1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

33 620 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, nhiều công ty vừa và nhỏ tham gia hoạt động thầu phụ cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho các doanh nghiệp lớn cũng được hưởng những ưu đãi về hỗ trợ tài chí

Trang 1

CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP

HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN; VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

CHO VIỆT NAM

Ths.Phí Hồng Minh Trung tâm Nghiên cứu Bắc Á

1 Tổng quan khái niệm thầu phụ và công nghiệp hỗ trợ

Sau Chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản thừa hưởng một nền kinh tế hậu chiến đình trệ nhưng cả dân tộc Nhật bấy giờ lại đầy ham muốn mãnh liệt để có thể xây dựng được những cơ chế tạo tiền đề cho những cú bứt phát mới trong nền kinh tế Trước bối cảnh đó, nước Nhật cũng chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà kinh tế Mác xít với mong muốn xây dựng một cơ chế hài hòa cùng chia sẻ lợi ích giữa các công ty lớn nhiều tiềm lực tài chính và các công ty vừa và nhỏ (SMEs) yếu về tài chính song lại thâm dụng nhiều nhân công (Kimura, 2002) Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu của tăng trưởng nhanh đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ thầu phụ (subcontracting relationships) giữa các doanh nghiệp lớn và SMEs nhằm tạo một hệ thống dọc bền vững hài hòa tạo tiền đề cho giai đoạn tăng trưởng nhanh của Nhật Bản

Mặc dù trên thực tế tồn tại nhiều định nghĩa về thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” song theo định nghĩa của Sách trắng kinh tế của Nhật Bản năm 1985 thì khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” thường được hiểu như là việc các công ty/doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tham gia sản xuất các linh kiện và phụ tùng cho các công ty lớn hơn khác trên thị trường Đến năm 1994, Hiệp hội các doanh nghiệp Hải ngoại của Nhật Bản (JOEA) mới phát triển rộng hơn khái niệm công nghiệp hỗ trợ thành “các ngành công nghiệp cung cấp những gì cần thiết như là các nguyên vật liệu, các linh kiện và phụ tùng cũng như hàng tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành công nghiệp lắp ráp và nhà sản xuất lớn” Vì vậy, có thể thấy rằng, ngay từ giai đoạn đầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ có nội hàm cùng với phát triển quan hệ thầu phụ ở Nhật Bản

Hoạt động “thầu phụ” đã được Nhật Bản phát triển từ cuối thập kỷ 1950 và vị thế của các nhà thầu phụ thực sự được cải thiện trong thập kỷ 1960 và 1970 Nhận thấy những thành công của mô hình “thầu phụ” Nhật Bản, Hàn Quốc đã nỗ lực áp dụng cơ chế này từ cuối thập kỷ 1970-đầu 1980 với ba mục đích chính là : i- giảm bớt sự ảnh hưởng

lấn át của các doanh nghiệp lớn (chaebol) đang lún sâu vào việc mở rộng các ngành công

nghiệp nặng thay thế nhập khẩu, ii- thúc đẩy sự tham gia của SMEs, và iii- song hành với các chính sách dịch chuyển từ thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu Tuy nhiên, do những khác biệt riêng nên Hàn Quốc áp dụng một phiên bản ít phức tạp hơn so với hệ thống thầu phụ theo ngành dọc chặt chẽ của Nhật Bản Nhờ các chính sách quyết liệt của chính phủ, hoạt động “thầu phụ” ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng từ mức 18,6% doanh thu của SMEs Hàn Quốc đến từ thầu phụ năm 1968, thì con

số này đã tăng lên 70% năm 1990 (Kim và Nugent, 1994)

Trang 2

Trong khi đó, mô hình “thầu phụ Đài Loan” mặc dù cũng học hỏi từ mô hình Nhật Bản song lại được chính quyền Đài Loan ứng dụng theo đặc điểm riêng có của nền kinh tế Đài Loan, chiếm ưu thế bởi SMEs, trở thành Chương trình phát triển nhà máy hạt nhân-vệ tinh (center-satellite factory development system) Mục đích chính của chương trình này

là tạo mối liên kết giữa SMEs nhằm nâng cấp công nghệ, giảm rủi ro tham gia thị trường cho SMEs, và trở thành mắt xích trong mạng sản xuất thế giới để giúp Đài Loan nhanh chóng thực hiện mục tiêu quốc gia cho thời kỳ phát triển định hướng công nghệ và các ngành công nghệ cao Và thực tế đã chứng minh rằng, ở cả Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan thì “thầu phụ” đều được xem như là chìa khóa cho sự thành công trong việc tạo cơ chế liên kết giữa các công ty, đặc biệt là cho SMEs tham gia thầu phụ với các công ty lớn

để phát triển hiệu quả hơn không chỉ ngành Công nghiệp hỗ trợ, mà còn đóng góp đáng

kể vào quá trình tăng trưởng nhanh của cả Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan

Thuật ngữ “thầu phụ” theo định nghĩa của Cơ quan Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc được hiểu là “thỏa thuận giữa hai bên đối tác, nhà thầu chính và nhà thầu phụ Nhà thầu chính chủ động giao đơn đặt hàng cho một vài công ty vừa và nhỏ sản xuất linh kiện-phụ tùng hoặc cụm linh kiện-phụ tùng hoặc cung cấp dịch vụ công nghiệp cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm tiêu dùng cuối cùng của họ Nhà thầu phụ phải thực hiện đơn đặt hàng tuân theo sự chỉ định và yêu cầu của nhà thầu chính” (xem quan hệ hợp đồng thầu phụ trong Hình 2)

Hình 1: Phạm vi các ngành trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp Hải ngoại Nhật Bản, 1994

Hình 2: Hợp đồng thầu phụ trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Trang 3

Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009

2 Cơ chế “Thầu phụ” điển hình của Nhật Bản

2.1 Một số đặc điểm của cơ chế “thầu phụ”

Hiện đang tồn tại hai nhóm quan điểm khác biệt chủ yếu liên quan đến mô hình quản lý các nhà thầu phụ cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng, đó là nhóm quan điểm giao kèo bằng hợp đồng và nhóm quan điểm giao kèo thông qua mối quan hệ hiệp hội đối tác Theo nhóm quan điểm giao kèo bằng hợp đồng, các nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng cuối cùng thường đặt sự phụ thuộc tối thiểu của họ vào các nhà cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng với mục đích tối đa hóa sức mạnh mặc cả liên quan đến mức giá cả cạnh tranh nhất trên thị trường và tránh đưa ra những cam kết ràng buộc cứng nhắc trong cả trung hạn và dài hạn với các nhà cung cấp thầu phụ này Còn đối với Nhật Bản, hầu hết các nhà sản xuất đều có mối quan hệ hiệp hội đối tác với các nhà cung cấp Ví dụ, hãng ô tô Toyota ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ hiệp hội với các nhà cung cấp linh kiện và phụ tùng cho ngành công nghiệp sản xuất ô tô – chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ Trên thực tế, do hãng Toyota đã chủ động phát triển mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp trong hiệp hội bằng việc bảo đảm hoàn toàn công việc kinh doanh trong tương lai, nên đổi lại các nhà cung cấp linh kiện và phụ tùng này đã phải thực hiện nhiều đầu tư đặc biệt nhằm cải thiện năng suất lao động của hãng Toyota (Asanuma, 1993)

