1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ

63 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 4,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN VĂN HẢI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦNG QUẦN VÀ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI CÁ SÒNG NHẬT TRACHURUS JAPONICUS TEMMINCK & SCHLEGEL, 1844 Ở VÙNG ĐÁNH CÁ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦNG QUẦN VÀ BIẾN

ĐỘNG NGUỒN LỢI CÁ SÒNG NHẬT (TRACHURUS JAPONICUS TEMMINCK

& SCHLEGEL, 1844) Ở VÙNG ĐÁNH CÁ CHUNG VỊNH BẮC BỘ

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KHÁNH HÒA, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN VĂN HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦNG QUẦN VÀ BIẾN

ĐỘNG NGUỒN LỢI CÁ SÒNG NHẬT (TRACHURUS JAPONICUS TEMMINCK

& SCHLEGEL, 1844) Ở VÙNG ĐÁNH CÁ CHUNG VỊNH BẮC BỘ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan mọi trích dẫn trong luận văn cũng như mọi số liệu được dùng được trích dẫn là hoàn toàn rõ nguồn gốc

Nha Trang, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TSKH Phạm Thược là người hướng dẫn trực tiếp và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, chủ nhiệm dự

án Điều tra liên hợp Việt - Trung đã cho phép tôi sử dụng nguồn số liệu của dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Phòng nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản, Viện Nghiên cứu Hải sản đã giúp đỡ tôi thu thập, phân tích mẫu vật trong quá trình nghiên cứu Tôi cũng xin dành những lời chân thành nhất để cảm ơn gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu cá sòng Nhật trên thế giới 3

1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, hình thái và phân bố 3

1.1.2 Nghiên cứu về tuổi và sinh trưởng 4

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm nguồn lợi 8

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 9

CHƯƠNG II TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Tài liệu nghiên cứu 11

2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

2.1.2 Tài liệu nghiên cứu 12

2.2 Phương pháp nghiên cứu 13

2.2.1 Phương pháp thu mẫu 13

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 15

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1 Thành phần chiều dài 18

3.2 Đặc điểm sinh trưởng 20

3.2.1 Tương quan chiều dài – khối lượng 21

Trang 6

3.2.2 Đặc điểm đá tai 22

3.2.3 Xác định tuổi cá bằng đá tai 24

3.3 Đặc điểm sinh sản 27

3.3.1 Cấu trúc giới tính 27

3.3.2 Tỷ lệ thành thục sinh dục 29

3.3.3 Chiều dài Lm50 32

3.4 Hiện trạng và biến động nguồn lợi 34

3.4.1 Tỷ lệ sản lượng 34

3.4.2 Năng suất khai thác 36

3.4.3 Phân bố 38

3.4.4 Mật độ và trữ lượng 40

CHƯƠNG IV – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 43

4.1 Kết luận 43

4.2 Khuyến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nguồn số liệu được sử dụng trong luận văn 12

Bảng 3.1 Thành phần chiều dài bắt gặp qua các chuyến khảo sát năm 2013 18

Bảng 3.2 Tổng hợp các giá trị mẫu đá tai quan sát 23

Bảng 3.3 Mối quan hệ giữa chiều dài cơ thể (FL) với số vòng năm trên đá tai 24

Bảng 3.4 Chiều dài trung bình của các nhóm tuổi và tốc độ tăng trưởng cá sòng Nhật 26

Bảng 3.5 Kết quả nghiên cứu tuổi và sinh trưởng của một số tác giả ở một số vùng biển 27

Bảng 3.6 Trữ lượng tức thời (tấn) cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ 2006 - 2013 42

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ phạm vi nghiên cứu 11

Hình 3.1 Biến động chiều dài trung bình cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ năm 2006 - 2013 20

Hình 3.2 Biều đồ tương quan chiều dài - khối lượng của cá sòng Nhật 22

Hình 3.3 Hình thái đá tai cá sòng Nhật 23

Hình 3.4 Tương quan giữa chiều dài cơ thể và chiều dài đá tai cá sòng Nhật 24

Hình 3.5 Cấu trúc giới tính theo tháng của quần đàn cá sòng Nhật 28

Hình 3.6 Cấu trúc giới tính của quần đàn cá sòng Nhật từ năm 2006 - 2013 29

Hình 3.7 Cấu trúc giới tính theo nhóm chiều dài 29

Hình 3.8 Tỷ lệ thành thục các giai đoạn chín muồi sinh dục theo các tháng trong năm của cá sòng Nhật từ 2006 - 2013 30

Hình 3.9 Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới đực 31

Hình 3.10 Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới cái 32

Hình 3.11 Chiều dài thành thục sinh dục Lm50 của cá sòng Nhật đực và cái 33

Hình 3.12 Tỷ lệ sản lượng của cá sòng Nhật trong các chuyến điều tra từ năm 2006-2013 35

Hình 3.13 Năng suất khai thác trung bình (CPUEtb) cá sòng Nhật theo các chuyến điều tra từ 2006 – 2013 36

Hình 3.14 Biến động năng suất khai thác trung bình (CPUEtb) cá sòng Nhật theo tháng 37

Hình 3.15 Biến động năng suất khai thác cá sòng Nhật từ năm 2006 - 2013 37

Hình 3.16 Hiện trạng phân bố năng suất khai thác cá sòng Nhật trong năm 2012 - 2013 40

Hình 3.17 Biến động mật độ phân bố cá sòng Nhật theo các chuyến điều tra từ 2006 – 2013 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

Ở nước ta hiện nay, sự suy giảm nguồn lợi hải sản đã và đang xảy ra hầu hết các vùng biển Tuy nhiên, công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi làm căn cứ khoa học cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi chưa được quan tâm đúng mức Có rất nhiều các cách tiếp cận, các phương pháp, các mô hình khác nhau trong việc đánh giá nguồn lợi hải sản Trong đó nghiên cứu đặc điểm sinh học, tìm hiểu quy luật phân bố

và biến động sản lượng là công việc không thể thiếu trong các mô hình đánh giá nguồn lợi Đánh giá nguồn lợi thông qua các chỉ số sinh học đã và đang được rất nhiều các nhà nghiên cứu sinh học nghề cá quan tâm hiện nay không những đối với cá mà còn đối với một số đối tượng hải sản khác

Cá sòng Nhật (Trachurus japonicus Temminck & Schlegel, 1844) là một trong

những loài hải sản giá trị kinh tế có sản lượng khai thác cao bằng nghề lưới kéo đơn trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ Chúng chiếm trung bình khoảng 6% trong tổng sản lượng các chuyến điều tra trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ (Phạm Huy Sơn và nnk, 2011) Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài cá này ở vùng biển Việt Nam nói chung và vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ nói riêng vẫn còn tồn tại những hạn chế Những nghiên cứu trước đây thường đơn lẻ, chưa đồng bộ, khác xa với thời điểm hiện tại Hiện trạng nguồn lợi cá sòng Nhật hiện tại chưa được đánh giá đúng Mối quan tâm về đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi của loài cá kinh tế này ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ là cần thiết và cần phải có một nghiên cứu đầy

