tai nạn lao động của Nghị định

số 45/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của

Bộ luật Lao động về thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động vì các quy định về phân loại tai nạn lao động trong Thông tư Liên tịch số 12/2012 ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn việc khai báo điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động hướng dẫn các Nghị định và Bộ luật Lao động năm 1994 đã hết hiệu lực

Việc phân loại tai nạn lao động rất quan trọng vì phân loại giúp cho người lao động và người sử dụng lao động xác định được chế độ bồi thường và chế độ trợ cấp do tai nạn lao động gây ra, hạn chế được sự xung đột tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng

1.1.2.2 Bệnh nghề nghiệp

Hiện nay có 29 bệnh nghề nghiệp và chia thành năm nhóm13:

Nhóm I: Các bệnh bụi phổi và phế quản (có 6 bệnh nghề nghiệp)

1 Bệnh bụi phổi – Silic nghề nghiệp (BP – Silic);

2 Bệnh bụi phổi Atbet (amiăng) (BP – amiăng);

3 Bệnh bụi phổi bông (BP – bông);

4 Bệnh viêm phế quản mãng tính nghề nghiệp (viêm PQ – NN);

5 Bệnh hen phế quản nghề nghiệp;

6 Bệnh bụi phổi – Talc nghề nghiệp

13 Thông tư số 10/2003 ngày 18 tháng4 năm 2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về hướng dẫn việc thực

hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Thông tư số

42/2011 ngày 30 tháng 11 năm 2011 của Bộ Y tế bổ sung bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp

do rung toàn thân, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm và hướng dẫn tiêu chuẩn chẩn đoán, giám định; Thông tư số 44/2013 ngày 24 tháng 12 năm 2013 của Bộ Y tế về việc

bổ sung bệnh bui phổi – talc nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm và hướng dẫn tiêu chuẩn

Trang 19

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 13 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

Nhóm II: Các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp (có 10 bệnh nghề nghiệp)

1 Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất chì;

2 Bệnh nhiễm độc bezen và các hợp chất đồng đẳng của bezen;

3 Bệnh nhiễm độc thủy ngân và các hợp chất thủy ngân;

4 Bệnh nhiễm độc mangan ngân và các hợp chất của mangan;

5 Bệnh nhiễm độc TNT (Trinitro toluen);

6 Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất asen nghề nghiệp;

7 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp;

8 Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp;

9 Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp;

10 Bệnh nhiễm độc cadimi nghề nghiệp

Nhóm III: Các bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý (có 5 bệnh nghề nghiệp)

1 Bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ;

2 Bệnh điếc do tiếng ồn (điếc NN);

3 Bệnh rung chuyển nghề nghiệp;

4 Bệnh giảm áp mãn tính nghề nghiệp;

5 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân

Nhóm IV: Các bệnh da nghề nghiệp (có 4 bệnh nghề nghiệp)

1 Bệnh sạm da nghề nghiệp;

2 Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc;

3 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp;

4 Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp

Nhóm V: Các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp (có 4 bệnh nghề nghiệp)

1 Bệnh lao nghề nghiệp;

2 Bệnh viên gan virut nghề nghiệp;

3 Bệnh do xoắn khuẩn leptospira nghề nghiệp;

4 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Pháp luật nước ta hiện nay quy định chỉ có 29 bệnh nghề nghiệp, nhưng trên thực

tế có nhiều bệnh phát sinh do làm việc trong môi trường độc hại như bệnh bụi phổi – than nghề nghiệp hoặc điều kiện khí hậu khắc nghiệt như bệnh sốt rét, hoặc bệnh rối loạn cơ

Trang 20

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 14 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

xương nghề nghiệp thường xuất hiện ở dạng lao động thể lực quá nặng, hoặc bệnh lây lan qua con đường tiếp xúc khi các bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân như bệnh cúm gia cầm H5N1 Do đó cần nhanh chóng bổ sung thêm các bệnh trên vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm và hướng dẫn tiêu chuẩn chẩn đoán giám định

