1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của viên ̣ kiểm sát nhân dân cấp huyên ̣ trong viêc ̣giải quyết vụ án hành chính

83 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định : Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân g

Trang 1

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Giảng viên hướng dẫn:

Châu Hoàng Thân

Bô ̣ môn: Luâ ̣t Hành chính

Sinh viên thực hiê ̣n:

Trần Xuân Hải MSSV: S120018 Lớp: Luâ ̣t Đồng Tháp (Khóa 38)

Trang 2

Mă ̣c dù có nhiều cố gắng để hoàn thành đề tài mô ̣t cách hoàn chỉnh nhất Song

do bước đầu mới làm qu en với viê ̣c nghiên cứu đề tài , tiếp câ ̣n với thực tế ta ̣i đơn vi ̣ Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n , những ha ̣n chế về kiến thức và kinh nghiê ̣m nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng gó p thầy

cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài khóa luâ ̣n được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, xin kính chúc quý Thầy, Cô nhiều sức khỏe /

Cần Thơ, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Sinh viên thực hiện Trần Xuân Hải

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẦY, CÔ 

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

GVHD: Châu Hoàng Thân SVTH: Trần Xuân Hải

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam được thành lập từ năm 1960 cho đến nay đã trải qua hơn 50 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển và thực hiện được nhiều nhiệm vụ quan trọng Công tác kiểm sát viê ̣c giải quyết cá c vu ̣ án hành chính là mô ̣t trong những công tác thực hiê ̣n chức năng kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp của Viê ̣n kiểm sát nhân dân theo quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t, nhằm đảm bảo cho viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính của Tòa án kị p thời, đúng pháp luâ ̣t Sau khi Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 ra đời, vi trí vai trò của Viê ̣n kiểm sát có những thay đổi căn bản so với Pháp lê ̣nh Thủ tu ̣c giải quyết các vu ̣ án hành

chính năm 1996 (sửa đổi bổ sung các năm 1998, năm 2006) Trải qua hơn 3 năm thi hành Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 cho thấy, mă ̣c dù về cơ bản , các quy định của pháp luật về cơ bản đã đi vào đời sống xã hô ̣i nước ta , nhưng các quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Mặc dù pháp luật vẫn quy định Viện kiểm sát có đầy đủ các quyền kiến nghị, kháng nghị nhưng thiếu cơ chế, phương thức, cơ sở pháp lý để thực hiện quyền của mình

Những quy định trong Luật Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 về trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu và tạo điều kiện để Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính Tại Nghị quyết số 49/NQ- TƯ ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và kết luận số 79/KL - TƯ ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đề án đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra đã xác định Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định : Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ

quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Quy đi ̣nh này tiếp tục khẳng định thiết chế Viê ̣n kiểm sát nhân dân với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay chính là sự khẳng định về tính cần thiết , tính phù hợp, tính hiệu quả của một hệ thống cơ quan đã tồn tại và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong suốt thời gian qua Khẳng định yêu cầu của Đảng, Quốc hội và nhân dân cần đến một thiết chế giám sát độc lập , hoạt động trực tiếp , thường xuyên và có tính chuyên nghiệp cao như Viện Kiểm sát nhân dân Mă ̣t khác quy định Viê ̣n kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định mang tính tùy nghi thuận tiện cho

Trang 5

GVHD: Châu Hoàng Thân SVTH: Trần Xuân Hải

xây dựng mô hình hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, việc kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sẽ được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, bổ sung sắp tới, trên cơ sở định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp

Do vậy, vấn đề chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí, vai trò và mô hình hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính vẫn phải cần được làm rõ và tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho Viện kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Đảng, Quốc hội và nhân dân giao phó, đáp ứng với yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp, góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật chung

Nhằm tìm hiểu những quy đi ̣nh của Pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c g iải quyết vụ án hành chính , những quy đi ̣nh này có điểm gì tiến bô ̣ so với Pháp lê ̣nh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2006), đồng thời đánh giá thực tra ̣ng về hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyện trong thực tiễn để tìm ra những ưu điểm , khuyết điểm và ha ̣n chế , cũng như nguyên nhân của các hạn chế Trên có sở đó đề xuất những giải pháp , kiến nghi ̣ nhằm hoàn thiê ̣n, nâng cao vai trò c ủa Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vụ án hành chính Chính vì lý do đó , tác giả đã c họn đề tà : “Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính :

2 Mục đích nghiên cư ́ u

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa ho ̣c đi trước, nghiên cứu các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t , cùng với việc tìm hiểu thực tiễn , người viết mong muốn đánh giá thực tra ̣ng về hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong lĩnh vực tố tu ̣ng hành chính Phân tích những ưu , khuyết điểm qua đ ó đề xuất những giải pháp , kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quy ết vụ án hành chính

3 Pham vi nghiên cư ́ u:

Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vụ án hành chính , cũng như việc áp dụng các quy đi ̣nh đó trong thực tiễn ta ̣i Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài người viết dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê nhằm đạt được yêu cầu đặt ra đối với bài nghiên cứu

Trang 6

GVHD: Châu Hoàng Thân SVTH: Trần Xuân Hải

5 Kết cấu đề tài

Kết cấu đề tài luận văn gồm ba phần: Lời nói đầu, phần nội dung và phần kết Trong đó phần nội dung được chia ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về Viê ̣n kiểm sát nhân dân

Chương 2: Pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vu ̣ án hành chính

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp nâng cao vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong Tố tu ̣ng hành chính

Trang 7

1

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 4

1 1 Các khái niệm cơ bản 4

1.1.1 Khái niệm kiểm sát 4

1.1.2 Các khái niệm cơ bản khác 6

1.2 Lươ ̣c sử hình thành , phát triển của Viện kiểm sát nhân dân và sự tham gia trong tố tụng hành chính 7

1.2.1 Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1946 7

1.2.2 Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1959 11

1.2.3 Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1980 13

1.2.4 Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1992 15

1.2.5 Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 2013 17

1.3 Như ̃ng vấn đề chung về Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n 22

1.3.1 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân 22

1.3.2 Cơ cấu, tổ chứ c của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n 24

1.3.3 Chứ c năng và nhiê ̣m vu ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân 26

1.3.3.1 Chư ́ c năng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân 26

1.3.3.2 Nhiê ̣m vụ của Viện kiểm sát nhân dân 27

1.4 Sư ̣ cần thiết của Viê ̣n kiểm sát trong Tố tu ̣ng hành chính 30

1.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án hành chính 31

1.5.1 Nhóm các nguyên tắc chung 32

1.5.2 Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biê ̣t của tố tu ̣ng hành chính 33

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 35

Trang 8

2.1.3 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c bảo vê ̣ quyền , lơ ̣i ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự khi ho ̣ không có người khởi kiê ̣n 38

2.2 Vai tro ̀ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong quá trình giải quyết vu ̣ án 39

2.2.1 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong kiểm sát việc chuyển hồ sơ vụ án của Tòa án 392.2.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong kiểm sát viê ̣c thu ̣ lý vu ̣ án: 402.2.3 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong kiểm sát viê ̣c ra Quyết đi ̣nh áp du ̣ng, thay đổi, hủy bỏ biê ̣n pháp khẩn cấp ta ̣m thời của Tòa án 432.2.4 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c yêu cầu Tòa án xác minh thu thâ ̣p chứng cứ; 43

2.3 Vai tro ̀ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n ta ̣i phiên tòa sơ thẩm giải quyết vu ̣ án hành chính 44

2.3.1 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c kiến nghi ̣ với Hô ̣i đồng xét xử về viê ̣c áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 45

2.3.2 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c yêu cầu Tòa án xác minh, thu thâ ̣p chứng cứ ta ̣i phiên tòa 452.3.3 Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà Sơ thẩm giải quyết vu ̣ án hành chính 46

2.4 Vai tro ̀ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm giải quyết vu ̣ án hành chính 47

2.4.1 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c thu thâ ̣p hồ sơ tài liê ̣u vâ ̣t chứng để xem xét viê ̣c quyết đi ̣nh kháng nghi ̣ 472.4.2 Vai trò của Viê ̣n kiểm sát trong viê ̣c kiểm sát các bản án, quyết đi ̣nh giải quyết vu ̣ án hành chính 48

Trang 9

3

2.4.3 Kiểm sát viê ̣c thi hành án 49

2.5 Vai tro ̀ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong kiểm sát viê ̣c giải quyết khiếu na ̣i , tố cáo trong tố tụng hành chính 50

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 51

3.1 Khái quát tình hình khiếu kiện hành chính 51

3.2 Thư ̣c tiễn hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hành chính 54

3.2.1 Thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng của ngành kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính 54