đủ về vấn đề này Việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi của cá sòng Nhật (Trachurus japonicus Temminck & Schlegel, 1844) ở vùng biển đánh cá chung vịnh Bắc Bộ” là cần thiết, góp phần làm

cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững loài cá này

*/ Mục tiêu của đề tài:

+/ Xác định một số đặc điểm sinh học chủng quần của cá sòng Nhật

+/ Xác định biến động nguồn lợi của cá sòng Nhật ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ trong giai đoạn 2006 – 2013

Trang 10

*/ Ý nghĩa khoa học của đề tài:

- Lần đầu tiên xác định tuổi cá sòng Nhật bằng phương pháp quan sát số vòng năm trên đá tai Kết quả chính xác của nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho các nhà khoa học quan tâm về cá sòng Nhật

- Biến động nguồn lợi cá sòng Nhật được nghiên cứu trong một khoảng thời gian là 8 năm và đã chỉ ra được qui luật biến động nguồn lợi của loài cá này Điều này có ý nghĩa rất tốt cho các nghiên cứu sau này về biến động nguồn lợi của các loài cá nổi khác

*/ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Đề tài đánh giá được một số đặc điểm sinh học của cá sòng Nhật và đánh giá được biến động nguồn lợi của loài cá này, điều này mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng không những cho học viên nghiên cứu mà còn cho các nghiên cứu sau này về cá sòng Nhật cũng như một số loài cá nổi nhỏ khác

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu cá sòng Nhật trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, hình thái và phân bố

Cá sòng Nhật (Trachurus japonicus) đã được Temminck và Schlegel (1844) lần

đầu tiên mô tả, xác định và đặt tên loài Cá sòng Nhật nằm trong hệ thống phân loại sau: Giới: Animalia

Tên tiếng Anh: Japanese jack mackerel

Tên Việt Nam: Cá sòng Nhật, cá sòng cộ

Đặc điểm hình thái cá sòng Nhật: cá sòng Nhật là loài cá có dạng hình thoi Các chỉ tiêu đếm như sau: D VIII-I, 30-35; A II-I, 26-30; số vẩy trên đường bên 69-73; số đốt sống 24 Cá sòng Nhật là loài chỉ bắt gặp ở vùng biển phía tây Thái Bình Dương Chúng phân bố chủ yếu từ vùng biển Nhật Bản, kéo dài xuống vùng biển phía đông Trung Hoa và vùng biển Đài Loan Theo Udupa thì cá sòng Nhật phân bố rộng rãi tới tận vùng biển Đông Nam châu Á, trong đó có vùng biển Việt Nam (Udupa, 1986)

Cá sòng Nhật là loài cá có kích thước trung bình Chiều dài phổ biến của cá thể trưởng thành là 25cm Ở cá sòng Nhật, kích thước thành thục sinh dục lần đầu dao động từ 18-20cm Chiều dài cao nhất đã bắt gặp của cá sòng Nhật là 50cm, tương ứng với khối lượng 660g và 12 năm tuổi (Sparre P and Venema S C., 1998)

Trang 12

Các nghiên cứu gần đây về loài cá này ở Nhật Bản của Nakabo T., đã chỉ rõ đặc điểm hình thái và các chỉ tiêu đếm của cá sòng Nhật Cụ thể tác giả đã miêu tả chi tiết hình thái cá sòng Nhật, các chỉ tiêu bao gồm D VIII-I, 30-35; A II-I, 26-30; số vảy đường bên từ 69-73 chiếc; số lược mang từ 13-15 + 37-41; số đốt sống là 24 (Nakabo T., 2002)

Một số nghiên cứu về hình thái của cá sòng Nhật ở vùng biển Đài Loan, Nhật Bản cho thấy có sự tồn tại của 3 chủng quần cá sòng Nhật Các tác giả đã dựa vào đặc điểm hình thái của đầu và số tia vây mềm của hậu môn để chia cá sòng Nhật thành 3 chủng quần độc lập, bao gồm: chủng quần phía bắc Kyushu; chủng quần trung tâm vùng biển phía đông Trung Hoa và chủng quần ở vùng biển đông nam Trung Hoa (Hotta H and Nakashima J., 1970)

Nghiên cứu về hình thái còn được tiến hành trên cả ấu trùng của cá sòng Nhật qua các giai đoạn phát triển Trên cơ sở theo dõi 196 mẫu ương nuôi bắt đầu từ giai đoạn trứng lên giai đoạn cá con trong phòng thí nghiệm, Ochiai, A., đã đưa ra một số kết quả về biến đổi hình thái của cá con cá sòng Nhật (Ochiai, 1982)

1.1.2 Nghiên cứu về tuổi và sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tăng trưởng về kích thước của một cá thể sinh vật theo thời gian (Bùi Lai và nnk, 1985) Tùy thuộc vào vòng đời của mỗi loại sinh vật khác nhau mà thời gian tăng trưởng được tính theo năm, theo tháng, theo ngày hoặc theo giờ Khác với các động vật bậc cao, sinh trưởng của cá là sự sinh trưởng suốt vòng đời Tuy vậy tốc độ sinh trưởng có sự khác nhau trong những giai đoạn khác nhau Thông thường những giai đoạn đầu, cá tăng trưởng về chiều dài nhanh hơn tăng trưởng

về khối lượng, những giai đoạn sau khi đã đạt trạng thái trưởng thành thì sự tăng trưởng ở cá lại chủ yếu tăng về khối lượng Càng về cuối chu kỳ sống thì tăng trưởng của cá càng giảm dần, hướng tới kích thước tiệm cận (Nikolsky G V, 1963)

Tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài Trong các yếu tố bên ngoài tác động thì thức ăn là yếu tố quan trọng nhất tác động tới tốc độ sinh trưởng của cá Khi sinh trưởng nhanh cá đòi hỏi nhiều thức ăn hơn, do vậy vào những thời điểm trong năm có thức ăn phong phú cá sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh vào thời gian đó Tương tự ở những thủy vực khác nhau về nguồn thức ăn thì sự tăng trưởng này cũng có sự khác nhau

Trang 13

Cá cũng như các động vật biến nhiệt khác, sự sinh trưởng là có tính chất chu kỳ Vào mùa nhất định nào đó trong năm cá sẽ sinh trưởng rất nhanh trong khi sẽ sinh trưởng chậm lại ở các mùa khác Sự sinh trưởng không đồng đều này đã được thể hiện qua những vân sinh trưởng trên những phần cứng của cơ thể cá như vẩy, xương sống, gai lưng hoặc đá tai Vào thời kỳ sinh trưởng nhanh, các vân sinh trưởng thô, đậm và khoảng cách giữa chúng thưa ra Vào thời kỳ sinh trưởng chậm thì các vân này sít lại gần nhau hơn và mảnh hơn (Nguyễn Xuân Huấn, 1996) Trong các trường hợp điển hình, ranh giới giữa 2 vùng vân sinh trưởng như thế được coi là 1 vòng năm

Các công trình nghiên cứu về tuổi và sinh trưởng của cá sòng Nhật được tiến hành khá sớm và có nhiều công trình đã được công bố