1.2 Đặc điểm, đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ bồi thường và căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.2.1 Đặc điểm của chế độ bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bộ luật Lao động điều chỉnh các quan hệ giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp với các quan hệ lao động Xuất phát từ những đặc trưng đó nên vấn đề bồi thường thiệt hại trong luật lao động mang những đặc điểm nhất định:

Bồi thường thiệt hại trong luật lao động chỉ phát sinh trên cơ sở tồn tại một quan

hệ lao động, dưới hình thức hợp đồng lao động: Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường

thiệt hại trong luật lao động chỉ có thể là người lao động và người sử dụng lao động Vì việc ký kết hợp đồng lao động gắn liền với tư cách cá nhân, có tính chất đích danh nên các chủ thể không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ của họ cho người khác, những vấn

đề bồi thường phát sinh được nêu rõ trong hợp đồng lao động

Khi có tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra đối với người lao động thì chế tài được áp dụng là bồi thường thiệt hại: Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra cho

dù nặng hay nhẹ mà người lao động bị suy giảm khả năng lao động theo quy định thì phải được bồi thường, bồi thường thiệt hại thì người lao động mới có tiền và an tâm điều trị bệnh, thương tật để phục hồi sức khỏe Bồi thường thiệt hại trong tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là biện pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi

thường khi có tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra mà không do lỗi của người lao động, tức là dù lỗi của người sử dụng lao động hay do người thứ ba hay do khách quan thì người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm bồi thường Việc bồi thường thiệt hại phải được thực hiện bằng tiền và người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động

ít nhất là 5%

Yếu tố lỗi: Việc xác định yếu tố lỗi ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nếu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra không do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường, còn do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động chỉ thực

Trang 21

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 15 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

hiện trợ cấp cho người lao động

Thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường: Thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi

thường thiệt hại trong tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo một trình tự phức tạp, cần nhiều loại giấy tờ để hoàn thành hồ sơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.2.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng chế độ bồi thường đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Chế độ bồi thường được áp dụng đối với các đối tượng sau:

Người lao động Việt Nam; người học nghề, tập nghề; người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan

1.2.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường đối với tai nạn lao động

Tai nạn lao động xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau có thể do người sử dụng lao động thiếu trách nhiệm gây ra hoặc do sự tự tin, vô ý thức của người lao động gây ra hoặc do nguyên nhân khách quan như thiên tai hỏa hoạn gây ra

Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tai nạn lao động xảy ra do lỗi của người sử dụng lao động và do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn Còn trường hợp tai nạn lao động xảy ra

do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp

14 Điều 2 Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 22

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 16 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

Khác với các quy định về chế độ bồi thường của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động ngoài việc gánh chịu hậu quả bất lợi do lỗi của mình gây ra, thì người sử dụng lao động còn phải gánh chịu những hậu quả bất lợi không do lỗi của mình gây ra và hậu quả bất lợi đó chỉ khác nhau ở mức bồi thường hay trợ cấp, mức trợ cấp bằng 40% mức bồi thường

Việc xác bồi thường hay trợ cấp rất quan trọng đối với người sử dụng lao động

và người lao động vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của các bên Do đó, việc xác định trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động cần phải có căn cứ, dấu hiệu xác định Theo pháp luật lao động Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ

phát sinh khi có đủ bốn điều kiện sau:

1.2.3.1 Có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại

Hành vi vi phạm pháp luật lao động là hành vi trái pháp luật lao động do chủ thể

có năng lực trách nhiệm pháp luật lao động thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động khác được pháp luật bảo vệ và phải chịu trách nhiệm pháp lý