Trang 4

Đồng thời, “Đạo luật xúc tiến hợp đồng thầu phụ với các công ty vừa và nhỏ” của Nhật Bản cũng đã xác định rõ những hoạt động mang tính chất tạm thời và với tần suất thỉnh thoảng mới mua nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng hoặc chi tiết hàng hóa trung gian thì không thể được tính vào hoạt động thầu phụ trên thị trường nội địa của Nhật Bản Đây là một trong những đặc điểm khác biệt căn bản giữa hoạt động thầu phụ theo mô hình kinh doanh của Nhật Bản với các nước phương Tây và của cả các nước châu Á khác như Hàn Quốc và Đài Loan Các đặc tính riêng biệt của các nhà thầu phụ - nhà cung cấp giúp tách bạch chúng ra khỏi phần còn lại của các công ty vừa và nhỏ trên thị trường Nhật Bản đó là: (i) các sản phẩm của các nhà thầu phụ là một phần không thể thiếu của sản phẩm cuối cùng, bao gồm các nguyên vật liệu-linh kiện và phụ tùng, chứ bản thân nó không phải là sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh; (ii) và các nhà thầu phụ không có mối liên

hệ trực tiếp với các khách hàng là người sử dụng cuối cùng trên thị trường

Khi một doanh nghiệp lớn mua các linh kiện, phụ tùng hoặc các cấu phần khác không theo yêu cầu của khách hàng mà thông qua một kênh tiếp thị thông thường thì nó không được xem như hợp đồng thầu phụ Trong hợp đồng thầu phụ, một công ty mẹ sẽ đặt đơn hàng làm việc trực tiếp tới nhà thầu phụ với việc chỉ định rõ ràng một kế hoạch, chất lượng, thông số, hình thức, thiết kế, hoặc những yêu cầu khác nữa của các chi tiết và phụ tùng được đặt hàng

Quan hệ thầu phụ giữa các doanh nghiệp là một mối quan hệ lâu dài với đặc trưng là phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ Nhờ có những cam kết dài hạn, các công ty lớn cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cũng như tạo nên một cam kết tài chính cho SMEs Chính vì vậy hệ thống này đã phát huy tác dụng trong giai đoạn tăng trưởng nhanh 1955-73 của Nhật Bản

2.2 Mô hình vận hành “thầu phụ” của Nhật Bản

Mô hình thầu phụ điển hình của Nhật Bản trên thực tiễn thường bao gồm 4 tầng trong Hình 2 dưới đây Trong đó, giao dịch trao đổi sản phẩm giữa các công ty lớn trên tầng đầu tiên của tháp mô hình tháp cơ cấu không phải là hợp đồng thầu phụ Các công ty lớn và vừa ở tầng thứ 2 của mô hình tháp cơ cấu thu mua các linh kiện và phụ tùng từ các công ty vừa và nhỏ trong tầng thứ 3 và thứ 4 rồi sau đó tiến hành lắp ráp chúng lại để cung cấp cho các công ty lớn ở tầng đầu tiên Trong khi đó, các công ty vừa và nhỏ ở tầng thứ 3 của mô hình tháp cơ cấu lại chỉ chuyên vào các quy trình đặc biệt và sản xuất các linh kiện và phụ tùng Và cuối cùng là các công ty nhỏ và rất nhỏ hoạt động ở tầng thứ 4 của mô hình tháp cơ cấu, chúng đa phần được sở hữu và quản lý ở cấp gia đình Sự tương tác đan chéo giữa các công ty lớn với các công ty vừa và nhỏ, thậm chí là rất nhỏ trong

mô hình tháp cơ cấu sẽ hình thành nên mô hình thầu phụ điển hình của Nhật Bản

Ở Nhật Bản, một công ty lớn sản xuất ô tô thường có khoảng 20-35 nghìn nhà thầu phụ, tuy nhiên nó chỉ trao đổi trực tiếp với khoảng 200 nhà thầu phụ chủ yếu, và mỗi nhà thầu phụ này lại có mối quan hệ nấc thang xuống với các nhà thầu phụ cấp 2 và cấp 3 khác nữa (Asanuma, 1993) Ví dụ, mặc dù công ty Toyota có mối quan hệ gián tiếp với khoảng 30 nghìn công ty vừa và nhỏ nhưng nó lại chỉ có mối quan hệ giao dịch trực tiếp với khoảng 200 công ty vừa và nhỏ (Cusumanu, 1985) Chính mô hình sản xuất hình tháp

có tầng cơ sở đáy rộng lớn đã tạo cho nó khả năng thu hút được một số lượng lớn các

Trang 5

công ty vừa, nhỏ và rất nhỏ tham gia vào hợp đồng thầu phụ với các công ty lớn hơn Ở Nhật Bản, mô hình thầu phụ có mối liên kết chặt chẽ với mô hình phân phối kích cỡ doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và rất nhỏ Trên thực tế, hợp đồng thầu phụ được theo đuổi như là một kinh nghiệm chính sách không đổi trong một thời gian dài thông qua mối quan hệ đối tác trong các hiệp hội

Hình 3: Mô hình tháp cơ cấu của hợp đồng thầu phụ của Nhật Bản

Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009

Hình 4: Hợp đồng thầu phụ trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Trang 6

Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009

Tỷ lệ các công ty tham gia hợp đồng thầu phụ so với tổng số các công ty chế tạo quy

mô vừa và nhỏ của Nhật Bản đã tăng nhanh từ 53,3% năm 1966 lên tới 65,5% năm 1981 (Lemma, 2001) Mặc dù hợp đồng thầu phụ đã bao trùm lên một diện rộng các hoạt động công nghiệp của Nhật Bản, song nó tập trung chủ yếu vào những ngành máy móc, dệt may, kim loại Tỷ lệ giữa các công ty có hợp đồng thầu phụ so với tổng số công ty chế tạo quy mô vừa và nhỏ của Nhật Bản đặc biệt cao trong những ngành giao thông, điện tử và ngành máy móc mà ở đó sự phân công lao động được thực hiện ở nhiều cấp độ và trong ngành dệt may Trên thực tế, tỷ lệ phụ thuộc hợp đồng thầu phụ của công ty Nhật Bản có

xu hướng ngày càng tăng Nếu như cuối thập kỷ 1970, thị phần giá trị giao dịch kinh doanh của hợp đồng thầu phụ so với tổng số giá trị doanh số các sản phẩm chế tạo của các công ty của Nhật Bản là 81,3% thì đến đầu thập kỷ 1980 thị phần này đã là 82,4% (Lemma, 2001)

