... khủng hoảng kinh tế diễn Hàn Quốc vào cuối năm 1997, phủ Hàn Quốc thực thi loạt biện pháp sách nhằm thu hút đầu t- trực tiếp n-ớc Chính phủ đẩy mạnh lộ trình tự hoá tiến hành tự hoá hoạt động M&A... Uruguay, Hàn Quốc bắt đầu thực dỡ bỏ rào cản hoạt động đầu t- n-ớc Kết là, đầu ttrực tiếp Hàn Quốc n-ớc đầu t- trực tiếp n-ớc vào Hàn Quốc không ngừng tăng lên suốt nửa cuối thập niên 1990 Sau... tự hoá Chính sách tự hoá không nhằm mục tiêu thu hút đầu t- n-ớc mà tạo nên thị tr-ờng có tính cạnh tranh phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Bên cạnh đó, phủ Hàn Quốc đơn giản hoá tạo điều kiện thu n
Trang 1Kinh tÕ – x· héi
Mét sè ®iÒu chØnh chÝnh s¸ch nh»m thóc ®Èy tù do hãa th-¬ng m¹i
vµ thu hót ®Çu t- n-íc ngoµi cña hµn quèc
trong thËp niªn gÇn ®©y
vâ h¶i thanh*
Tóm tắt: Trên lĩnh vực tự do hóa thương mại, Hàn Quốc đang theo đuổi một cách tiếp cận đa trọng tâm, đàm phán FTA với nhiều quốc gia và khu vực cùng một lúc Trên lĩnh vực
thu hút đầu tư nước ngoài và đặc biệt là thu thút FDI, bên cạnh các biện pháp như mở cửa các thị trường tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, cắt giảm thuế, cung cấp dịch vụ cấp phép một cửa, rút ngắn thời gian phê duyệt cấp phép, Hàn Quốc còn rất chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu kinh tế tự do (FIZ, FTZ, FEZ) Bài viết tập trung phân tích và chỉ ra những điều chỉnh chính sách chủ yếu nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại và thu hút FDI của Hàn Quốc trong thập niên gần đây
Từ khóa: Hàn Quốc, Điều chỉnh chính sách, FTA, FDI
1 Đổi mới mô hình hội nhập quốc tế
thông qua thúc đẩy tự do hóa mậu dịch,
đẩy nhanh đàm phán ký kết các hiệp định
mậu dịch tự do FTA *
Hàn Quốc đã nổi lên như một nền kinh tế
lớn thứ 11 thế giới chỉ trong vòng hơn 3 thập
niên kể từ sau thời gian chiếm đóng của thực
dân Nhật và cuộc Chiến tranh Triều Tiên
Một số yếu tố chủ yếu giúp nền kinh tế Hàn
Quốc phát triển nhanh như vậy đó là: nguồn
nhân lực chất lượng cao, chuyển đổi kịp thời
sang chiến lược định hướng xuất khẩu và sự
chỉ đạo của một nhà nước phát triển Tuy
nhiên, những yếu tố bên ngoài cũng góp
phần đáng kể tạo nên kỳ tích này Mối quan
hệ đồng minh với Mỹ đã cho phép Hàn
Quốc được hưởng nhiều lợi ích cả trong kinh
tế lẫn quốc phòng, an ninh Trong khi quân
* TS, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á
đội Mỹ hiện diện và hỗ trợ quân sự lớn đã làm giảm mối lo ngại về an ninh và gánh nặng ngân sách, thì việc thâm nhập kịp thời thị trường Mỹ trong khuôn khổ Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) đã góp phần tích cực thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc Quan hệ liên minh với Mỹ và vị thế của một nước đang phát triển trong khuôn khổ GATT đã hỗ trợ mạnh mẽ cho phát triển kinh tế của Hàn Quốc
Tuy nhiên, các lợi thế này đã không kéo dài mãi Khi Hàn Quốc bắt đầu gặt hái được những thành quả phát triển kể từ giữa thập niên 1980, nó đã phải đương đầu với nhiều thách thức trở ngại từ bên ngoài Áp lực cùng lúc từ phía Mỹ và EU về mở cửa thị trường, hội nhập khu vực ở châu Âu và Bắc
Mỹ (NAFTA) và những thách thức của toàn cầu hóa đã buộc Hàn Quốc phải điều chỉnh
Trang 2và thay đổi chiến lược hay mô hình hội nhập
kinh tế khu vực của mình Kể từ nửa cuối
thập niên 1990, hợp tác thương mại trong
khuôn khổ WTO bị đình trệ và gây chia rẽ
giữa các thành viên trong diễn đàn APEC về
tự do hóa thương mại đã khiến Hàn Quốc