Hành vi gây thiệt hại pháp luật lao động có thể bằng hành động và không hành

động, hành động và không hành động đều là biểu hiện của con người ra ngoài thế giới

khách quan được ý thức kiểm soát, lý trí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng bị tác động, gây thiệt hại cho quan hệ lao động được pháp luật lao động bảo vệ Người lao động có hành vi vi phạm thể hiện bằng hành vi vi phạm kỷ luật lao động, không hoàn thành nghĩa vụ lao động được giao hoặc thực hiện không đúng những nghĩa vụ đó Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm các quy định an toàn lao động, vệ sinh lao động

Tuy nhiên, trong Bộ luật Lao động có một số trường hợp không có hành vi vi phạm pháp luật mà thiệt hại vẫn xảy ra, thì vẫn được coi là điều kiện căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ví dụ như trường hợp ông A là nhân viên Công ty may mặc B đang trên đường đi giao hàng không mai gặp mưa bảo làm cây ngã đè lên người gây ra thương tích và bị suy giảm khả năng lao động 10% Ông A bị tai nạn lao động là

do thiên tai, không do hành vi vi phạm pháp luật nào cả nhưng hậu quả là ông A bị suy giảm khả năng lao động 10% Đây là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Công ty B đối với ông A

1.2.3.2 Có thiệt hại xảy ra

Đây là yếu tố cấu thành cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, là một điều

Trang 23

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 17 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

kiện được coi là bắt buộc và quyết định việc có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khôi phục, bù đắp những tổn thất cho bên bị thiệt hại, nếu không có thiệt hại xảy ra thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh, mục đích không đạt được

Đối với tai nạn lao động thì thiệt hại xảy ra là sự suy giảm khả năng lao động của người lao động và người lao động chỉ được bồi thường khi bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên, đây là mức quy định tối thiểu để người sử dụng lao động xác định mức bồi thường thiệt hại Việc nhìn nhận, đánh giá thiệt hại và mức độ thiệt hại rất quan trọng, làm cơ sở xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại

1.2.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật lao động gây thiệt của người sử dụng lao động Hành vi trái pháp luật có ý nghĩa quyết định làm phát sinh thiệt hại, nhưng diễn biến của thiệt hại xảy

ra theo chiều hướng nào thì phụ thuộc vào các yếu tố khách quan tác động vào Thiệt hại trên thực tế thì tùy từng hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ có hậu quả khác nhau

Bên cạnh đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động còn là kết quả của hậu quả thiệt hại mà không có hành vi vi phạm pháp luật lao động như trường hợp thiên tai, hỏa hoạn

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm gây thiêt hại và hậu quả thiệt hại là căn cứ cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xác định mức bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động Và hậu quả thiệt hại cũng được xem là một điều kiện xác định nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động

1.2.3.4 Có lỗi của người vi phạm

Lỗi là trạng thái tâm lý của con người nhận thức được hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó Lỗi được xem là biểu hiện của thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội

Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại của luật lao động cũng như các ngành luật khác được chia làm hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì không xác định

là lỗi vô ý hay cố ý mà chủ yếu xác định lỗi của hai chủ thể đó là người sử dụng lao động

và người lao động Vì khi tai nạn lao động xảy ra mà do lỗi của người lao động thì người

Trang 24

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 18 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

sử dụng lao động chỉ có trách nhiệm trợ cấp đối với người lao động, còn trường hợp tai nạn lao động xảy ra do lỗi của người sử dụng lao động hay do khách quan thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với người lao động

Bệnh nghề nghiệp bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp

tác động đối với người lao động Do đó không thể áp dụng bốn yếu tố trên để xác định

trách nhiệm bồi thường đối với người lao động bị bệnh nghề nghiệp mà phải dựa vào hai điều kiện sau: người lao động làm việc trong môi trường lao động có hại, bệnh mà người lao động mắc phải là bệnh đặc trưng do yếu tố độc hại đó gây ra, bệnh đó phải nằm trong danh mục 29 bệnh nghề nghiệp do pháp luật quy định; và người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên

1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong luật lao động

1.3.1 Đảm bảo và củng cố kỷ luật trong quan hệ lao động

Mỗi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội, đều xác lập những quyền và nghĩa vụ cụ thể với nhau, việc thực hiện các nghĩa vụ của các chủ thể này là điều kiện để đảm bảo quyền của các chủ thể khác Nếu chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình sẽ xâm phạm tới quyền lợi của chủ thể khác gây ảnh hưởng không tốt tới mối quan hệ giữa các bên Để giữ mối quan hệ giữa các bên được ổn định, hài hòa đòi hỏi mỗi bên phải thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào kỷ luật lao động cũng được tôn trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của các bên tham gia quan hệ còn hạn chế, gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, cần có những biện pháp đảm bảo cho kỷ luật lao động được thực hiện nghiêm túc

Hiểu theo nghĩa rộng, kỷ luật lao động không chỉ là kỷ luật để đảm bảo nghĩa vụ,

an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động mà nó còn được hiểu là sự nghiêm minh và thái độ nghiêm túc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động cũng như các điều khoản đã cam kết giữ các bên trong hợp đồng lao động

Chế định bồi thường thiệt hại thông qua những quy định buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và bồi thường cho bên bị thiệt hại đã góp phần bảo đảm

và củng cố kỷ luật lao động, nâng cao trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động Nhà nước không bắt buộc các bên phải ký kết hợp đồng lao động, nhưng khi đã tự nguyện giao kết hợp đồng thì các bên sẽ bị ràng buộc bởi những cam kết đó Ngay cả khi thực hiện hợp đồng lao động không còn có lợi, các bên vẫn có nghĩa vụ phải thực hiện những điều khoản hợp đồng đã cam kết Sự từ chối thực hiện những nghĩa vụ này là căn cứ cho phép áp dụng các chế tài hợp đồng buộc bên vi

Trang 25

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 19 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

phạm phải gánh chịu những tổn thất vật chất Chế độ bồi thường thiệt hại là một loại chế tài đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố thái độ tích cực cuả các bên trong quan hệ lao động

1.3.2 Đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động

Lợi ích kinh tế là mục tiêu cuối cùng mà các bên tham gia quan hệ lao động hướng tới Lợi ích của người sử dụng lao động là giá trị thặng dư sức lao động của người lao động, còn lợi ích của người lao động là khoản tiền công được trả cho việc bán sức lao động hay còn gọi là tiền lương Chế độ bồi thường thiệt hại mang lại cho bên thiệt hại một khoảng tiền nhất định bù đắp những giảm sút về sức khỏe mà bên thiệt hại phải gánh chịu Chế độ bồi thường quy định mức bồi thường thiệt hại ở mức cơ bản đảm bảo người gây thiệt hại có thể bồi thường mà không gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh sản xuất Mặt khác, chế độ bồi thường thiệt hại quy định việc đồng chi trả chi phí giúp giảm đi một phần gánh nặng tài chính đối với bên gây thiệt hại

1.4 Sơ lược lịch sử quy định pháp luật về chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Pháp luật luôn là sự phản ánh xã hội một cách trung thực nhất, phản ánh những yêu cầu của cuộc sống trong từng giai đoạn cụ thể và điều chỉnh những hành vi, xử sự của con người phù hợp với những yêu cầu đó Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh lịch

sử, cùng với những đặc trưng riêng thì hệ thống pháp luật lại có những quy định khác nhau Việc nghên cứu một chế độ pháp lý cụ thể cần được đặt trong mối liên hệ chung với lịch sử hình thành để thấy được bản chất của quy định

Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gắn liền với lịch sử hình thành của luật lao động

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Lao động năm 1994

Ngay từ sau năm 1945, trong các văn bản pháp luật đầu tiên được nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành, cơ chế bảo đảm quyền lợi cho các bên trong quan hệ lao động đã được chú trọng qua các quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại như:

Sắc lệnh số 29 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12 tháng 3 năm 1947 cho đến nay vẫn được coi là Bộ luật Lao động đầu tiên của nước ta Trong đó các quy định về chế

độ bồi thường thiệt hại chiếm một vị trí quan trọng

Sắc lệnh đã chú trọng đến việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, tránh sự lạm dụng của chủ sử dụng lao động nhằm bóc lột người lao động Tai nạn lao động và bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn lao động được đề cập đến tại Điều 149 của Sắc

Trang 26

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 20 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

lệnh quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra cho công nhân bỏ việc làm hay công

nhân khi làm việc và công nhân bị tai nạn lao động dù là lỗi tại mình hay không, nếu nghỉ việc quá 4 ngày thì được chủ bồi thường Số tiền bồi thường được kể từ ngày hôm sau ngày xảy ra tai nạn Ngày xảy ra tai nạn coi như công nhân vẫn làm việc, chủ vẫn trả lương”

Những quy định về bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động đã được quy định cụ thể trong Sắc lệnh Tuy nhiên, Sắc lệnh chưa quy định về chế độ bồi thường thiệt hại đối với người bị bệnh nghề nghiệp Chưa quy định cụ thể về trình tự thủ tục, mức bồi thường Đây là hạn chế khiến cho chế độ bồi thường trong giai đoạn này chưa có tính cưởng chế cao, phần lớn dựa vào sự thỏa thuận của các bên và chưa bảo vệ hợp lý về quyền lợi của người lao động

Từ năm 1954 đến những năm trước đổi mới, chúng ta chủ trương thiết lập nền kinh tế tập trung, bao cấp với vai trò độc tôn của kinh tế quốc doanh và tập thể, chế dộ sở hữu tư nhân không được coi trọng, sở hữu nhà nước và tập thể được đặc biệt quan tâm và được đặt ở vị trí trung tâm Xu thế kinh tế tập trung, bao cấp sẽ có tác động đến các chính sách của Nhà nước về lao động và quản lý lao động

Trong giai đoạn này, quyền lợi Nhà nước được quan tâm hàng đầu Việc bảo vệ tài sản của xã hội chủ nghĩa được đề cao Nhà nước chú trọng nhiều đến hành vi vi phạm

kỷ luật gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, trách nhiệm vật chất của công nhân, viên chức nhà nước đối với tài sản của nhà nước Nhà nước chưa thật sự quan tâm đến người lao động và vấn đề bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động

Năm 1986 đất nước tiến hành đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, đa hình thức tạo động lực phát triển kinh tế, xây dựng nên lực lượng lao động đông đảo Thực tiễn đồi hỏi cần phải có cơ chế để điều chỉnh các vấn đề trên cho phù hợp

Pháp lệnh Bảo hộ Lao động số 61 năm 1991 của Hội đồng Nhà nước đã thể hiện

sự quan tâm đến người lao động, các bệnh nghề nghiệp trong lao động được quan tâm Các khái niệm cơ bản về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã được quy định cụ thể

Điều 20 quy định: “Tai nạn lao động làm chết người hoặc làm tổn thương bất kỳ bộ

phận, chức năng nào của cơ thể người lao động xảy ra trong quá trình lao động, gắn với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” Điều 21 quy định: “Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại đối với người lao động”

Điều 22 quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao

Trang 27

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 21 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

động, bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động như sau:“Người bị tai nạn lao động,

bệnh nghề nghiệp được hưởng nguyên tiền công, tiền lương, kể cả phụ cấp trong thời gian điều trị, điều dưỡng, được trợ cấp, bồi thường theo quy định của pháp luật”

Từ những năm mới xây dựng đất nước thì Nhà nước ta đã bảo vệ, quan tâm đến người lao động và những vấn đề bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nhưng chưa quy định rõ về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại Vấn