3 Chính sách thúc đẩy “thầu phụ” của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan

Trang 7

thu nhập quốc gia và đạt được tăng trưởng kinh tế cao hơn Tuy nhiên, trong quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế cao của Nhật Bản, các công ty quy mô lớn cùng với các công ty vừa và nhỏ đã trải qua hai thái cực tăng trưởng từ mức độ “khác nhau” đến “rất khác nhau” về năng suất lao động, tiền công, trình độ công nghệ, và khả năng tài chính của từng công ty Vì vậy, các tranh luận giữa các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế bắt đầu nổi lên về cơ cấu công nghiệp lưỡng thể của Nhật Bản thời kỳ này, trong đó các công ty có quy mô lớn đã những bước tiến vượt bậc còn các công ty vừa

và nhỏ lại đang tiến triển với tốc độ chậm hơn khá nhiều

Đứng trước những khó khăn và thách thức này, Hội đồng chính sách của Nhật Bản

đã chủ động và tích cực ban hành nhiều luật kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của các công ty vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp nói chung cũng như khuyến khích sự phát triển của các công ty vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng thông qua những công cụ chính sách về ưu đãi tài chính, giảm thuế, hỗ trợ kỹ thuật cao và kinh nghiệm quản lý kinh doanh hiện đại

 “Luật hỗ trợ tài chính cho việc thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ” đã được

ban hành năm 1956 nhằm hỗ trợ sự cải tiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nâng cao năng suất lao động bằng việc áp dụng các trang thiết bị hiện đại thông qua những khoản vay ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ tài chính của chính quyền địa phương Trong đó, nhiều công

ty vừa và nhỏ tham gia hoạt động thầu phụ cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho các doanh nghiệp lớn cũng được hưởng những ưu đãi về hỗ trợ tài chính thúc

đẩy hoạt động kinh doanh Ngoài ra, “Luật Hỗ trợ tài chính và hỗ trợ khác cho việc hiện đại hóa kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ” cũng tiếp tục được ban hành vào năm 1963

nhằm mục đích thúc đẩy nâng cấp cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và hiện đại hóa các trang thiết bị của họ Theo đó, đạo luật này đã tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy nâng cấp cơ cấu công nghiệp như (doanh nghiệp liên doanh, nhóm các nhà máy hoặc cửa hàng) khi những hoạt động kinh doanh này được thực hiện dưới dạng hợp tác xã Trên thực tế, một khoản vay phục vụ chi phí nâng cấp cho các doanh nghiệp nhỏ cũng đã nhận được sự hỗ trợ tài chính từ phía chính phủ

Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản còn chủ động ban hành “Luật Phòng chống trì hoãn trong thanh toán các chi phí thầu phụ và các vấn đề liên quan” Trên thực tế, Đạo

luật này được ban hành vào năm 1956 và nhắm vào việc tạo ra môi trường thương mại công bằng hướng tới mục tiêu bảo vệ các nhà thầu phụ trên thị trường nội địa bằng cách ngăn ngừa sự chậm chễ trong thanh toán các khoản phí thầu phụ từ các công ty lớn hoặc các nhà lắp ráp lớn hơn dành cho các công ty vừa và nhỏ tham gia hợp đồng thầu phụ, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản hoạt động thầu phụ trong lĩnh vực của ngành công nghiệp hỗ trợ để cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng Kể từ khi đạo luật này được ban hành, việc lạm dụng sức mạnh và vị thế vượt trội của các doanh nghiệp sản xuất lớn nhằm trì hoãn hoặc thanh toán chậm các khoản phí hợp đồng cho các nhà thầu phụ đã giảm đi đáng kể

“Luật về các dự án tương trợ cho các công ty nhỏ” (Đạo luật số 102 đã được ban

hành chính thức vào năm 1965) Theo nội dung của Đạo luật này, các công ty có quy mô

Trang 8

nhỏ trong nền kinh tế Nhật Bản đã nhận được nhiều hơn sự hỗ trợ trực tiếp về việc cải tiến và phát triển kỹ năng quản lý kinh doanh thông qua một hệ thống tư vấn cứu trợ tương hỗ Trong đó, đặc biệt phải kể đến sự hỗ trợ tích cực của hệ thống tư vấn này đối với các công ty nhỏ với chức năng cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho các doanh nghiệp lớn nhằm phấn đấu tạo ra một trạng thái cân bằng mới về cải tiến

kỹ năng quản lý kinh doanh tương đồng giữa các công ty nhỏ trong ngành công nghiệp hỗ trợ

“Luật bảo đảm cho các công ty vừa và nhỏ trong việc nhận được các đơn đặt hàng

từ Chính phủ và từ các Cơ quan công khác” Đạo luật này được ban hành năm 1966, theo

đó chính phủ Nhật Bản có nghĩa vụ đặt ra một khối lượng mục tiêu về đơn đặt hàng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo năm tài khóa hàng năm của Nhật Bản Luật này nhằm

mở rộng cầu của Chính phủ Nhật Bản và các cơ quan công cộng về các sản phẩm được cung cấp bởi các công ty vừa và nhỏ, đặc biệt là những công ty hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan tới các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng Ngoài ra, luật này cũng quy định rõ các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm cung cấp các cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn cho các công ty vừa và nhỏ liên quan tới hợp đồng mua sắm của chính phủ Nhật trong các năm tài khóa Về căn bản, biện pháp này của chính phủ Nhật được đánh giá là một động thái tích cực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung cũng như là sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng

“Luật Xúc tiến hợp đồng thầu phụ với các công ty vừa và nhỏ” (Đạo luật số 145

được ban hành trong năm 1970) Luật này nhằm mục đích khuyến khích các công ty có quy mô vừa và nhỏ ngành công nghiệp, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực ngành công nghiệp hỗ trợ tăng cường tham gia các hợp đồng thầu phụ cho các công ty lớn trên thị trường nội địa Nhật Bản theo hướng thúc đẩy quá trình hiện đại hóa những nhà thầu phụ này Theo nội dung của Đạo luật này thì công ty mẹ (được xem như nhà thầu chính) và các công ty thầu phụ (shitauke) hoặc các nhà máy sản xuất hợp tác (kyoryoku kojo/gaisha) được xác định chủ yếu dựa vào quy mô của các công ty, trong đó một nhà thầu phụ theo quy định của Nhật Bản thường có quy mô về vốn và số lượng nhân viên thấp hơn so với quy mô tương ứng của công ty mẹ trong cùng thời điểm Luật này cũng quy định ra các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy việc hiện đại hóa các công ty có quy mô vừa và nhỏ sao cho chúng hoạt động có hiệu quả hơn, đồng thời giới thiệu các cơ hội kinh doanh hợp đồng thầu phụ thông qua đại diện của Hiệp hội để thúc đẩy các công

ty quy mô nhỏ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động hợp đồng thầu phụ cho các công

ty lớn trong thị trường nội địa của Nhật Bản Luật xúc tiến hợp đồng thầu phụ với các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản đã định nghĩa một quan hệ hợp đồng thầu phụ như là một quan hệ mà ở đó “một công ty lớn hơn sẽ cho một công ty vừa và nhỏ hơn thầu về sản xuất, sửa chữa, tạo ra phân phối thông tin, hoặc cung cấp các dịch vụ trong một thời gian dài Trong thống kê, một nhà thầu phụ thành viên (shita-uke) thường được định nghĩa như là một đơn vị kinh doanh có doanh số bán lớn hơn 50% sản lượng của nó cho một nhà sản xuất lớn hơn Còn trong ngành công nghiệp ô tô trên thị trường nội địa của Nhật Bản, mối quan hệ thầu phụ được xem như là một quan hệ mà ở đó một nhà sản xuất linh kiện hoặc phụ tùng bán hơn 60% sản lượng của nó tới một khách hàng lớn hơn, hoặc

Trang 9

ở đó một nhà lắp ráp lớn hơn thu mua hơn 50% sản lượng của một linh kiện hoặc một phụ tùng nhất định từ một nhà thầu phụ cung cấp trong một thời gian nhất định

“Luật bảo vệ các cơ hội kinh doanh cho các công ty vừa và nhỏ bằng cách điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của các công ty lớn” (Đạo luật số 74 ban hành trong năm

1977) Luật này nhằm điều chỉnh sự khởi đầu và mở rộng quy mô các hoạt động kinh doanh của các công ty lớn mà chúng có thể gây ra những ảnh hưởng cực kỳ tiêu cực lên

sự ổn định hoạt động kinh doanh của các công ty vừa và nhỏ phù hợp với những yêu cầu

từ các Hiệp hội công ty vừa và nhỏ có liên quan Trong khi đặt nhiều chú ý tới việc bảo vệ các lợi ích của người tiêu dùng, thì những điều chỉnh này đối với các công ty lớn cũng được thực hiện bởi các bộ trưởng có thẩm quyền chịu trách nhiệm về các ngành công nghiệp có liên quan Nó cũng nhắm vào việc bảo vệ các cơ hội kinh doanh cho các công

ty vừa và nhỏ thông qua việc hướng dẫn để thúc đẩy sự hiện đại hóa và sự hợp lý hóa các hoạt động kinh doanh của những công ty vừa và nhỏ này

“Luật liên quan đến các biện pháp tạm thời để chuyển đổi kinh doanh cho các công

ty vừa và nhỏ đặc biệt” được ban hành năm 1986 nhằm giúp xác định rõ loại ngành nào

phù hợp hơn cho các công ty vừa và nhỏ, đồng thời giúp chuyển đổi hoạt động kinh doanh cho những công ty này nếu chúng thật sự có nhu cầu chuyển đổi do hậu quả tiêu

cực của suy giảm mạnh kinh tế và đồng YEN lên giá cao Bên cạnh đó, “Luật liên quan đến các biện pháp tạm thời nhằm thích ứng mau lẹ với những thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế bằng việc thúc đẩy các công ty vừa và nhỏ đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới” Luật này được ban hành vào năm 1993 nhằm giúp đỡ các công ty vừa và nhỏ trong

đó bao gồm cả những công ty tham gia trực tiếp hợp đồng thầu phụ cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và thiết bị đã trực tiếp/gián tiếp bị ảnh hưởng đáng kể bởi những thay đổi mạnh trong cơ cấu kinh tế gây ra Trên thực tế, Đạo luật này đã đóng vai trò quan trọng đối với việc hỗ trợ các công ty vừa và nhỏ thâm nhập vào nhiều lĩnh vực kinh doanh mới trong nền kinh tế hoặc tạo điều kiện thuận lợi hơn để hỗ trợ các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản tiến hành mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra thị trường nước ngoài, trong đó bao gồm cả hoạt động tham gia hợp đồng thầu phụ cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thiết bị cho các công ty lớn xuyên quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước sở tại. Ngoài ra, Hội đồng chính sách Nhật Bản còn ban hành nhiều luật khác như “Luật liên quan đến khuyến khích các hệ thống phân phối hiệu quả trong các công ty vừa và nhỏ” (Đạo luật số 65 ban hành năm 1992), “Luật hỗ trợ các ngành công nghiệp nhỏ thông qua Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp và Phòng Thương mại và Công nghiệp” (Đạo luật số 51 ban hành năm 1993), “Luật tạm thời liên quan đến các biện pháp thúc đẩy các hoạt động kinh doanh sáng tạo của các công ty vừa và nhỏ” (Đạo luật

số 47 trong năm 1995), “Luật tạm thời liên quan đến việc truyền sức sống cho việc tích tụ công nghiệp” (Đạo luật số 28 ban hành năm 1997), “Luật sửa đổi một phần các dự án cứu trợ lẫn nhau giữa các công ty nhỏ và luật công ty kinh doanh nhỏ” (Đạo luật số 147 ban hành năm 1998), “Luật hỗ trợ đổi mới kinh doanh của các công ty vừa và nhỏ” (Đạo luật

số 18 ban hành năm 1999)

3.2 Hàn Quốc

Trang 10

Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành “Luật Xúc tiến hệ thống thầu phụ cho các công ty vừa và nhỏ” (SMEs Subcontracting Promotion Act) lần đầu tiên vào năm 1975, rồi sau đó

nó đã được sửa đổi lại vào năm 1978 cho phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế Hàn Quốc Đạo luật này đã chỉ định cụ thể các công ty có quy mô lớn của Hàn Quốc buộc phải mua các sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm công nghiệp đã được chỉ định từ trước nhằm thiết lập mối liên kết thầu phụ với các công ty có quy mô vừa và nhỏ trong nền kinh tế Ngoài ra, Đạo luật này cũng nghiêm khắc cấm các công ty lớn không được tự

