1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong đời mưa gió của nhất linh, khái hưng và chúa đã tạo ra đàn bà của simone colette (KL07172)

65 642 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 536,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... đồng kiểu nhân vật nữ loạn Đời mưa gió Nhất Linh – Khái Hưng Và chúa tạo đàn bà Simone Colette Chương 3: Sự khác biệt kiểu nhân vật nữ loạn Đời mưa gió Nhất Linh – Khái Hưng Và chúa tạo đàn bà Simone. .. LOẠN TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE Đời mưa gió Nhất Linh – Khái Hưng Và chúa tạo đàn bà Simone Colette hai tiểu thuyết viết nổi loạn ... CHƯƠNG SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE Nhất Linh – Khái Hưng Simone Colette nhà văn có tư tưởng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**********

CAO THỊ HƯƠNG

KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN

TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH, KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ

CỦA SIMONE COLETTE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**********

CAO THỊ HƯƠNG

KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN

TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH, KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ

CỦA SIMONE COLETTE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Anh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi

hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữvăn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lý luận văn học và các bạn sinh viên đã giúp

đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Cao Thị Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Anh Tôi xin cam đoan rằng:

- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực

- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu nào từng công bố

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Cao Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH 6

1.1 Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành bộ môn Văn học so sánh 6

1.1.1 Khái niệm văn học so sánh 6

1.1.2 Sự hình thành bộ môn Văn học so sánh 9

1.2 Các loại hình nghiên cứu văn học so sánh 10

1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng 10

1.2.2 Nghiên cứu song song 14

1.2.3 Nghiên cứu liên ngành 17

1.3 Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn Văn học so sánh 18

CHƯƠNG 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE 19

2.1 Tính cách hồn nhiên, tươi trẻ 19

2.2 Hình tượng người phụ nữ nổi loạn như là một phương tiện biểu hiện tư tưởng nữ quyền 23

Trang 6

2.2.1 Người phụ nữ với khát vọng vượt thoát khỏi những cổ lệ, giáo điều hà

khắc 23

2.2.2 Người phụ nữ được khắc họa đậm nét ở phương diện bản năng tính dục 27

2.3 Bi kịch của sự “lệch chuẩn” 30

2.4 Thủ pháp đối lập trong miêu tả nhân vật 35

CHƯƠNG 3: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE 40

3.1 Sự miêu tả ngoại hình nhân vật 40

3.2 Phương thức miêu tả mặt bản năng dục tính 43

3.3 Tính chất của sự nổi loạn 49

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng hướng con người tới các giá trị chân – thiện – mĩ cao nhất Văn hào Nga – M Gorki từng khẳng định “văn học là nhân học” Điều này đồng nghĩa với việc xác quyết đối tượng miêu tả chủ yếu trong văn học chính là con người Con người trong văn học là trung tâm kết tinh mọi giá trị và là điểm tựa để nhà văn nhìn ra thế giới Bởi vậy, tác phẩm văn học không bao giờ vắng bóng nhân vật Nó là một phương tiện thiết yếu bộc lộ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng như lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về cuộc đời, về con người Chính vì thế, nghiên cứu tác phẩm văn học không thể không tiếp cận nhân vật văn học Việc nghiên cứu nhân vật văn học sẽ giúp nhận diện những diễn biến tư tưởng, cảm quan đời sống và phong cách nghệ thuật của nhà văn, từ đó có cơ sở để khẳng định những đóng góp riêng của nhà văn vào tiến trình văn học dân tộc

1.2 Từ xưa tới nay, người phụ nữ không chỉ hiện hữu như một tất thể trong thực tế đời sống mà còn trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong các sáng tác thi ca nhân loại Thực tiễn văn học cho thấy, trong suốt trường kì lịch sử, người phụ nữluôn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi và bị phụ thuộc Họ bị trói buộc bởi những thành kiến bảo thủ, lạc hậu mà chế độ phụ quyền thiết lập nên.Tuy nhiên, xã hội ngày càng tiến bộ, người phụ nữ cũng ngày càng ý thức được giá trị, vai trò của mình Họ đã tự vươn lên để tìm cách giải phóng cho mình, chủ động đi tìm hạnh phúc và sống theo cá tính bản thân Đó được xem là sự phá cách, “nổi loạn” của giới nữ để vượt thoát ra khỏi những khuôn phép, lề thói kìm buộc người phụ nữ, đồng thời đả phá vào những tư tưởng đạo đức cố hữu lỗi thời nhằm lấy lại sự công bằng cho giới mình

1.3 Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà

của Simone Colette là hai tác phẩm cùng viết về sự “nổi loạn” của giới nữ Hai tác phẩm cũng đồng thời là đại diện cho hai dân tộc, hai nền văn hóa khác nhau Nghiên cứu về hai tác phẩm này đã có nhiều bài viết, nhận xét đánh giá trên nhiều

Trang 8

khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, song, nó chưa được nhìn nhận ở phương diện văn học so sánh.