đề bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức

1.4.2 Giai đoạn từ khi có Bộ luật Lao động năm 1994 đến nay

Từ năm 1994 đến nay Nhà nước ta ban hành hai Bộ luật Lao động nhằm điều chỉnh các quan hệ lao động trong quá trình lao động

Bộ luật Lao động năm 1994 được thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, trên cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật lao động của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thể chế hoá một bước quan điểm, đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bộ luật Lao động năm 1994 đã quy định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng chế độ bồi thường thiệt hại Những vấn đề khác về chế độ bồi thường thiệt hại được quy định khá đầy đủ và cụ thể trong Bộ luật Lao động năm 1994 như khai báo, điều tra tai nạn lao động, quyền của người lao động và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao

động, khoản 2, Điều 107 quy định: “ Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y

tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ Bảo hiểm xã hội”

Mức bồi thường thiệt hại được quy định khoản 3, Điều 107 Bộ luật Lao động

năm 1994 “Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng

lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi người lao động Trường hợp do lỗi người lao động, thì cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 12 tháng lương”

Sau 15 năm thi hành, Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm

Trang 28

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 22 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

2002, 2006, 2007) cơ bản đã đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể thiết lập quan hệ lao động Tuy nhiên do tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, của thị trường lao động, quan hệ lao động nói riêng đã có những đổi mới đòi hỏi Bộ luật lao động cần phải được sửa đổi, bổ sung

Bộ luật Lao động 2012 được thông qua vào ngày 02 tháng 7 năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2013 trên cơ sở kế thừa Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi,

Qua những lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, quan hệ lao động Bộ luật Lao động năm 2012 đã đáp ứng được các yêu cầu giải quyết những bất đồng trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

2.1 Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2.1.1 Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trước đây, Bộ luật Lao động năm 1994 không có Điều luật cụ thể quy định về quyền của người lao động bị tai nạn lao động mà được lồng ghép vào cùng với trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Quy định trên dẫn đến việc ảnh hưởng bất lợi đối với người lao động, vì người lao động trong giai đoạn này phần lớn trình độ còn thấp, và họ chỉ quan tâm đến mức lương mà người sử dụng lao động chi trả, không quan tâm đến những trường hợp rủi ro, nếu có rủi

ro thì người lao động cũng không xác định được quyền lợi của mình, không biết quyền của mình được quy định ở Điều nào của Bộ luật Lao động năm 1994

Từ những nhược điểm, bất cập của Bộ luật Lao động 1994 thì Bộ luật Lao động

2012 là Bộ luật Lao động hiện hành đã khắc phục được những nhược điểm, bất cập đó

Trang 29

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 23 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

Bộ luật Lao động 2012 đã tách riêng quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thành một Điều luật cụ thể, được quy định tại Điều 145

Khoản 1, 2 Điều 145 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Người lao động tham

gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;

Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người

sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên”

Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao

động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã

hội; Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người

sử dụng lao động phải tham gia15

Hằng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề ngiệp bằng 1% trên quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động16 Người sử dụng lao động trực tiếp chịu trách nhiệm về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động Do đó, các quy định của khoản 1, 2 Điều 145 là

lẽ tất nhiên, đảm bảo lợi ích của người lao động

Song song với quyền của người lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định trên, nếu người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành

Khoản 3, 4 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:“Người lao động bị

tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường theo quy định

Bộ luật Lao động năm 2012; Trường hợp do lỗi người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền theo quy định Bộ luật Lao động năm 2012”

15 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2008

16 Điều 43 Nghị định số 152/2006 ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo

hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trang 30

năm 2012 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải thanh toán phần chi

phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế và phải có trách nhiệm trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ trong thời gian điều trị

Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định

rõ ràng, cụ thể từng trường hợp xảy ra đối với người lao động, giúp người lao động nhận biết được quyền lợi của mình dễ dàng hơn

2.1.2 Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Khoản 2, 3 Điều 107 Bộ luật Lao động cũ năm 1994 quy định như sau:

“Người sử dụng lao động phải chịu chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ Bảo hiểm xã hội;

Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật lao động”

Người sử dụng lao động có trách nhiệm về toàn bộ chi phí y tế, bồi thường thiệt hại cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Tạo gánh nặng về tài chính cho người sử dụng lao động

Năm 2008 Luật Bảo hiểm Y tế ra đời và quy định cụ thể về đối tượng tham gia,

tổ chức khám chữa bệnh, thanh toán chi phí khám chữa bệnh Bộ luật Lao động năm

2012 là Bộ luật hiện hành có những sửa đổi, bổ sung để phù hợp Luật Bảo hiểm Y tế năm

2008 và phù hợp với những yêu cầu phát triển của xã hội

Trang 31

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 25 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Thanh toán phần chi phí

đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế”

Người sử dụng lao động và bảo hiểm y tế cùng chịu trách nhiệm chi trả chi phí điều trị của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Quy định thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của người lao động và giảm bớt

đi một phần trách nhiệm của người sử dụng lao động, đồng thời cũng nhắc người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế cho người lao động và có trách nhiệm trích tiền đóng bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền công của người lao động để nộp vào quỹ bảo hiểm y tế

Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm

trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ trong thời gian điều trị” 17 Đây là một quy định mới mà Bộ luật Lao động năm 2012 bổ sung, nhằm đảm bảo người lao động bị tai nạn lao động được an tâm điều trị cho đến khi hoàn toàn hồi phục sức khỏe, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với người lao động

Nghị định số 44/2013 ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động có bổ sung về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Khoản 1 Điều 5 quy định: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày người

lao động bị tai nạn lao động hoặc được xác định bị bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tình trạng sức khoẻ của người lao động cho những người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động còn lại biết” Bổ sung

này được áp dụng cho các trường hợp một người lao động mà ký kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động như cho thuê lại lao động, người lao động trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao Người sử dụng lao động còn lại cần phải được biết về tình trạng sức khỏe của người lao động để đảm bảo được quyền lợi, nghĩa vụ của người

sử dụng lao động đối với người lao động

Khoản 3 Điều 5 quy định:“Người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động

với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời gian điều trị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động năm 2012; Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp

17 Khoản 2 Điều 144 Bộ luật Lao động 2012

Trang 32

Quy định cũng quan tâm đến quyền lợi của người sử dụng lao động, mục đích của người sử dụng lao động là lợi nhuận từ dây chuyền sản xuất, sản phẩm do người lao động làm ra Nếu người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà phải điều trị dài hạn làm ảnh hưởng tới quy trình sản xuất, số lượng sản phẩm và lợi nhuận thì người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trường hợp này được quy định

tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 “Người lao động bị ốm đau, tai

nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 6 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục”

2.2 Chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2.2.1 Điều kiện để người lao động được bồi thường

2.2.1.1 Đối với người bị tai nạn lao động

Khoản 3 Điều 145 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động bị

tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường”

Căn cứ vào quy định trên có 2 điều kiện để người lao động bị tai nạn lao động được người sử dụng lao động bồi thường thiệt hại là:

Người lao động bị tai nạn lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên,

tức là người lao động bị tai nạn lao động bị suy giảm khả năng lao động ít nhất phải là 5%, 5% là mức tối thiểu căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động là một quy định hợp lý vì:

Trang 33

để xác định trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động đối với người lao động thì người sử dụng lao động phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề, gây mất cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động

Bên cạnh đó, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 1% đến dưới 5% khi khám và điều trị thì được bảo hiểm y tế thanh toán 80% chi phí khám, điều trị, người lao động chỉ phải đóng 20% chi phí kám, điều trị cũng không ảnh hưởng gì đến quyền lợi

và đời sống của người lao động

Mức độ suy giảm khả năng lao động của người lao động bị tai nạn lao động phải

được tổ chức y tế giám định, xác định “Người lao động bị tai nạn lao động phải được

giám định y khoa để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động đúng theo quy định của pháp luật” 18