ý sản xuất những sản phẩm nằm trong danh mục chỉ định được quy định bởi chính phủ

mà phải tiến hành hoạt động mua sắm từ các công ty có quy mô vừa và nhỏ Trên thực tế, danh mục các sản phẩm công nghiệp được chỉ định bởi chính phủ Hàn Quốc đã tăng rất nhanh từ mức 41 sản phẩm trong năm 1979 lên tới mức xấp xỉ 1.553 sản phẩm trong năm

1984 và dần tăng lên 1.053 vào năm 1999 (APO, 2002)

Về cơ bản, nội dung của Đạo luật này nhằm những mục đích chủ yếu sau: (i) Yêu cầu các công ty có quy mô lớn phải lập kế hoạch thầu phụ cụ thể với những công ty có quy mô vừa và nhỏ trong nền kinh tế; (ii) Ngăn ngừa việc trì hoãn thanh toán các khoản thầu phụ bởi các công ty lớn dành cho các công ty vừa và nhỏ ra ngoài giới hạn thời gian của luật pháp; (iii) Chỉ định rõ những công ty lớn phụ thuộc vào mối quan hệ thầu phụ đối với những sản phẩm nằm trong danh mục sản phẩm chỉ định trước đó; (iv) Thiết lập Hội đồng xúc tiến hợp đồng thầu phụ bao bồm đại diện của các bên như của công ty vừa và nhỏ, của các công ty lớn, và của Bộ Thương mại - Công nghiệp - và Năng lượng

Trên thực tế, chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính và tài khóa tương đối lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thầu phụ để hỗ trợ các hoạt động và quy trình phát triển các sản phẩm của những nhà thầu phụ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hàn Quốc tham gia hợp đồng thầu phụ cũng được chính phủ miễn thuế tem và được cấp thêm các khoản khấu trừ thuế theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn đầu tư của họ rót vào phòng thí nghiệm và trang thiết bị kiểm tra cũng như cho toàn bộ chi phí của họ đối với tư vấn kỹ thuật Ngoài ra, Hội đồng xúc tiến hợp đồng thầu phụ đã được thiết lập theo các tiểu khu vực công nghiệp nằm trong Liên đoàn các doanh nghiệp nhỏ của Hàn Quốc để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quan hệ hợp đồng, phân xử tranh chấp và giám sát thực hiện hợp đồng thầu phụ Chính phủ Hàn Quốc cũng tiến hành gia tăng áp lực lên các tập đoàn kinh doanh khổng lồ để thiết lập mạng lưới các nhà cung cấp mà nó dẫn đến sự mở rộng nhanh chóng tỷ lệ nội địa hoá của các thành phần trong số các nhà thầu phụ của Hàn Quốc

Căn cứ vào môi trường kinh doanh thuận lợi đã được tạo ra, một số ngành công nghiệp lớn của Hàn Quốc đã thành lập được một Hội đồng các công ty thầu phụ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các mối quan hệ hợp đồng thầu phụ cho hợp tác và tư vấn lẫn nhau Chỉ tính riêng trong năm 1989, ở Hàn Quốc có 95 công ty lớn đã thiết lập được Hội đồng các công ty thầu phụ để hỗ trợ tài chính cho các công ty vừa và nhỏ thầu phụ của họ với tổng số vốn lên tới 1.790 nghìn tỷ Won bên cạnh khối lượng tín dụng đảm bảo lên tới 343.9 tỷ Won, và cũng đã cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý và kỹ thuật cho khoảng 10.653 công ty vừa và nhỏ thầu phụ (Bakiewicz, 2008) Trên thực tế, những đơn vị kiểu như Hội đồng các công ty thầu phụ được thành lập trong năm 1991 nhằm phục vụ các

Trang 11

mục đích sau: (i) Liên kết thực hiện mua nguyên vật liệu thô, kiểm tra chất lượng các sản phẩm, tiếp thị ở thị trường nước ngoài, phát triển của các linh kiện mới; (ii) chuyển giao các linh kiện và phụ tùng sản xuất mà các công ty lớn trước đây đã từng sản xuất cho các công ty vừa và nhỏ; (iii) cung cấp các khóa ngắn hạn về đào tạo nghề, và dịch vụ thông tin; (iv) bảo đảm hỗ trợ một phần tài chính và tín dụng ưu đãi cho các công ty vừa và nhỏ tham gia hoạt động thầu phụ với các công ty lớn Tại Hàn Quốc, trong năm 1991 đã có 2.252 công ty vừa và nhỏ thiết lập được mối quan hệ thầu phụ với 310 công ty lớn, chủ yếu trong các lĩnh vực dệt may, điện tử và lĩnh vực đóng tàu thủy, máy móc, đóng gói và chế tạo các linh kiện cũng như phụ kiện (Lemma, 2001)

3.3 Đài Loan

Cũng phát triển từ mô hình thầu phụ Nhật Bản nhưng dựa trên đặc điểm của nền kinh tế Đài Loan có trọng tâm là SMEs, chính quyền Đài Loan đã có một Chương trình thúc đẩy hệ thống nhà máy vệ tinh-hạt nhân (C-S) dưới sự quản lý của Cục Phát triển Công nghiệp, Bộ Kinh tế Đài Loan vào năm 1984 với tên gọi là Trung tâm phát triển Hiệp tương công ty (Corporate Synergy Development Center, CSD) (Su, 2000) Theo định nghĩa đưa ra bởi CSD, thì hệ thống C-S là “một chương trình quản lý công nghiệp nhằm củng cố cấu trúc công nghiệp mà SMEs chiếm ưu thế và giúp SMEs có sức cạnh tranh quốc tế thông qua việc hình thành mạng lưới hợp tác, nhờ vào sự phát triển các gói hỗ trợ toàn diện cung cấp từ chính phủ”

Trong nền kinh tế Đài Loan, SMEs chiếm vị trí hết sức quan trọng, chúng chiếm 98% tổng các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế, đóng góp 50-55% vào xuất khẩu của Đài Loan và sử dụng 70-80% lực lượng lao động Đài Loan (Su, 2000) Trong khi đó, SMEs Đài Loan hầu hết là các doanh nghiệp gia đình người Hoa (gồm người thân trong gia đình, họ hàng, và bạn bè), nhưng lại tương đối yếu về quản lý, nghiên cứu và phát triển (R&D), marketing, và năng lực tài chính do quy mô nhỏ của họ Do đó, họ rất khó

có thể đạt được kích cỡ cần thiết để cạnh tranh toàn cầu Vì thế, mục tiêu chính đặt ra cho CSD là tổ chức và tích hợp các công ty/xí nghiệp nhỏ hơn tập trung vây quanh các công

ty hạt nhân chủ đạo thông qua những loại hình liên kết chủ yếu sau:

(i) Liên kết dọc hạ nguồn: liên kết giữa công ty vệ tinh trung nguồn cung cấp các linh kiện và phụ tùng với các công ty hạ nguồn lắp ráp sản xuất;