3.2.2 Thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng kiểm sát viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính ta ̣i Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 56

3.2.2.1 Kiểm sa ́ t thông báo thụ lý giải quyết vụ án của Tòa án: 57

3.2.2.2 Kiểm sa ́ t viê ̣c trả lại đơn khởi kiện của Tòa án 57

3.2.2.3 Kiểm sa ́ t viê ̣c chuyển hồ sơ vụ án cho Viê ̣n kiểm sát nghiên cứu xét xử hoặc xem xét kháng nghị: 58

3.2.2.4 Kiểm sa ́ t viê ̣c thụ lý giải quyết vụ án 59

3.2.2.5 Về pha ́ t biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm 61

3.2.2.6 Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chư ́ c, cá nhân cung cấp chứng cứ để xem xét kháng nghị: 62 3.2.2.7 Công ta ́ c kiểm sát bản án, quyết đi ̣nh đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 63

3.3 Như ̃ng khó khăn và giải pháp nâng cao vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính 65

3.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành kiểm sát nhân dân 65

3.3.2 Xây dựng và hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hành chính: 66

3.3.3 Tăng cườ ng sự lãnh đa ̣o của Đảng đối với công tác tư pháp 68

KẾT LUẬN 70

Trang 10

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam được thành lập từ năm 1960 cho đến nay đã trải qua hơn 50 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển và thực hiện được nhiều nhiệm vụ quan trọng Công tác kiểm sát viê ̣c giả i quyết các vu ̣ án hành chính là mô ̣t trong những công tác thực hiê ̣n chức năng kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp của Viê ̣n kiểm sát nhân dân theo quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t, nhằm đảm bảo cho viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính của Tòa án kịp thời, đúng pháp luâ ̣t Sau khi Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 ra đời, vi trí vai trò của Viê ̣n kiểm sát có những thay đổi căn bản so với Pháp lê ̣nh Thủ tu ̣c giải quyết các vu ̣ án hành

chính năm 1996 (sửa đổi bổ sung các năm 1998, năm 2006) Trải qua hơn 3 năm thi hành Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 cho thấy, mă ̣c dù về cơ bản , các quy định của pháp luật về cơ bản đã đi vào đời sống xã hô ̣i nước ta , nhưng các quy định về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hành chính vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Mặc dù pháp luật vẫn quy định Viện kiểm sát có đầy đủ các quyền kiến nghị, kháng nghị nhưng thiếu cơ chế, phương thức, cơ sở pháp lý để thực hiện quyền của mình

Những quy định trong Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010 về trách nhiệm, quyền hạn của Viện kiểm sát, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu và tạo điều kiện để Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính Tại Nghị quyết số 49/NQ- TƯ ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và kết luận số 79/KL - TƯ ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đề án đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa

án, Viện kiểm sát , cơ quan điều tra đã xác định Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định : Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ

quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Quy đi ̣nh này tiếp tục khẳng định thiết chế Viê ̣n kiểm sát nhân dân với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay chính là sự khẳng định về tính cần thiết , tính phù hợp, tính hiệu quả của một hệ thống cơ quan đã tồn tại và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong suốt thời gian qua Khẳng định yêu cầu của Đảng , Quốc hội và nhân dân cần đến một thiết chế giám sát độc lập , hoạt động trực tiếp , thường xuyên và có tính chuyên nghiệp cao như Viện Kiểm sát nhân dân Mă ̣t khác quy định Viê ̣n kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định mang tính tùy nghi thuận tiện cho xây dựng mô hình hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, việc kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát

Trang 11

Nhằm tìm hiểu những quy đi ̣nh của Pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính , những quy đi ̣nh này có điểm gì tiến bô ̣ so với Pháp lê ̣nh Thủ tu ̣c giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2006), đồng thời đánh giá thực tra ̣ng về hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong thực tiễn để tìm ra những ưu điểm , khuyết điểm và ha ̣n chế , cũng như nguyên nhân củ a các ha ̣n chế Trên có sở đó đề xuất những giải pháp , kiến nghi ̣ nhằm hoàn thiê ̣n, nâng cao vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính Chính vì lý do đó , tác giả đã c họn đề tà : “Vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính :

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa ho ̣c đi trước , nghiên cứu các văn bản qu y pha ̣m pháp luâ ̣t , cùng với việc tìm hiểu thực tiễn , người viết mong muốn đánh giá thực tra ̣ng về hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n trong lĩnh vực tố tu ̣ng hành chính Phân tích những ưu , khuyết điểm qua đó đề xuất những giải pháp , kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vụ án hành chính

3 Phạm vi nghiên cư ́ u:

Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về vai t rò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vụ án hành chính , cũng như việc áp dụng các quy đi ̣nh đó trong thực tiễn ta ̣i Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài người viết dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê nhằm đạt được yêu cầu đặt ra đối với bài nghiên cứu

5 Kết cấu đề tài

Trang 12

3

Kết cấu đề tài luận văn gồm ba phần: Lời nói đầu, phần nội dung và phần kết Trong đó phần nội dung được chia ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về Viê ̣n kiểm sát nhân dân

Chương 2: Pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vu ̣ án hành chính

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp nâng cao vai trò của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong Tố tu ̣ng hành chính

Trang 13

4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1 1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niê ̣m kiểm sát

Tư tưởng nhà nước pháp quyền được ghi nhâ ̣n trong Hiến pháp năm 2013: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nô ̣i dung của nhà nước pháp quyền là xây dựng và quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật , mọi chủ thể trong xã hội đều phải chấp hành pháp luật mô ̣t cách nghiêm chỉnh Để đa ̣t được yêu cầu đó , trước hết chúng ta phải xây dựng thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước mô ̣t cách khoa ho ̣c , có hiệu quả Chúng ta cần làm rõ khái niệm kiểm sát , khái niệm kiểm sát khác giám sát , thanh tra, kiểm tra , kiểm sát, kiểm soát Theo từ điển Tiếng Viê ̣t, nhà xuất bản Ngôn Ngữ, năm 1998 thì:

- Giám sát là theo dõi, xem xét và kiểm tra viê ̣c thực hiê ̣n những điều đã quy đi ̣nh , là hoạt động xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hê ̣ thống đối với khách thể thuô ̣c

hê ̣ thống khác, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chi ̣u giám sát không nằm trong mô ̣t

hê ̣ thống trực thuô ̣c nhau theo chiều do ̣c

- Thanh tra là hoa ̣t đô ̣ng xem xét , kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoă ̣c theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới , mang tính trực thuô ̣c và là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của hoa ̣t đô ̣ng hành pháp

- Kiểm tra là hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan nhà nước , tổ chức xã hô ̣i (bao gồm cả kiểm tra

nô ̣i bô ̣, tự kiểm tra) đối với mu ̣c đích, nhiê ̣m vu ̣ đã đa ̣t ra

- Kiểm soát là xem xét để phát hiê ̣n , ngăn chă ̣n những gì trái với quy đi ̣nh , đă ̣t trong phạm vi quyền hạn của đối tươ ̣ng nào đó

- Kiểm sát là khái niê ̣m khoa ho ̣c pháp lý để chỉ hoa ̣t đô ̣ng đảm bảo pháp chế của Viê ̣n kiểm sát nhân dân các cấp nhằm kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t đối với các hoa ̣t

đô ̣ng tư pháp.1

1 Nguyễn Vân Long,, Bàn về chế định Viện kiểm sát nhân dân quy định trong Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Kiểm sát số

07, 2012, trang 17, trang 18

Trang 14

5

Về hình thức , kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua ba hình thức : Kiểm soát của nhân dân , chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước đối với quyền lực nhà nước , thông qua nhiều hình thức trong đó có hình thức bầu cử , chất vấn, giám sát của đoàn thể…; Kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ máy nhà nước ; Kiểm soát của chủ thể lãnh đạo nhà nước là Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước

Về thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước : Mô ̣t là, thiết chế kiểm soát từ bên trong

hê ̣ thống: Các cơ quan, tổ chức thành lâ ̣p bô ̣ máy kiểm tra , thanh tra của mình để tự kiểm tra, thanh tra hoa ̣t đô ̣ng của các chủ thể trong cùng hê ̣ thống như : Cơ quan Thanh tra tiến hành thanh tra hoa ̣t đô ̣ng nô ̣i bô ̣ trong ngành , Ban Kiểm tra của Đảng kiểm tra hoa ̣t đô ̣ng của tổ chức Đảng trong cơ quan của Đảng … ; Hai là, thiết chế kiểm soát từ bên ngoài hê ̣ thống : Nhà nước thành lập một số cơ qu an chuyên trách với chức năng , nhiê ̣m vu ̣ giám sát , kiểm sát, thanh tra hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan tổ chức như : Quốc hô ̣i có chức năng giám sát tối cao viê ̣c tuân thủ Hiến pháp và pháp luâ ̣t đối với hoa ̣t đô ̣ng của Nhà nước , Thanh tra Chính phủ thanh tra hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan hành pháp …

