... học Theo cỏch hiu rng, nghiờn cu khu vc thng c tip cn t: - Khu vc a kinh t, vớ d khu vc Chõu Thỏi Bỡnh Dng - Khu vc a chớnh tr, vớ d khu vc Trung Cn ụng - Khu vc a húa, vớ d khu vc ụng Nam. .. khoa hc khỏc Khu vc cú th c quan nim l khỏi nim ch mt khụng gian rng ln, gm nhiu quc gia, chng hn, khu vc Chõu Thỏi Bỡnh Dng, khu vc ụng Nam , khu vc Tõy , khu vc Trung Cn ụng, Theo mt quan... Vit Nam Phỏt trin Hn Quc hc theo hng khu vc hc 2.1 Hai hng i Xột v ngnh o to, Hn Quc hc Vit Nam hin ang phỏt trin theo hai hng: (1) Ngụn ng - húa v (2) Hn Quc hc vi t cỏch l t nc hc Hng o to theo
Trang 1Phát triển hàn quốc học việt nam Theo định h-ớng khu vực học
Mai Ngọc chừ*
Túm tắt: Sau 20 năm xõy dựng và trưởng thành, Hàn Quốc học Việt Nam đó cú những
phỏt triển vượt bậc cả về lượng lẫn về chất Đó đến lỳc cỏc nhà Hàn Quốc học Việt Nam cần nhỡn lại và đưa ra một định hướng phỏt triển mới cho Hàn Quốc học Việt Nam Trờn tinh thần ấy, bài viết tập trung vào 3 vấn đề trọng yếu: (1) Cỏc cơ sở đào tạo Hàn Quốc học ở Việt Nam: 20 năm nhỡn lại, (2) Hàn Quốc học và phạm trự khu vực học, (3) Hướng phỏt triển của Hàn Quốc học Việt Nam
Từ khúa: Hàn Quốc học Việt Nam, Định hướng khu vực
1 Cỏc cơ sở đào tạo Hàn Quốc học ở
Việt Nam
1.1 Quỏ trỡnh thành lập cỏc cơ sở đào
tạo *
Những nghiờn cứu về Hàn Quốc tại Việt
Nam đó được tiến hành từ rất lõu Tuy nhiờn,
mốc đỏnh dấu cho sự triển khai một cỏch bài
bản và mang tớnh phỏp quy về việc đào tạo
và nghiờn cứu Hàn Quốc học ở Việt Nam là
năm 1994 khi hai bộ mụn Hàn Quốc học
được thành lập ở hai khoa Đụng Phương
học, Trường Đại học Khoa học xó hội &
nhõn văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và
Trường Đại học Khoa học xó hội & nhõn
văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chớ Minh
Cho đến nay, ngoài một viện nghiờn cứu
mang tớnh chất quốc gia của Nhà nước -
Viện Nghiờn cứu Đụng Bắc Á – trờn cả nước
đó cú 17 cơ sở đào tạo tiếng Hàn và Hàn
Quốc học
1.2 Cỏc trung tõm ngoại ngữ Sejong
Trong số cỏc trung tõm được mở để dạy
tiếng Hàn, đỏng chỳ ý là cỏc Trung tõm
*
GS TS, Trường Đại học Khoa học xó hội và nhõn văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoại ngữ Sejong được “nhập khẩu” từ Hàn
Quốc Núi là được “nhập khẩu” vỡ cỏc trung tõm này đều đến từ Hàn Quốc, giảng dạy tiếng Hàn hoàn toàn theo chương trỡnh và sỏch giỏo khoa của Hàn Quốc Giỏo viờn giảng dạy cũng chủ yếu là người Hàn Quốc Chứng chỉ do Hàn Quốc cấp Đấy là lớ do giải thớch vỡ sao số người theo học tại cỏc Trung tõm Sejong rất nhiều Đến nay cả nước đó cú 7 Trung tõm Ngoại ngữ Sejong được thành lập ở Trường Đại học Khoa học
xó hội & nhõn văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011); Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011); Trường Đại học Khoa học xó hội & nhõn văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chớ Minh (2011); Trường Đại học Đà Lạt (2011); Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (2013); Trường Đại học Thỏi Nguyờn (2013) và Trung tõm Văn húa Hàn Quốc tại Việt Nam (2011) Cỏc trung tõm này đang phỏt huy tỏc dụng rất tốt, đặc biệt là đỏp ứng nhu cầu học tiếng Hàn của những người cú nguyện vọng đi lao động và
học tập ở Hàn Quốc
Trang 2STT Tên cơ sở đào tạo Năm thành
lập ngành Hàn Quốc học
Chú thích
1 Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
1994 Chiêu sinh từ
1993
2 Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân
văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
1994
3 Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học