phải điều chỉnh chính sách của mình
Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, tiến
trình tự do hóa thương mại đa phương không
mấy tiến triển đã buộc Hàn Quốc phải tìm
kiếm một chiến lược bổ sung Khi đó, APEC
là sự lựa chọn tối ưu nhất, một tổ chức khu
vực nhưng lại có cơ chế đa phương Nhưng
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã khiến
Hàn Quốc phải thay đổi chính sách Sự bất
bình của khu vực đối với sự can thiệp sau
khủng hoảng của Mỹ và IMF đã thúc đẩy
các nước Đông Á theo đuổi các cơ chế hợp
tác ở tầm khu vực Trong bối cảnh đó, chính
phủ Kim Dae-jung đã rất quan tâm tới một
cơ chế mới của chủ nghĩa khu vực Đông Á
Cụ thể là, Hàn Quốc đã khởi xướng thể chế
hóa lộ trình ASEAN+3, với kỳ vọng rằng nó
sẽ có tiềm năng hình thành nên một khu vực
mậu dịch tự do Đông Á hay một cộng đồng
Đông Á Trong bối cảnh môi trường quốc tế
thay đổi đó, chính phủ tổng thống Kim còn
quan tâm đến các FTA song phương
Từ cảm hứng và tầm nhìn chiến lược của
người tiền nhiệm, chính phủ Tổng thống
Roh Moo-hyun đã tích cực tìm kiếm cách
thức xây dựng và thúc đẩy một cộng đồng
khu vực ở Đông Bắc Á, cùng với việc xác
định lại chiến lược FTA theo cách thức chủ
động hơn Mục tiêu của Chính phủ Roh là
giải quyết các vấn đề khu vực bế tắc như
những căng thẳng về an ninh, cạnh tranh
kinh tế, và các xung đột văn hóa – xã hội,
bằng cách công bố một kế hoạch đầy tham
vọng cho hòa bình và thịnh vượng của khu vực Đông Bắc Á Tuy nhiên, tham vọng này
đã bị mất động lực khi đối mặt với bế tắc của vòng đàm phán sáu bên, sự đối đầu Trung - Nhật, và sự xấu đi trong quan hệ song phương giữa Hàn Quốc và Nhật Bản Trong tình thế bế tắc này, chính phủ Roh đã quyết định lựa chọn lợi thế của FTA như một công
cụ chính sách nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước Với mục tiêu xác định đó, chính phủ Roh đã chọn cách tiếp cận chủ động đối với FTA, một cách hoàn toàn trái ngược với người tiền nhiệm Mặc dù số lượng các hiệp định thương mại tự do song phương (FTA) và khu vực có hiệu lực đệ trình lên Tổ chức Thương mại Thế giới đã tăng vọt từ 27 lên gần 200 vào năm 1990 Tuy nhiên, Hàn Quốc đã không thuộc về bất kỳ thỏa thuận nào như vậy cho đến trước năm 2004, vì chủ yếu tập trung vào hệ thống thương mại đa phương Sự nhấn mạnh ngày càng tăng tại Hàn Quốc về FTA đánh dấu một sự thay đổi đối với một chính sách thương mại theo hai hướng FTA đầu tiên của Hàn Quốc với Chile, Singapore, Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) và ASEAN Hiện nay, Hàn Quốc đang theo đuổi một cách tiếp cận đa trọng tâm, đàm phán FTA với nhiều quốc gia và khu vực cùng một lúc
Ngoài ra, Hàn Quốc đã hoàn thành nghiên cứu chung với MERCOSUR ở cấp chính phủ và Trung Quốc ở cấp tư nhân Mục tiêu dài hạn của Hàn Quốc là nhằm ký kết các FTA với các khối kinh tế lớn Mục tiêu của Hàn Quốc trong theo đuổi FTA là để hồi sinh nền kinh tế của mình bằng cách tự do hóa thương mại và đầu tư, trong khi đảm bảo tiếp cận tốt hơn thị trường nước ngoài FTA
Trang 3dự kiến sẽ thúc đẩy tăng trưởng đầu ra thông
qua các lợi ích động từ sự hình thành vốn và
năng suất tăng, bên cạnh lợi ích tĩnh trong
hiệu quả đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các
ngành ít cạnh tranh FTA Hàn Quốc-Mỹ dự
kiến làm tăng GDP thêm 2% trong thời gian
dài (KIEP, 2006) Hơn nữa, các FTA sẽ cải
thiện môi trường FDI bằng cách mở rộng
phạm vi của thị trường và giảm chi phí vận