Công trình nghiên cứu đầu tiên phải kể tới là nghiên cứu của Mukarami năm

1949 về một số loài hải sản quan trọng ở vùng biển quanh đảo Amakusa của Nhật Bản, trong đó có cá sòng Nhật Nghiên cứu trên đã xác định được các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy, cụ thể như sau: L∞ = 64,7cm; k = 0,14/năm (Mukarami, 1949)

Phương pháp sử dụng vảy để nghiên cứu sinh trưởng của cá sòng Nhật đã được Suzuki (1968) tiến hành trên cơ sở phân tích 321 mẫu thu thập ở vùng biển ven bờ Nhật Bản từ năm 1965 – 1967 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác nhau rõ rệt về chiều dài của cá thể có cùng một vòng năm Nguyên nhân của sự khác nhau đó có thể

là do sự khác nhau về thời gian sinh sản giữa các cá thể trong cùng một quần đàn ở cùng một vùng nước và giữa các cá thể trong quần đàn khác nhau ở những vùng khác nhau Một nguyên nhân khác cũng được đưa ra đó là tốc độ sinh trưởng của các cá thể

ở các chủng quần, vùng biển khác nhau là khác nhau (Suzuki, 1968)

Cá sòng Nhật ở vịnh Sagami – Nhật Bản được nghiên cứu về sinh trưởng bằng phương pháp Urohya Giá trị các tham số sinh trưởng được đưa ra là: L∞ = 51,2cm; k

= 0,28/năm; hệ số chết tự nhiên của loài này là M = 0,99 (Kim, 1969)

Dẫn liệu về sinh trưởng của cá sòng Nhật ở vùng biển Nhật Bản cũng đã được công bố trong công trình của Pauly năm 1978 Tác giả đã công bố 2 kết quả như sau: L∞1 = 65,6cm; k1 = 0,22/năm; t1 = -0,65 năm và L∞2 = 64,7cm; k2 = 0,14/năm (Pauly, 1978)

Trang 14

Ở vùng biển phía đông Trung Hoa, các đặc điểm sinh học chủng quần của loài

cá sòng Nhật cũng được tiến hành nghiên cứu Kết quả cũng được Mitani, F Và Ida, E công bố như sau: L∞ = 42,5cm; k = 0,73/năm; t = -0,07 (Mitani F and Ida E., 1964)

Từ năm 1966 – 1970 các mẫu vảy của cá sòng Nhật đã được thu thập một cách thường xuyên ở vùng biển quanh đảo Cheju và các chợ cá ở Pusan, Mokpo Kết quả cho thấy vòng năm trên vảy cá của cá sòng Nhật ở vùng biển này thể hiện rõ trong khoảng thời gian từ tháng 3 tới tháng 6 hàng năm Tương quan giữa bán kính vảy (R)

và chiều dài đến chẽ vây đuôi (FL) được biểu diễn bằng phương trình FL=149R+0,04 Các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy ước tính là L∞ = 42,5; k

= 0,25/năm; t0 = -0,81 năm; W∞ = 1000g Phương trình tương quan chiều dài khối lượng cũng được đưa ra là W = 1,1318 x 10-5 x L3 (Ann, 1973)

Các nghiên cứu sử dụng đá tai để xác định tuổi và sinh trưởng của cá sòng Nhật cũng đã được tiến hành ở vùng biển phía tây Nhật Bản Các nghiên cứu đã dựa vào các đặc điểm khác biệt trên đá tai để tách thành 3 chủng quần cá sòng Nhật riêng biệt Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng riêng cho từng chủng quần cá sòng Nhật đã được công

bố Phương trình tương quan giữa kích thước đá tai (R) và chiều dài (L) tương ứng với các chủng quần là L1 = 3,82 + 1,46R + 0,84R2; L2 = -2,37 + 4,81R – 0,415R2; L3 = 23,67 – 10,27R + 2,555R2 Các tham số trong phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy tương ứng cho từng chủng quần là L∞1 = 40,4 cm, k1 = 0,31/năm, t01 = - 0,75 năm; L∞2 = 38,6 cm, k2 = 0,35/năm, t02 = - 0,6; L∞3 = 32,5 cm, k3 = 0,26/năm, t03

= - 1,47 năm Phương trình tương quan chiều dài – khối lượng cũng được xác định: W1

= 0,0134 x L3, W2 = 0,0117 x L3, W3 = 0,0114 x L3 (Nakashima J, 1982)

Công trình nghiên cứu gần đây về tuổi và sinh trưởng cá sòng Nhật của Nishida

& Hasegawa năm 1994 đã nghiên cứu mùa sinh sản và các đặc điểm sinh học chủng quần của cá sòng Nhật từ năm 1991 – 1993 Các tác giả đã xác định được các tham số trong phương trình sinh trưởng von Bertalanffy, cụ thể là: L∞1 = 38,6 cm, k1 = 0,35/năm, t01 = - 0,61 năm, L∞2 = 39,3 cm, k2 = 0,38/năm, t02 = - 0,65 năm, L∞3 = 40,3

cm, k3 = 0,32/năm, t03 = - 0,74 năm Tác giả cũng đưa ra nhận xét là không có sự khác nhau nào về sinh trưởng đường kính đá tai giữa các cá thể đực và cái trong cùng một

độ tuổi (Nishida H and Hasegawa S., 1994)

Trang 15

Các nghiên cứu mới nhất về tuổi và sinh trưởng của cá sòng Nhật được tiến hành ở vùng biển phía đông bắc Đài Loan Năm 2013, Hsueh-Jung Lu và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu rất kỹ lưỡng về cấu trúc quần đàn, tuổi và các tương quan giữa chiều dài – khối lượng, chiều dài cá và chiều dài đá tai và các tham số trong phương trình sinh trưởng của von Bertalanffy Nhóm tác giả đã sử dụng nguồn số liệu thu thập

đá tai của tháng 5 năm 2010 và tháng 6 năm 2011 để xác định tuổi và các tham số liên quan; trong khi đó nhóm tác giả sử dụng nguồn số liệu về chiều dài và khối lượng từ năm 2005 tới 2012 ở vùng biển phía đông bắc Đài Loan để tính toán các mối tương quan và các tham số sinh học khác.Các kết quả được nhóm tác giả công bố như sau: tương quan chiều dài – khối lượng của cá đực và cá cái lần lượt là Wđ = 3,2 x 10-2 x

FL2,7108 và Wc = 3,6 x 10-2 x FL2,6771; Các tham số trong phương trình sinh trưởng được xác định là FL∞ = 40,4cm, k = 0,223/năm; nhóm tuổi khai thác chính của cá sòng Nhật

là nhóm 0+ và nhóm 1+, 2 nhóm này chiếm tới 87% tổng sản phẩm khai thác cá sòng Nhật (Hsueh-Jung Lu et al., 2013)