Quốc gia Hà Nội
1996
5 Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP
Hồ Chí Minh
1995
6 Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà
Nẵng
2004
7 Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Huế 2006
11 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành 2012
13 Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu 2013
14 Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật,
Du lịch Sài Gòn
2007
15 Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức 2011
sinh hệ chính quy
sinh hệ chính quy
Ngoài ra, còn có hàng chục cơ sở dạy
tiếng Hàn phi chính quy ở Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Hải Phòng, v.v…
1.3 Số lượng sinh viên và giảng viên
Số sinh viên (chính quy và phi chính quy)
tăng lên theo từng năm Theo số liệu có
được từ KF, số lượng sinh viên chính quy 3
năm gần đây là như sau1
:
1
Jee Chung Sun, Hiện trạng và triển vọng của hoạt động
nghiên cứu Hàn Quốc học tại Việt Nam, Báo cáo tại Hội
Năm học 2011 - 2012: 2.515 sinh viên Năm học 2012 – 2013: 2.628 sinh viên Năm học 2013 – 2014: 2.781 sinh viên
Số học viên không chính quy hàng năm còn vượt xa con số sinh viên chính quy bởi phần lớn trong số họ là những người đi lao động xuất khẩu sang Hàn Quốc Theo KF,
thảo Hàn Quốc học do KF tổ chức tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng, ngày 20 tháng 12 năm
3013
Trang 3trong kì thi tuyển dụng lao động EPS sang
Hàn Quốc được tiến hành vào tháng
12/2011, số lượng thí sinh ứng thi là 65.000
người2 Con số này cho thấy nhu cầu học
tiếng Hàn ở Việt Nam vô cùng lớn
Đội ngũ giáo viên tiếng Hàn và Hàn Quốc
học ở các cơ sở đào tạo bao gồm cả những
người biết tiếng Hàn lẫn những người không
biết tiếng Hàn Số không biết tiếng Hàn phần
lớn là những người có tuổi, đã nhiều năm
nghiên cứu về Hàn Quốc từ các lĩnh vực lịch
sử, văn hóa, văn học, triết học, nhân học, …
Số này càng ngày càng giảm dần do lần lượt
đến tuổi về hưu Số người biết tiếng Hàn có
được từ hai nguồn: Những người lớn tuổi
được đào tạo từ Triều Tiên trước đây và
những người trẻ được đào tạo từ Hàn Quốc
và tại Việt Nam sau 1994 Trong những năm
đầu xây dựng ngành Hàn Quốc học, đội ngũ
những người lớn tuổi (biết tiếng Hàn và
không biết tiếng Hàn) đã có những đóng góp
to lớn đáng được ghi nhận Cho đến thời
điểm này, đội ngũ giảng viên Hàn Quốc học
ở các cơ sở đào tạo phần lớn là những người
trẻ được đào tạo ở Hàn Quốc và Việt Nam
Theo thống kê năm 2012, tại 10 trường đại
học, có 123 giảng viên, trong đó số người có
trình độ cử nhân là 55, thạc sĩ 57 và tiến sĩ là
11; trong năm đó, số giảng viên là người
Hàn Quốc giảng dạy tại 10 trường đại học là
34, trong đó có 10 giảng viên KOICA
Như vậy, sau 20 năm xây dựng, các cơ sở
giáo dục và đào tạo Hàn Quốc học ở Việt
Nam đã có một bước tiến dài đáng được ghi
nhận Tuy nhiên, có một tình hình thực tế là
gần như tất cả các trường đại học đào tạo
Hàn Quốc học ở Việt Nam hiện nay đều kêu
thiếu cơ sở vật chất và đặc biệt là thiếu nhân
lực Thêm nữa, chất lượng đào tạo cũng vẫn
là một vấn đề đang được quan tâm Tình
hình đó đòi hỏi phải có một định hướng
2 Jee Chung Sun (2013), Tlđd
mang tầm chiến lược cho sự phát triển của Hàn Quốc học Việt Nam
2 Phát triển Hàn Quốc học theo hướng khu vực học
2.1 Hai hướng đi
Xét về ngành đào tạo, Hàn Quốc học Việt Nam hiện nay đang phát triển theo hai
hướng: (1) Ngôn ngữ - văn hóa và (2) Hàn
Quốc học với tư cách là đất nước học
Hướng đào tạo theo mục tiêu ngôn ngữ - văn hóa đang được thực thi tại các trường đại học ngoại ngữ Những đơn vị tiêu biểu