hành, do đó cung cấp cơ hội tốt hơn cho các
nhà đầu tư nước ngoài Một thỏa thuận toàn
diện với Hoa Kỳ sẽ góp thêm động lực đáng
kể để cải cách những quy định trong lĩnh
vực dịch vụ
Chính phủ còn thành lập ra một Quỹ Hỗ
trợ Tạo thuận lợi cho FTA vào năm 2004 để
giảm bớt những tác động tiêu cực của FTA
Hàn Quốc-Chile tới lĩnh vực nông nghiệp,
với tổng kinh phí 1,2 nghìn tỷ won lên kế
hoạch cho giai đoạn năm 2004 và 2010 Quỹ
này cung cấp các khoản thanh toán thu nhập
trực tiếp và trợ cấp cho nông dân tham gia
trồng nho và kiwi, trực tiếp bị ảnh hưởng bởi
việc xoá bỏ thuế, chuyển sang mặt hàng mới
Tuy nhiên, do số lượng lớn các FTA dự kiến
trong tương lai gần, Quỹ cần phải được kết
hợp thành một kế hoạch tổng thể phát triển
ngành nông nghiệp chứ không phải là một
phản ứng riêng biệt cho từng hiệp định
thương mại mới
Luật Thương mại điều chỉnh năm 2006
cũng tạo ra một quỹ để hỗ trợ cả công nhân
và các công ty sản xuất và dịch vụ liên quan
đến sản xuất bị ảnh hưởng xấu bởi các FTA
Đối với cá nhân người lao động, quỹ cung
cấp thông tin công việc, dịch vụ đào tạo,
dịch vụ tư vấn và trợ cấp việc làm Các công
ty được đưa ra dịch vụ tư vấn quản lý và hỗ
trợ tài chính cho R&D, đào tạo và đầu tư cơ
sở Tổng kinh phí dự kiến sẽ đạt 2,8 nghìn tỷ won (0,3% GDP) trong vòng hơn một thập
kỷ kể từ năm 2007 Hơn nữa, "Đạo luật tạo thuận lợi cho tái cơ cấu doanh nghiệp vừa và nhỏ" được tạo ra để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý định thay đổi hoạt động kinh doanh của họ như là một kết quả của FTA Tuy nhiên, trợ cấp phải liên quan mật thiết với tác động của FTA và tập trung vào việc cung cấp thông tin và đào tạo để tránh tạo ra các rủi ro đạo đức Hơn nữa, phạm vi bảo hiểm nên được mở rộng hơn cho các ngành công nghiệp dịch vụ
Suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây đã và đang thúc đẩy các nền kinh tế lớn tìm cách
mở rộng kí kết các hiệp định thương mại tự
do để tăng thị phần của mình, nhằm đối phó với việc thị trường xuất khẩu đang bị thu hẹp lại Những cuộc cạnh tranh khốc liệt để mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế của các nền kinh tế này đã mang đến một bài học quý giá cho Hàn Quốc, đó là FTA càng có hiệu lực sớm bao nhiêu, quốc gia đó càng thu được nhiều lợi ích sớm bấy nhiêu Do vậy, Hàn Quốc dưới thời Tổng thống Lee Myung-bak tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực kí kết hiệp định thương mại tự do với nhiều nước nhất có thể, cũng như tạo ra một môi trường trao đổi thương mại thuận lợi hơn so với các quốc gia đối thủ của mình
Việc kí kết nhiều Hiệp định FTA sẽ mang lại hiệu quả có tính lan truyền Hàn Quốc đã
kí kết hiệp định thương mại tự do với ASEAN, EU, và Mỹ trong thời gian gần đây
và đã trở thành quốc gia duy nhất trên thế giới kí kết FTA với 3 khối kinh tế khổng lồ này Điều đó đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ có lợi thế hơn khi tiếp cận với người tiêu dùng của châu Âu, Mỹ và
Trang 4ASEAN bằng các sản phẩm giá cả hợp lí
Nếu tận dụng tối đa yếu tố này, Hàn Quốc có
thể dễ dàng thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài Ví dụ, Hàn Quốc có thể trở thành địa
chỉ sản xuất mới cho các công ty Trung
Quốc đang muốn kiếm tìm một nơi sản xuất
nhằm xóa bỏ cái nhìn tiêu cực về sản phẩm
Made in China, hay những công ty Nhật Bản
đang chịu tác động từ việc tăng giá đồng
Yên Bằng cách đó, Hàn Quốc sẽ thu được