Ở những vùng biển khác nhau các tham số về sinh học chủng quần của cá sòng Nhật cũng thể hiện giá trị khác nhau Chiều dài Lmax của cá sòng Nhật ở vùng biển Nhật Bản, Đài Loan và phía đông Trung Hoa có xu hướng cao hơn ở vùng biển phía bắc Trung Hoa, phía tây nam Trung Hoa Theo đó, ở vùng biển Nhật Bản, chiều dài L∞ đạt 38,6cm (Mitani F and Ida E., 1964); ở vùng biển Đài Loan, chiều dài L∞ đạt 40,4cm (Hsueh-Jung Lu et al., 2013); ở vùng biển phía tây nam Trung Hoa, L∞ chỉ đạt 32,5cm (Nakashima J, 1982) và ở vùng biển phía đông bắc Trung Hoa đạt 35,4cm (Mitani F and Ida E., 1964)

Nghiên cứu về sự phát triển hình thái và sinh trưởng của ấu trùng cá con cá sòng Nhật ở vùng biển Nhật Bản cũng đã được tiến hành Kết quả đã xác định được tốc độ sinh trưởng của ấu trùng và cá con Trứng cá sòng Nhật ở giai đoạn IV có kích thước dao động từ 0,087 – 0,09cm Giai đoạn ấu trùng cá có kích thước 0,23 – 0,25cm; sau 4 ngày cá đạt kích cỡ 0,3cm và kết thúc giai đoạn ấu trùng cá đạt kích cỡ 1,3cm Chuyển sang giai đoạn cá con, cá sòng Nhật đạt kích thước 1,9cm sau 29 ngày tuổi Đến cuối giai đoạn cá con, khi cá được 60 ngày tuổi thì kích thước đạt 5,5cm (Ochiai, 1982)

Trang 16

Cá con cá sòng Nhật đã được nuôi trong bể chứa ở phòng thí nghiệm để nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn phát triển sớm của cá Nhìn chung, tốc độ sinh trưởng của cá nuôi là tương đối nhanh Kết thúc quá trình nuôi (từ tháng 4 năm 1980 đến tháng 7 năm 1981) chiều dài trung bình của các cá thể đạt 17,4cm và khối lượng đạt 60,7g (Ochiai, 1983)

Sinh trưởng là sự gia tăng kích thước cơ thể theo tuổi Đối với cá, sinh trưởng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố trong đó có thể kể đến như nhiệt độ, dinh dưỡng, chu

kỳ sống và đặc tính di truyền của loài Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cá sinh trưởng rất nhanh trong 2 năm đầu, sau đó tương đối ổn định từ 2 đến 4 tuổi và chậm dần khi chiều dài cơ thể tiệm cận chiều dài vô cực của loài Cá sòng Nhật cũng không nằm ngoài qui luật trên của các loài cá Theo nghiên cứu của Hsueh-Jung Lu et al.,(2013)

về sinh trưởng của cá sòng Nhật ở vùng biển phía đông bắc Đài Loan thì tốc độ sinh trưởng của cá sòng Nhật giảm dần theo các năm Theo đó, chiều dài trung bình cá sòng Nhật ở năm đầu tiên là 17,92cm Tốc độ tăng trưởng theo các năm thứ 2, thứ 3, thứ 4

và thứ 5 lần lượt là 4,48cm, 3,59cm, 2,87cm, 2,30cm Từ năm thứ 6 tới năm thứ 8, tốc

độ tăng trưởng giảm từ 1,84cm/năm xuống 1,18cm/năm Tới năm thứ 10 thì tốc độ tăng trưởng chỉ còn là 0,76cm/năm (Hsueh-Jung Lu et al., 2013)

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm nguồn lợi

Những nghiên cứu về đặc điểm nguồn lợi cá sòng Nhật chủ yếu về quần đàn cá tại vùng biển Nhật Bản và vùng biển phía đông Trung Hoa trong đó có vùng biển Đài Loan Những thống kê về sản lượng khai thác cá sòng Nhật ở các vùng biển của Nhật Bản, Đài Loan cho thấy sản lượng khai thác cá sòng Nhật ở các vùng biển này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng sản phẩm khai thác và có xu hướng tăng lên theo thời gian và tới thời điểm hiện tại thì có xu hướng bão hòa Theo nghiên cứu của Hsueh-Jung Lu và cộng sự năm 2013 thì sản lượng khai thác cá sòng Nhật ở vùng biển đông bắc Đài Loan những năm 1989 – 1994 chỉ vào khoảng 300 tấn/năm Từ năm

1995 tới năm 2003 thì sản lượng khai thác loài cá này tăng không ngừng và đạt mốc đỉnh điểm là 7942 tấn vào năm 2003 Những năm gần đây thì sản lượng loài cá này có

xu hướng giảm và chỉ dao động trong khoảng 5000 tấn/năm (Hsueh-Jung Lu et al., 2013)

Trang 17

1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu về đặc điểm nguồn lợi, sinh học chủng quần của các loài hải sản ở Việt Nam cũng đã được quan tâm từ khi mới bắt đầu có những nghiên cứu về biển Nghiên cứu về cá sòng Nhật ở vùng biển Việt Nam nhìn chung cũng nằm trong tình hình nghiên cứu chung về hải sản ở vùng biển Việt Nam, đó là xuất phát chậm hơn so với trên thế giới và ít có công trình nghiên cứu sâu Đối với cá sòng Nhật thì đây là một loài cá thường bắt gặp trong các mẻ lưới của các nghề lưới kéo, lưới vây, lưới chụp và lưới rê Chúng chiếm khoảng 5% tổng sản lượng của các mẻ lưới kéo, có mẻ lưới chiếm tới 23,9% (Marine Fisheries Research Institute, 1978) Đây là loài cá thường bắt gặp do vậy chúng cũng được nghiên cứu khá sớm so với các loài khác trong vùng biển Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về cá sòng Nhật ở Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu

về đặc điểm hình thái, phân loại, sự phân bố và trữ lượng Ít có các công trình nghiên cứu sâu về sinh học chủng quần của loài cá này Công trình nghiên cứu đầu về loài cá này là của Nguyễn Nhật Thi và cộng sự năm 1965 về phân loại học Tác giả đã xác định được các đặc điểm hình thái phân loại của loài cá này ở vùng biển Việt Nam Các chỉ tiêu đếm cụ thể được xác định như sau: D I-VIII, 30-33; A II, 27-30; số vảy lăng 72-73; số lược mang 13-16 + 35-40 (Nguyễn Nhật Thi và nnk, 1965)

Từ năm 1977 – 1978, Viện Nghiên cứu Hải sản – Hải Phòng trong chuyến khảo sát nguồn lợi cá biển bằng tàu nghiên cứu Biển Đông đã có những báo cáo đánh giá về nguồn lợi cá sòng Nhật Theo đó, cá sòng Nhật chiếm khoảng 5% tổng sản lượng của các mẻ lưới kéo đáy Chiều dài bắt gặp trung bình của cá sòng Nhật là 16,6cm (Marine Fisheries Research Institute, 1978)

Ở Việt Nam, cá sòng Nhật phân bố tập trung chủ yếu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ

và Trung Bộ Một số tên đồng danh của loài này cũng đã được xác định Khoảng chiều dài dao động trong sản lượng đánh bắt từ 10 – 20cm (Nguyễn Hữu Phụng và nnk, 1995)

Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học chủng quần cá sòng Nhật ở vùng biển Việt Nam chỉ mới được quan tâm ở một số nghiên cứu trong thời gian gần đây của một

số tác giả Trần Văn Cường (2004), trong luận văn tốt nghiệp của mình đã nghiên cứu khá đầy đủ về các đặc điểm sinh học của cá sòng Nhật ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Tác

Trang 18

giả đã sử dụng nguồn dữ liệu điều tra cá nổi nhỏ trong năm 2003 để tiến hành nghiên cứu các đặc điểm sinh học cá sòng Nhật Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các tham số sinh học chủng quần là: L∞ = 27,29cm, k = 0,34/năm, t0 = -0,46 năm Tác giả cũng đã ước tính được trữ lượng của cá sòng Nhật ở vùng biển vịnh Bắc Bộ dao động trong khoảng 3653 – 13599 từ năm 2001 đến năm 2003 (Trần Văn Cường, 2004)

Nghiên cứu về cá sòng Nhật ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ chỉ mới diễn ra trong những năm gần đây khi mà dự án “Điều tra liên hợp Việt Nam – Trung Hoa” được triển khai Tỷ lệ sản lượng của cá sòng Nhật trong các mẻ lưới kéo đáy khi tiến hành điều tra ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ dao động rất lớn Chúng chiếm từ 1,6 – 31,9% tổng sản lượng của mỗi chuyến biển Tuy vậy, cá sòng Nhật chỉ tập trung nhiều ở các chuyến điều tra trong tháng 7 và tháng 10, còn các chuyến điều tra ở tháng

1 và tháng 4 thì tỷ lệ sản lượng cá sòng Nhật chỉ chiếm từ 1-2% tổng sản lượng (Phạm Huy Sơn và nnk, 2011) Cũng theo tác giả, các tham số sinh học chủng quần của cá sòng Nhật ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ so với một số vùng biển khác trên thế giới có sự khác nhau rất rõ rệt Cụ thể, chiều dài khai thác trung bình của cá sòng Nhật chỉ dao động trong khoảng 10 – 20cm, trung bình chỉ đạt 13,3cm Các tham số chủng quần khác cũng được công bố như: L∞ = 25,2cm, k = 0,71/năm, hệ số chết tổng số F = 3,29

Nghiên cứu về sinh học sinh trưởng cá sòng Nhật ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ tiếp tục được quan tâm trong những năm gần đây nhờ triển khai dự án “Điều tra liên hợp Việt – Trung” giai đoạn II và giai đoạn III Trong giai đoạn II của Dự án (từ năm 2008 – 2010), tỷ lệ cá sòng Nhật đã giảm mạnh trong tổng sản lượng của mỗi chuyến điều tra Cá sòng Nhật chỉ còn chiếm từ 1,1 – 18,6% trong tổng sản lượng lưới kéo đáy Trong đó có những tháng điều tra về tháng 1 và tháng 4 hàng năm bắt gặp rất

ít loài cá này Các chuyến điều tra tháng 7 và tháng 10 vẫn bắt gặp thường xuyên loài

cá này trong các mẻ lưới

Trang 19

CHƯƠNG 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tài liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là loài cá sòng Nhật có tên khoa

học là Trachurus japonicus Temminck & Schlegel, 1844

Khu vực nghiên cứu: Khu vực nghiên cứu là vùng biển đánh cá chung Vịnh

Bắc Bộ, được xác định trong Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc giới hạn từ 17028 - 20000 N và 106035 – 108045 E (Hình 2.1)

*Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2008

Hình 2.1 Sơ đồ phạm vi nghiên cứu

Trang 20

2.1.2 Nguồn số liệu

Nguồn số liệu sử dụng bao gồm số liệu sinh học và nguồn lợi của cá sòng Nhật

được thu thập qua dự án “Điều tra liên hợp Việt Nam – Trung Quốc đánh giá nguồn lợi hải sản trong Vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn 1 (2006-2007), giai đoạn 2 ( 2008 – 2010) và giai đoạn 3 (2011-2013)”

Nguồn số liệu dùng để phân tích các đặc điểm sinh học được thu thập qua 4 chuyến điều tra của dự án Việt – Trung năm 2013 vào tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10 Kết hợp với nguồn số liệu trước đó của dự án Việt – Trung (từ 2006 – 2012)

để bổ sung vào số liệu phân tích sinh học

Việc xác định biến động nguồn lợi cá sòng Nhật dựa trên kết quả điều tra về sản lượng cá sòng của dự án Việt – Trung ở cả 3 giai đoạn (từ 2006 – 2013) Giai đoạn 1 (2006-2007) gồm 8 chuyến điều tra do phía Việt Nam thực hiện trong 2 năm, mỗi năm

có 4 chuyến vào các tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10 Giai đoạn 2 (2008-2010) và giai đoạn 3 (2011 – 2013) mỗi giai đoạn gồm 12 chuyến điều tra, trong đó phía Việt Nam thực hiện 6 chuyến vào tháng 4, tháng 10 và phía Trung Quốc thực hiện 6 chuyến vào tháng 1 và tháng 7 hàng năm Các chuyến điều tra thực hiện luân phiên, số liệu sinh học, nguồn lợi đã thu thập được trao đổi và sử dụng chung

Nguồn số liệu về đá tai được học viên thu thập từ 2 chuyến điều tra trên biển của dự án “Điều tra liên hợp Việt – Trung” tháng 10 năm 2013 và tháng 4 năm 2014 kết hợp với việc thu thêm mẫu trên bờ tại bến cá cảng Hới – Thanh Hóa trong năm 2014 Việc thu mẫu trên bờ được tiến hành thu trên một số tàu chỉ khai thác tại vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ (Bảng 2.1)

Bảng 2.1 Nguồn số liệu được sử dụng trong luận văn

Dạng số liệu Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III

Trang 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu mẫu

*/ Thiết kế trạm vị thu mẫu

Để việc thu mẫu có hiệu quả và mang tính tổng quát, việc thiết kế trạm nghiên cứu là rất quan trọng Trong đề tài này, hệ thống trạm vị nghiên cứu được thiết kế dựa trên thiết kế trạm nghiên cứu của dự án Việt Trung Cụ thể, tổng số có 35 trạm nghiên cứu trong vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, các trạm nghiên cứu được thiết kế theo các tuyến mặt cắt song song với đường vĩ tuyến Khoảng cách giữa các mặt cắt là 15 hải lý Dọc theo các tuyến mặt cắt, các trạm được thiết kế so le nhau, với khoảng cách giữa các trạm là 30 hải lý Sơ đồ trạm đánh lưới thu mẫu được trình bày ở Hình 2.1 Tại mỗi trạm nghiên cứu tiến hành đánh 1 mẻ lưới Thời gian kéo lưới trung bình là 1 giờ, đảm bảo các mẻ lưới không kéo dưới 45 phút (Mai Công Nhuận, 2011)

*/ Tàu và ngư cụ sử dụng

Tàu sử dụng trong điều tra là tàu BV9262TS (phía Việt Nam) với công suất máy chính là 660CV Ngư cụ sử dụng là lưới kéo đáy đơn, với kích thước mắt lưới nhỏ nhất ở đụt là 30mm