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm sát cụ thể như sau2:

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh

tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án

2 Điều 3, Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 2002

Trang 15

1.1.2 Các khái niệm cơ bản khác 3

- Tố tụng hành chính: Tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án , Viê ̣n kiểm sát, người tiến hành tố tu ̣ng , người tham gia tố tu ̣ng , của cá nhân , của cơ quan nhà nước và tổ chức trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính , cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với viê ̣c khởi kiê ̣n , thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án , quyết đi ̣nh của Tòa án về vụ án hành chính

- Luật tố tu ̣ng hành chính : Luâ ̣t tố tu ̣ng hành chính là một ngành luâ ̣t trong hê ̣ thống pháp luật Viê ̣t Vam, tổng hợp các quy pha ̣m pháp luâ ̣t điều chỉnh các quan hê ̣ tố tu ̣ng hành chính phát sinh giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng , những người tiến hành tố tụng trong quá t rình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích

hơ ̣p pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức

- Luật tố tu ̣ng hành chính quy đi ̣nh các hành vi tố tu ̣ng của Tòa án , Viê ̣n kiểm sát, bên khởi kiê ̣n , bên bi ̣ kiê ̣n và những người tham gia tố tu ̣ng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vu ̣ án hành chính nhằm ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho các cơ quan tiến hành tố tu ̣ng tìm

ra sự thâ ̣t khách quan của vu ̣ án , trên cơ sở đó Tòa án có thể tiến hành việc giải quyết vụ án đươ ̣c đúng đắn Để đa ̣t được điều đó , Thẩm phán và Hô ̣i thẩm nhân dân trong công tác xét xử không những phải nắm vững pháp luâ ̣t nô ̣i dung và còn phải nắm vững pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hành chính

- Vụ án hành chính: Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính có thẩm quyền do có cá nhân , cơ quan nhà nước , tổ chức khởi kiê ̣n ra trước Tòa án yêu cầu bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

3 Điều 3 Luâ ̣t Tố tụng hành chính năm 2010

Trang 16

7

- Quyết định hành chính : Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể

- Hành vi hành chính : Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật

- Ngườ i khởi kiê ̣n: Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri

- Ngườ i bi ̣ kiê ̣n: Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện

- Ngườ i có quyền lơ ̣i , nghĩa vụ liên quan : Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1.2 Lươ ̣c sử hình thành, phát triển của Viện kiểm sát nhân dân và sự tham gia trong tố tụng hành chính

Thiết chế Viê ̣n kiểm sát nhân dân ở nước ta có tuổi đời cùng với nhà nước cách ma ̣ng

và trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ năm 1954 đến nay với những m ô hình, cách thức tổ chứ c khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng , đồng thời phản ánh điều kiê ̣n khách quan , chủ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước ta Quá trình hình thành và phát triển của Viện kiể m sát nhân dân có thể phân theo các giai đoa ̣n li ̣ch sử khác nhau như sau:

1.2.1 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1946

Cách mạng tháng Tám thành công , nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Cùng với việc kiện toàn bộ máy nhà nước , hê ̣ thống Tòa án của chính quyền nhân dân đã từng bước được tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng trên pha ̣m vi cả nước

Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lê ̣nh số 33C về viê ̣c thành

Trang 17

8

lâ ̣p Tòa án quân sự – đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của nhà nước dân chủ nhân dân đánh dấu sự ra đời của hê ̣ thống Tòa án , đồng thời cũng là văn bản pháp lý đầu tiên quy đi ̣nh về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan Công tố trong bô ̣ máy nhà nước ta

Về chức năng công tố , Điều V, Sắc lê ̣nh số 33C quy đi ̣nh rõ : “Đứng buộc tội là một ủy viên quân sự hay mô ̣t ủy viên của Ban Trinh sát” Như vâ ̣y, lần đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy đi ̣nh bằng mô ̣t văn bản pháp lý do người đứng đầu nhà nước Việt Nam dân chủ cô ̣ng hòa ban hành Tòa án Quân sự được thành lập ở cả ba miền Bắc , Trung, Nam – là Tòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và quyền công tố Nội dung của quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án

Trong bối cảnh vừa giành được đô ̣c lâ ̣p , viê ̣c thiết lâ ̣p các cơ quan trong bô ̣ má y nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách ma ̣ng dân chủ nhân dân , đă ̣c biê ̣t là các

cơ quan có nhiê ̣m vu ̣ bảo vê ̣ pháp luâ ̣t , bảo đảm trật tự xã hội Bên ca ̣nh viê ̣c thiết lâ ̣p hê ̣ thống Tòa án quân sự và Tòa á n binh để xét xử những tô ̣i pha ̣m phản cách ma ̣ng , những tô ̣i phạm vi phạm trật tự quân đội , vi pha ̣m kỷ luâ ̣t của nhà binh , cần thiết phải thiết lâ ̣p hê ̣ thống Tòa án thường để xét xử các tô ̣i pha ̣m và vi pha ̣m pháp luâ ̣t nhằ m bảo vê ̣ nhà nước và bảo vệ nhân dân Xuất phát từ yêu cầu đó , ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lê ̣nh số 13 về viê ̣c tổ chức các Tòa án và các nga ̣ch Thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buô ̣c tô ̣i)

Về bô ̣ máy, Tòa án thường gồm có Tòa sơ cấp , Tòa đệ nhị cấp, Tòa thượng thẩm Cơ quan công tố đươ ̣c tổ chức trong Tòa án đê ̣ nhi ̣ cấp và Tòa thượng thẩm , tạo thành một đoàn thể đô ̣c lâ ̣p với các Thẩm phán xét xử

Trong thờ i kỳ này , mă ̣c dù cơ quan Công tố đươ ̣c tổ chức trong hê ̣ thống Tòa án thường, nhưng hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan Công tố hoàn toàn đô ̣c lâ ̣p với hoa ̣t đô ̣ng xử án của Tòa án Viê ̣c quyết đi ̣nh truy tố cũng như việc quản lý các Thẩm phán buô ̣c tô ̣i hoàn toàn thuô ̣c thẩm quyền của người đứng đầu Công tố viê ̣n (là Chưởng lý) Mối quan hê ̣ đô ̣c lâ ̣p này được khẳng định tại Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946, Điều 17 Sắc lê ̣nh này quy đi ̣nh :

“Ông chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Tòa án , trừ các Thẩm phán buô ̣c tô ̣i”

Tháng 3/1950 Bô ̣ Tư pháp mở hô ̣i nghi ̣ cải cách tư pháp lần thứ nhất Trên cơ sở kết

Trang 18

9

quả của hội nghị cải cách tư pháp năm 1950 và bản thuyết trình của Bộ Tư pháp trình Chính phủ về việc đề nghị cho ban hành Sắc lệnh về cải cách bộ máy tư pháp và thẩm quyền tố tụng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách tư pháp và Sắc lê ̣nh số 103-SL ngày 05/6/1950 quy đi ̣nh mối liên hê ̣ giữa Ủy ban kháng chiến hành chính với các cơ quan chuyên môn Về vi ̣ trí của cơ quan công tố so với các quy đi ̣nh được ban hành trước cuô ̣c cải cách tư pháp năm 1950 về cơ bản không thay đổi, vẫn được tổ chức trong hê ̣ thống Tòa án

Sau cuô ̣c cải cách tư pháp năm 1950, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tu ̣c khẳng đi ̣nh Viê ̣n Công tố có quyền kháng cáo viê ̣c hô ̣ ; Đối với nhữn g biên bản hòa giải thành, pháp luật quy định có hiệu lực ngay , nhưng Biê ̣n lý có quyền xem xét biên bản hòa giải thành và trong trường hợp phát hiện thỏa thuận đó xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền kháng cáo , yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoă ̣c bác bỏ những nô ̣i dung hai bên đã thỏa thuâ ̣n

Về thẩm quyền trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hình sự , pháp luật giao thẩm quyền cho Biê ̣n lý có quyền xem xét hồ sơ vu ̣ án có cần phải thẩ m cứu thêm hay không , Biê ̣n lý chỉ giao hồ sơ sang phòng dự thẩm để thẩm cứu khi xét thấy thâ ̣t cần thiết