lợi ích tối đa từ việc trở thành trung tâm của
mạng lưới FTA toàn cầu Tất nhiên, trong
quá trình FTA phát huy hiệu lực, không thể
tránh khỏi trường hợp có những doanh
nghiệp trong nước chịu thiệt hại Đối với vấn
đề này, chính phủ cũng đã dự trù trước các
biện pháp nhằm đền bù và hỗ trợ các ngành,
lĩnh vực chịu thiệt hại đó Ngoài ra, chính
phủ Hàn Quốc còn nỗ lực nhằm tạo ra một
cơ chế quản lí và hệ thống pháp luật quốc
gia thuận lợi hơn, để thị trường dịch vụ trong
nước có thể phát triển và thu hút nhiều nhà
đầu tư nước ngoài hơn như đã nêu ở trên
Hiện nay, Hàn Quốc đã ký kết 8 FTA với
45 quốc gia, hiện đang chiếm hơn 40% tổng
GDP của thế giới, và các cuộc đàm phán
đang được tiến hành cho 8 FTAs mới với 13
quốc gia khác bao gồm cả FTA với Trung
Quốc mà các cuộc đàm phán đã bắt đầu Hàn
Quốc cũng đang chuẩn bị cho một FTA ba
bên với Nhật Bản và Trung Quốc.1 Nếu FTA
1 Hàn Quốc chuẩn bị cho một FTA ba bên với Nhật Bản
và Trung Quốc: Thảo luận về hội nhập kinh tế Đông Á đã
được diễn ra từ những năm 1990, và chủ nghĩa khu vực
cũng được thành lập xung quanh ASEAN ASEAN đã ký
kết FTA riêng biệt với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung
Quốc, tạo ra một nền tảng cho hội nhập kinh tế trong trong
khu vực Nhưng chúng ta phải nhận thức được rằng nếu
không có việc thúc đẩy hội nhập kinh tế giữa Hàn Quốc,
Nhật Bản và Trung Quốc - tổng sản lượng của chúng
chiếm khoảng 90% GDP của Đông Á - thì hội nhập kinh
tế thực sự ở Đông Á cũng coi như chưa thực sự diễn ra
này có hiệu lực, Hàn Quốc sẽ trở thành một trung tâm FTA, tham gia vào thương mại tự
do với nền kinh tế đại diện cho hơn 70% nền kinh tế toàn cầu Điều đó đã góp phần mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế của Hàn Quốc Tuy vậy, chính phủ Hàn Quốc vẫn cần phải hành động nhanh hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhất là trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia đối thủ đang tăng lên nhanh chóng như hiện nay
Một trào lưu hội nhập gần đây do Mỹ phát động đó là TPP Vậy câu hỏi đặt ra là, Hàn Quốc có thực sự cần thiết tham gia TPP ngay lúc này hay không?
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ thúc đẩy trong thời gian gần đây, qui định không chỉ với mức giá thấp, cạnh tranh chỉ với việc loại bỏ thuế hải quan
và hàng rào phi thuế quan, mà còn xuyên suốt các vấn đề như hài hòa hóa các qui chế, hội nhập kinh tế khu vực, thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia Ít nhất về nguyên tắc, TPP nhằm mục đích loại bỏ thuế hải quan mà không có trường hợp ngoại lệ, đại diện cho một cộng đồng kinh tế hội nhập với một mức độ rất cao của tự do hóa Nhưng vì Hàn Quốc đã ký FTA với hầu hết các thành viên hiện tại của TPP và đang tham gia vào các cuộc đàm phán FTA với các thành viên còn lại, nên Hàn Quốc không có động cơ ngay lập tức phải tham gia TPP Trong trường hợp nếu Hàn Quốc tham gia vào TPP Ngoài ra còn có dấu hiệu Úc, New Zealand và Ấn Độ sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong quá trình này, xua tan mối
lo ngại rằng hội nhập sẽ được dẫn dắt bởi riêng khối ASEAN Trong hoàn cảnh như vậy, cuộc thảo luận gần đây về một FTA giữa Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc có thể thổi một luồng sinh khí mới vào hội nhập kinh tế ở Đông Á
Trang 5tại thời điểm hiện tại, thỡ hầu hết những tỏc
động của cỏc FTA mà nú đó nỗ lực để cú
được sẽ bị suy giảm đỏng kể Tuy nhiờn,
