... nhanh phương trình hoá học - giáo viên hướng dẫn rõ học lập phương trình hóa học Trong hóa học, phương trình hóa học nội dung kiến thức quan trọng, việc lập phương trình hóa học lại “ Phương pháp. .. phương pháp lập phương trình hoá học điển hình mà học sinh thường gặp phải trình học môn hoá 25 “ Phương pháp hướng dẫn học sinh lập phương trình hóa học – Nguyễn Thị Huyền – THCS Đông Tảo học. .. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Phương pháp hướng dẫn học sinh lập phương trình hóa học không áp dụng ttrong lập phương trình hóa học lớp mà áp dụng việc lập phương trình hóa học cấp trung học sở, kể phương
Trang 1Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải
có những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nghị quyết Trung ương đảng lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới
cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ởtất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học của học
học sinh làm trung tâm Việc thay đổi phương pháp dạy và học là một công việc to lớn, khó khăn, phức tạp, tác động đến tất cả các khâu từ nội dung, chương trình, sách giáo khoa, trình độ đào tạo, thi cử, đến đánh giá, kiểm địnhchất lượng Đây là công việc liên quan tới tất cả các bộ phận cấu thành của giáo dục nên cần có sự đổi mới đồng bộ từ nội dung đến phương pháp để đạt được mục đích đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”
Việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, nói thì đơn
giản, nhưng khi thực hiện quả là không dễ vì thói quen đọc - chép trong dạy
và học hình thành đã lâu, đã “ngấm sâu” vào cả người học và người dạy Để
Trang 2Đông Tảo
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực yêu cầu đối với người dạy
và người học cần quán triệt và vận dụng tốt các nội dung sau:
Thứ nhất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cần nâng caonhận thức về phương pháp dạy học tích cực Nắm chắc mục đích, nội dung,trường hợp vận dụng của một số dạng cơ bản của phương pháp dạy học tíchcực thường được sử dụng, đó là: phương pháp dạy học nêu vấn đề; phươngpháp bàn tay nặn bột; phương pháp thảo luận các vấn đề học tập, phươngpháp trắc nghiệm khách quan,
Thứ hai, đội ngũ giáo viên phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, nắm chắcnội dung bài giảng, xây dựng các tình huống có liên quan đến bài học, phù hợpvới trình độ nhận thức, kích thích được sự hứng thú, sáng tạo, tìm tòi của họcsinh Giáo viên phát huy tốt vai trò là chủ thể tổ chức, điều khiển, quyết địnhcho mức độ tham gia tích cực của học sinh trong giải quyết vấn đề
Thứ ba, học sinh phải nắm chắc kiến thức đã được trang bị, nêu cao tínhtích cực, chủ động tham gia vào quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập vớitrạng thái tích cực, với ý thức chủ thể mạnh mẽ
Thách thức lớn nhất trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc chính là ở người dạy và người học, bởi đây là chủ thể chính của quá trìnhđổi mới Nếu chủ thể thờ ơ, không quyết tâm thực hiện, hoặc thực hiện khôngđúng hướng thì việc đổi mới không đạt kết quả cao Do vậy, các cấp quản lýgiáo dục cần chú trọng tuyên truyền, có chính sách động viên khích lệ và địnhhướng để giáo viên quán triệt tốt, chủ động khắc phục khó khăn, thực hiệnhiệu quả chủ trương này nhằm kích thích tính chủ động hoạt động nhận thứccủa học sinh