(ii) Liên kết dọc hướng lên: liên kết giữa công ty trung tâm cung cấp nguyên vật liệu với công ty vệ tinh sử dụng hạ nguồn hoặc trung nguồn;

(iii) Liên kết ngang: liên kết giữa các công ty trung tâm là các thương nhân hoặc nhà xuất khẩu với các hạt nhân là SMEs sản xuất nguyên vật liệu để bán

Chương trình này liên quan đến hỗ trợ tài chính cho công ty hạt nhân và hỗ trợ nâng cao năng suất lao động cũng như chia sẻ một cách hợp lý các nhiệm vụ kinh doanh giữa các thành viên công ty vệ tinh cùng tham gia thầu phụ Trong mối liên kết này, công ty hạt nhân sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc phối kết hợp và chủ động giám sát cũng như

hỗ trợ tư vấn giúp cải thiện năng suất của các công ty vệ tinh Theo nhìn nhận của chính quyền Đài Loan, hệ thống C-S chủ yếu liên quan đến các mối quan hệ liên công ty nên

Trang 12

việc cung cấp hỗ trợ giữa các công ty sẽ thiết thực hơn, dễ quản lý hơn và ít đắt đỏ hơn so với việc đưa ra các hỗ trợ nội công ty Vì thế, CSD chủ yếu cung cấp các gói hỗ trợ cho các mạng lưới C-S nâng cấp từng thực thể cụ thể cũng như cả mạng lưới một cách hiệu quả mà vẫn giúp các doanh nghiệp giữ được lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, hệ thống C-S cũng thúc đẩy cùng hợp tác trong một đội hình để tránh sự cạnh tranh mang tính hủy hoại lẫn nhau và duy trì tính cạnh tranh dài hạn cho các công ty Nhờ đó, các công ty vệ tinh nhìn nhận nhau như những đồng minh cùng chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu chung Một khi

hệ thống C-S giữa các công ty cụ thể trong các ngành cụ thể được xây dựng thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ giúp cả hệ thống cùng đồng thời nâng cấp công nghệ và nhanh chóng thích ứng với thay đổi của thị trường

Nhờ những nỗ lực chủ động tích cực này của chính quyền Đài Loan trong việc thúc đẩy ký kết hợp đồng thầu phụ giữa các công ty lớn và nhỏ, Chương trình thúc đẩy hệ thống nhà máy vệ tinh-hạt nhân đã tạo ra được hơn 60 mạng lưới với tổng số 1.186 công

ty vệ tinh hoạt động chủ yếu trong ngành công nghiệp điện tử vào năm 1989 (Lall, 2000), tức là trung bình sẽ có khoảng 20 công ty có quy mô vừa và nhỏ đang được làm thầu phụ cho một nhà máy chính/công ty lớn hạt nhân ở Đài Loan

So sánh với mô hình thầu phụ truyền thống của Nhật Bản và Hàn Quốc, mô hình thầu phụ của Đài Loan có sự dịch chuyển sang một mô hình mạng lưới và cụm công nghiệp đặc biệt là trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao Theo đó, các hoạt động thầu phụ không chỉ diễn ra đơn thuần giữa hai công ty đơn lẻ cụ thể mà diễn ra trong một mạng lưới phức hợp giữa các công ty có tính bổ sung hỗ trợ cho nhau trên cùng một trình

độ công nghệ nhất định Các nhà thầu phụ Đài Loan rất hiếm khi chỉ làm việc cho một công ty mẹ lớn, mà thường là trong một mạng lưới cung cấp giữa các công ty lớn cũng như nhỏ với nhau Trong đó, CSD có vai trò cố vấn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nhu cầu tìm kiếm các mối liên kết hợp tác hạ nguồn-trung nguồn-thượng nguồn, hay nhu cầu nắm bắt và nâng cấp công nghệ nhằm duy trì khả năng cạnh tranh trong cả thị trường trong nước và nước ngoài Nhờ đó, các mạng lưới này đã giúp cho Đài Loan trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng sản xuất và chuỗi cung ứng ở phu vực Đông Á và quốc tế Ngoài ra, mạng lưới dày đặc các quan hệ thầu phụ trong mỗi ngành công nghiệp

cụ thể lại góp phần làm giảm chi phí tham gia cũng như rời khỏi thị trường Do vậy, các doanh nghiệp sẽ sử dụng nhiều nhà thầu phụ hơn trong thời kỳ tăng trưởng nhanh cũng như dễ dàng cắt giảm thầu phụ trong thời kỳ suy thoái Chính hệ thống này tạo cho SMEs của Đài Loan có tính hiệu quả và linh hoạt hơn đặc biệt là từ các cú sốc từ thị trường bên ngoài trong các cuộc khủng hoảng và suy thoái trên thế giới

4 Thực trạng đóng góp của các ngành công nghiệp hỗ trợ đối với phát triển kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan

4.1 Tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan

+ Đối với Nhật Bản: Từ dữ liệu của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, kết quả tính

toán của tác giả cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm giai đoạn 1956-1991 là 6,6%/năm Giai đoạn tự do hóa kinh tế 1956-1973 là thời kỳ tăng trưởng cao của Nhật Bản với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,4%/năm (trong đó tăng 9,1%/năm giai đoạn 1956-

Trang 13

1962 và khoảng 9,7%/năm giai đoạn 1963-1972) Tiếp đến là giai đoạn điều chỉnh kinh tế 1974-1991 có đặc điểm tăng trưởng kinh tế ổn định với mức tăng bình quân 3,7%/năm (trong đó tăng 3,4% giai đoạn 1974-1980 và tăng 3,9%/năm giai đoạn 1981-1991) Sau

đó là giai đoạn tăng trưởng bong bóng 1992-2002 với tốc độ tăng trưởng đạt 0,9%/năm và giai đoạn bình phục tăng trưởng 2003-2007 với tăng trưởng 2,1%/năm và giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 với tốc độ tăng trưởng ghi nhận là -2,9%/năm

+ Đối với Hàn Quốc: Dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia của Hàn Quốc cho thấy

rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân năm tính theo giá cố định năm 2001 trong giai đoạn 1956-1991 là 8,1%, trong đó giai đoạn 1956-1962 ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế là 3,9%, giai đoạn đỉnh cao 1963-1972 đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất là 9,6% Kế tiếp là giai đoạn 1974-1991 với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,4%/năm, trong

đó giai đoạn 1974-1980 là khoảng 7,3%, và giai đoạn 1981-1991 là 9,1% Sau đó là giai đoạn 1992-2002 với tốc độ tăng trưởng đạt 5,7%/năm và giai đoạn 2003-2007 với tăng trưởng 4,4%/năm và trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 với tốc độ tăng trưởng đã được ghi nhận ở mức 1,2%/năm