*/ Thu mẫu sản lượng mẻ lưới

Tại mỗi trạm nghiên cứu tiến hành đánh một mẻ lưới, thời gian đánh lưới trung bình là 1 giờ và tối thiểu phải đạt 45 phút Trong biểu ghi kết quả đánh lưới thu đầy

đủ các thông tin về vị trí, thời gian thả lưới Việc cân đo về sản lượng của cá sòng và của các loài khác được thực hiện ngay sau mỗi mẻ lưới

*/ Thu mẫu sinh học

Khi kết thúc mẻ lưới, cá sòng được phân loại và cân đo sản lượng, sau đó sẽ được cấp đông lưu mẫu mang về phòng thí nghiệm để phân tích các chỉ tiêu sinh học Các chỉ tiêu sinh học bao gồm:

- Đo chiều dài và cân khối lượng của từng cá thể Chiều dài sử dụng trong nghiên cứu

là chiều dài đến chẽ vây đuôi (Fork Length - FL), đơn vị đo là mm Cân khối lượng toàn thân, đơn vị là gram

Trang 22

- Xác định giới tính và độ chín muồi tuyến sinh dục bằng mắt thường theo thang 6 bậc của Nikolsky (Nikolsky G V, 1963) Cá có độ chín muồi tuyến sinh dục từ giai đoạn

IV trở lên được coi là thành thục; từ giai đoạn III trở xuống coi là chưa thành thục

- Thu mẫu đá tai theo hướng dẫn của Stevenson and Campana (Ann, 1973) Mẫu đá tai của cá sòng được thu theo nhóm chiều dài (mỗi nhóm 1 cm) mỗi nhóm chiều dài thu từ

5 mẫu đá tai tuỳ theo tình hình thực tế Đá tai được rửa sạch bằng nước cất ngay sau khi lấy, ghi nhãn với đầy đủ các thông tin (vị trí, mã hiệu, thời gian, chiều dài cơ thể, giới tính…) và bảo quản bằng cồn 95% Cân khối lượng đá tai bằng cân điện tử với độ chính xác 0,001g Đá tai được gắn cố định vào lam kính bằng nhựa Crystal Bond Đá tai được mài trên giấy cát ở các độ nhám khác nhau và giấy bóng bằng máy mài Phoenix Beta Quan sát đá tai, xác định tuổi và chụp ảnh bằng kính hiển vi soi nổi Nikon SMZ 1500 ở các độ phóng đại khác nhau (10X- 110X) có gắn trực tiếp máy ảnh Nikon DS-Ri1

Đo kích thước OW, OL

Đo bán kính và xác định vòng năm

Vòng năm trên đá tai được xác định sau khi mài nhẵn mặt cắt ngang qua tâm đá tai Vòng năm sinh trưởng là sự kết hợp giữa 1 vòng màu tối và một vòng màu sáng liền kề Bán kính đá tai được đo từ tâm tới phần rìa ngoài của vùng màu tối của từng vòng

Trang 23

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

* Chiều dài trung bình: Chiều dài trung bình được tính theo công thức của Sparre &

Vanema năm 1998 (Sparre P and Venema S C., 1998)

F n

1

Trong đó: X là chiều dài trung bình (mm), F j là số cá thể của nhóm chiều dài thứ j, L j

là chiều dài của nhóm thứ j (cm), n là tổng số cá thể của loài (cá thể), m là số nhóm

chiều dài

* Tương quan chiều dài - khối lượng (L-W)

Tương quan chiều dài khối lượng của cá sòng Nhật ước tính bằng phương pháp hồi quy lặp (Iterative Non-linear Regression), theo phương trình tuyến tính (King M and King M.D., 1995)

W = a * Lb Trong đó: W là khối lượng cá thể; L là chiều dài (mm) của cá thể; b là hệ số sinh trưởng; a là hệ số quan hệ (relative condition factor)

*/ Tốc độ tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng trung bình năm được tính theo công thức:

Ai = Li+1 - Li Trong đó: A là tốc độ tăng trưởng (mm/năm); Li+1 và Li lần lượt là chiều dài trung bình

ở nhóm tuổi thứ i và nhóm tuổi i+1

*/ Chiều dài thành thục lần đầu Lm50

Chiều dài thành thục Lm50 của cá sòng Nhật được xác định bằng hồi quy lặp phi tuyến tính theo công thức của Udupa (Udupa, 1986)

P = 1/(1 + e-r*(FL – Lm50))

Trang 24

Trong đó: P là tỷ lệ thành thục sinh dục; L là chiều dài đến chẽ vây đuôi; Lm50 là chiều dài ở đó 50% số lượng cá thể lần đầu tham gia vào quần đàn sinh sản; r là hệ số của phương trình

* Ước tính tuổi bằng phương pháp đá tai

Đường kính của đá tai được đo từ tâm đến cánh ngắn và từ tâm đến vòng năm

bằng phần mềm Image-Pro Plus 4.5.1 chạy trên Windows Tuổi của cá sòng Nhật

được đọc trực tiếp trên đá tai sau khi tiến hành mài Các vòng năm là các vòng có màu

tối xen kẽ giữa các khoảng màu sáng hơn và rộng hơn trên đá tai

* Năng suất khai thác (CPUE): Là sản lượng khai thác trên 1 giờ kéo lưới, kg/h (Đào

Trữ lượng của cá sòng được ước tính cho toàn vùng biển nghiên cứu theo

phương pháp diện tích Guland (Gulland J.A., 1969) Diện tích Vùng đánh cá chung VBB được xác định trên hệ tọa độ WGS84, với tổng diện tích khoảng 33.618,5 km² (Đào Mạnh Sơn và nnk, 2008)

Ci, ti, Vi lần lượt là sản lượng (kg), thời gian (giờ) và tốc độ kéo lưới (km/giờ) của trạm thứ i D là độ mở ngang của miệng lưới trung bình tính theo lý thuyết thiết kế lưới kéo B là trữ lượng (tấn), A là diện tích của Vùng đánh cá chung (km2), q là hệ số thoát lưới Đối với lưới giã đơn đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Á, giá trị q=0,5 được khuyến cáo áp dụng

Trong thực tế điều tra, sản lượng đánh bắt của loài thường không tuân theo luật phân bố chuẩn với đại lượng CPUA Phần lớn các trạm thu mẫu có sản lượng loài nhỏ, bên cạnh đó một số ít trạm có sản lượng lớn và những trạm không bắt (sản lượng bằng 0) Trong trường hợp này, để giảm sai số khi ước tính giá trị CPUA thì phương pháp