Do đó, nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục là phải đổi mới phươngpháp dạy học để đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêucầu của cuộc cách mạng mới Một trong những sự đổi mới giáo dục là đổimới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, nghĩa là lấyhọc sinh làm trung tâm Theo hướng này giáo viên đóng vai trò tổ chức vàđiều khiển học sinh chiếm lĩnh tri thức, còn học sinh thì tự lực hoạt động tìmtòi để chiếm lĩnh kiến thức mới
Trang 3Đông Tảo
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cậnmuộn nhất - đến lớp 8 học sinh mới bắt đầu làm quen với môn học này,nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông Môn hoáhọc cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản vàthiết thực đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khảnăng trực quan nhanh nhạy Vì vậy giáo viên bộ môn hoá học cần hìnhthành ở các em một kỹ năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoahọc làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hànhđộng Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiêntrì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học
Nhằm thực hiện mục tiêu của ngành và cuộc vận động hai không với
bốn nội dung của Bộ giáo dục và đào tạo, bản thân tôi là một giáo viên đứnglớp giảng dạy bộ môn hóa học nhận thấy việc lĩnh hội kiến thức hoá học củahọc sinh là hết sức khó khăn Mặt khác, hóa học là một môn học hoàn toànmới đối với học sinh lớp 8, mà khối lượng kiến thức cần lĩnh hội tương đốinhiều Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó hiểu
Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập
bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, khônggượng ép là điều cần quan tâm Khi học sinh có hứng thú, niềm say mê sẽgiúp các em phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo
Để từ đó nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục nói chung là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình dạy họccủa giáo viên
Trong môn hóa học có rất nhiều nội dung kiến thức cần phải chiếmlĩnh Vì mới bắt đầu làm quen với môn hoá học, nên có không ít học sinh gặpkhó khăn khi học tập bộ môn này, nhất là khi tự mình lập nhanh và đúng cácphương trình hoá học - mặc dù được giáo viên hướng dẫn khá rõ khi học bài
“lập phương trình hóa học” Trong hóa học, phương trình hóa học là một nộidung kiến thức rất quan trọng, do đó việc lập đúng phương trình hóa học lại
Trang 4Với những lý do trên, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “ Phương
pháp hướng dẫn học sinh lập đúng phương trình hoá học” để giúp các em học
sinh tham khảo, học tập, tự rèn luyện cho mình những kinh nghiệm bổ íchtrong quá trình học tập bộ môn hoá học một cách tự tin và hứng thú