+ Đối với Đài Loan: Theo dữ liệu từ Tổng cục Ngân sách, Kế toán và Thống kê Đài Loan (DGBAS), tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân năm tính theo giá cố định năm

2001 trong giai đoạn 1956-1991 là khoảng 8,8%, trong đó giai đoạn 1956-1962 ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế là 7,0%, còn giai đoạn đỉnh cao 1963-1972 đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất là 10,8% Kế tiếp là giai đoạn 1974-1991 với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 8,2%/năm, trong đó giai đoạn 1974-1980 là 8,6%, và giai đoạn 1981-

1991 là 8,0% Sau đó là giai đoạn 1992-2002 với tốc độ tăng trưởng đạt 5,5%/năm và giai đoạn 2003-2007 với tăng trưởng 4,9%/năm và giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 với tốc độ tăng trưởng được ghi nhận là khoảng -0,9%/năm

Hình 5: Thực trạng tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan

(%)

Trang 14

Nguồn: Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc

(KOSTAT), và Tổng cục Ngân sách, Kế toán và Thống kê Đài Loan (DGBAS), 2010

4.2 Đóng góp của công nghiệp hỗ trợ đối với Nhật Bản

Trong thời kỳ đầu khi tiến hành thâm nhập thị trường ô tô của Anh và châu Âu, việc các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản chưa thiết lập được mối quan hệ làm ăn kinh doanh lâu dài của với một mạng lưới phát triển tốt các nhà cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng có độ tin cậy cao ở Anh và các nước phương Tây khác đã từng bị coi là một bất lợi thế nghiêm trọng của các doanh nghiệp sản xuất xe Nhật Bản trước các đối thủ cạnh tranh khác Việc hình thành mạng lưới sản xuất phức hợp với các tầng thầu phụ khác nhau đã trở thành một trụ cột trong chính sách công nghiệp của Nhật Bản, tăng tính hiệu quả, năng suất của nền kinh tế và đóng góp lớn vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế chung của quốc đảo này Có thể thấy trong đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản ở Hình 6 với sự chuyển dịch từ tăng trưởng gần như hoàn toàn dựa vào vốn dần dịch chuyển sang năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và vốn công nghệ thông tin (IT)

Hình 6: Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản

Nguồn: Tổng cục Thống kê Nhật Bản (SBJ), 2014.

Hình 7 đã cho thấy vị trí của ngành công nghiệp hỗ trợ đối với thương mại của Nhật Bản Theo đó có thể thấy rằng lĩnh vực xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đóng góp lớn nhất vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản với giá trị tăng đều đặn trong suốt giai đoạn 1990-2003 với mức trên 160 tỷ USD năm 2003 Nếu tính thêm cả hàng trung gian chế

Trang 15

biến thì tổng xuất khẩu hàng trung gian và linh kiện của Nhật Bản vượt mức 265 tỷ USD năm 2003, chiếm trên 55% tổng xuất khẩu của Nhật Bản

Hình 7: Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ vào thương mại của

Nhật Bản

Nguồn: Tổng cục Thống kê Nhật Bản (SBJ), 2007

Trong khi đó Bảng 1 chỉ ra rằng xuất khẩu linh phụ kiện trong ngành điện và điện tử

đã mang lại cho Nhật Bản trung bình 82,98 tỷ USD với khoản thặng dư 40,57 tỷ USD hằng năm trong giai đoạn 1995-2012 Ngoài ra, Bảng 1 cũng thể hiện xuất khẩu linh kiện

và phụ tùng có công nghệ và kỹ năng cao chiếm tới 83,5% tổng kim ngạch xuất khẩu linh kiện và phụ tùng trong ngành điện và điện tử Điều đó cho thấy giá trị gia tăng cao và công nghệ cao trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản đã mang lại giá trị lớn cho nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này

Bảng 1: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của

Nhật Bản

1995 2000 2005 2010 2012

Kim ngạch xuất khẩu "Linh kiện

và Phụ tùng" của Nhật Bản (tỷ 86,84 88,71 89,19 95,96 87,27

Trang 16

USD)

Tỷ lệ xuất khẩu "Linh kiện và Phụ

tùng" so kim ngạch xuất khẩu hàng

Chế tạo (%)

20,61 19,74 16,33 14,11 12,30

+ "Linh kiện và Phụ tùng" xuất

khẩu có công nghệ và kỹ năng "trung

bình" (%)

2,71 2,97 2,80 2,94 2,87

+ "Linh kiện và Phụ tùng" xuất

khẩu có công nghệ và kỹ năng "cao"

(%)

17,89 16,77 13,53 11,17 9,43

Tỷ lệ xuất khẩu "Linh kiện và Phụ

tùng" trong tổng Kim ngạch xuất

xu hướng dịch chuyển đầu tư ra bên ngoài của ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Do đó, các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam cần đón đầu cơ hội đầu tư này để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ của mình, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực sản