có thể kể ra là Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học
Hà Nội, Trường Đại học Ngoại ngữ và Tin học TP Hồ Chí Minh; Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng; v.v… Đây là hướng truyền thống, đã được khẳng định từ lâu và thực tế đã mang lại hiệu quả đáng kể Những sinh viên tốt nghiệp khi ra trường nói chung đều thành thạo tiếng Hàn, do đó về cơ bản
đã đáp ứng được nhu cầu phiên, biên dịch Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc đang phát triển rất tốt đẹp hiện nay, các sinh viên tốt nghiệp đều dễ dàng kiếm được việc làm với mức lương khá cao so với các ngành đào tạo khác Do vậy, trong những năm tới đây, số sinh viên có nguyện vọng theo học ngành ngôn ngữ - văn hóa Hàn Quốc sẽ vẫn tăng
Hướng đào tạo theo mục tiêu Hàn Quốc
học được thực thi tại các khoa Đông phương
học của các trường đại học: Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, ĐHQG Hà Nội; Khoa Đông phương học (nay là Bộ môn Hàn Quốc hoc), Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, ĐHQG TP Hồ Chí Minh; Khoa Đông phương học, Trường Đại học Đà Lạt Đây là
hướng đào tạo đất nước học một cách khá
toàn diện So với các trường chuyên ngữ đào tạo theo hướng ngôn ngữ - văn hóa, các
Trang 4trường đào tạo theo mục tiêu Hàn Quốc học/
Đất nước học có số giờ dạy tiếng ít hơn
nhưng “bù” lại vào đó là kiến thức về những
môn học khác như Kinh tế Hàn Quốc, Xã
hội Hàn Quốc, Quan hệ đối ngoại của Hàn
Quốc, Quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam, Văn
học Hàn Quốc, Địa lí Hàn Quốc, Lịch sử
Hàn Quốc, Tôn giáo Hàn Quốc, v.v… “Sản
phẩm” đầu ra của các trường đào tạo Hàn
Quốc học hiện nay có kiến thức khá toàn
diện về đất nước và con người Hàn Quốc
nhưng trình độ tiếng Hàn thường thấp hơn
các trường chuyên ngữ do số giờ dạy tiếng ít
hơn Theo xu hướng chung, trong những
năm tới đây, số sinh viên muốn theo học
Hàn Quốc học ở các trường đại học vẫn
tăng
2.1 Hàn Quốc học theo hướng khu vực
học
2.1.1 Xét về lịch sử tên gọi, khái niệm
đất nước học ra đời sớm hơn và quen hơn
đối với các nhà nghiên cứu so với khái niệm
khu vực học Khái niệm đất nước học được
nhắc tới nhiều, từ khi các quốc gia chú trọng
đến việc giảng dạy ngoại ngữ Ở các trường
giảng dạy ngoại ngữ trên thế giới, đất nước
học là môn học bắt buộc Điều đó hoàn toàn
hợp lôgic bởi khi học một ngoại ngữ nào đó,
người học không thể không được trang bị
những kiến thức nhất định về đất nước và
con người nói thứ tiếng ấy Khi dạy tiếng
Nga chẳng hạn, người học sẽ được biết về
thiên nhiên và con người Nga, lịch sử, văn
học, nghệ thuật,… Nga Những bài hát như
“Triệu triệu bông hồng”, những bài thơ như
“Đợi anh về” (Ximonov), “Tôi yêu em”
(Puskin),… rồi đến cả những cây bạch
dương, sông Volga, món salad Nga cũng đã
được những người học tiếng Nga ở Việt
Nam biết đến từ rất lâu
2.1.2 Khu vực học (area studies) là một
thuật ngữ mới Ngành khoa học này chỉ thực
sự được nhắc đến từ những năm 40 của thế
kỉ XX Mỹ là quốc gia đầu tiên mà khu vực học xuất hiện Ngày nay, nghiên cứu khu vực đã được thực hiện ở Đại học Tổng hợp Washington, Đại học Berkerley (Mỹ), Đại học Tổng hợp Mat-xcơ-va, Đại học Tổng hợp Saint Petatsburg (Nga), Đại học Quốc gia Tokyo, Đại học Kyoto (Nhật Bản), Đại học Humbold (Đức), Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc), Đại học Thammasat (Thái Lan), Đại học Wollongong (Ôxtrâylia), v.v…