Tôi cho rằng, lập phương trình hoá học không phải là vấn đề mới đốivới học sinh trung học cơ sở, nhưng để lập đúng phương trình hoá học là việclàm không dễ đối với nhiều học sinh lớp 8-9 Vì khi dạy bài “lập phương trìnhhóa học” lớp 8 giáo viên không đủ thời gian để liệt kê các phương pháp cânbằng mà chỉ giới thiệu cách lập chung (theo sách giáo khoa) nên nhiều họcsinh chưa nắm được Với đề tài này tôi sẽ trình bày một số phương pháp lập(cân bằng) phương trình hóa học cụ thể, hệ thống mà trong sách giáo khoa vàcác sách tham khảo khác chưa đề cập đến hoặc chưa tổng hợp thành hệ thống.Đây là tính mới của đề tài, có thể áp dụng ở trường trung học cơ sở và giáoviên có thể thực hiện đề tài này qua các buổi dạy chuyên đề, bồi dưỡng họcsinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém qua các giờ củng cố, ôn tập, luyện tậpchính khóa
1 Cơ sở lý luận
Cùng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung, địnhhướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học cũng được coi trọng theo hướngquan tâm và tạo mọi điều kiện để học sinh trở thành chủ thể hoạt động sáng
Trang 5Đổi mới bước đầu đã đem lại kết quả cao về chất lượng bộ môn ở nhiềumặt Tuy nhiên kiến thức hóa học cấp THCS chỉ ở mức độ thấp: các kháiniệm, định luật được đưa vào chương trình phần nào mang tính chất khô cứngbuộc học sinh phải biết và vận dụng vào việc giải quyết bài tập và thực tiễn.Nội dung chương trình chưa dành nhiều thời gian đi sâu vào quá trình giảiquyết vấn đề một cách triệt để nên ở nhiều nội dung học tập học sinh thấychán nản, khó tập trung để tiếp thu và vận dụng kiến thức có hiệu quả đặc biệt
là đối tượng học sinh trung bình – yếu Vì vậy sau một quá trình dạy học hóahọc ở cấp Trung học cơ sở, tôi mạnh dạn trình bày “ Phương pháp hướng dẫnhọc sinh lập đúng phương trình hóa học” được áp dụng ở trường THCS ĐôngTảo qua từng năm học theo hướng đổi mới giới thiệu đến các đồng nghiệpdạy học hóa học và quý thầy cô cùng tham khảo
2 Cơ sở thực tiễn
Học sinh được học về phương tình hóa học từ chương 2 của chươngtrình hóa học lớp 8, chỉ với 2 tiết dạy – học trên lớp với mục tiêu đảm bảo nộidung kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập của học sinh nên thời gian luyện tập
ít, nhiều học sinh chưa nắm rõ, hiểu sâu về cách lập phương trình hóa học đặcbiệt là đối tượng học sinh trung bình - yếu Hơn nữa sách giáo khoa cũng chỉ
Trang 6Đông Tảo
đề cập được một phương pháp lập phương trình hóa học bằng cách chọn hệ sốthích hợp mà chưa có thời gian phân tích sâu, kĩ để học sinh hiểu được bảnchất của vấn đề Ngay cả học sinh khá - giỏi khi bước đầu tiếp cận với việccân bằng phương trình hóa cũng gặp khó khăn nhất định trong việc chọn hệ sốthích hợp, đặc biệt là đối tượng học sinh trung bình - yếu thì việc chọn hệ sốthích hợp là một thách thức khó khăn đối với các em Vì vậy, trong quá trìnhdạy về phương trình hóa học, ngoài việc dạy trên lớp theo đúng 3 bước lậpphương trình hóa học của chương trình sách giáo khoa hướng dẫn, tôi còn cốgắng đưa thêm một số phương pháp lập phương trình hóa học khác cho họcsinh tìm hiểu, vận dụng phù hợp trình độ, nhu cầu nhận thức của nhiều đốitượng học sinh Cụ thể là:
- Phương pháp chẵn – lẻ
- Phương pháp phân số
- Phương pháp bội chung nhỏ nhất
Tuy nhiên, đó chỉ là những phương pháp đơn giản để nhẩm và tìmđúng hệ số của những phương trình hóa học đơn giản áp dụng cho mọi đốitượng học sinh Còn đối với học sinh khá – giỏi để hướng các em học tập tốthơn, cân bằng được những phương trình hóa học phức tạp hơn trong chươngtrình và sách tham khảo, tôi hướng dẫn thêm cho các em phương pháp cân
bằng phương trình hóa học bằng phương pháp đại số Xuất phát từ thực tế
