1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm và chính sách của hàn quốc về vấn đề liên kết đông á

12 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 441,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... nht quan h i ngoi ca Hn Quc thi k ny l mc dự ó th hin s quan tõm n s hp tỏc khu vc nhng mi quan h u tiờn nht v b chi phi nhiu nht ca Chớnh ph Hn Quc l quan h vi M Tuy nhiờn, Hn Quc ó cú nhng quan. .. khn Bờn cnh ú, xu hng quan h quc t chớnh khu vc ch dng li cỏc quan h song phng Tuy vy, cỏc quan h song phng ny mng v yu, cha sc tr thnh nn tng cho s phỏt trin ca cỏc quan h a phng khu vc Cỏc... Chung Hee y mnh hn s quan tõm i vi vic hỡnh thnh hp tỏc khu vc vỡ mc ớch an ninh Nm 1965, Hn Quc thit lp quan h ngoi giao vi Nht Bn Mc dự cha t n quan h ng minh thc cht nhng quan h song phng ó

Trang 1

Quan điểm và chính sách của chính phủ hàn quốc

Về vấn đề liên kết đông á

Lê thị thu giang*

Túm tắt: Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, cựng với toàn cầu húa, khu vực húa cũng là

hướng vận động chung của thế giới và trở thành một xu thế khỏch quan Ở khu vực Chõu Á - Thỏi Bỡnh Dương, ý tưởng về liờn kết khu vực Đụng Á đó được đưa ra từ sớm và cho đến nay

đó cú những chuyển biến nhất định Đối với Hàn Quốc núi riờng và cỏc nước trong khu vực núi chung, liờn kết Đụng Á vẫn cũn đang là một tiến trỡnh cú nhiều thỏch thức Thụng qua việc phõn tớch những thay đổi trong chớnh sỏch của Hàn Quốc đối với liờn kết khu vực, bài viết tập trung làm sỏng tỏ quan điểm cũng như vai trũ, vị trớ hiện tại của Hàn Quốc trong tiến trỡnh liờn kết khu vực Đụng Á

Từ khúa: Hàn Quốc, Liờn kết Đụng Á, ASEAN + 3

ột về phạm vi địa lý, khỏi niệm Đụng

Á được coi là sự hợp thành bởi hai

khu vực: Đụng Bắc Á và Đụng Nam Á với

18 nền kinh tế (trong đú, 7 nền kinh tế thuộc

Đụng Bắc Á và 11 nền kinh tế thuộc Đụng

Nam Á) Với phạm vi này, đõy đang là khu

vực được đỏnh giỏ là cú sự phỏt triển kinh tế

năng động nhất thế giới, đúng gúp 40% vào

tốc độ tăng trưởng toàn cầu với mức tăng

trưởng kinh tế năm 2012 đạt 7,5% và được

dự bỏo sẽ đạt 7,8% trong năm 2013 và

khoảng 7,6% vào*năm 20141

Trờn quan điểm coi liờn kết Đụng Á là

mục tiờu lõu dài của ASEAN + 3 và ASEAN

+ 3 là kờnh chớnh thỳc đẩy hợp tỏc Đụng Á

và tiến tới xõy dựng cộng đồng Đụng Á2, bài

* ThS, Khoa Đụng phương học, Trường Đại học Khoa học

xó hội và nhõn văn Hà Nội

1 Số liệu của Ngõn hàng thế giới (WB), Bỏo cỏo tổng

quan về tỡnh hỡnh Đụng Á và Thỏi Bỡnh Dương năm 2012,

http://www.worldbank.org/en/news/feature/2013/04/15/ea

st-asia-pacific-economic-update-april-2013-a-fine-balance,

tải ngày 4 8 2013

2 Hoàng Khắc Nam, Hợp tỏc đa phương ASEAN + 3 –

Vấn đề và triển vọng, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chớ

Minh, 2008, tr 81

viết chủ yếu tập trung phõn tớch chớnh sỏch của Chớnh phủ Hàn Quốc đối với khuụn khổ hợp tỏc đa phương ASEAN + 3 đang đúng vai trũ là thể chế hợp tỏc đa phương chớnh hiện nay trong khu vực Cụ thể, bài viết tập trung phõn tớch cỏc chớnh sỏch của Chớnh phủ Hàn Quốc trong quan hệ với hai nước thuộc nhúm cộng 3 là Nhật Bản, Trung Quốc

và với khối ASEAN trong động hướng xõy dựng một cộng đồng Đụng Á trong tương lai

Từ đú, làm rừ quan điểm và vị trớ của Hàn Quốc đối với vấn đề liờn kết Đụng Á

1 Thực trạng liờn kết Đụng Á

Cú thể núi, nhu cầu hỡnh thành khu vực hợp tỏc đa phương Đụng Á nổi lờn và trở thành xu thế mạnh mẽ từ sau cuộc khủng hoảng tài chớnh Chõu Á 1997 Nhưng trờn thực tế, những đề xuất liờn quan đến vấn đề này đó được đưa ra từ rất sớm3 Trong đú, cú