Khu vực học lấy đối tượng nghiên cứu của mình là khu vực Tuy nhiên, bản thân từ khu vực (area, region) đã được hiểu theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, do đó, khu vực học cũng được quan niệm không hoàn toàn như nhau ở các các trung tâm nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học khác nhau Khu vực có thể được quan niệm là khái niệm chỉ một không gian rộng lớn, gồm nhiều quốc gia, chẳng hạn, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á, khu vực Tây
Á, khu vực Trung Cận Đông, Theo một quan niệm khác thì khu vực có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng (như quan niệm trên) lẫn nghĩa hẹp Rộng thì có thể bao gồm cả châu lục hoặc liên châu lục như Châu Á, Châu
Âu, Châu Mĩ, phương Đông, phương Tây Hẹp thậm chí có thể khuôn lại chỉ trong một làng, một bản Với cách hiểu như trên, việc nghiên cứu khu vực có thể diễn ra cả ở địa bàn hẹp (như những nghiên cứu về làng cổ Đường Lâm ở Hà Nội) lẫn địa bàn rộng (như nghiên cứu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương) Vì vậy, đã có người đề nghị việc nghiên cứu khu vực nên tiến hành theo 4 mức: Trường hợp (case), Tiểu vùng (subregion), Vùng (region), Khu vực (area)3
3 Vũ Minh Giang, Khu vực học với nghiên cứu phương
Đông, Trong cuốn: “Đông phương học Việt Nam” (Kỷ
yếu Hội thảo quốc gia lần thứ nhất), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
Trang 5Theo cách hiểu rộng, nghiên cứu khu vực
thường được tiếp cận từ:
- Khu vực địa – kinh tế, ví dụ khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương
- Khu vực địa – chính trị, ví dụ khu vực
Trung Cận Đông
- Khu vực địa – văn hóa, ví dụ khu vực
Đông Nam Á, khu vực Đông Bắc Á,… Tuy
nhiên, cách phân chia như trên chỉ có tính
chất tương đối Thực tế cho thấy, khi nghiên
cứu khu vực, người ta thường xem xét một
cách toàn diện tất cả các mặt của khu vực
đó, bao gồm cả địa lí, văn hoá, xã hội, chính
trị, kinh tế,
Tóm lại, một cách khái quát có thể nói,
khu vực học lấy không gian văn hóa – xã hội
làm đối tượng nghiên cứu của mình, trong
đó, chú trọng đến hoạt động của con người
và quan hệ qua lại giữa con người và điều
kiện tự nhiên
2.1.3 Mỗi ngành khoa học đều có phương
pháp nghiên cứu của mình Khi nghiên cứu
một khu vực, người ta thường xem xét khu
vực đó từ nhiều góc độ khác nhau: Ngôn
ngữ, văn hóa, xã hội, kinh tế, Vì vậy, khu
vực học mang tính đa ngành
(multidisciplinary) Cách tiếp cận đa ngành
nhấn mạnh việc sử dụng các phương pháp và
quy trình của nhiều chuyên ngành khác nhau
một cách riêng biệt và độc lập Tuy nhiên,
nếu chỉ nhìn khu vực theo các “mảng rời”
như vậy thì chưa làm rõ được bản chất của
vấn đề Do vậy, nghiên cứu liên ngành
(inter-disciplinary, inter-disciplinarity) mới
là phương pháp quan trọng nhất của khu vực
học Hướng nghiên cứu liên ngành có thể
tích hợp được những kết quả của các nghiên
cứu chuyên ngành về một khu vực để nhận
thức tổng hợp về khu vực đó, hơn nữa, có
thể khai thác những khía cạnh của tri thức
mà các chuyên ngành có thể bỏ qua do yêu cầu phải thiết lập và duy trì sự khác biệt với những chuyên ngành khác4
Trong nghiên cứu khu vực, một phương pháp nghiên cứu đặc trưng hay được nhắc
đến là nghiên cứu điền dã hay nghiên cứu
thực địa (field research, field work) Để có
thể làm được điều này thì yêu cầu nhà nghiên cứu phải thuần thục tiếng bản địa và phải trải nghiệm trong cuộc sống chung với dân bản địa Không biết tiếng bản địa mà chỉ nghiên cứu qua một ngôn ngữ trung gian thì hiệu quả đạt được chắc chắn không cao Những điều trình bày trên đây cho thấy, đất nước học rõ ràng thuộc về phạm trù khu vực học Và muốn nghiên cứu về một đất nước nào đó, muốn trở thành “chuyên gia”