đó, tôi cố gắng tìm tòi và từng bước vận dụng các phương pháp hướng dẫnhọc sinh lập đúng phương trình hóa học một cách có hiệu quả, đảm bảo chocác em học sinh đáp ứng được ngày càng tốt hơn yêu cầu học tập bộ môn ởnhững nội dung tiếp theo qua bài viết: “ Phương pháp hướng dẫn học sinh lậpđúng phương trình hóa học”
3 Biện pháp tiến hành
3.1 Các biện pháp
- Tìm hiểu đối tượng học sinh và phân loại
Trang 7Đông Tảo
- Xây dựng một số phương pháp cân bằng đúng phương trình hóa học
- Tùy thuộc đối tượng học sinh đã phân loại để hướng dẫn các em nhữngthao tác tư duy và vận dụng phù hợp để cân bằng đúng phươg trình hóahọc
- Kiểm tra, đối chiếu kết quả trước và sau khi vận dụng phương phápnghiên cứu thông qua bảng thống kê kết quả và rút ra kết luận cần thiết
- Rút ra bài học kinh nghiệm, hướng nghiên cứu, những đề xuất, kiếnnghị
3.2 Thời gian tạo ra giải pháp
Sau một quá trình nghiên cứu và vận dụng có hiệu quả đề tài, năm học
2013 – 2014 tôi quyết định hoàn thiện bài viết: “ Phương pháp hướng dẫn họcsinh lập đúng phương trình hóa học” giới thiệu với các đồng chí, đồng nghiệptham khảo, đóng góp ý kiến để công tác giảng dạy bộ môn hóa học của tôingày càng đạt kết quả tốt hơn nữa
B NỘI DUNG
I NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở lý luận, cơ sở thực thực tiễn và các giải pháp đề ra, tôi xácđịnh đề tài có một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
1) Xác định một số nguyên nhân cơ bản khiến học sinh không lập đúngphương trình hóa học
2) Tìm ra những biện pháp tích cực giúp học sinh lập đúng các phươngtrình hóa học
- Căn cứ vào chương trình; chuẩn kiến thức, kĩ năng của bộ môn; sáchgiáo khoa giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm vững 3 bước lậpphương trình hóa học với những lưu ý cần thiết
Trang 8Đông Tảo
- Tìm hiểu và lựa chọn một số phương pháp cơ bản, cụ thể để hướng dẫnhọc sinh lập đúng phương trình hóa học thông qua một số ví dụ cụ thểkèm một số nguyên tắc, lưu ý, nhận xét để vận dụng tốt phương pháp đó.3) Nhận định về phạm vi và điều kiện áp dụng của đề tài
4) Kết quả nghiên cứu
5) Kết luận, bài học kinh nghiệm, đề xuất, kiến nghị
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
Trong nhiều năm công tác ở trường trung học cơ sở Đông Tảo, tôi đượcphân công giảng dạy bộ môn Hoá lớp 8 và lớp 9 thấy nhiều em học sinh khảnăng tiếp thu và vận dụng kiến thức còn chậm dẫn đến việc học tập bộ mônHoá của các em còn gặp nhiều khó khăn
Qua quan sát, trò chuyện và điều tra tình hình về việc tiếp thu kiến thứclập phương trình hoá học của học sinh ở trường trung học cơ sở Đông Tảo nóiriêng và các trường trung học cơ sở khác trong huyện Khoái Châu nói chungtôi thấy:
- Có rất nhiều học sinh hiểu cách lập phương trình hoá học một cách
mơ hồ
- Kỹ năng lập phương trình hoá học của nhiều học sinh còn yếu, các emchọn các hệ số không chính xác Đa số các em còn lúng túng không biết phảibắt đầu cân bằng từ nguyên tố hóa học nào trước nào trước, nguyên tố hóahọc nào sau
Cũng qua điều tra, trò chuyện với nhiều học sinh và các giáo viên đanggiảng dạy bộ môn Hoá học khác, tôi đã biết được một số nguyên nhân dẫnđến việc học sinh không cân bằng được phương trình hoá học là:
- Do học sinh không chú ý vào tiết học: Đa số những học sinh nàythuộc loại những học sinh học trung bình - yếu - kém Trong giờ học hoá họckhông thấy thích thú gì cả, vì vậy việc học môn hoá học đối với các em là quá
Trang 9Đông Tảo
khó, giáo viên hướng dẫn cách cân bằng nhanh quá, chưa dành nhiều thờigian luyện tập củng cố, các em không tiếp thu kịp hoặc tiếp thu chưa đầy đủkiến thức dẫn đến việc lập phương trình hóa học thiếu chính xác, từ đó thấychán nản không muốn học hoặc sợ học tập bộ môn
- Do học sinh thiếu điều kiện học tập: Đa số học sinh ở nông thôn cóđiều kiện gia đình khó khăn, các em phải phụ giúp gia đình, bố mẹ khôngquan tâm hoặc quan tâm không đúng mức đến việc học tập của con em nêncác em có ít thời gian học ở nhà thậm chí có những em còn không bao giờ học
ở nhà, khi đến lớp chưa có đủ cơ sở để lĩnh hội kiến thức mới, lúng túngkhông biết giải quyết vấn đề từ đâu, năng lực học tập giảm sút, sợ cán bộ lớp
và giáo viên kiểm tra bài tập về nhà thậm chí có những hành vi nói dối hoặcđối phó chứ chưa có ý thức học tập thật sự
- Do học sinh thấy mình không có năng lực: Đa số những em này thấyviệc cân bằng phương trình hoá học quá khó, khi cân bằng lại không chínhxác, điều này vẫn thường xuyên xảy ra làm cho các em chán nản, mất tự tincho rằng mình không có năng lực học bộ môn hoá, chưa có biện pháp học tậpđúng đắn nên hoài nghi về khả năng học tập của mình
- Do học sinh chưa quyết tâm: Việc học môn hóa học thời lượng 2tiết/tuần chủ yếu học lý thuyết, thời gian dành cho luyện tập và vận dụng kiếnthức kĩ năng để giải quyết bài tập và yêu cầu bộ môn ít Một số tiết luyện tập,
ôn tập, thực hành được sắp xếp ở cuối chương và trong chế độ điểm không cóphần chấm điểm vở bài tập nên đôi khi giáo viên sao nhãng việc giao bài tập
về nhà và kiểm tra việc làm bài tập ở nhà của học sinh Một số học sinh họctrên lớp nhưng về nhà không dành thời gian học và làm bài tập ngay dẫn đếnkiến thức nhận được trên lớp phần nào bị quên Khi có giờ bộ môn thì mangsách giải bài tập ra chép hoặc ỷ lại mượn vở bài tập của các bạn học khá giỏichép để chống đối với sự kiểm tra giám sát của cán bộ lớp và giáo viên bộmôn mà chưa tích cực suy nghĩ để tự giải quyết yêu cầu học tập
Trang 10Đông Tảo
Xuất phát từ những nguyên nhân nêu trên, để góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học bộ môn hoá học, trước hết phải có những biện pháp tích cựcgiúp cho học sinh lập đúng các phương trình hoá học Muốn vậy, trong quátrình giảng dạy giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh nắm vững ba bướclập phương trình hoá học, cụ thể:
- Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng, gồm công thức hóa học của cácchất phản ứng và sản phẩm Mũi tên trong sơ đồ phản ứng có dạng
- Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố: tìm hệ số thíchhợp đặt trước các công thức hóa học các chất sao cho số nguyên tử của mỗinguyên tố ở hai vế đều bằng nhau Đây là bước quan trọng nhất khi lậpphương trình hóa học
- Bước 3: Viết phương trình hoá học: thay mũi tên bằng mũi tên
Lưu ý học sinh: Hai điều cần ghi nhớ khi lập phương trình hoá học:
1) Viết sơ đồ phản ứng: Phải xác định đúng chất tham gia và sảnphẩm, không được viết thiếu công thức hóa học của các chất, không được viếtsai công thức hoá học, không tự ý sửa chỉ số trong công thức hóa học viếtđúng Để viết đúng công thức hoá học, phải nhớ hoá trị nguyên tố (hoặc nhómnguyên tử) và áp dụng quy tắc hóa trị một cách thành thạo để nhẩm nhanh lậpđược đúng công thức hóa học của chất tham gia và sản phẩm