Hàn Quốc cú thể phải chuẩn bị (hoặc cú thể
cần phải) tham gia TPP trong trung hạn
Ngay cả khi khu vực chõu Á - Thỏi Bỡnh
Dương là nơi mà phần lớn cỏc hoạt động
kinh tế của Hàn Quốc diễn ra, thỡ cũng
khụng cú lý do gỡ nú phải từ chối tham gia
vào một khuụn khổ mà cú khả năng trở
thành một trung tõm FTA cho toàn khu vực
Hàn Quốc quyết định tham gia vào TPP sẽ
phụ thuộc vào việc xem xột cẩn thận cỏc yếu
tố chẳng hạn như chủ nghĩa khu vực đối với
Trung Quốc và Nhật Bản, tiến bộ trong cỏc
cuộc đàm phỏn FTA ba bờn và sự tham gia
của cỏc nước khỏc trong khu vực chõu Á -
Thỏi Bỡnh Dương
Cỏc cuộc đàm phỏn FTA Hàn Quốc - Úc
hiện đang trong tiến trỡnh cũng sẽ cú một tỏc
động đỏng kể tới quỏ trỡnh hội nhập khu vực
ở Đụng Á và TPP Hàn Quốc và Úc là cỏc
quốc gia thương mại cú cỏc nền kinh tế bổ
sung lẫn nhau, họ cũng là cỏc quốc gia cú
ảnh hưởng quyền lực hạng trung, thường
xuyờn tham gia vào cỏc vấn đề khỏc nhau
trong cộng đồng quốc tế Cả Hàn Quốc và
Úc đó ký FTA với Mỹ và đang tớch cực theo
đuổi hội nhập kinh tế ở Đụng Á Hai nước
đều là thành viờn của WTO, OECD và G20,
và cũng đang phối hợp với nhau để thỳc đẩy
cỏc cuộc đàm phỏn trong khu vực thụng qua
APEC, Hội nghị Đụng Á, và Diễn đàn Khu
vực ASEAN
2 Thu hỳt đầu tư nước ngoài thụng
qua cỏc khu kinh tế tự do (FIZ, FTZ,
FEZ)
Kể từ giữa thập niên 1990, với t- cách là
thành viên của OECD và tham gia Vòng đàm
phán Uruguay, Hàn Quốc bắt đầu thực hiện
dỡ bỏ các rào cản của mình đối với các hoạt
động đầu t- n-ớc ngoài Kết quả là, cả đầu t- trực tiếp của Hàn Quốc ra n-ớc ngoài và đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài vào Hàn Quốc đều không ngừng tăng lên trong suốt nửa cuối của thập niên 1990 Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra ở Hàn Quốc vào cuối năm 1997, chính phủ Hàn Quốc đã thực thi một loạt các biện pháp chính sách nhằm thu hút đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài Chính phủ đã
đẩy mạnh lộ trình tự do hoá và tiến hành tự
do hoá các hoạt động M&A và sở hữu n-ớc ngoài về đất đai vào năm 1998 Kể từ đó, Hàn Quốc đã mở cửa hầu hết các lĩnh vực kinh doanh mà tr-ớc đây bị đóng cửa đối với
đầu t- n-ớc ngoài Thị tr-ờng tài chính đã
đ-ợc mở cửa mạnh mẽ Các ngân hàng n-ớc ngoài đã đ-ợc phép mở chi nhánh tại Hàn Quốc Thị tr-ờng trái phiếu cũng đ-ợc tự do hoá hoàn toàn Trong thị tr-ờng chứng khoán, giới hạn trần đầu t- chứng khoán của ng-ời n-ớc ngoài đã đ-ợc dỡ bỏ ngoại trừ một số doanh nghiệp sở hữu nhà n-ớc đặc biệt Hơn nữa, hầu hết các chuyển đổi tài khoản vãng lai liên quan đến hoạt động của các thể chế tài chính và công ty cũng đ-ợc tự
do hoá Chính sách tự do hoá này không chỉ nhằm mục tiêu thu hút đầu t- n-ớc ngoài mà
nó còn tạo nên một thị tr-ờng có tính cạnh tranh hơn và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc
tế Bên cạnh đó, chính phủ Hàn Quốc còn
đơn giản hoá và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình cấp phép đầu t- n-ớc ngoài Năm 1998, Trung tâm Dịch vụ đầu t- đã
đ-ợc thành lập nhằm cung cấp dịch vụ “ một cửa” cho các nhà đầu t- n-ớc ngoài Năm
1999, một Văn phòng Kiểm tra đầu t- cũng
Trang 6đã đ-ợc thiết lập nhằm giúp đỡ các nhà đầu
t- n-ớc ngoài
Nhờ các ch-ơng trình tự do hoá tích cực
này mà FDI vào Hàn Quốc đã không ngừng
tăng lên, đặc biệt là sau khủng hoảng tài
chính châu á 1997 FDI vào Hàn Quốc năm
1998 tăng 62,5% và năm 1999 tăng 90,4%
Tính cả giai đoạn 1962 - 2002 tổng FDI vào