Trang 25

Pennington (1983) được áp dụng Các bước tính toán của phương pháp cụ thể như sau: Gọi n là tổng số trạm nghiên cứu, m là số mẻ lưới có sản lượng và (n-m) sẽ là số mẻ lưới không có sản lượng Đặt { } = { , , … … } là logarit

tự nhiên của CPUA ở các mẻ có sản lượng Và = LnCPUA ; t = Var(LnCPUA) Theo Pennington (1983), giá trị CPUA và phương sai sau khi logarit hoá được tính ngược theo công thức:

n m = 1

0 = 0

Trong đó: G = 1 + m − 1

m ∗ t +

(m − 1) ∗ t

m ∗ (m + 1) ∗ (m + 3) … (m + 2j − 3) ∗ j!Toàn bộ số liệu được xử lý bằng thống kê mô tả trên Microsoft Excel Sử dụng phần mềm FiSAT II để phân tách thế hệ, xác định các tham số sinh trưởng Von Bertalanffy và các hệ số chết Đo kích thước đá tai và kích thước vòng năm bằng phần mềm Image-Pro Express 6.0 Sử dụng phần mềm Photoshop 7.0 để xử lý hình ảnh Sử dụng phần mềm Statistica 8.0 để xác định các hệ số tương quan, vẽ đồ thị và phân tích phương sai ANOVA, ANCOVA Vẽ bản đồ phân bố nguồn lợi, xác định vùng phân bố tập trung và diện tích Vùng đánh cá chung bằng phần mềm MapInfo 10

Việc đánh giá biến động nguồn lợi cá sòng dựa vào biến động năng suất khai thác và trữ lượng tức thời qua các năm Xác định các tham số sinh trưởng và hệ số chết của cá sòng cho biết hiện trạng khai thác hiện nay đối với cá sòng Nhật đang ở mức độ nào

Trang 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thành phần chiều dài

Thành phần kích thước của cá đặc trưng cho từng chủng quần và loài, sự biến động của nó phản ánh sự biến đổi điều kiện sống của chúng Xác định thành phần kích thước của đàn cá rất cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề lý thuyết về quy luật biến đổi chủng quần từ đó có những giải pháp cho việc đánh bắt hợp lý đảm bảo cho

sự phát triển ổn định của chủng quần

Thành phần chiều dài cá sòng Nhật bắt gặp năm 2013 được thể hiện ởBảng 3.1

Bảng 3.1 Thành phần chiều dài bắt gặp qua các chuyến khảo sát năm 2013

Chuyến

điều tra

Chiều dài đến chẽ vây đuôi FL (mm) Nhóm ưu thế Tổng số

cá thể (con) Min Max Trung bình SE Nhóm

(mm)

Tỷ lệ (%)

Trang 27

gặp số lượng lớn cá sòng Nhật và nhóm ưu thế tương tự ở tháng 4, tỷ lệ 2 nhóm này là 57% quần đàn Chuyến tháng 10 bắt gặp quần đàn cá sòng Nhật lớn nhất với chiều dài trung bình đạt 168mm và nhóm ưu thế 150-170mm chiếm tới 71% quần đàn cá

Qua bảng 3.1 ta thấy chiều dài của các nhóm ưu thế trong từng chuyến điều tra đều nằm trong các nhóm cá có kích thước nhỏ Tuy nhiên tỷ lệ các nhóm ưu thế này không quá lớn Bên cạnh đó tuy các nhóm cá lớn (>170mm) không chiếm ưu thế về tỷ

lệ song chúng cũng chiếm một phần không nhỏ trong cơ cấu nhóm chiều dài của cá sòng Nhật bắt gặp (Phụ lục 4) Như vậy có thể thấy cá sòng Nhật bắt gặp ở vùng đánh

cá chung vịnh Bắc Bộ bao gồm cả các nhóm cá bé và các nhóm cá lớn Trong cơ cấu quần đàn, nhóm cá bé có số lượng lớn hơn ở cả 4 thời điểm điều tra trong năm Hầu hết các loài bắt gặp đều tập trung ở một vài nhóm chiều dài ưu thế nhất định Nhóm chiều dài ưu thế đều chiếm tỷ lệ cao trong cấu trúc chiều dài của loài Điều này được giải thích bởi loài cá có chu kỳ sinh sản ổn định vào khoảng thời gian ngắn nhất định trong năm Từ đó trong cấu trúc quần đàn sẽ có một số lượng lớn những cá thể có cùng nhóm chiều dài như nhau do sinh sản cùng một thời điểm như nhau Nhóm chiều dài

ưu thế còn thể hiện sự phân bố giai đoạn sinh trưởng của loài ở từng khu vực nhất định Qua Bảng 3.1 ta cũng nhận thấy sự thay đổi nhóm chiều dài ưu thế lần lượt qua chu kỳ thời gian theo chiều tăng dần Bắt đầu từ tháng 1 nhóm ưu thế rõ nét là nhóm 110-130mm; sang tháng 4 và tháng 7 nhóm ưu thế đã lớn hơn đó là nhóm 130-150mm; tới tháng 10 nhóm 150-170mm là nhóm ưu thế rõ rệt nhất trong quần đàn bắt gặp

So sánh chiều dài trung bình của cá sòng Nhật từ năm 2006 tới 2013 qua các chuyến điều tra ta thấy sự phân bố chiều dài trung bình không theo qui luật nào (Hình 3.1)

Trang 28

Hình 3.1 Biến động chiều dài trung bình cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ

năm 2006 - 2013

Sự biến động chiều dài trung bình qua các năm không theo qui luật nào được giải thích bởi đặc điểm sinh học của cá sòng Nhật Đây là loài cá nổi di cư và vùng biển đánh cá chung vịnh Bắc Bộ không phải là một vùng biển kín Mặt khác, chiều dài

cá bắt gặp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp đánh bắt, thời gian đánh bắt và cả yếu tố về môi trường Do vậy qui luật phân bố về chiều dài trung bình bắt gặp trong năm đối với cá sòng Nhật là không tồn tại Qua Hình 3.1 ta thấy có một điểm rất đáng quan tâm đó chính là chiều dài trung bình cá sòng Nhật từ năm 2011 tới nay cao hơn so với các năm về trước Cụ thể từ năm 2010 trở về trước, chiều dài trung bình chỉ dao động quanh mốc 140mm và có nhiều thời điểm là nhỏ hơn 140mm Còn

từ năm 2011 tới nay, chiều dài trung bình bắt gặp luôn lớn hơn 140mm và các giá trị lớn bắt gặp càng nhiều hơn Đây chưa hẳn là một vấn đề đáng mừng khi tỷ lệ cá lớn bắt gặp nhiều hơn trong sản lượng bời vì nguyên nhân của vấn đề này có thể còn liên qua chặt chẽ tới năng suất khai thác cá sòng Nhật Vấn đề này sẽ được đề cập ở phần sau của luận văn khi kết hợp với kết quả so sánh về năng suất khai thác cá sòng Nhật tương ứng với các mốc thời gian trên

3.2 Đặc điểm sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình gia tăng về kích thước của cơ thể theo thời gian

Sự tăng trưởng này là tăng trưởng cả về chiều dài, chiều rộng, khối lượng của cơ thể

Trang 29

Vì vậy luôn tồn tại mối liên hệ, mối tương quan giữa chiều dài – khối lượng, giữa chiều dài, khối lượng với độ tuổi