Người lao động bị tai nạn lao động mà không do lỗi của người lao động Trước

khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời thì điều kiện này được quy định tại Bộ luật Lao động năm 1994, tức là tai nạn lao động xảy ra do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do người thứ ba hoặc do hoàn cảnh khách quan không liên quan đến lỗi của người lao động thì người lao động được người sử dụng lao động bồi thường thiệt hại Điều kiện này không xét đến yếu tố lỗi của người sử dụng lao động trong quy trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động Nhưng Thông tư số 10/2003 ngày 18 tháng 4 năm 2003 của

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp lại không giữ được tinh thần của Bộ luật Lao động năm 1994 về yếu tố lỗi của người sử dụng lao trong tai

nạn lao động “Người lao động bị tai nạn lao động nếu nguyên nhân tai nạn lao động xảy

ra do lỗi của người sử dụng lao động theo biên bản kết luận của biên bản điều tra tai nạn lao động” Trách nhiệm của người sử dụng lao động được giới hạn theo chiều hướng có

lợi cho người sử dụng lao động, người sử dụng lao động chỉ phải bồi thường thiệt hại khi tai nạn lao động xảy ra do lỗi của người lao động

Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời đã loại bỏ những quy định ảnh hưởng đến tinh thần chung và giữa vững tinh thần chung của Bộ luật Lao động năm 1994

là bảo vệ, nâng cao địa vị bình đẳng của người lao động trong mối quan hệ lao động

18 Khoản 4 Điều 152 Bộ luật Lao động 2012

Trang 34

GVHD: Võ Thị Bảo Trâm 28 SVTH: Phạm Thị Mỹ

Linh

2.2.1.2 Đối với người bị bệnh nghề nghiệp

Căn cứ vào Bộ luật Lao động năm 2012 về việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người sử dụng lao động phải bồi thường thiệt hại cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp khi đáp ứng các điều kiện sau:

Người lao động bị bệnh nghề nghiệp bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên, điều kiện này giống điều kiện của người lao động bị tai lao động Người lao động

phải thực hiện khám giám định bệnh nghề nghiệp định kỳ (theo quy định của Bộ Y tế) để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động

Người lao động làm việc trong môi trường lao động có hại, bệnh mà người lao động mắc phải là bệnh đặc trưng do yếu tố độc hại đó gây ra, bệnh đó phải nằm trong danh mục 29 bệnh nghề nghiệp do pháp luật quy định Điều kiện, môi trường làm việc

của người lao động ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của người lao động Hiện nay Pháp luật nước ta chỉ thừa nhận 29 bệnh nghề nghiệp được bồi thường thiệt hại

2.2.2 Mức bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trước đây, Bộ luật Lao động năm 1994 quy định mức bồi thường thiệt hại đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn khá sơ xài, chưa cụ thể Bộ luật này chỉ quy định mức bồi thường thiệt hại đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và mức bồi thường chỉ quy định

ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp lương của người lao động bị tai nạn lao động,

bệnh nghề nghiệp “Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30

tháng tiền lương và phụ cấp lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động” 19 Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81% thì không quy định cụ thể về mức bồi thường thiệt hại Không quy định mức bồi thường trong trường hợp suy giảm từ 5% đến dưới 81%, việc bồi thường phải dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, nhưng trên thực tế người quyết định mức bồi thường vẫn là người sử dụng lao động, người lao động không thể quyết định mức bồi thường vì người lao động phụ thuộc vào người sử dụng lao động về việc làm, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động

Tuy nhiên, mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81% đã được

bổ sung và quy định cụ thể trong Nghị định số 110/2002 ngày 27 tháng 12 năm 2002 của

19 Khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 1994

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu 10 địa phương xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người trong 06 - chế độ bồi thường đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Bảng s ố liệu 10 địa phương xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động chết người trong 06 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w