3 Tham khảo Hoàng Khắc Nam, Hợp tỏc đa phương

ASEAN + 3 – Vấn đề và triển vọng, Nxb Đại học Quốc gia

TP Hồ Chớ Minh, 2008

X

Trang 2

những đề xuất chỉ dừng lại ở mức độ ý

tưởng nhưng cũng có nhiều ý tưởng đã được

hiện thực hóa thành các tổ chức cụ thể Tuy

nhiên, nhìn vào hoạt động của các tổ chức

này có thể thấy hầu hết đều không có hiệu

quả Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng

ngay từ sớm, nhu cầu hợp tác ở khu vực này

đã xuất hiện

Đối với thể chế liên kết Đông Á hiện nay,

ý tưởng đầu tiên về việc thiết lập một cơ chế

hợp tác giữa các nước Đông Á nhằm hình

thành nên một tổ chức riêng của khu vực

được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1990 bởi ý

kiến của Thủ tướng Mahathia Mohamad của

Malaysia Nội dung cụ thể của ý tưởng này

là hình thành Nhóm kinh tế Đông Á (EAEG)

bao gồm 6 thành viên trong khu vực là

ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,

Hồng Kông, Đài Loan và Việt Nam Mặc dù

được nhiều nước Đông Á ủng hộ nhưng ý

tưởng này đã không thực hiện được do sự

phản đối của Mỹ khi lo ngại tổ chức này sẽ

làm giảm vai trò của Mỹ và Diễn đàn Hợp

tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

(APEC) trong khu vực Mặc dù có những cố

gắng từ các nước trong khu vực để hiện thưc

hóa ý tưởng này dưới nhiều hình thức và cơ

chế khác nhau nhưng không đạt hiệu quả

thực tế

Năm 1997, với cuộc khủng hoảng tài

chính Châu Á, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa

các nền kinh tế trong khu vực cộng với nhu

cầu khôi phục kinh tế, ngăn chặn khủng

hoảng khiến cho các nước Đông Á nhận

thức rõ hơn về việc cần thiết phải có một tổ

chức liên kết khu vực vì lợi ích của chính

mình Tháng 12.1997, với việc mời thêm Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc tham dự vào cuộc họp thượng đỉnh không chính thức nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập tổ chức ASEAN, một mô hình hợp tác khu vực của riêng Đông Á đã được chính thức hình thành dưới hình thức thể chế ASEAN + 3 Tháng 12.1998, trong hội nghị thượng đỉnh chính thức ASEAN +3 được tổ chức tại Hà Nội, Nhóm tầm nhìn Đông Á (EAVG) được thành lập Năm 1999, tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 3 được tổ chức tại Manila, Tuyên bố chung về hợp tác Đông Á đã được thông qua Tháng 11.2000, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3 lần thứ tư họp tại Singapore, Nhóm nghiên cứu Đông Á (EASG) được thành lập với nhiệm vụ đánh giá các khuyến nghị trong báo cáo của EAVG và đề xuất các biện pháp khả thi cụ thể để triển khai hợp tác Đông Á Sau 2 năm hoạt động, tháng 11.2000, EAVG đã trình lên Hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3 lần thứ 4 tại Singapore báo cáo “Hướng tới một cộng đồng Đông Á: Khu vực thịnh vượng, hòa bình và tiến bộ” Trong đó, mục tiêu cuối cùng được xác định là xây dựng cộng đồng Đông Á hòa bình, thịnh vượng và tiến

bộ Từ năm 2002, sau một số sửa đổi, các đề xuất này đã trở thành chương trình nghị sự của hợp tác Đông Á

Ngày 13.12.2005, hội nghị thượng đỉnh Đông Á lần thứ nhất được tổ chức tại Malaysia với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand và Ấn Độ Hội nghị đã thống nhất coi cộng đồng Đông Á là diễn đàn đối