3.2.1 Tương quan chiều dài – khối lượng

Trong năm 2013 đã thu thập số liệu về chiều dài, khối lượng của 603 cá thể cá sòng Nhật; trong đó có 262 cá thể cá cái, 255 cá đực và 86 cá thể chưa phân biệt giới tính Chiều dài quan sát dao động trong khoảng 94 – 237mm và khối lượng dao động trong khoảng 7,1 – 187g Phương trình tương quan chiều dài – khối lượng cá sòng Nhật được tính riêng cho từng giới, cụ thể như sau:

có sự sai khác về tương quan chiều dài – khối lượng giữa cá đực và cá cái Tuy nhiên lại có sự sai khác về tương quan giữa cá con và cá đã xác định được giới tính (P<0,05)

Trang 30

0 20 40 60 80 100 120 140 160 180

FL (mm)

0 20 40 60 80

Hình 3.2 Biều đồ tương quan chiều dài - khối lượng của cá sòng Nhật

Kết quả phân tích tương quan chiều dài – khối lượng của cá sòng Nhật ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ khá tương đồng với một số nghiên cứu của một số tác giả

ở vùng biển đông bắc Đài Loan Theo nghiên cứu của Hsueh-Jung Lu và cộng sự thì ở vùng biển đông bắc Đài Loan cá sòng Nhật có hệ số b ở cá cái là 2,68 và ở cá đực là 2,71 (Hsueh-Jung Lu et al., 2013)

3.2.2 Đặc điểm đá tai

Đá tai cá sòng Nhật có hình bầu dục, màu trắng hơi đục Các vân ngang từ tâm hướng ra ngoài rìa Đá tai có 1 rãnh sâu phía mặt lưng gần như chia cắt đá tai thành 2 phần Rìa ngoài của đá tai có hình răng cưa không đồng đều (Hình 3.3)

Trang 31

Mặt lưng Mặt bụng

Hình 3.3 Hình thái đá tai cá sòng Nhật

Trong năm 2013 và đầu năm 2014 đã thu thập được 108 mẫu đá tai, trong đó có

63 mẫu đạt tiêu chuẩn đã được đo đếm các giá trị và quan sát số vòng năm Trong tổng

số 63 mẫu đá tai được phân tích có 8 mẫu đá tai cá nhỏ (juvenile); 25 mẫu cá đực và

30 mẫu cá cái Tổng hợp các giá trị phân tích mẫu đá tai được trình bày ở Bảng 3.2

Bảng 3.2. Tổng hợp các giá trị mẫu đá tai quan sát

Chiều rộng đá tai - OW (mm) 2,48 - 4,17 3,53 ± 0,06

Các mẫu cá sòng Nhật được thu thập tại bến cá cảng Hới của nghề lưới vây hoạt động tại vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ bao gồm nhiều cá thể có kích thước lớn Cá thể lớn nhất thu thập được trong các chuyến thu mẫu có chiều dài FL = 290mm Việc thu mẫu thêm ở các đội tàu khai thác trong vùng đánh cá chung đã bổ sung nguồn dữ liệu rất tốt cho luận văn Việc xác định tuổi cá sòng Nhật được mở rộng thêm ở những đối tượng có kích thước rất lớn

Qua Bảng 3.2 ta thấy chiều dài cơ thể cá sòng Nhật lấy mẫu phân tích đá tai dao động trong khoảng lớn, từ 115 – 290mm và các cá thể ở tất cả các nhóm chiều dài Kích thước đá tai cá sòng Nhật là tương đối lớn, dao động từ 4,26 – 8,33mm với chiều dài và từ 2,48 – 4,17mm với chiều rộng

Các phương trình tương quan giữa chiều dài – chiều rộng đá tai, giữa chiều dài – khối lượng đá tai và giữa chiều dài cơ thể với chiều dài đá tai như sau:

FL = 34,3*OL – 43,6 (N = 63; R = 0,92) (Hình 3.4)

OL = 2,1*OW – 0,87 (N = 63; R = 0,93)

OW = 0,00027*OL2,67 (N = 63; R = 0,94)

Ngày đăng: 30/09/2015, 15:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 2.1. Sơ đồ phạm vi nghiên cứu (Trang 19)
Hình 3.1. Biến động chiều dài trung bình cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.1. Biến động chiều dài trung bình cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ (Trang 28)
Hình 3.4. Tương quan giữa chiều dài cơ thể và chiều dài đá tai cá sòng Nhật - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.4. Tương quan giữa chiều dài cơ thể và chiều dài đá tai cá sòng Nhật (Trang 32)
Hình 3.5. Cấu trúc giới tính theo tháng của quần đàn cá sòng Nhật - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.5. Cấu trúc giới tính theo tháng của quần đàn cá sòng Nhật (Trang 36)
Hình 3.8. Tỷ lệ thành thục các giai đoạn chín muồi sinh dục theo các tháng trong - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.8. Tỷ lệ thành thục các giai đoạn chín muồi sinh dục theo các tháng trong (Trang 38)
Hình 3.9. Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới đực - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.9. Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới đực (Trang 39)
Hình 3.10. Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới cái - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.10. Tỷ lệ thành thục sinh dục theo nhóm chiều dài giới cái (Trang 40)
Hình 3.11. Chiều dài thành thục sinh dục Lm50 của cá sòng Nhật đực và cái - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.11. Chiều dài thành thục sinh dục Lm50 của cá sòng Nhật đực và cái (Trang 41)
Hình 3.12. Tỷ lệ sản lượng của cá sòng Nhật trong các chuyến điều tra từ năm - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.12. Tỷ lệ sản lượng của cá sòng Nhật trong các chuyến điều tra từ năm (Trang 43)
Hình 3.13. Năng suất khai thác trung bình (CPUE tb ) cá sòng Nhật theo các - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.13. Năng suất khai thác trung bình (CPUE tb ) cá sòng Nhật theo các (Trang 44)
Hình 3.15. Biến động năng suất khai thác cá sòng Nhật từ năm 2006 - 2013 - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.15. Biến động năng suất khai thác cá sòng Nhật từ năm 2006 - 2013 (Trang 45)
Hình 3.14. Biến động năng suất khai thác trung bình (CPUE tb ) cá sòng Nhật theo - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.14. Biến động năng suất khai thác trung bình (CPUE tb ) cá sòng Nhật theo (Trang 45)
Hình 3.16. Hiện trạng phân bố năng suất khai thác cá sòng Nhật trong năm 2012 - - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.16. Hiện trạng phân bố năng suất khai thác cá sòng Nhật trong năm 2012 - (Trang 48)
Hình 3.17. Biến động mật độ phân bố cá sòng Nhật theo các chuyến điều tra từ - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Hình 3.17. Biến động mật độ phân bố cá sòng Nhật theo các chuyến điều tra từ (Trang 49)
Bảng 3.6. Trữ lượng tức thời (tấn) cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ 2006 - 2013 - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học chủng quần và biến động nguồn lợi cá sòng nhật (trachurus japonicus temminck  schlegel, 1844) ở vùng đánh cá chung vịnh bắc bộ
Bảng 3.6. Trữ lượng tức thời (tấn) cá sòng Nhật qua các chuyến điều tra từ 2006 - 2013 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w