Hàn Quốc đạt 78 tỷ USD Nếu tính riêng giai
đoạn sau khủng hoảng 1998 - 2002 FDI vào
Hàn Quốc đạt 53 tỷ USD (chiếm tới 68%
tổng số FDI của 3 thập kỷ) Tuy nhiên, kể từ
năm 2001, FDI vào Hàn Quốc đã bắt đầu có
xu h-ớng giảm sút
Mặt khỏc, những lợi ớch từ FDI đó bị hạn
chế bởi số lượng dũng vốn vào Hàn Quốc là
tương đối nhỏ Mặc dự cú sự gia tăng kể từ
năm 1997, nhưng vốn FDI vào Hàn Quốc so
với GDP vẫn thuộc loại thấp nhất (xếp thứ 6)
trong khu vực OECD trong năm 2002
"Dũng FDI vào tiềm năng" của Hàn Quốc
xếp thứ 14 trong số cỏc nước OECD theo
UNCTAD Ngược lại, hiệu suất của Hàn
Quốc so sỏnh dũng vốn thực tế với quy mụ
kinh tế của nú, xếp hạng 24 trong năm 2005
cho thấy rằng cũn nhiều vấn đề đối với vốn
đầu tư nước ngoài tăng thờm tại Hàn Quốc
Tuy nhiờn, dũng FDI giảm từ 9,3 tỷ USD
năm 2004 xuống 6,3 tỷ USD trong năm
2005, khiến thị phần của Hàn Quốc trờn cỏc
dũng vốn FDI thế giới giảm từ 1,1% xuống
0,8% Dũng FDI giảm thờm xuống 3,7 tỷ
USD trong năm 2006, OECD, ECO/WKP
(2008) và năm 2007, FDI vào Hàn Quốc đã
giảm xuống chỉ còn 2,63 tỷ USD Tiềm năng
chưa hiện thực và xu hướng giảm dần cho
thấy sự cần thiết phải giải quyết cỏc yếu tố
rào cản đối với dũng vốn FDI và cải thiện
chớnh sỏch nhằm thu hỳt cỏc nhà đầu tư nước ngoài
Ngày 25/2/2008 chớnh phủ Tổng thống Lee Myung-bak lờn nắm quyền Khụng giống như người tiền nhiệm, Tổng thống Lee xuất thõn từ giới kinh doanh, đó từng là tổng giỏm đốc điều hành (CEO) của tập đoàn xõy dựng hàng đầu Hàn Quốc trong thời hoàng kim của tăng trưởng cụng nghiệp thập niờn
1970 ễng cũng từng là thị trưởng của thủ
đụ Seoul Một trong năm mục tiờu quan trọng hàng đầu của chớnh phủ Lee là khụi phục đà tăng trưởng cho nền kinh tế Hàn Quốc và mở cửa hơn nữa thị trường trong nước Chớnh phủ tổng thống Lee cam kết cắt giảm thuế để khuyến khớch đầu tư của cỏc cụng ty và thực hiện phi điều chỉnh toàn diện nhằm thu hỳt đầu tư nước ngoài với những khuyến khớch đổi mới và một mụi trường kinh doanh thõn thiện hơn Sau khi nhậm chức, tổng thống Lee đó thiết lập một Hội đồng cạnh tranh quốc gia trực thuộc tổng thống, trong đú bao gồm nhiều thành viờn là cỏc chuyờn gia nước ngoài Tại cuộc họp đầu tiờn do tổng thống chủ trỡ, Hội đồng này đó quyết định giảm mạnh thời gian cần thiết cho việc phờ duyệt cỏc khu cụng nghiệp xuống tối đa là 6 thỏng, từ mức 2 cho đến 4 năm Sự điều chỉnh rỳt ngắn thời gian này đó giỳp giảm bớt những trở ngại khụng chỉ đối với cỏc nhà phỏt triển tư nhõn mà cũn với cả cỏc cụng ty mới thành lập
Hàn Quốc đó thực hiện nhiều sỏng kiến chớnh sỏch khỏc nhau để thu hỳt dũng vốn FDI từ năm 1970 và những nỗ lực này đó được tăng cường kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chớnh 1997 Đặc biệt kể từ năm
2003, Hàn Quốc bắt đầu chỳ trọng thu hỳt đầu tư nước ngoài vào cỏc đặc khu kinh tế
Trang 7Cụ thể, hiện nay Hàn Quốc có bốn loại khu
vực đặc biệt nhằm khuyến khích vốn đầu tư
nước ngoài: 24 khu đầu tư nước ngoài (FIZ)
loại A, có thể được đặt bất cứ nơi nào trong
nước, 11 FIZ loại B (tổ hợp công nghiệp); 9
khu mậu dịch tự do (FTZ) và 3 khu kinh tế
tự do (Fez) Ưu đãi về thuế là một khía cạnh
quan trọng của từng loại khu vực Miễn
100% thuế thu nhập công ty trong 5 năm đầu
tiên kể từ khi có thu nhập (đối với FIZ) và 3
năm đầu tiên (đối với FEZ), miễn 50% trong
2 năm tiếp theo Miễn thuế đối với hàng hóa