Trang 3

thoại rộng rãi về các vấn đề kinh tế, chính trị

và những lợi ích chung với mục tiêu thúc

đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu

vực Đông Á Đồng thời, hội nghị cũng xác

định các nước ASEAN là đối tác chính tham

gia đối thoại với các nước khác trong cộng

đồng Đông Á4 Ngày 15.1.2007, Hội nghị

thượng đỉnh Đông Á lần thứ 2 được tổ chức

tại Cebu (Phillipin) Trong hội nghị này,

lãnh đạo các nước đã đề xuất nghiên cứu

“Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á

(CEPEA)” và khẳng định lại vai trò của

ASEAN đối với quá trình liên kết khu vực

Xét trên khía cạnh liên kết hợp tác, sự tiến

triển của ASEAN + 3 được đánh giá là chậm

và không đều đặn do các quốc gia trong khu

vực đều có những mục tiêu khác nhau để

theo đuổi Nhưng không thể phủ nhận hợp

tác Đông Á trên thực tế đã đạt được những

kết quả nhất định Trên lĩnh vực an ninh –

chính trị, các hợp tác chủ yếu được thực hiện

trong lĩnh vực an ninh xã hội và bảo vệ môi

trường, bao gồm hợp tác chống khủng bố,

chống dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS),

chống buôn bán ma túy và chống dịch cúm

gia cầm Sau sự kiện 11.9.2001, vấn đề

chống khủng bố, trao đổi tin tức, an ninh

máy tính được đưa ra thảo luận và thống

nhất Các mặt khác như chống buôn lậu,

chống các loại hình tội phạm như buôn lậu

vũ khí, tội phạm kinh tế, chủ nghĩa khủng bố,

di dân bất hợp pháp cũng được các nước

4 Ngô Xuân Bình (chủ biên), Quan hệ Việt Nam – Hàn

Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, Nxb Từ điển bách khoa,

2012, tr 53

quan tâm và hợp tác thực hiện Hiện nay, các nước ASEAN cùng với Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc cũng đang có sự kết hợp chặt chẽ trong việc kiểm soát và ngăn chặm dịch cúm gia cầm, bàn bạc đưa ra các biện pháp

để đối phó với thiên tai như hạn hán, bão lụt, động đất, sóng thần Các nước đã lập mạng lưới thông tin chung để kiểm tra môi trường

và dự báo thiên tai khu vực5 Trên lĩnh vực kinh tế, ngoài việc có sự tập trung của nhiều nền kinh tế hàng đầu, đây cũng là khu vực liên tục được dự đoán là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Sự gia tăng mậu dịch nội khối và sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế ASEAN đang góp phần tạo ra thị trường xuất khẩu cho các nước trong khu vực và làm giảm sự phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Mỹ và EU Tỷ lệ tổng mậu dịch nội khối trong tổng mậu dịch của Đông Á tăng

từ 38% năm 1985 lên 50% năm 1997 và xấp

xỉ 65% năm 20046 Việc ký kết FTA giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc với ASEAN cũng như các FTA song phương cho thấy xu thế tăng cường hợp tác song phương và đa phương trong khu vực đang được đẩy mạnh và những điều kiện cho việc phát triển khu vực mậu dịch tự do toàn Đông

Á đang từng bước được hình thành

Tuy nhiên, bên cạnh không nhiều những thuận lợi nói trên, liên kết Đông Á cũng phải

5 Nguyễn Thị Nhung, “Hợp tác Đông Á: Thành tựu và vấn

đề”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3, 2007

6 Ngô Xuân Bình (chủ biên), Quan hệ Việt Nam – Hàn

Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, Nxb Từ điển bách khoa,

2012, tr 56

Trang 4

đối mặt với nhiều vấn đề cần phải giải quyết

Đây là khu vực mang trong mình nhiều mâu

thuẫn và xung đột nội tại có thể phá vỡ cơ

chế hợp tác vẫn đang còn mỏng manh này

Những mâu thuẫn do sự đa dạng về văn hóa,

tôn giáo, ngôn ngữ, chính trị sự chênh lệch

về phát triển kinh tế, những mâu thuẫn lịch

sử, các vấn đề hiện tại như vấn đề hạt nhân

trên bán đảo Triều Tiên tồn tại chồng chéo

không chỉ trong bản thân nội bộ ASEAN hay

nội bộ khối cộng 3 mà cả giữa các nước

ASEAN với khối cộng 3 nên sự phức tạp của

nó là rất lớn Việc tồn tại không chỉ một loại

mâu thuẫn cộng thêm tính đa phương trong

mỗi mâu thuẫn làm cho việc giải quyết

những vấn đề này càng trở nên khó khăn

Bên cạnh đó, xu hướng quan hệ quốc tế

chính trong khu vực vẫn chỉ dừng lại ở các

quan hệ song phương Tuy vậy, các quan hệ

song phương này vẫn mỏng và yếu, chưa đủ

sức trở thành nền tảng cho sự phát triển của

các quan hệ đa phương trong khu vực Các

thể chế khu vực khác như ASEM, APEC,

ASEAN + 3 vẫn còn lỏng lẻo và tính ràng

buộc không cao; bản thân các nước trong

khu vực cũng đang có sự cạnh tranh khốc

liệt, dễ tạo nên những căng thẳng, chia rẽ

cản trở tiến trình hợp tác khu vực đây cũng

là những trở ngại đối với tiến trình liên kết

khu vực

Như vậy, có thể thấy, bắt đầu từ năm

1990, vấn đề liên kết Đông Á đã được các

nước trong khu vực nhận thức rõ, nhu cầu

hình thành một tổ chức hợp tác cho riêng

Đông Á đã được định hình Mặc dù vậy, ý

tưởng hình thành một cộng đồng Đông Á

ban đầu không nhận được sự ủng hộ của các nước lớn và bản thân các nước trong khu vực Tuy nhiên, do nhu cầu hợp tác để ngăn chặn khủng hoảng và khôi phục kinh tế, liên kết khu vực Đông Á trở thành xu thế tất yếu

và ASEAN + 3 hình thành đã trở thành một bước đệm cho quá trình hướng tới một cộng đồng Đông Á trong tương lai Cho tới thời điểm hiện nay, có thể nói liên kết Đông Á chủ yếu vẫn chỉ hoạt động theo mô thức ASEAN + 3 và mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều khó khăn và trở ngại đòi hỏi sự hợp tác và nỗ lực hơn nữa của các quốc gia trong khu vực