Về mối quan hê ̣ giữa Ủy ban kháng chiến hành chính với Công tố viê ̣n: Ủy ban kháng chiến hành chính có thể ra mệnh lê ̣nh cho ngành Công tố , đây có thể là mê ̣nh lê ̣nh chung về đường lối công tố trong mô ̣t thời gian nhất đi ̣nh hoă ̣c mê ̣nh lê ̣nh riêng về từng vu ̣ viê ̣c Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp có quyền điều khiển Công tố viê ̣n trong đi ̣a ha ̣t trước các Tòa án thường cũng như trước các Tòa án đặc biệt Đa ̣i diê ̣n ngành Công tố phải tuân theo mê ̣nh lê ̣nh của Ủy ban kháng chiến hành chính

Tại phiên họp ngày 29/4/1958, Quốc hô ̣i nước Viê ̣t Nam dân chủ cô ̣ng hò a đã nghe Thủ tướng Chính phủ báo cáo đề án của Hội đồng Chính phủ, trong đó có nô ̣i dung thành lâ ̣p Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án , thành lập hệ thống Viện Công tố, cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ Tư pháp Tòa án tối cao và Viện Công tố có quyền hạn và trách nhiệm ngang một

Bô ̣ và trực thuô ̣c Hô ̣i đồng Chính phủ

Để thể chế hóa Nghi ̣ quyết của Quốc hô ̣i nước Viê ̣t Nam dân chủ cô ̣ng hòa , ngày 01/7/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định về tổ chức và nhiê ̣m vu ̣ của Viê ̣n Công tố Theo đó , Viê ̣n Công tố được tổ chức thành mô ̣t hê ̣ thống cơ

Trang 19

10

quan đô ̣c lâ ̣p, tách khỏi tổ chức của Tòa án và sự quản lý của Bộ Tư pháp , đă ̣t Viê ̣n Công tố Trung ương trực thuô ̣c Hô ̣i đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền ha ̣n ngang mô ̣t Bô ̣

Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 của Chính phủ quy định nhiệm vụ chung của

Viê ̣n Công tố là: “Giám sát việc tuân thủ và chấp hành phá p luâ ̣t của nhà nước , truy tố theo

pháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân , giữ gìn trâ ̣t tự an ninh, bảo vệ tài sản của công , bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân , bảo đảm công

cuô ̣c kiến thiết và cải ta ̣o xã hô ̣i chủ nghĩa tiến hành thuâ ̣n lợi”

Như vâ ̣y ngoài nhiê ̣m vu ̣ điều tra truy tố trước Tòa án , Viê ̣n Công tố còn được giao

mô ̣t nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng là giám sát viê ̣c chấp hành pháp luâ ̣t trong cá c lĩnh vực tư pháp Viê ̣c tham gia của Viê ̣n Công tố trong quá trình giải quyết các vu ̣ án dân sự được xác đi ̣nh rõ

là khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và nhân dân

Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 của Chính phủ quy định hệ thống Viện Công tố gồm có:

- Viện Công tố Trung ương;

- Viện Công tố đi ̣a phương các cấp;

- Viện Công tố quân sự các cấp

Ngày 27/8/1959 Chính phủ ban hành Ngh ị định số 321-TTg thành lập các Viện Công tố phúc thẩm và Viê ̣n Công tố các cấp Tổ chức Viê ̣n Công tố trong giai đoa ̣n này được tổ chức song song với hê ̣ thống Tòa án, trừ Viê ̣n Công tố phúc thẩm được tổ chức đô ̣c lâ ̣p theo khu vực , Viê ̣n Công tố các cấp đều được tổ chức gắn liền với hê ̣ thống hành chính : cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyê ̣n

Như vâ ̣y, từ khi cách ma ̣ng tháng tám thành công đến năm 1959, ở nước ta mô hình Viê ̣n kiểm sát nhân dân chưa hình thành Ở thời kỳ này nước ta xây dựng mô hình cơ quan công tố Từ năm 1945 đến năm 1958, cơ quan công tố nằm trong Tòa án , hê ̣ thống Viê ̣n Công tố, mô hình tổ chức cơ quan công tố hoàn toàn giống như mô hình cơ quan côn g tố của Pháp Đó là: về tính chất , đó là cơ quan tư pháp ; về chức năng : chức năng chủ yếu là chức năng công tố, buô ̣c tô ̣i và chức năng thứ hai là chỉ đa ̣o hoa ̣t đô ̣ng điều tra và thực hiê ̣n điều

Trang 20

11

tra đối với mô ̣t số loa ̣i vu ̣ án nhất định; về tổ chức: đă ̣t trong Tòa án; về quản lý hành chính :

do Bô ̣ Tư pháp quản lý; về đi ̣a vi ̣ pháp lý: có tính độc lập cao trong hoạt động , với tư cách là thiết chế thuô ̣c quyền tư pháp, được Hiến pháp và pháp luâ ̣t bảo đảm tính đô ̣c lâ ̣p và chỉ tuân theo pháp luâ ̣t, các cơ quan khác không có quyền can thiệp Từ năm 1958 đến năm 1959, cơ quan Công tố tách ra khỏi Tòa án , có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ, trực thuô ̣c

Hô ̣i đồng Chính phủ Tuy nhiên, mô hình Viê ̣n Công tố thuô ̣c Hô ̣i đồng Chính phủ nước ta chỉ tồn tại trên quy định pháp lý như một ý tưởng quá độ về tổ chức theo hướng tạo thành

mô ̣t hê ̣ thống riêng, đô ̣c lâ ̣p trong bô ̣ máy nhà nước V iê ̣t Nam Sau đó ít lâu, Hiến pháp năm

1959 của nước ta đã chế định một hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và mô hình tổ chức này tiếp tu ̣c được duy trì cho đến ngày hôm nay

Những quy đi ̣nh về tố tu ̣ng thời kỳ này rất đơn giả n, quy đi ̣nh rãi rác trong nhiều văn bản khác nhau, tố tu ̣ng hành chính trong thời kỳ này chưa có

1.2.2 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1959

Sự ra đời của hê ̣ thống cơ quan Viê ̣n kiểm sát nhân dân được đánh dấu b ằng việc ban hành Hiến pháp năm 1959 và Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1960 Trên cơ sở ban hành các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t đó , các cơ quan công tố được chuyển thành hệ thống các cơ quan nhà nước mới (Viê ̣n kiểm sát nhân dân ) Viê ̣c thành lập Viện kiểm sát nhân dân thay cho Viê ̣n Công tố là xuất phát từ yêu cầu khác h quan của viê ̣c chuyển giai đoa ̣n cách ma ̣ng ở nước ta , giai đoa ̣n vừa tiếp tu ̣c cuô ̣c cách ma ̣ng dân tô ̣c dân chủ nhân dân

ở miền nam , vừa tiến hành cuô ̣c cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc Yêu cầu khách quan đó đã được thể hiê ̣n trong Tờ trình về luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1960:

“Nhu cầu của cuô ̣c cách ma ̣ng xã hô ̣i chủ nghĩa đ òi hỏi pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất , đòi hỏi sự nhất trí về mu ̣c đích và hành đô ̣ng trong nhân dân, giữa nhân dân và nhà nước , cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau Nếu không đa ̣t được sự thống nhất trong viê ̣c chấp hành pháp luâ ̣t thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t nhằm gi ữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa , bảo đảm cho

pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất”

Viê ̣c thành lâ ̣p Viê ̣n kiểm sát nhân dân ở nước ta là sự áp du ̣ng tư tưởng củ a V.I Lênin về tổ chứ c và hoa ̣t đ ộng của Viện kiểm sát được trình bày trong tác phẩm “Bàn về chế

đô ̣ trực thuô ̣c song trùng và pháp chế” vào điều kiê ̣n cu ̣ thể của nước ta Theo V.I Lênin

Trang 21

12

pháp chế thì phải thống nhất Muốn đấu tranh chống la ̣i mô ̣t cách có hiệu quả chủ nghĩa cục

bô ̣ đi ̣a phương , nhất thiết phải thành lâ ̣p Viê ̣n kiểm sát Viê ̣n kiểm sát : “có quyền và bổn phâ ̣n làm mô ̣t công viê ̣c mà thôi , tức là: làm thế nào cho toàn nước cộng hòa có một sự nhận thức thâ ̣t sự nhất trí về pháp chế , dù là ở các địa phương có những đặc điểm và những ảnh hưởng như thế chăng nữa”.4

Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của giai đoa ̣n cách ma ̣ng mới , quán triệt tư tưởng của V.I Lênin về Viê ̣n ki ểm sát, Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân Theo Hiến pháp năm