nhập khẩu đầu vào phục vụ sản xuất Ưu đãi chủ yếu nhằm vào các ngành có hàm lượng tri thức cao và công nghiệp giá trị gia tăng cao thúc đẩy đổi mới Chính phủ chi trả 50% các chi phí hạ tầng cơ sở, hỗ trợ tài chính khuyến khích thuê dài hạn Ngoài ra các khu FEZ này còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác như nhà ở, trường học, bệnh viện, vui chơi, và các dịch vụ hành chính, quản lý theo chuẩn quốc tế, … để nhà đầu tư nước ngoài có thể làm việc và sinh hoạt một cách tiện lợi nhất
Ưu đãi ở các khu công nghiệp nhằm thu hút vốn FDI
Điều kiện được
ưu đãi thuế
- Sản xuất (lớn hơn
30 triệu USD)
- Dịch vụ công nghiệp phụ trợ ((lớn hơn 30 triệu USD)
- Du lịch (lớn hơn
20 triệu USD)
- Hậu cần (lớn hơn
10 triệu USD)
- R&D (lớn hơn 0,5 triệu USD)
Sản xuất (lớn hơn
10 triệu USD)
- Hậu cần (lớn hơn
10 triệu USD)
Sản xuất (lớn hơn 10 triệu USD)
- Du lịch (lớn hơn 10 triệu USD)
- Hậu cần (lớn hơn 10 triệu USD)
Sản xuất (lớn hơn 10 triệu USD)
- Hậu cần (lớn hơn 10 triệu USD)
trong 5 năm đầu, 50% cho 2 năm tiếp theo 2
100% miễn thuế cho 3 năm đầu, 50% cho 2 năm tiếp theo 2
100% miễn thuế cho 3 năm đầu, 50% cho 2 năm tiếp theo 2
100% miễn thuế cho 3 năm đầu, 50% cho 2 năm tiếp theo 2
hàng hóa vốn đầu
tư
100% miễn thuế hàng hóa vốn đầu
tư
100% miễn thuế hàng hóa vốn đầu tư 100% miễn thuế hàng hóa nhập khẩu
Ghi chú:
1 Miễn giảm áp dụng cho thuế quốc gia, như thuế công ty và thuế thu nhập, thuế địa phương, như thuế tài sản, đăng ký và sát nhập
2 Có thể mở rộng tới 15 năm đối với thuế địa phương
3 Nghĩa vụ khách hàng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế VAT
4 100% đối với ngành công nghiệp công nghệ cao với mức đầu tư trên 1 triệu USD 75% đối với các doanh nghiệp sản xuất với mức đầu tư trên 5 triệu USD
5 100% đối với các công ty công nghệ cao với mức đầu tư trên 0,5 triệu USD và các ngành công nghiệp khác có mức đầu tư trên 1 triệu USD
Nguồn: Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc
Trang 8Kết quả của chính sách thu hút mạnh mẽ
FDI của Hàn Quốc đó là, luồng vốn FDI vào
Hàn Quốc đã đạt 10,5 tỷ USD năm 2007
Tổng FDI vào Hàn Quốc trong 3 năm
2004-2006 đã vượt xa con số của giai đoạn
2001-2003 Năm 2009 đạt 11,5 tỷ USD và năm
2010 đạt 13,1 tỷ USD Năm 2011 đạt 13,7 tỷ
USD và năm 2012 đạt 16,3 tỷ USD (tăng
19% so với năm 2011) Đầu tư nước ngoài ở
tất cả các ngành công nghiệp đã tăng lên
trong năm ngoái (ngoại trừ lĩnh vực bất động
sản), riêng FDI trong lĩnh vực dịch vụ đã
tăng 31,7% Mỹ, Nhật Bản và Hà Lan là 3
nước có FDI lớn nhất vào Hàn Quốc hiện
nay Năm 2012, Nhật Bản đứng vị trí thứ
nhất với 4,54 tỷ USD, tăng 98% so với năm
trước; Mỹ đứng thứ hai với 3,67 tỷ USD; EU
đứng thứ 3 với 2,69 tỷ USD thấp hơn một
nửa so với năm 2011 Các lĩnh vực như IT,
linh kiện ô tô, hậu cần, và các dịch vụ khác
được kỳ vọng là những khu vực sẽ thu hút
FDI nhiều nhất trong tương lai thông qua các hoạt động mua bán & sát nhập (M&A).2
Trong những năm gần đây, đầu tư chứng khoán của nước ngoài vào Hàn Quốc cũng gia tăng đáng kể, tính đến cuối năm 2012, sở hữu nước ngoài chiếm tới 34,7% thị trường chứng khoán Hàn Quốc
Cùng với sự gia tăng FDI vào Hàn Quốc thì luồng FDI ra nước ngoài cũng tăng lên đáng kể nhờ các công ty Hàn Quốc đã tận dụng được lợi thế của toàn cầu hóa và liên tục mở rộng chuỗi cung ứng
FTA Hàn Quốc – Mỹ đã có hiệu lực từ ngày 15 tháng 3 năm 2012 là một bước tiến đáng kể trong việc cải thiện khung khổ pháp
lý cho các nhà đầu tư Mỹ ở Hàn Quốc Tất