2 Chính sách của Hàn Quốc đối với vấn đề liên kết Đông Á

2.1 Thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Đặc điểm lớn nhất trong quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc thời kỳ này là mặc dù

đã thể hiện sự quan tâm đến sự hợp tác trong khu vực nhưng mối quan hệ ưu tiên nhất và

bị chi phối nhiều nhất của Chính phủ Hàn Quốc là quan hệ với Mỹ Tuy nhiên, Hàn Quốc đã có những quan tâm đến vấn đề đối ngoại hợp tác khu vực

Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), trong bối cảnh quan hệ giữa Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên vẫn còn rất căng thẳng cộng với sự đối đầu của cục diện Chiến tranh Lạnh, Hàn Quốc đã thể hiện sự nhanh nhạy trong việc nắm bắt động hướng của nhu cầu hợp tác trong khu vực Bằng việc ủng hộ đề xuất thành lập đồng minh Thái Bình Dương của Philippin tháng 3.1949, chính quyền Rhee Seung Man có ý

Trang 5

tìm kiếm một đồng minh quân sự trong khu

vực, mong chờ sự chủ đạo hoặc ít nhất là

tham gia một cách tích cực của Mỹ, đồng

thời gạt bỏ vai trò của Nhật Bản đối với tổ

chức đồng minh khu vực này Nhưng kế

hoạch này không được Mỹ ủng hộ và cuối

cùng đã xoay chuyển theo mong muốn của

Mỹ là Hàn Quốc cải thiện quan hệ với Nhật

Bản7 trở thành một mắt xích quan trọng

trong hệ thống an ninh của Mỹ ở khu vực

Đông Á Như vậy, việc hình thành đồng

minh Châu Á – Thái Bình Dương không có

sự ủng hộ của Mỹ trở thành một kế hoạch

không khả thi Cơ hội cho một sự hợp tác

khu vực cũng mất đi

Trong những năm 1960, cùng với sự gia

tăng của Chiến tranh Lạnh, chính quyền tổng

thống Park Chung Hee đẩy mạnh hơn sự

quan tâm đối với việc hình thành hợp tác

khu vực vì mục đích an ninh Năm 1965,

Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với

Nhật Bản Mặc dù chưa đạt đến quan hệ

đồng minh thực chất nhưng quan hệ song

phương đã có nhiều tiến triển, đặc biệt trên

lĩnh vực kinh tế Trong giai đoạn 1965-1977,

tổng số vốn hợp tác của Nhật Bản và Hàn

Quốc đạt 3,68 tỷ USD, 80% linh kiện và

nguyên vật liệu của các ngành công nghiệp

của Hàn Quốc được nhập từ Nhật Bản8 Bên

cạnh đó, bằng việc tổ chức hội nghị bộ

7 최영종,韓國政治外交史論叢촉 (한국정치외교사론

32집 2호, tr 202-203

8 Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Hàn Quốc với khu vực

Đông Á sau Chiến tranh Lạnh và quan hệ Việt Nam – Hàn

Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr 72

trưởng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ nhất (ASPAC) năm 1967, Hàn Quốc cũng hy vọng hình thành một cơ chế an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong

đó Hàn Quốc đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên, với việc gửi quân tham chiến ở Việt Nam, Hàn Quốc có được sự ủng hộ của chính quyền Mỹ song lại không tìm được sự ủng hộ từ nhóm nước Đông Nam Á chiếm

đa số trong khu vực

Sang những năm 1970, với chiến lược đối ngoại tự chủ và độc lập hơn, Chính phủ Hàn Quốc đã tích cực phát triển quan hệ với khu vực Đông Á nhằm đa nguyên hóa quan hệ ngoại giao Năm 1973, Tổng thống Park Chung Hee đã đưa ra Tuyên bố đặc biệt về chính sách thống nhất hòa bình thừa nhận sự cùng tồn tại của hai chính thể khác nhau trên Bán đảo Triều Tiên và tuyên bố thực thi chính sách mở cửa đối với tất cả các nước kể

cả những nước có ý thức hệ và thể chế chính trị khác với mình9 Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng mục đích chính của tuyên bố này là nhằm kiềm chế các nước Châu Phi thiếp lập quan hệ ngoại giao với CHDCND Triều Tiên10

Cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hàn Quốc theo đuổi chính sách ngoại giao rộng mở và tích cực đối với khu vực Đông Á Hàn Quốc trong giai đoạn này đã thực hiện tốt việc tăng cường giao lưu, hợp tác với Nhật Bản

và nỗ lực cải thiện với các nước xã hội chủ nghĩa trong khu vực Xét trên phương diện

9 Nguyễn Hoàng Giáp, Tlđd, tr 19

10

Ngô Xuân Bình, Tlđd, tr 63

Trang 6

quan hệ song phương với Nhật Bản, dưới

thời Tổng thống Rho Tae Woo, quan hệ này

có phần bị xem nhẹ so với chính sách “ngoại

giao phương Bắc” có nội dung tập trung cải

thiện quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô

Sang thời Tổng thống Rho Tae Woo, với

việc Chiến tranh Lạnh kết thúc, chính sách

với Nhật Bản được điều chỉnh tích cực

nhưng tâm lý chống Nhật trong người dân

Hàn Quốc vẫn lên cao do các bất đồng lịch

sử Năm 1993, chính quyền Kim Young Sam

chủ động tách rời vấn đề lịch sử với vấn đề

kinh tế, xây dựng quan hệ đối tác hướng tới

tương lai với Nhật Bản Trong giai đoạn này,

Nhật Bản đã trở thành đối tác thương mại

lớn thứ hai của Hàn Quốc và là nước chuyển

nhượng kỹ thuật lớn nhất cho Hàn Quốc11

Đồng thời, Hàn Quốc cũng đẩy mạnh quan

hệ hợp tác song phương với Trung Quốc

nhằm lợi dụng sự ủng hộ của Trung Quốc

đối với việc gia nhập Liên Hợp Quốc của

Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên Quan

hệ với Nhật Bản và Trung Quốc trong thời

kỳ này là một trong những yếu tố trong

chiến lược “ngoại giao tứ cường” của chính

quyền Kim Young Sam

Mặc dù vẫn chú trọng đến các mối quan

hệ song phương và chưa tham gia vào tổ

chức khu vực nào nhưng việc tham gia các

sự kiện như hội nghị hòa bình Đông Bắc Á

năm 1988, việc xây dựng kênh đối thoại

giữa các bộ ngành của Hàn Quốc với các

nước Đông Nam Á năm 1989 và phát triển

11 Nguyễn Hoàng Giáp, Tlđd, tr.76

thành ủy ban đặc biệt Hàn Quốc – ASEAN (SCF) vào năm 1990, sự nhiệt tình của chính quyền tổng thống Kim Young Sam đối với APEC là những dấu hiệu rõ nét thể hiện Chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề hợp tác khu vực

2.2 Thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh

Sau Chiến tranh Lạnh, với sự biến đổi của tình hình thế giới và khu vực theo hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các nước tập trung vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân hơn là chạy đua quân sự, Chính phủ Hàn Quốc đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách đối với khu vực Đông Á Ngoại giao hợp tác khu vực Đông Á của Hàn Quốc về cơ bản được bắt đầu dưới thời chính quyền Tổng thống Kim Dae Jung Chính quyền Tổng thống Kim Dae Jung được đánh giá là thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự hình thành liên kết Đông Á Điều này được xem là có xuất phát từ hai nguyên nhân: (1) từ sự nhận thức về tầm quan trọng của hợp tác khu vực Đông Á trong thời kỳ Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tài chính và quá trình khắc phục khủng hoảng; (2) tổng thống Kim Dae Jung - người thuộc phe thiểu

số trong chính phủ - muốn tìm kiếm sự ủng

hộ từ bên ngoài cho chính sách Ánh Dương

mà ông xây dựng Với động cơ này, Hàn Quốc đã đóng góp lớn trong việc hoạch định

cơ chế hợp tác khu vực Đông Á nói chung

và ASEAN + 3 nói riêng, mở đường cho những hợp tác đa phương trong khu vực Cụ thể là Hàn Quốc đã đề xuất hình thành nhóm Tầm nhìn Đông Á (EAVG) mà sau này được

cụ thể hóa bằng kế hoạch “thúc đẩy hình

Trang 7

thành thể chế đối thoại an ninh đa phương

Đông Bắc Á để tăng cường ngoại giao hậu

Chiến tranh Lạnh và tăng cường ý thức cộng

đồng Đông Á bao gồm ASEAN và 3 quốc

gia Trung, Nhật, Hàn”12 và được hiện thực

hóa bằng việc đề nghị thành lập Nhóm

nghiên cứu Đông Á (EASG)