về đất nước đó thì yêu cầu đầu tiên là phải biết tiếng bản địa Tiếng bản địa là “chìa khoá” để đi vào đất nước học Với cách nhìn nhận như vậy thì dù mục tiêu là ngôn ngữ - văn hóa hay Hàn Quốc học cũng vẫn phải lấy tiếng Hàn làm trọng
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu về Hàn Quốc của chúng ta hiện nay cần hướng đến mục tiêu khu vực học
3 Tầm chiến lược cho phát triển Hàn Quốc học Việt Nam
3.1 Đối với việc nghiên cứu
Nghiên cứu Hàn Quốc học theo hướng nghiên cứu khu vực học đặt ra cho chúng ta một phạm vi rộng hơn
Trước hết, trong phạm vi Hàn Quốc, ngoài việc nghiên cứu tiếng Hàn vốn là chỗ
mạnh nhất của ta hiện nay thì nghiên cứu
4 Trịnh Cẩm Lan, Nhập môn khu vực học, Bài giảng cho
sinh viên khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
Trang 6toàn diện về Hàn Quốc đang là một yêu cầu
cấp bách hiện nay Quan hệ Việt Nam – Hàn
Quốc đã nâng lên tầm hợp tác chiến lược,
việc ấy đòi hỏi hai bên phải có những hiểu
biết sâu hơn về nhau Do vậy, ngoài những
nghiên cứu mang tính chất truyền thống về
lịch sử, văn hóa, văn học, triết học, tôn giáo,
v.v rất cần có những nghiên cứu chuyên
sâu mang tính thời sự và tính thực tiễn cao
hơn về những vấn đề kinh tế - chính trị - xã
hội hiện đại của Hàn Quốc Xin đơn cử một
vài vấn đề cần tập trung nghiên cứu trong
thời gian tới:
- Con đường phát triển kinh tế - xã hội
của Hàn Quốc Như mọi người đều biết,
Hàn Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương
đồng về địa lí, lịch sử, văn hóa Vào những
năm 60 của thế kỉ trước, kinh tế của Hàn
Quốc và Việt Nam không khác nhau bao
nhiêu, nếu không nói là cùng một nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu như nhau Thế nhưng
sau đó, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành
một trong những con rồng của Châu Á Vậy
Hàn Quốc đã thực thi một/những chính sách
kinh tế - xã hội gì, hay nói cách khác, chìa
khóa của con đường phát triển kinh tế - xã
hội của Hàn Quốc là gì? Và Việt Nam có thể
rút ra những bài học tham khảo gì từ cách đi
“hóa rồng” của Hàn Quốc?
- Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc,
đặc biệt là chính sách đối với Mỹ và các
nước phương Tây, có những điểm gì đáng để
chúng ta suy ngẫm, tham khảo? Những câu
hỏi cần làm sáng tỏ là: Vì sao Hàn Quốc
“thân” Mỹ? “Đi” với Mỹ, Hàn Quốc có mất
độc lập không? Đi với Mỹ, Hàn Quốc được
lợi gì? Phải đáp ứng yêu cầu gì? v.v Trong
bối cảnh Trung Quốc đang thực thi chính
sách thôn tính Biển Đông hiện nay, Hàn
Quốc đã và đang có những chính sách ngoại
giao như thế nào góp phần bảo vệ an ninh biển Đông và bảo vệ lãnh thổ quốc gia (cả trên đất liền và biển đảo) của mình? Liên quan đến vấn đề này, còn có thể xem xét chính sách đối ngoại của Hàn Quốc với Trung Quốc, Đài Loan và các nước Đông Nam Á
Như vậy, Hàn Quốc học với tư cách khu vực học cần được nghiên cứu đa diện Tuy nhiên, theo định hướng nghiên cứu khu vực
học, cần đặt Hàn Quốc trong bối cảnh của
khu vực Nói chung, để làm sáng tỏ được bản
chất vấn đề nghiên cứu về Hàn Quốc, mọi
vấn đề đưa ra xem xét nên đặt trong bối ảnh
Đông Bắc Á nói riêng và Đông Á nói chung
Cách tiếp cận này được áp dụng cho cả những vấn đề truyền thống lẫn những vấn đề hiện đại
3.2 Đối với giáo dục, đào tạo
Phát triển Hàn Quốc học theo hướng khu vực học là định hướng không chỉ cho việc nghiên cứu mà cho cả giáo dục, đào tạo Hàn Quốc học Định hướng chung ở đây là ngoài việc trang bị tốt tiếng Hàn cho sinh viên cần đưa vào giảng dạy trong nhà trường càng nhiều những môn chuyên môn Hàn Quốc học càng tốt Tất nhiên, tùy theo từng trường