cả các hình thức đầu tư đều được bảo vệ dưới khung khổ FTA này, bao gồm các doanh nghiệp, các khoản nợ, nhượng bộ và các hợp đồng tương tự, và quyền sở hữu trí
2 http://seoul.usembassy.gov/business_0612.html
3 khu FEZ được thiết lập ở Hàn Quốc năm 2003
- Hậu cần hàng không
- Kinh doanh
- Du lịch và giải trí
- IT và BT
- Hậu cần hàng hải
- Công nghiệp thép và hóa dầu
- Hậu cần hàng hải
- Công nghiệp ô tô và linh kiện, máy móc, và các ngành công nghiệp nặng tiến tiến
Trang 9tuệ Với rất ít ngoại lệ, các nhà đầu tư Mỹ sẽ
được đối xử giống như các nhà đầu tư Hàn
Quốc (cũng như các nhà đầu tư từ các nước
khác) trong việc thiết lập, mua lại, và xúc
tiến các hoạt động đầu tư ở Hàn Quốc
Kể từ năm 2007, FDI ra nước ngoài của
Hàn Quốc đã tăng lên nhanh chóng và vượt
FDI vào Hàn Quốc FDI của Hàn Quốc ra
nước ngoài đã vượt 10 tỷ USD năm 2007
Trung Quốc là địa chỉ ưa thích nhất của các
nhà đầu tư Hàn Quốc bởi họ muốn tận dụng
lợi thế về mặt địa lý gần gũi, dân số đông
nhất thế giới và thị trường tăng trưởng
nhanh, liên tục Tuy nhiên, gần đây do chi
phí ở Trung Quốc tăng cao nên các công ty
Hàn Quốc có xu hướng chuyển dịch đầu tư
sang các nước khác có chi phí rẻ hơn ở khu
vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
* *
* Tóm lại, có thể nói, những điều chỉnh
chính sách chủ yếu của Hàn Quốc trong lĩnh
vực tự do hóa thương mại và đầu tư nước
ngoài trong thập niên gần đây đó là:
- Trong khi vừa tham gia vào các đàm
phán đa phương thì Hàn Quốc cũng đồng
thời thích ứng với các cách tiếp cận song
phương và đa trọng tâm đối với các hiệp ước
mậu dịch khu vực Trong đó quan trọng nhất
phải kể đến là các FTA của Hàn Quốc với
Mỹ (Korea-US FTA) và với Liên minh châu
Âu (Korea-EU FTA) Một hiệp định FTA
toàn diện với hai nền kinh tế lớn nhất thế
giới sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn
nhờ gia tăng các hoạt động đầu tư và thương
mại
- Hàn Quốc đang hoạch định các chiến
lược nhằm thương mại hóa vị trí quốc gia
như một quốc gia bán đảo trung chuyển, kết
nối giữa một tập đoàn kinh tế lục địa được
dẫn dắt bởi Trung Quốc và Nga với một tập đoàn kinh tế biển đảo được dẫn dắt bởi Nhật Bản, Mỹ và các nền kinh tế vành đai Thái Bình Dương Triển vọng thành công của chiến lược này phụ thuộc chủ yếu vào việc Hàn Quốc thực hiện thành công chiên lược thu hút luồng FDI mới và kêu gọi tái đầu tư
từ các nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu thông qua việc kết nối mạng hàng hóa thành phẩm, phụ kiện và vật liệu, hậu cần, tài chính, các công ty con địa phương của các công ty đa quốc gia, và các trung tâm nghiên cứu & triển khai (R&D) Điều này là hoàn toàn khả thi nếu Hàn Quốc khai thác tối đa lợi ích từ FTA Hàn - Mỹ cũng như từ các hiệp định mậu dịch tự do khác và thu hút một cách chủ động hiệu quả luồng vốn FDI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lee Myung-bak’s Foreign Policy: A
250-Day Assessment, Scott Snyder, Korean Journal
of Defense Analysis, Volume 21 Issue 1, March
2009
2 Attraction of High Value Added Businesses - Experience of Free Economic
Zones in Korea, Yong Chun Baek, Planning
office of Free Economic Zone, Ministry of Finance and Economy, May 2006.
3 Hwang Doo-yun, Korea’s International
Trade Policy in the Global Age, East Asian
Review, Vol.13, No 3, Autumn 2001
4 Kang-ho Park, Korea’s Role in Global
Development, The Brookings Institution, 2012
5 Chuk Kyo Kim, Korea’s Development
Developing Countries, KIEP, 2008.