Song song với chính sách Ánh Dương đối

với CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc tích

cực phát triển quan hệ hợp tác với Nhật Bản

và Trung Quốc trong khuôn khổ chiến lược

“ngoại giao hài hòa tứ cường” được kế thừa

và phát triển từ chiến lược “ngoại giao tứ

cường” của Tổng thống Kim Young Sam

Trong thời kỳ này, với lập trường xây dựng

quan hệ đối tác kiểu mới hướng tới thế kỷ

XXI với Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc

được đánh giá là có chính sách ngoại giao

linh hoạt, tích cực và hiệu quả, giúp cho

quan hệ hai nước có những bước phát triển

lành mạnh Kế thừa chính sách đối ngoại đó,

chính quyền Rho Mu Hyeon đã chủ động

phát triển quan hệ với Nhật Bản đồng thời né

tránh các bất đồng song phương trong vấn đề

lịch sử Hai bên đã nhất trí đàm phán ký kết

hiệp định thương mại tự do (năm 2000) và

muốn hợp tác tăng cường vai trò, vị thế của

mình ở khu vực Đông Á Tuy nhiên, do bất

đồng về việc chính quyền địa phương ở Nhật

Bản thông qua điều lệ “Ngày đảo

Takeshima” năm 2005, quan hệ Hàn Quốc –

Nhật Bản lại đối mặt với những căng thẳng

12 최영종,韓國政治外交史論叢촉 (한국정치외교사론

32집 2호, tr 202-203

mới

Đối với Trung Quốc, năm 1998, dưới thời tổng thống Kim Young Sam, mối quan hệ này được nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Đến thời tổng thống Rho Mu Hyeon, với chiến lược phát triển từng bước

từ quốc gia trung tâm của Đông Bắc Á trở thành trung tâm kinh tế Đông Bắc Á và tiến tới hình thành thời đại Đông Bắc Á, năm

2003, hai nước nâng cấp quan hệ lên thành quan hệ đối tác hợp tác toàn diện13 Sự nâng cấp trong quan hệ này đã tạo nên những phản ứng tốt trong quan hệ kinh tế giữa hai nước Kim ngạch thương mại hai chiều tăng

từ 5 tỷ USD năm 1992 lên hơn 130 tỷ USD năm 2006 Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc và là nước nhận đầu tư lớn nhất của Hàn Quốc với

sự tăng trưởng nhanh chóng từ 206 triệu USD năm 1992 lên 35 tỷ USD năm 200614 Trung Quốc cũng trở thành nhân tố quan trọng trong quá trình giải quyết vấn đề phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên và trong quan hệ liên Triều Hai nước cũng ký kết tuyên bố về việc tăng cường hợp tác trong vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên15

13 Quan hệ ngoại giao chính thức Hàn Quốc – Trung Quốc được thiết lập tháng 8.1992, là kết quả của chính sách

“ngoại giao phương Bắc” với mục tiêu bình thường hóa quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô dưới thời tổng thống Rho Tae Woo Mặc dù đã có quan hệ trên một số lĩnh vực nhưng quan hệ chính thức giữa hai nước vẫn chưa được thiết lập cho đến năm 1992 Sau năm 1992, quan hệ giữa hai nước có những bước phát triển đột biến