1959, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t củ a các cơ quan thuô ̣c Hô ̣i đồng Chính phủ , cơ quan nhà nước đi ̣a phương , các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân (Điều 105 Hiến pháp năm 1959) Về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng , Viê ̣n kiểm sát nhân dân các cấp chi ̣u sự lãnh đa ̣o của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đa ̣o thống nhất của Viê ̣n kiểm sát nhân dân Tối cao (Điều 107 Hiến pháp năm 1959) Viê ̣n kiểm sát nhân dân Tối cao chi ̣u trách nhiê ̣m và báo cáo công tác trước Quốc hô ̣i , trong thời gian Quốc

hô ̣i không ho ̣p thì chi ̣u trách nhiê ̣m và báo cáo trước Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hô ̣i (Điều 108 Hiến pháp năm 1959) Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân được quy đi ̣nh trong Hiến pháp, ngày 26/7/1960 nhà nước công bố Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân , thành lập hệ thống cơ bản Viện kiểm sát nhân dân trong bô ̣ máy Nhà nước ta, từ trung ương đến đơn vi ̣ hành chính cấp huyê ̣n và các Viê ̣n kiểm sát quâ n sự

Về mă ̣t tổ chức , Viê ̣n kiểm sát không còn trực thuô ̣c vào hê ̣ thống các cơ quan hành pháp như trước đây nữa, mà trở thành một hệ thống cơ quan độc lập – hê ̣ thống cơ quan Viê ̣n kiểm sát- chịu sự giám sát của Quốc hội

Trong tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của mình , Viê ̣n kiểm sát nhân dân phải tuân theo nguyên tắc tâ ̣p trung thống nhất , dưới sự lãnh đa ̣o của Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân Tối cao

và nguyên tắc độc lập, không lê ̣ thuô ̣c vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương

Viê ̣n kiểm sát không chỉ có chức năng thực hành quyền công tố mà thực hiê ̣n cả chức năng kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t trên lĩnh vực hành chính , kinh tế, xã hội và lĩnh vực

4

Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiê ̣p vu ̣ kiểm sát, Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tập 1, năm 2013, trang 3, trang

4

Trang 22

13

hoạt động tư pháp

1.2.3 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1980

Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), trên cơ sở đường lối và nhiê ̣m vu ̣ cách ma ̣ng đươ ̣c đề ra ta ̣i Đa ̣i hô ̣i Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), Hiến pháp năm

1980 được ban hành So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đã có những bổ sung hết sức quan tro ̣ng khi quy đi ̣nh về Viê ̣n kiểm sát nhân dân Hiến pháp năm 1980 không những quy đi ̣nh rõ chức năng kiểm sát v iê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t của cơ quan nhà nước từ cấp Bô ̣ trở xuống , các tổ chức xã hội , đơn vi ̣ vũ trang nhân dân , các nhân viên nhà nước

và công dân , mà còn đặc biệt nhấn mạnh đến chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân , Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy đi ̣nh : “Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ

và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”

Cùng với việc khẳng định lại những nguyên tắc cơ bản đặc thù trong tổ chức và hoạt

đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân (nguyên tắc tâ ̣p trung thống nhất lãnh đ ạo trong ngành và nguyên tắc đô ̣c lâ ̣p , không lê ̣ thuô ̣c vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở đi ̣a phương ), Hiến pháp năm 1980 khẳng đi ̣nh rõ hơn vai trò và trách nhiê ̣m của Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân các cấp và đă ̣c biê ̣t l à Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao , Điều 141 Hiến pháp năm 1980 quy đi ̣nh: “Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm

và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước”

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, ngày 04/7/1981, tại kỳ họp thứ nhất , Quốc hô ̣i khóa VII đã thông qua Luâ ̣t Tổ chức viê ̣n kiểm sát nhân dân để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về Viện kiểm sát nhân dân Mô ̣t số điểm mới của luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân như sau:

- Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cũng như Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cũng có quy định về thành lập thêm những bộ phận mới Đội ngũ Kiểm sát viên

Trang 23

- Khẳng định rõ về quản lí tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Các Viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào của Nhà nước ở địa phương; Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo (Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981)

Tuy nhiên, cũng như luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1981 vẫn giữ nguyên những quy đi ̣nh về nhiê ̣m vu ̣ , quyền ha ̣n của Ủy ban kiểm sát là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng Cụ thể là: “Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao t hảo luận phương hướng , nhiê ̣m vu ̣, kế hoa ̣ch công tác kiểm sát , các dự thảo báo cáo của Viện trưởng trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước , các dự luật, dự án pháp lệnh và các vấn đề quan trọng khác mà Viện trưởng thấy cần thiết Trong các cuô ̣c họp Ủy ban kiểm sát , Viê ̣n trưởng kết luâ ̣n và quyết đi ̣nh cuối cùng Trong trường hợp Viê ̣n trưởng quyết đi ̣nh khác so với ý kiến của đa số trong Ủy ban kiểm sát thì Viê ̣n trưởng thực hiê ̣n quyết đi ̣nh của mình, đồng thời báo cáo lên Hô ̣i đồng Nhà nước”

Trang 24

15

1.2.4 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 1992

Từ năm 1987, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diê ̣n Ngày 15/4/1992, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hô ̣i khóa VIII của Nhà nước ta đã thông qua Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam

So với Hiến pháp năm 1980, các quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 1992 có hai điểm mới Mô ̣t là, Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân đi ̣a phương chi ̣u trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương

và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 140 Hiến pháp năm 1992) Như

vâ ̣y có nghĩa là Hội đồng nhân dân có quyền giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 7 Luật tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1992) Hai là, Ủy ban kiểm sát không còn

là cơ quan tư vấn Viện trưởng nữa mà có quyền thảo luâ ̣n và quyết đi ̣nh theo đa số những vấn đề quan tro ̣ng (Điều 138 Hiến pháp năm 1992)

Ngày 07/10/1992, Quốc hô ̣i đã thông qua Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm

1992, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nă m 1992 về Viện kiểm sát nhân dân , bổ sung

mô ̣t số điểm quan tro ̣ng so với Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân Mă ̣c dù đã có những điểm mới rất quan tro ̣ng so với Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Hiến pháp và Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1992 vẫn giữ nguyên quy đi ̣nh về hai chức năng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân Những quy đi ̣nh về tổ chức

bô ̣ máy của hê ̣ thống cơ quan này, về căn bản không khác gì so với trước đây

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba (năm 1997) và lần thứ bảy (năm 1999) Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đă ̣t ra yêu cầu phải sắp xếp la ̣i mô ̣t cách hợp lý các cơ quan Viê ̣n kiểm sát nhân dân, đẩy ma ̣nh và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng công tố và giám sát tư pháp Tháng 4/2001, Đa ̣i hô ̣i Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đươ ̣c tiến hành , đánh dấu mô ̣t bước ngoă ̣t quan tro ̣ng trong tiến trình cải cách bô ̣ máy nhà nước Đa ̣i hô ̣i khẳng đi ̣nh viê ̣c đẩy ma ̣nh cải cách tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của nhà nước , phát huy dân chủ , tăng cường pháp chế , nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hô ̣i chủ nghĩa dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân , do dân, vì dân Cùng với vấn đề cải cách thể chế và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung , Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ phải cải cá ch tổ chức , nâng cao chất lươ ̣ng hoa ̣t đô ̣ng các cơ quan tư pháp , nâng cao tinh thần trách nhiê ̣m của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra , bắt, giam, giữ, xét xử, thi hành án, không để

Trang 25

16

xảy ra các trường hợp oan sai Viê ̣n kiểm sát nhân dân thực hiê ̣n tốt chức năng công tố và kiểm sát hoa ̣t đô ̣ng tư pháp Ngày 19/11/2001, Hô ̣i nghi ̣ lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đề ra kết luâ ̣n về viê ̣c sửa đổi , bổ sung mô ̣t số điều của Hiến pháp năm 1992 Hô ̣i nghi ̣ đã kết luâ ̣n về từng cơ quan cu ̣ thể trong bô ̣ máy nhà nước Về Viện kiểm sát nhân dân , Nghị quyết Hô ̣i nghi ̣ đã nêu rõ : “cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiê ̣m vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo h ướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp , không thực hiê ̣n chức năng kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân”, nhằm đảm bảo cho Viê ̣n kiểm sát nhân dân các cấp tâ ̣p trung thực hiê ̣n tốt chức năng công tố và kiểm sát hoa ̣t đô ̣ng tư pháp

Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ Mười, Quốc hô ̣i khóa IX đã thông qua Nghi ̣ quyết về viê ̣c sửa đổi, bổ sung mô ̣t số điều của Hiến pháp n ăm 1992, thể chế hóa chủ trương, quan điểm cải cách bô ̣ máy nhà nước của Đảng ta Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi),