2) Trong quá trình cân bằng không được thay đổi (không thêm, khôngbớt) các chỉ số nguyên tử trong các công thức hoá học
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh rất lúng túng ở bước 2 khi đitìm hệ số thích hợp đặt trước các công thức ngay cả những học sinh khá giỏiđôi khi cũng nhầm lẫn và lập sai phương trình hóa học, do đó việc cân bằnghoá học là một nội dung khó đối với học sinh
Trang 11Đông Tảo
Nhằm giúp cho các em học sinh nắm vững những thao tác và phươngpháp lập đúng các phương trình hoá học phù hợp với trình độ nhận thức củahọc sinh trung học cơ sở, để các em học tốt hơn môn Hoá học, qua kinhnghiệm thực tế giảng dạy tôi đã tìm hiểu và lựa chọn một số phương pháp cơbản, cụ thể như sau:
Phương pháp thứ nhất: Lập phương trình hoá học bằng phương pháp
chẵn - lẻ
Nguyên tắc chung: Để lập phương trình hoá học theo phương pháp này
ta cần thực hiện theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Viết sơ đồ phản ứng
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố
- Nên bắt đầu từ những nguyên tố hóa học mà số nguyên tử có nhiều vàkhông bằng nhau ở hai vế
- Trường hợp số nguyên tử của một nguyên tố ở vế này là số chẵn và ở
vế kia là số lẻ thì trước hết phải đặt hệ số 2 cho chất mà số nguyên tử là số lẻ,rồi tiếp tục đặt hệ số cho phân tử chứa số nguyên tử chẵn ở vế còn lại sao cho
số nguyên tử của nguyên tố này ở hai vế bằng nhau
Bước 3: Viết phương trình hoá học
Ví dụ 1: Lập phương trình hoá học của phản ứng có sơ đồ sau:
P + O2 P2O5Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng: P + O2 P2O5
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố:
- Cả P và O đều có số nguyên tử không bằng nhau
- Bắt đầu từ nguyên tố O có nhiều nguyên tử hơn Trước hết phải làmchẵn số nguyên tử O tức là đặt hệ số 2 trước công thức P2O5
P + O2 2P2O5
to
to
to
Trang 12Đông Tảo
- Tiếp đó đặt hệ số 5 trước O2 và 4 trước P Như vậy cả hai bên đều có10O và 4P
4P + 5O2 2P2O5Bước 3: Viết phương trình hoá học:
4P + 5O2 2P2O5
Ví dụ 2: Cân bằng phương trình hoá học sau.
Al + CuCl2 -> AlCl3 + Cu Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng:
Al + CuCl2 -> AlCl3 + Cu
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố
Ta thấy số nguyên tử Cl trong công thức CuCl2 là chẵn còn trong AlCl3
lẻ
Ta làm chẵn số nguyên tử Cl trước bằng cách thêm 2 trước công thứcAlCl3
Al + CuCl2 -> 2AlCl3 + CuTiếp theo thêm 3 vào trước CuCl2
Al + 3CuCl2 -> 2AlCl3 + CuCuối cùng ta cân bằng Cu và Al bằng cách thêm 2 trước Al, thêm 3trước Cu ta được phương trình hoá học:
2Al + 3CuCl2 → 2AlCl3 + 3CuLưu ý: Trong trường hợp phân tử có nhóm nguyên tử và sau phản ứng(trong sản phẩm) nhóm nguyên tử không bị biến đổi thì ta coi cả nhómnguyên tử tương đương với một nguyên tố để cân bằng cho nhanh
Ví dụ 3: Lập phương trình hoá học của phản ứng có sơ đồ sau:
Al + H2SO4 Al2(SO4)3 + H2Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng
Al + H2SO4 Al2(SO4)3 + H2
to
to
Trang 13Đông Tảo
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố:
- Nhóm SO4 tương đương như một nguyên tố.