14 Nguyễn Hoàng Giáp, Tlđd, tr 61-62

15

Nguyễn Hoàng Giáp, Tlđd, tr.60

Trang 8

Phát triển từ chính sách Ánh Dương của

Tổng thống Kim Dae Jung, ý tưởng xây

dựng một thể chế hòa bình cho toàn bộ Đông

Bắc Á mà Hàn Quốc đóng vai trò chủ đạo

của chính quyền Tổng thống Rho Mu Hyeon

được coi là bước chuyển sang chính sách

ngoại giao trung gian khu vực Đông Bắc Á

Với kế hoạch này, Tổng thống Rho Mu

Hyeon muốn xây dựng một trật tự mới của

sự hợp tác và hòa bình cho khu vực Đông

Bắc Á, làm giảm ảnh hưởng của Mỹ trên

Bán đảo Triều Tiên và tăng cường tự chủ

dân tộc trong vấn đề quan hệ với CHDCND

Triều Tiên Ý tưởng này đã nhận được sự

đánh giá cao của giới nghiên cứu Hàn Quốc

bởi ý niệm muốn xây dựng một mối quan hệ

bình đẳng với Mỹ, coi trọng chủ quyền, tự

chủ dân tộc và nỗ lực hình thành quan hệ

hữu nghị với CHDCND Triều Tiên Ngoài ra,

tham vọng đóng vai trò trung gian cho các

quan hệ trong khu vực cũng được coi là một

biểu hiện của sự tự tin của chính quyền Rho

Mu Hyeon Tuy nhiên, tham vọng này của

Hàn Quốc không có khả năng thực hiện do

không có sự ủng hộ của Nhật Bản và Trung

Quốc bởi hai quốc gia này không hứng thú

với ý tưởng một cộng đồng Đông Bắc Á với

Hàn Quốc làm trung tâm Bên cạnh đó, việc

tạo lập hòa bình với CHDCND Triều Tiên

cũng không có tiến triển do mâu thuẫn kéo

dài xoay quanh vấn đề hạt nhân của

CHDCND Triều Tiên

Khác với chính quyền trước, chính sách

hợp tác khu vực của Tổng thống Lee Myung

Bak đặt trọng tâm vào việc xây dựng chính

sách ngoại giao Châu Á mới nhấn mạnh vào

tính thực tế, thực dụng hơn là đưa ra tầm nhìn Vì thế, chính quyền Lee Myung Bak

đã tích cực triển khai một cách tập trung vào các lĩnh vực được coi là phương tiện ngoại giao như mở rộng sự hỗ trợ đối với các quốc gia Châu Á thông qua việc tăng ODA và chia sẻ kinh nghiệm phát triển, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế thông qua hệ thống FTA, xây dựng hệ thống hợp tác nhằm đối phó với các vấn đề toàn cầu như khủng hoảng tài chính, biến đổi khí hậu, lượng thực,

an ninh năng lượng16 Phạm vi và phương thức xây dựng quan hệ hợp tác của chính quyền Lee Myung Bak cũng thay đổi theo hướng xây dựng một mạng lưới hợp tác cụ thể hơn và mở rộng hơn phạm vi Đông Bắc

Á để hướng ra Châu Á bao gồm cả Australia

và New Zealand Bằng chứng là Tổng thống Lee Myung Bak đã tiến hành ngoại giao cấp cao tích cực, tăng cường quan hệ song phương và tham gia tích cực vào các tổ chức khu vực như APEC, ASEAN + 3, ARF, EAS Tiêu biểu nhất là việc ký FTA với ASEAN và tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hàn Quốc – ASEAN đầu tiên vào năm 2009 Điều này cho thấy sự thay đổi trong đánh giá của Hàn Quốc đối với vai trò của ASEAN như một đối tác tiềm năng để thực hiện thực hóa cộng đồng Đông Á

Đối với Nhật Bản, quan hệ giữa hai nước không được cải thiện nhiều dưới thời tổng thống Lee Myung Bak mặc dù việc phát

16 최영종,韓國政治外交史論叢촉 (한국정치외교사론

32집 2호, tr 208

Trang 9

triển quan hệ thiết thực với Nhật Bản vẫn

được chính quyền đương thời coi trọng Hai

bên đã quyết định khởi động lại kế hoạch

“ngoại giao con thoi” bằng việc tổ chức hội

nghị thượng đỉnh hàng năm giữa hai nước

nhưng những vướng mắc lịch sử vẫn níu giữ

sự phát triển của mối quan hệ song phương

này Trong khi đó, đối với Trung Quốc,

Chính phủ Hàn Quốc luôn thể hiện sự coi

trọng trên cơ sở nhận thức được sức ảnh

hưởng của Trung Quốc đối với CHDCND

Triều Tiên nói riêng và quan hệ liên Triều

nói chung Ngược lại, do sự thay đổi của môi

trường quốc tế và khu vực, với nhu cầu hợp

tác phát triển kinh tế, nhu cầu hợp tác trong

quan hệ với Nhật Bản, bản thân Trung Quốc

cũng muốn tạo dựng một mối quan hệ hữu

nghị với Hàn Quốc Vì vậy, phát triển quan

hệ song phương tốt đẹp là hướng đi mà cả

hai quốc gia đều có thể có được những lợi

ích tích cực trong đó

Đánh giá về chính sách của chính quyền

Lee Myung Bak đối với liên kết Đông Á,

nhiều nhà nghiên cứu Hàn Quốc có những

phản ứng tích cực với những hoạt động của

chính phủ trên nhiều phương diện cụ thể và

xem đó là cơ sở cho sự thành công hơn so

với các chính quyền trước Tuy nhiên, sự

xoay chuyển do khủng hoảng kinh tế toàn

cầu làm giảm sút sự quan tâm của các quốc

gia với vấn đề hợp tác khu vực và Hàn Quốc

với tư cách là nước chủ nhà hội nghị thượng

đỉnh G20 diễn ra năm 2010 cho thấy Chính

phủ Hàn Quốc đang hướng tới việc tăng

cường vai trò toàn cầu hơn là liên kết Đông

Á

Như vậy, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, liên kết khu vực được hình thành và trở thành xu thế chủ đạo Chính phủ Hàn Quốc đã có những phản ứng tích cực đối với xu thế này xuất phát từ nhu cầu ổn định và phát triển Liên kết Đông Á vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với việc khẳng định vị thế trong khu vực của Hàn Quốc Vì thế, nó đòi hỏi Chính phủ Hàn Quốc phải có những nghiên cứu để có chính sách hợp lý nhằm tận dụng tốt những

cơ hội của xu thế này

3 Một vài đánh giá

Trong thời gian qua, Hàn Quốc đã có những thay đổi trong chính sách đối ngoại để hòa vào dòng chảy của khu vực, trong đó có

xu hướng liên kết Đông Á mà ở thời điểm hiện được thể hiện rõ nhất trong hợp tác ASEAN + 3 Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn chưa khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong dòng chảy đó Điều này là bởi chính sách đối ngoại của Hàn Quốc còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, chủ yếu là những yếu tố sau:

Thứ nhất, giá trị của liên kết khu vực đối

với Hàn Quốc, ngoài việc hợp tác, phát triển kinh tế là để tìm sự ủng hộ của các nước trong khu vực đối với các vấn đề của quốc gia nói riêng và toàn bán đảo nói chung Chính phủ Hàn Quốc coi việc tham gia hợp tác khu vực là một sự hỗ trợ cho việc giải quyết các vấn đề của quốc gia Cụ thể ở đây

là vấn đề quan hệ Nam – Bắc và vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên Vì thế, chính sách đối với vấn đề liên kết Đông Á của Hàn Quốc trong thời gian qua thể hiện

Trang 10

rõ sự phụ thuộc và bị chi phối diễn biến của

các vấn đề này Trong thời gian đầu, Hàn

Quốc là nước đóng vai trò quan trọng trong

việc đề xuất ý tưởng cho việc thúc đẩy hình

thành liên kết Đông Á nhưng hoạt động

ngoại giao hợp tác khu vực của Hàn Quốc

mới chỉ dừng lại ở mức độ ý tưởng Đề xuất

thành lập Nhóm tầm nhìn Đông Á (EAVG)

và Nhóm nghiên cứu Đông Á (EASG) của

Tổng thống Kim Dae Jung là tiền đề cho

việc thực hiện các bước đi quan trọng đối

với việc xây dựng cơ chế cho hợp tác Đông

Á Tuy nhiên, với mục đích tìm sự ủng hộ từ

bên ngoài cho chính sách Ánh Dương, mục

đích cuối cùng của chính quyền tổng thống

Kim Dae Jung lại không phải là phát triển

quan hệ hợp tác đa phương mà chú trọng

nhiều hơn đến quan hệ song phương với

Trung Quốc, Mỹ và CHDCND Triều Tiên

Đồng thời, vấn đề Bán đảo Triều Tiên cũng

là ưu tiên lớn hơn so với cộng đồng Đông

Á17 Vì thế, trong khi Trung Quốc ký FTA

với ASEAN, Nhật Bản thể hiện sự cạnh

tranh không nhỏ với Trung Quốc trong quan

hệ với ASEAN thì Hàn Quốc hầu như không

đạt được một thành quả nào trong thực tế

Thứ hai là do những thiếu sót của Hàn

Quốc trong việc xác định và xây dựng các

mối quan hệ trong tiến trình liên kết khu vực

Trong khi Nhật Bản và Trung Quốc liên tục

cạnh tranh vai trò chèo lái trong tiến trình

17

최영종,韓國政治外交史論叢촉 (한국정치외교사론

32집 2호, tr 207

hợp tác ASEAN + 3 thì Hàn Quốc xây dựng chính sách ngoại giao nước trung gian đối với hợp tác khu vực nhưng lại không thực hiện được mục tiêu đề ra18 mặc dù đã thể hiện sự chuyển mình từ ngoại giao bị động sang chủ động, tích cực Chính sách ngoại giao nước trung gian được đưa ra với tham vọng Hàn Quốc sẽ vươn lên trở thành trở thành trung tâm khu vực Đông Bắc Á thông qua vai trò là cầu nối giữa các nước trong khu vực Nhưng phạm vi khu vực chỉ dừng lại trong khu vực Đông Bắc Á và đối tượng hợp tác hoàn toàn không đề cập đến ASEAN vốn là trung tâm của liên kết Đông Á Nhật Bản và Trung Quốc không hào hứng với chính sách này một phần là do sự khác biệt

về mức độ ưu tiên trong quan hệ với ASEAN, một phần là Hàn Quốc chưa đủ sức thuyết phục về vai trò trung gian đối với các vấn đề khu vực mà chủ yếu đều có liên quan đến hai quốc gia này Vì thế, trong khi Trung Quốc và Nhật Bản đang tích cực tiếp cận với ASEAN thì việc không tính đến ASEAN trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Rho Mu Hyeon được cho là một bước lùi trong việc tạo động lực và tính khả thi đối với việc kiến tạo liên kết khu vực Trong thời kỳ của chính quyền Lee Myung Bak, chính sách đối ngoại của Hàn Quốc có những bước chuyển biến rõ rệt với cách tiếp cận thực dụng trong quan hệ với các nước trong khu vực và thế giới, đặc biệt là với ASEAN Những chuyển biến này cho thấy, chính sách ngoại giao nước trung gian của

18

Như chú thích trên

Ngày đăng: 30/09/2015, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w