“Viê ̣n kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp, thôi không thực hiê ̣n chức năng kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa” Như vâ ̣y , Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy đi ̣nh rõ Viê ̣n kiểm sát nhân dân có hai chức năng : chức năng thực hàn h quyền công tố và kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t trong hoa ̣t đô ̣ng tư pháp

Ngày 02/4/2002, tại kỳ họp lần thứ Mười Một, Quốc hô ̣i khóa X đã thông qua Luâ ̣t Tổ chức viê ̣n kiểm sát nhân dân mới , thể chế hóa các quan điểm c ủa Đảng về cải cách tư pháp nói chung và về đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng , cụ thể hóa các quy đi ̣nh của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) về chức năng, nhiê ̣m vu ̣, tổ chức của Viê ̣n kiểm sá t nhân dân Có thể nói đây là bước thay đổi lớn về vị trí , vai trò, chức năng, nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của Viê ̣n kiểm sát nhân dân

So với các thời kỳ trước đây , thời kỳ Hiến pháp năm 1992 vai trò của Vi ện kiểm sát trong viê ̣c giải quyết vu ̣ án hành chính đã được quy đi ̣nh cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật:

Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2006) quy định Viện kiểm sát có vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (Điều 10) và là cơ quan tiến hành tố tụng; Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng Khi thực hiện chức năng của mình, Viện

Trang 26

17

kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn: khởi tố vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 18); triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (các Điều 24,

25, 33); tham gia phiên tòa xét xử vụ án hành chính (các Điều 18, 43, 63); thực hiện các quyền yêu cầu quyền kiến nghị, quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật

Trong Luật Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 2002 quy đi ̣nh Viê ̣n kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy đi ̣nh của Hiến pháp

và Pháp lệnh (Điều 1), Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Khoản 4, Điều 3), Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 2002 dành một chương (chương IV) quy đi ̣nh về nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của Viê ̣n kiểm sát trong viê ̣c giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật

Sau 14 năm thi hành Pháp lệnh Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2006), ngày 01/7/2011, Luật tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực thi hành thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1998, năm 2006) Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta từ trước đến nay, thể chế hoá các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp trong hoạt động giải quyết các vụ án hành chính Trong đó, tiếp tục quy định và có nhiều nội dung đổi mới quan trọng liên quan đến vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính

1.2.5 Viê ̣n kiểm sát nhân dân thời kỳ Hiến pháp năm 2013

Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử lập hiến nước ta, là cơ sở pháp lý hiến định để thực hiện mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong giai đoạn mới Hiến pháp năm 2013 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của các bản Hiến pháp trước (Hiến pháp năm 1946,

Trang 27

18

Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992) và đổi mới về nội dung cũng như kỹ thuật lập hiến; theo đó thể chế hóa sâu sắc và toàn diện chủ trương đổi mới của Đảng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tư tưởng vì con người, đó là tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được xác định là tư tưởng đổi mới chủ đạo của Hiến pháp Những yêu cầu của Hiến pháp về dân chủ, pháp quyền, đề cao quyền con người sẽ tác động trực tiếp đến các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân, đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải có sự đổi mới trong tổ chức và hoạt động Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001

đã quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tương đối toàn diện và đầy đủ Trên cơ sở kế thừa và đổi mới thể chế, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân để

hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của bộ máy Những nội dung mới đó là định hướng quan

trọng đổi mới về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới

Một số điểm mới về chế định Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 thể hiện cụ thể như sau:5

* Về mặt hình thức, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận chế định về Viện kiểm sát nhân

dân được quy định từ Điều 107 đến Điều 109 (Chương VIII – Tòa án nhân dân, Viện kiểm

sát nhân dân) Điều 140 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 "Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân" đã được quy định ghép vào Điều

108 của Hiến pháp năm 2013 và chỉ quy định ngắn gọn: "Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định" Đây là thay đổi về mặt hình thức thể hiện kỹ

thuật lập pháp tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ trong Hiến pháp lần này

* Về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi phù hợp với chủ trương cải cách

tư pháp Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định hệ thống Viện kiểm sát

gồm: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự”.Quy định này là nhằm xác định hệ thống Viện kiểm sát được tổ chức theo địa

giới hành chính từ Trung ương xuống địa phương Như vậy, ở Trung ương có Viện kiểm sát

5 Ths Lê Ngọc Duy, Một số điểm mới về chế định Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chi ́ kiểm sát số 18, năm 2013, trang 20, trang 21

Trang 28

19

nhân dân tối cao, ở địa phương tương ứng với đơn vị hành chính cấp huyện hoặc cấp tỉnh thì có Viện kiểm sát cấp huyện hoặc Viện kiểm sát cấp tỉnh Bên cạnh đó, còn có các Viện kiểm sát quân sự cũng được tổ chức thành ba cấp gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và Viện kiểm sát quân sự khu vực Việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo địa giới hành chính ra đời từ khi luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân năm 1960 được ban hành Hiến pháp năm 2013 quy định tại Khoản 2 Điều 107 "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do Luật định” Quy định này có ý nghĩa mở đường thực hiện chủ trương tổ chức lại hệ thống Viện

kiểm sát tương ứng hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử (Tòa án khu vực), không tương ứng với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện như hiện nay để bảo đảm nguyên tắc độc lập của Tòa án Đây là quy định "mở” nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động, đặc biệt khi mô hình tổ chức bộ máy đang được xây dựng trong giai đoạn hiện nay Như vậy, quy định này mang tính tùy nghi thuận tiện cho xây dựng mô hình hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, việc kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sẽ được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi,

bổ sung sắp tới, trên cơ sở định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp Định hướng đó được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết Luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của

Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan Điều tra theo Nghị quyết 49, đã xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, đồng thời Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án

* Về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định đầy đủ hơn, phạm vi rộng

hơn Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 quy định nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân

tối cao tại Điều 126: "Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” và Điều 137: "Góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách đầy đủ và hoàn thiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân cụ thể như sau: "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật,bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích

Trang 29

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Thực chất chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm cho mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Trên cơ sở cụ thể hóa chức năng thành các nhiệm vụ, Hiến pháp năm

2013 đã quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng chứng minh sự tồn tại của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước là đúng đắn

Bên cạnh đó, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân được đặt ra là hết sức cần thiết Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp Hiến pháp đã có những điều chỉnh quan trọng nhằm bảo đảm một cách tối đa quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực này, cụ thể như:

Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”(Khoản 2 Điều 14) Hiến pháp năm 2013 quy định rõ mọi biện pháp tố tụng có tính chất hạn chế quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp như: bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (Điều 21), khám xét chỗ

ở (Điều 22)… phải do luật định mà không quy định như Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (Điều 73) là theo quy định của pháp luật Đây là những quy định thể hiện sâu

Trang 30

21

sắc tư tưởng pháp quyền, dân chủ, ngăn ngừa sự cắt xén, xâm phạm quyền con người, quyền công dân từ phía các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định ngay trong Hiến pháp, tại Khoản 1 Điều

31 "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Khẳng định rõ tính công bằng, nhân đạo của pháp luật XHCN Bên cạnh đó, bổ sung quy định "Quyền được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai” (Khoản 2 Điều 31) Đây là yêu cầu hết sức cơ bản của nền tư pháp dân chủ, đòi hỏi việc sửa đổi các luật tố tụng trong thời gian tới phải quy định cụ thể, minh bạch các thủ tục nhằm tránh sự tùy tiện, lạm dụng để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án Đồng thời, Hiến pháp mở rộng đối tượng được hưởng quyền bào chữa không chỉ gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hiện nay mà còn cả người bị bắt (Khoản 4 Điều 31), quy định mới này sẽ tạo cơ sở để người bị bắt được đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng

Bổ sung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 103) Nguyên tắc này đòi hỏi có sự điều chỉnh cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, chế định chứng cứ cũng như các thủ tục tố tụng để bảo đảm cho tranh tụng được tiến hành có hiệu quả trên thực tiễn Đặc biệt, qua đó bảo đảm một cách toàn diện nhất về quyền của bị can, bị cáo, từ đó bị can, bị cáo và người bào chữa có cơ sở pháp lý rõ ràng nhất để thực hiện quyền đưa ra chứng cứ

gỡ tội Khi đó, tranh tụng phải trở thành quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, mọi chứng

cứ đưa ra phải có căn cứ pháp luật và phán quyết của Tòa phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và những chứng cứ được kiểm chứng tại phiên tòa Vì vậy, có làm được điều đó mới bảo đảm được chất lượng phiên tòa, bảo đảm chất lượng việc giải quyết vụ án, từ đó bảo đảm được công lý, công minh của pháp luật, đồng thời cũng là bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp tố tụng