- Vậy nhóm SO4 có nhiều nhất và lại không bằng nhau ở hai vế, nên tacân bằng trước, bắt đầu từ nhóm SO4
- Đặt hệ số 3 trước phân tử H2SO4 để làm cho số nguyên tử của nhómSO4 ở hai vế bằng nhau
Al + 3H2SO4 Al2(SO4)3 + H2
- Đặt hệ số 3 trước H2 và 2 trước Al Kiểm tra lại số nguyên tử ở haibên đã bằng nhau
2Al + 3H2SO4 Al2(SO4)3 + 3H2
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
2Al + 3H2SO4 → Al2(SO4)3 + 3H2
Nhận xét:
- Vận dụng phương pháp này học sinh dễ dàng lập nhanh và đúng với
đa số các phương trình hoá học Do đó có thể áp dụng cho nhiều đối tượnghọc sinh
- Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng đối với những phươngtrình phức tạp
Phương pháp thứ hai: Lập phương trình hoá học bằng phương pháp
phân số
Nguyên tắc chung: Để lập phương trình hoá học theo phương pháp này
ta cần thực hiện theo ba bước sau:
Bước 1: Chọn các hệ số là số nguyên hay phân số đặt trước các côngthức hoá học sao cho số nguyên tử của các nguyên tố ở hai vế bằng nhau
Bước 2: Quy đồng mẫu số rồi khử mẫu
Trang 14Đông Tảo
Bước 3: Viết phương trình hoá học
Ví dụ 1: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
P + O2 P2O5 Bước 1: Chọn các hệ số
- Ta thấy ở vế phải có 2 nguyên tử P và 5 nguyên tử O, còn ở vế trái có 1nguyên tử P và 2 nguyên tử O
Mẫu số chung là 2, sau đó khử mẫu ta được (nhân tất cả các hệ số với 2):
4P + 5O2 2P2O5Bước 3: Viết phương trình hoá học
4P + 5O2 2P2O5
Ví dụ 2: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
Al2O3 Al + O2Bước 1: Chọn các hệ số
- Ở phương trình này ta thấy ở vế phải có 1 nguyên tử Al và 2 nguyên
tử O, còn ở vế trái có 2 nguyên tử Al và 3 nguyên tử O
Trang 15Đông Tảo
Bước 2: Quy đồng số rồi khử mẫu
Mẫu số chung là 2 sau đó khử mẫu, ta được (nhân tất cả các hệ số với 2):
2Al2O3 4Al + 3O2Bước 3: Viết phương trình hoá học
2Al2O3 4Al + 3O2
Ví dụ 3: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
KClO3 KCl + O2 Bước 1: Chọn các hệ số
- Trong phương trình này vế trái có 3 nguyên tử O, vế phải có 2 nguyên
Mẫu số chung là 2, sau đó khử mẫu ta được (nhân tất cả các hệ số với 2):
2KClO3 2KCl + 3O2Bước 3: Viết phương trình hoá học
t o
t o
t o
to
Trang 16Đông Tảo
Phương pháp thứ ba: Lập phương trình hoá học bằng phương pháp
dùng bội số chung nhỏ nhất
Nguyên tắc chung: Để lập phương trình hoá học theo phương pháp
này ta cần thực hiện theo ba bước sau:
Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
có trong công thức hoá học ở 2 vế của phương trình hóa học
Bước 2: Lấy bội số chung nhỏ nhất lần lượt chia các chỉ số từngnguyên tố trong mỗi công thức hoá học để được các hệ số Sau đó cân bằngcác nguyên tố còn lại
Bước 3: Viết phương trình hoá học
Lưu ý: Thường bắt đầu từ nguyên tố nào có số nguyên tử nhiều vàkhông bằng nhau ở 2 vế phương trình
Ví dụ 1: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
Fe + O2 Fe2O3Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
- Nguyên tố O có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế
- Ta chọn nguyên tố oxi để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất củahai chỉ số 2 và 3 là 6
Bước 2: Lấy bội số chung nhỏ nhất lần lượt chia các chỉ số từngnguyên tố
- Ta lấy 6 : 3 = 2 => đặt hệ số 2 trước công thức Fe2O3
- Ta lấy 6 : 2 = 3 => đặt hệ số 3 trước công thức O2 ta được:
Trang 17Đông Tảo
4Fe + 3O2 2Fe2O3
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
4Fe + 3O2 2Fe2O3
Ví dụ 2: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
Al + Cl2 AlCl3 Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
- Nguyên tố Cl có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế
- Ta chọn nguyên tố Cl để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất củahai chỉ số 2 và 3 là 6
Bước 2: Lấy bội số chung nhỏ nhất lần lượt chia các chỉ số từngnguyên tố
- Ta lấy 6 : 3 = 2 => đặt hệ số 2 trước công thức AlCl3
- Ta lấy 6 : 2 = 3 => đặt hệ số 3 trước công thức Cl2 ta được:
- Nguyên tố O có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế
- Ta chọn nguyên tố oxi để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất củahai chỉ số 3 và 2 là 6