mà cách lựa chọn môn học và phân bố chương trình giảng dạy các môn học có thể khác nhau Nhưng cũng cần quy định những môn học mang tính bắt buộc như Nhập môn Hàn Quốc học, Địa lí cư dân Hàn Quốc, Lịch sử Hàn Quốc, Văn hóa Hàn Quốc Ngoài ra, đối với các trường mang danh Hàn Quốc học thực sự (như Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, ĐHQG Hà Nội; Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG TP Hồ Chí Minh; Trường Đại học Đà Lạt) thì cần đặc biệt chú trọng vào những môn như Kinh tế Hàn Quốc,
Trang 7Quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc, Chính trị
Hàn Quốc, Văn học Hàn Quốc, Quan hệ Hàn
Quốc – Việt Nam,
Giảng dạy không thể không có giáo trình
Cho đến nay, các giáo trình dạy tiếng Hàn đã
đáp ứng về cơ bản nhu cầu của các trường
Sở dĩ như vậy là vì lượng giáo trình tiếng
Hàn được cung cấp từ 3 nguồn: từ các
trường đại học ở Hàn Quốc, từ sự hỗ trợ của
KF và giáo trình do các trường tự biên soạn
Tuy nhiên, giáo trình về Hàn Quốc học thì
còn thiếu nhiều Trong thời gian tới, các
trường cần quan tâm thích đáng đến việc
biên soạn và xuất bản các giáo trình chuyên
ngành Hàn Quốc học
Hàn Quốc học Việt Nam đã đi qua chặng
đường hai mươi năm Đó là thời gian không
dài nếu so với một số ngành khoa học xã hội
ở Việt Nam Tuy nhiên Hàn Quốc học Việt
Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng
kể Hàn Quốc học Việt Nam đang có một
tương lai tươi sáng, hứa hẹn nhiều thành tựu
rực rỡ hơn nữa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Jee Chung Sun, Hiện trạng và triển vọng
của hoạt động nghiên cứu Hàn Quốc học tại
Việt Nam, Báo cáo tại Hội thảo Hàn Quốc học
do KF tổ chức tại Trường Đại học Ngoại ngữ,
Đại học Đà Nẵng, ngày 20 tháng 12 năm 3013
2 Vũ Minh Giang, Khu vực học với nghiên
cứu phương Đông, Trong cuốn: “Đông phương
học Việt Nam” (Kỷ yếu Hội thảo quốc gia lần
thứ nhất), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
3 Trương Quan Hải, Khu vực học và phân
vùng lãnh thổ, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học
quốc tế “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn
và phương pháp nghiên cứu”, Đại học Quốc gia
Hà Nội và Đại học Quốc gia Tokyo ấn hành
2006
4 Phan Thu Hiền, Vài suy nghĩ về phương
hướng xúc tiến Hàn Quốc học ở Việt Nam, Báo
cáo tại Hội thảo Hàn Quốc học do KF tổ chức tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng, ngày 20 tháng 12 năm 3013
5 Lương Văn Kế, Nhập môn khu vực học,
Bài giảng cho sinh viên khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010
6 Trịnh Cẩm Lan, Nhập môn khu vực học,
Bài giảng cho sinh viên khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
7 Matsuda Kazuo, Toàn cầu hoá và nghiên
cứu văn hoá khu vực, trong Kỷ yếu hội thảo
khoa học quốc tế “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Tokyo ấn hành 2006
8 Nguyễn Quang Ngọc, Việt Nam học ở Việt
Nam: Quá trình hình thành và phát triển, trong
Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Khu vực học:
Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Tokyo ấn hành 2006
9 Shiba Nobuhiro, Thế nào là nghiên cứu
khu vực? trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc
tế “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Tokyo ấn hành 2006
10 Phan Phương Thảo, Nghiên cứu Việt Nam
từ góc độ khu vực học, trong Kỷ yếu hội thảo
khoa học quốc tế “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Tokyo ấn hành 2006