Ngày đăng: 01/10/2015, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anderson, James C. and James A. Narus (1990), “A model of distributor firm and manufacturer firm working partnership'', Journal of Marketing, Vol. 54 No. 1, pp. 42-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A model of distributor firm and manufacturer firm working partnership''
Tác giả: Anderson, James C. and James A. Narus
Năm: 1990
2. Ando, Mitsuyo và Fukunari Kimura (2005) “The formation of international production and distribution networks in East Asia”, International Trade in East Asia, NBER-East Asia Seminar on Economics, Vol. 14, University of Chicago Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The formation of international production and distribution networks in East Asia
3. Asanuma, Banri (1993), “Interfirm relationships in the Japanese automobile industry'', Rivista Internazionale di Scienze Economiche e Commerciali, Vol.40 No. 12, pp. 1019-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interfirm relationships in the Japanese automobile industry''
Tác giả: Asanuma, Banri
Năm: 1993
4. Asian Productivities Organization (APO) (2002) “Strengthening of Supporting Industries”: Asian Expreriences. Tokyo. APO Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Strengthening of Supporting Industries”
5. Bakiewicz, Anna (2008) “Small and Medium Enterprices in South Korea in the Shadow of Big Brothers”, Asia Pacific Studies, Vol. 5/2008, p. 45-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Small and Medium Enterprices in South Korea in the Shadow of Big Brothers”
6. Barney, J. and Hansen, (1995), “Trustworthiness as a source of competitive advantage'', Strategic Management Journal, Vol. 15, Summer, pp. 382-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trustworthiness as a source of competitive advantage'
Tác giả: Barney, J. and Hansen
Năm: 1995
7. Berry, Albert (1997) “SME Competitiveness: The power of Networking and Subcontracting”, Washington D.C: Interamerican Development Bank, No. IFM-105, January 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “SME Competitiveness: The power of Networking and Subcontracting”
8. Boyle, B., Dwyer, F., Robicheaux, R. and Simpson, J. (1992), “Influence strategies in marketing channels ± measures and use in different relationship structures'', Journal of Marketing Research, Vol. 29 No. 4, pp. 462-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Influence strategies in marketing channels ± measures and use in different relationship structures''
Tác giả: Boyle, B., Dwyer, F., Robicheaux, R. and Simpson, J
Năm: 1992
9. Cusumano, M. (1985), “The Japanese Automobile Industry: Technology and Management in Toyota and Nissan”, Harvard University Press, Boston, MA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Japanese Automobile Industry: Technology and Management in Toyota and Nissan
Tác giả: Cusumano, M
Năm: 1985
10. Dwyer, F., Schurr, P. and Oh, S. (1987), “Developing buyer seller relationships'', Journal of Marketing, Vol. 51 No. 2, pp. 11-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Developing buyer seller relationships''
Tác giả: Dwyer, F., Schurr, P. and Oh, S
Năm: 1987
11. Frazier, G. (1983), “On the measurement of interfirm power in channels of distribution'', Journal of Marketing Research, Vol. 20 No. 2, pp. 158-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the measurement of interfirm power in channels of distribution''
Tác giả: Frazier, G
Năm: 1983
12. Glasmeier, Amy và Noriuki Sugiura (1991) “Japan’s Manufacturing System: Small Business, Subcontracting and Regional Complex Formation”, International Journal of Urban and Regional Research, Vol. 15, Iss. 3, trang 395-414, September 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J"apan’s Manufacturing System: Small Business, Subcontracting and Regional Complex Formation”
13. Heide, J. and John, G. (1990), “Alliance in industrial purchasing: the determinants of joint action in buyer supplier relationships'', Journal of Marketing Research, Vol. 27 No. 1, pp. 24-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Alliance in industrial purchasing: the determinants of joint action in buyer supplier relationships''
Tác giả: Heide, J. and John, G
Năm: 1990
14. Hutt, M. and Speh, T. (1992), “Business Marketing Management: A Strategic view of Industrial and Organizational Markets”, 4th ed., Dryden Press, Orlando, FL Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Business Marketing Management: A Strategic view of Industrial and Organizational Markets
Tác giả: Hutt, M. and Speh, T
Năm: 1992
15. Japan Small Business Research Institute (1997), “A Study of SMEs’ Internationalization Strategies (Synopsis)”. Tokyo: Japan Small Business Research Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Study of SMEs’ "Internationalization Strategies (Synopsis)”
Tác giả: Japan Small Business Research Institute
Năm: 1997
16. Kim, Linsu và Jeffrey B. Nugent (1994) “The Republic of Korea’s Small and Medium-size Enterprises and Their Support Systems”, Policy Research Working Paper No. 1404, World Bank, 78 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Republic of Korea’s Small and Medium-size Enterprises and Their Support Systems
17. Kimura, Fukunari (2002) “Subcontracting and the Performance of Small and Medium Firms in Japan”, Small Business Economics Vol. 18: 163-175, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Subcontracting and the Performance of Small and Medium Firms in Japan”
18. Knorringa, Peter and Weijland, H. (1993), “Subcontracting - the incorporation of small producers in dynamic industrial networks”, in I.S.A. Baud and G.A. Bruijne (eds.), Gender, Small-scale Industry and Development Policy, Intermediate Technology Publications, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Subcontracting - the incorporation of small producers in dynamic industrial networks
Tác giả: Knorringa, Peter and Weijland, H
Năm: 1993
19. Lall, Sanjaya (2000) “Strengthening SMEs for International Competitiveness”, Egyptian Center for Economic Studies Workshop on ‘What Make Your Firm Internationally Competitiveness?’ on March 6-8, 2000, Cairo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strengthening SMEs for International Competitiveness”
20. Lemma, Seleshi (2001) “Subcontracting Strategy for the Ethiopian Micro and Small Enterprises”, Ehtio-German Micro and Small Enterprices Development Programme Sách, tạp chí
Tiêu đề: Subcontracting Strategy for the Ethiopian Micro and Small Enterprises”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phạm vi các ngành trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 1 Phạm vi các ngành trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản (Trang 2)
Hình 3: Mô hình tháp cơ cấu của hợp đồng thầu phụ của Nhật Bản - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 3 Mô hình tháp cơ cấu của hợp đồng thầu phụ của Nhật Bản (Trang 5)
Hình 5: Thực trạng tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 5 Thực trạng tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan (Trang 13)
Hình 6: Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 6 Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản (Trang 14)
Hình 7: Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ vào thương mại của - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 7 Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ vào thương mại của (Trang 15)
Hình 8: Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 8 Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc (Trang 17)
Bảng 2: Xu hướng xuất khẩu và nhập khẩu phụ tùng và nguyên vật liệu của - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 2 Xu hướng xuất khẩu và nhập khẩu phụ tùng và nguyên vật liệu của (Trang 18)
Bảng 3: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của Hàn - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 3 Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của Hàn (Trang 19)
Bảng  2  biểu  thị  đóng  góp  quan  trọng  của  ngành  công  nghiệp  hỗ  trợ  sản  xuất  linh,  phụ  kiện  và  nguyên  vật  liệu  đối  với  thương  mại  của  Hàn  Quốc - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
ng 2 biểu thị đóng góp quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất linh, phụ kiện và nguyên vật liệu đối với thương mại của Hàn Quốc (Trang 19)
Bảng 4: Số lượng doanh nghiệp, nhân viên, sản lượng và giá trị gia tăng trong - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 4 Số lượng doanh nghiệp, nhân viên, sản lượng và giá trị gia tăng trong (Trang 21)
Bảng 5: Các sản phẩm được sản xuất ở Đài Loan có vị trí thứ 1 trên thế giới, - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 5 Các sản phẩm được sản xuất ở Đài Loan có vị trí thứ 1 trên thế giới, (Trang 22)
Hình 10: Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Đài Loan - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Hình 10 Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế của Đài Loan (Trang 23)
Bảng 6: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 6 Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của (Trang 24)
Bảng 5 cũng cho thấy xuất khẩu và cả nhập khẩu linh kiện và phụ tùng có công nghệ - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 5 cũng cho thấy xuất khẩu và cả nhập khẩu linh kiện và phụ tùng có công nghệ (Trang 25)
Bảng 8: Những rủi ro và trở ngại cản trở doanh nghiệp (ngành công nghiệp chế - CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN các NGÀNH CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ ở NHẬT bản, hàn QUỐC, đài LOAN; và hàm ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Bảng 8 Những rủi ro và trở ngại cản trở doanh nghiệp (ngành công nghiệp chế (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w