Như vậy, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với chức năng được giao đảm nhiệm Bởi lẽ, khi tiến hành tố tụng, Viện

kiểm sát không chỉ đóng vai trò của một bên (bên công tố, buộc tội) như pháp luật một số nước, mà còn được giao trách nhiệm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, chống làm oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân

Trang 31

22

phẩm một cách trái pháp luật

* Quy định mới về nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân: Trên cơ sở tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tập

trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, đồng thời bổ sung nguyên tắc "khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” (Khoản 2 Điều 109) Đây là lần đầu tiên Hiến

pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc này như một nguyên tắc hiến định đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Nguyên tắc này một mặt khẳng định nhằm đáp ứng yêu cầu tăng tính độc lập, thẩm quyền cho Kiểm sát viên, ngăn ngừa sự can thiệp trái pháp luật của cá nhân, tổ chức vào hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên, đồng thời phù hợp với nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát, bảo đảm sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát mỗi cấp và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1.3 Nhƣ ̃ng vấn đề chung về Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n

1.3.1 Đi ̣a vi ̣ pháp lý của Viê ̣n kiểm sát nhân dân

Vấn đề nhâ ̣n thức tổ chức và thực hiê ̣n quyền lực của Nhà nước : Bắt đầu từ Đa ̣i hô ̣i Đảng lần thứ VII (năm 1991) cùng với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thờ i kỳ quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i”, quan điểm về sự tồn ta ̣i của ba quyền lâ ̣p pháp , hành pháp, tư pháp và sự phân công, phối hợp giữa pha ̣m vi ba quyền đó của Nhà nước mới chính thức được khẳng

đi ̣nh trên cơ sở tiếp thu , kế thừa, phát triển và vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Đến Hô ̣i nghi ̣ Trung ương lần thứ VIII (khóa VII, năm 1995) quan điểm của đảng về sự tồn tại của ba quyền đã được bổ sung quan trọng : Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong viê ̣c thực hiê ̣n ba quyền lâ ̣p pháp , hành pháp, tư pháp Nguyên tắc đó được Đa ̣i h ội lần thứ IX (năm 2006) của Đảng và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) ghi nhâ ̣n Đa ̣i hô ̣i XI của Đảng (năm 2011) và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, kế đó là Hiến pháp năm 2013 tiếp tu ̣c ghi nhâ ̣n nguyên tắc quan trọng này Hiến pháp năm 2013 đã đi thêm mô ̣t bước quan tro ̣ng trong thể chế hóa nguyên tắc về tính thống nhất và sự phân công , phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước , theo đó,

Trang 32

23

trên cơ sở xác đi ̣nh rõ ba bô ̣ phâ ̣n của quyền lực nhà nước , Hiến pháp đã hiến đi ̣nh những thiết chế thực hiê ̣n các quy ền đó: Quốc hô ̣i được xác đi ̣nh là cơ quan đa ̣i biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất , thực hiê ̣n quyền lâ ̣p hiến , lâ ̣p pháp; Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất , thực hiê ̣n quyền hành pháp; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiê ̣n quyền tư pháp ; Viê ̣n kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta được quy

đi ̣nh bởi nguyên tắc tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ máy nhà nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam được xác lâ ̣p trong Hiến pháp Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1992 (sửa đổi) khẳng đi ̣nh: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

Xét về v ị trí, Viện kiểm sát nhân dân hiện nay ở Việt Nam là một hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất do Hi ến pháp quy định Tính thống nhất c ủa nó được thể hi ện ở chỗ Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tính độc lâ ̣p c ủa nó thể hiện ở chỗ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao người đứng đầu h ệ thống thống nhất đó ch ịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc h ội; Trong thời gian Quốc h ội không họp thì ch ịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thư ờng vụ Quốc h ội và Chủ tịch nước

Về mă ̣t nhâ ̣n thức lý luâ ̣n, cho đến nay trong ở nước ta chưa có sự nhâ ̣n thức chung và thống nhất về vi ̣ trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước Có thể nêu lên hai luồng quan điểm như sau:

Loại ý kiến thư nhất cho rằng , hoạt động công tố thuô ̣c chức năng của cơ quan hành pháp với lý do: Chức năng duy trì và bảo vê ̣ trâ ̣t tự xã hô ̣i nằm trong pha ̣m vi của hoa ̣t đô ̣ng điều hành, quản lý của cơ quan hành pháp ; khi phát hiê ̣n có hành vi xâm ha ̣i đến lợi ích điều hành và quản lý thì cơ quan hành pháp có quyền truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và thực hiê ̣n viê ̣c buô ̣c tô ̣i Vì vậy, mô ̣t cơ quan có chức năng đó phải thuô ̣c cơ quan hành pháp , Viê ̣n kiểm sát phải chuyển đổi thành Viê ̣n công tố cho phù hợp với chức năng tương ứng

Trang 33

tư pháp vì hoa ̣t đô ̣ng của Viê ̣n kiểm sát trực tiếp liên quan đến xét xử Hơn nữa trong các Văn kiện của Đảng như Văn kiện các Đại hội lần thứ IX, X, Chiến lược cải cách tư pháp, và gần đây nhất Văn kiện Đại hội XI của Đảng đều coi tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát

là nội dung của hoạt động tư pháp Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”

1.3.2 Cơ cấu, tổ chƣ ́ c của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n

Cơ cấu, tổ chức của Viê ̣n kiểm sát nhân dân được quy đi ̣nh ta ̣i chương VII Luâ ̣t Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 2002 Các Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta tạo thành một thể thống nhất bao gồm:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Các Viện kiểm sát quân sự

Về cơ cấu, tổ chức của Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n:

Theo Điều 36 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có Ủy ban kiểm sát và các phòng nghiệp vụ,

mà chỉ có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó viện trưởng

Trang 34

25

phụ trách Tùy theo từng đơn vị cấp huyện , nhưng thông thường Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ cấu tổ chức gồm 3 bộ phận công tác: bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự ; bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án dân sự và bộ phận Văn phòng tổng hợp, thống kê tội phạm và khiếu tố

Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Viện tr ưởng Khi Viê ̣n trưởng vắng mă ̣t , mô ̣t Phó Viê ̣n trưởng được ủy nhiê ̣m thay mă ̣t lãnh đa ̣o công tác của Viện kiểm sát Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao

Cũng giống như Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp

Tuy nhiên, khi Hiến pháp năm 2013 ra đờ i, Hiến pháp này quy định tại Khoản 2 Điều

107 "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác

do Luật định” Quy định này có ý nghĩa mở đường thực hiện chủ trương tổ chức lại hệ thống Viện kiểm sát tương ứng hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử (Tòa án khu vực), không tương ứng với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện như hiện nay để bảo đảm nguyên tắc độc lập của Tòa án Như vậy, quy định này mang tính tùy nghi thuận tiện cho xây dựng mô hình hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, việc kiện toàn hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sẽ được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, bổ sung sắp tới, trên cơ sở định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp Định hướng đó được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết Luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan Điều tra theo Nghị quyết 49, đã xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, đồng thời Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án

Trang 35

26

1.3.3 Chƣ ́ c năng và nhiê ̣m vu ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân

1.3.3.1 Chư ́ c năng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân

Theo Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công tác sau đây:

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh

tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có chức năng điều tra mô ̣t số loa ̣i

Trang 36

27

Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp huyê ̣n thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra trong việc xét xử các vụ án hình sự theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều

170 Bộ luâ ̣t Tố tụng hình sự năm 2003; Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự , việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

1.3.3.2 Nhiê ̣m vụ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân

Nhiê ̣m vu ̣ chung của Viê ̣n kiểm sát nhân dân:

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,

quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi

ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.6

Các nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát:

Các nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát được quy định chủ yếu trong Luật Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 2002, ngoài ra nhiệm vụ của Viện kiểm sát còn được quy định trong Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự, Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính, Bô ̣ luâ ̣t Lao

đô ̣ng, Luâ ̣t phá sản và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác

Viê ̣n kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố là viê ̣c Viê ̣n kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách

nhiê ̣m hình sự đối với người pha ̣m tô ̣i trong các giai đoa ̣n điều tra , truy tố, xét xử Theo quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam hiê ̣n hành , Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố Hoạt động thực hành quyền công tố chỉ diễn ra trong hai giai đoạn của tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình

6

Khoản 3 Điều 107 Hiến pha ́p nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 37

- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;

- Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

- Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật;

- Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;

- Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Điều 17 Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;

- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm;

Trang 38

Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm sát cụ thể như sau:

Thứ nhất, công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Thứ hai, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị

Thứ ba, kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, các vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật

Thứ tư, kiểm sát thi hành án, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định về hình sự, dân sự đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

Thứ năm, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án

Trang 39

30

phạt tù, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

1.4 Sƣ ̣ cần thiết của Viê ̣n kiểm sát trong Tố tu ̣ng hành chính

Kể từ ngày 01/7/1996, Tòa hành chính được thành lập đã đánh dấu bước phát triển mới của nền pháp lý Việt Nam Đến ngày 01/7/2011 Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính 2010 có hiệu lực thi hành có ý nghĩa hết sức quan tro ̣ng trong quá trình giải quyết vu ̣ án hành chính , khắc phục những thiếu sót , hạn chế của Pháp lệnh thủ tục giải q uyết các vu ̣ án hành chính năm

1996 (sử a đổi bổ sung năm 1998, năm 2006) góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ tố tụng hành chính

Tố tu ̣ng hành chính là toàn bô ̣ hoạt động của Tòa án , Viê ̣n kiểm sát, người tiến hành tố tu ̣ng, người tham gia tố tu ̣ng , của cá nhân , của cơ quan nhà nước và tổ chức trong việc giải quyết vụ án hành chính , cũng như trình tự do pháp luật quy định đối vớ i viê ̣c khởi kiê ̣n, thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án , quyết đi ̣nh của Tòa án về vu ̣ án hành chính Theo đó có thể hiểu đơn giản tố tu ̣ng hành chính là ho ạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công quyền và công dân được thực hiện bởi một cơ quan tài phán độc lập (Tòa án) được chấp nhận ở Việt Nam

Theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính năm 2010, Tòa án có quyền xem xét đơn khởi kiê ̣n, xem xét thu ̣ lý hoă ̣c trả la ̣i đơn khởi kiê ̣n ; có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biê ̣n pháp ta ̣m thời ; Có quyền xác minh , thu thâ ̣p chứng cứ ; Xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ … Tòa án tự mình làm những việc trên , rồi la ̣i tự mình ngồi xét xử e rằng không thâ ̣t sự khác h quan

Trong quá trình quản lý hành chính nhà nước , các chủ thể quản lý hành chính thường xuyên thực hiê ̣n các hành vi quản lý như ban hành văn bản quản lý hành chính (văn bản pháp quy và văn bản cá biệt ) và thực hiện c ác hành vi hành chính khác Khi thực hiê ̣n hành

vi này các cơ quan nhà nước hoă ̣c cán bô ̣ , công chức có thẩm quyền có hành vi có thể xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của các nhân , cơ quan nhà nước , tổ chức, do đó b ị các chủ thể này phản ứng bằng cách khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết nhằm vệ hoặc phục hồi quyền , lợi ích của mình Trong trường hợp như

vâ ̣y, rõ ràng Tòa án có thẩm quyề n có trách nhiê ̣m thu ̣ lý và giải quyết Tuy nhiên, trong mô ̣t

Trang 40

31

số trường hợp, bên khởi kiê ̣n là người khởi kiê ̣n có trình đô ̣ thấp , thiếu am hiểu về pháp luâ ̣t , bên bi ̣ khởi kiê ̣n trong vu ̣ án hành chính luôn là cơ quan nhà nước hoă ̣c cán bộ, công chức nhà nước nên nếu để Tòa án xét xử , dễ dẫn đến tâm lý cho rằng cùng là cơ quan nhà nước nên Tòa án xét xử không thâ ̣t sự khách quan

Chính vì những nguyên nhân đó , mới cần đến vai trò của Viê ̣n kiểm sát, Viê ̣n kiểm sát tham gia vào vụ án để bảo vệ lợi ích của hai bên chứ không phải đứng về bên nào Viê ̣n kiểm sát với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp , góp phần đảm bảo cho pháp luâ ̣t được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong pha ̣m vi

chức năng của mình , Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội

chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật

Trong tố tu ̣ng hành chính , Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên toà, phiên họp của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Toà án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật

Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó

1.5 Nguyên tắc gia ̉ i quyết vu ̣ án hành chính

Căn cứ vào nô ̣i dung và ý nghĩa của các nguyên tắc, có thể chia thành hai nhóm:

Ngày đăng: 01/10/2015, 16:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Th.S Diê ̣p Thành Nguyên , Giáo trình Luật Tố tụng hành chính , năm 2012, trang 14 đến trang 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hành chính
Tác giả: Th.S Diê ̣p Thành Nguyên
Năm: 2012
3. Dương Tấn Viên , Luận văn Vai trò của Viê ̣n kiểm sát trong Tố tụng hình sự , năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Vai trò của Viê ̣n kiểm sát trong Tố tụng hình sự
4. TS Nguyễn Đư ́ c Mai , Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính năm 2010, nxb Chi ́nh tri ̣ Quốc gia – Sự thâ ̣t, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính năm 2010
Tác giả: TS Nguyễn Đư ́ c Mai
Nhà XB: nxb Chi ́nh tri ̣ Quốc gia – Sự thâ ̣t
Năm: 2013
5. Trươ ̀ ng đào ta ̣o, bồi dưỡng nghiê ̣p vu ̣ kiểm sát , Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tập 1 , năm 2013, trang 1 đến trang 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tập 1
Tác giả: Trươ ̀ ng đào ta ̣o, bồi dưỡng nghiê ̣p vu ̣ kiểm sát
Năm: 2013
6. Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính – kinh tế – lao đô ̣ng – phá sản doanh nghiệp , Tài liệu sơ kết một năm thực hiê ̣n Luật Tố tụng hành chính , năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu sơ kết một năm thực hiê ̣n Luật Tố tụng hành chính
1. Lê Viê ̣t Sơn , Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa , phiên họp giả quyết vụ án hành chính , Tạp chí Kiểm sát , Hà Nội, số 16, tháng 8/2013, trang 20 đến 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa , phiên họp giả quyết vụ án hành chính
Tác giả: Lê Viê ̣t Sơn
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2013
2. Lê Viê ̣t Sơn , Về viê ̣c đánh giá chứng cứ trong vụ án hành chính , Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội, số 18, tháng 9/2013, trang 18 đến 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về viê ̣c đánh giá chứng cứ trong vụ án hành chính
Tác giả: Lê Viê ̣t Sơn
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2013
3. Lê Song Lê, Đề xuất kiến nghi ̣ nâng cao chất lượng, hiê ̣u quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính , Tạp chí Kiểm sát , Hà Nội , số 16, tháng 8/2013, trang 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất kiến nghi ̣ nâng cao chất lượng, hiê ̣u quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính
Tác giả: Lê Song Lê
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2013
4. Nguyễn Long Vân , Bàn về chế định Viện kiểm sát nhân dân quy định trong Hiến pháp năm 1992 , Tạp chí Kiểm sát , Hà Nội, số 07, tháng 4/2012, trang 17, trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chế định Viện kiểm sát nhân dân quy định trong Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Nguyễn Long Vân
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2012
5. Trần Dương Công , Một số vấn đề cần trao đổi về cơ chế đối thoại trong Tố tụng hành chính, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội, số 16, tháng 8/2013, trang 13, 14,15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần trao đổi về cơ chế đối thoại trong Tố tụng hành chính
Tác giả: Trần Dương Công
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2013
6. Trần Ngo ̣c Vinh , Sửa đổi Luật Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp , Tạp chí Kiểm sát , Hà Nội , số 10, tháng 5/2014, trang 14 đến 17.* Danh mu ̣c trang thông tin điê ̣n tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật Tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Trần Ngo ̣c Vinh
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2014
2. Tòa án nhân dân tối cao , Thống kê số lượng án , http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/5901712 [ngày truy cập 30-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số lượng án
3. Th.S Trần Ma ̣nh Hùng , Hoạt động áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các khiếu kiê ̣n hành chính ở Viê ̣t Nam . Thư ̣c trạng và giải pháp , http://tks.edu.vn/portal/detailtks/6884_65_61 [ngày truy cập 30-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các khiếu kiện hành chính ở Việt Nam . Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Th.S Trần Ma ̣nh Hùng
4. Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2011 – 2020, http://tks.edu.vn/portal/detailtks/6350_74_70_Quy-hoach-phat-trien-nhan-luc-nganh-Kiem-sat-nhan-dan-giai-doan-2011---2020.html?TabId=KS70&pos=3,[ngàytruy câ ̣p 11-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2011 – 2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w