1.4 Từ lâu, văn học so sánh đã trở thành một bộ môn quan trọng trong nghiên cứu văn học Ở Việt Nam hiện nay, nó cũng đã được đưa vào giảng dạy ởcác trường Đại học và Cao đẳng Cũng đã có một số chuyên luận giới thiệu lý thuyết và các công trình nghiên cứu cụ thể về Văn học so sánh như: “Góp phần tìm hiểu văn học so sánh” của Nguyễn Văn Dân, “ Mấy vấn đề về văn học so sánh và so sánh văn học” của Lê Đình Cúc, “Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh, “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan, “Ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ Trung Quốc đến tiểu thuyết cổ Việt Nam” của Nguyễn Xuân Hòa … Các công trình này có đóng góp

là áp dụng lý thuyết văn học so sánh vào việc nghiên cứu trong thực tiễn Tuy nhiên, hiện trạng nghiên cứu của bộ môn này hiện nay còn chưa xứng đáng với tiềm năng của nó

1.5 Dựa trên tinh thần nghiên cứu đó, tác giả khóa luận lựa chọn đề tài

“Kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và

chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette” với mục đích làm rõ những điểm tương

đồng và khác biệt về kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong hai tác phẩm Đồng thời, với

đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần công sức vào việc khẳng định vị trí của bộ môn Văn học so sánh và ứng dụng của bộ môn này trong thực tiễn nghiên cứu văn học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về tiểu thuyết Đời mưa gió đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá tác

phẩm này ở các khía cạnh khác nhau Có thể kể đến một số ý kiến, đánh giá, bình luận như:

Trong Lời giới thiệu tác phẩm Đời mưa gió, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức cho rằng: “Tuyết trong Đời mưa gió là mẫu hình mới, sản phẩm của lối ăn chơi trác

táng” [13; tr.5]

Trong cuốn Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng

Trang 9

thụ và ảo tưởng một cõi tự do tuyệt đối, “không bao giờ trở thành vật sở hữu của ai” nhưng lại muốn sở hữu tất cả Đó là sự phát triển méo mó của ý thức cá nhân” [21; tr.55].

Giáo trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945, tập I, cũng có nhận định về tác phẩm này: “Với Đời mưa gió của Nhất Linh và Khái Hưng, cái tự do cá nhân đã trở

thành con người cá nhân trầm trọng, chủ nghĩa lãng mạn đã nhiễm thêm chất độc của tâm lý trụy lạc” [18; tr.143]

Trong bài viết “Những ấn tượng còn đọng lại” in trong cuốn Tự lực văn

đoàn: Trào lưu – tác giả, Bùi Hiển nhận xét: “Tuyết trong Đời mưa gió lao vào con

đường trụy lạc với triết lý của con thiêu thân, với một tuyên ngôn liều lĩnh trắng trợn mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa cực đoan (…), tính cách ấy có phần cách biệt

xa lạ so với hoàn cảnh và tâm lý xã hội chung thời bấy giờ” [9; tr.430]

Tuy nhiên, cũng trong cuốn Tự lực văn đoàn: Trào lưu – tác giả thì tác giả

Hà Minh Đức với bài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” lại đềcập đến nhân vật Tuyết với tư cách là một kiểu nhân vật mới mẻ trong văn chương

Tự lực văn đoàn, đại diện cho lớp phụ nữ sống “phá cách”, vươn lên giải phóng cho mình [9; tr.52-53]

Đối với tiểu thuyết Và chúa đã tạo ra đàn bà, theo quan sát của chúng tôi, vì

tác phẩm này mới được dịch ra ở Việt Nam (Nguyên Thiện dịch năm 2012) cho nên chưa có một công trình nghiên cứu nào về tác phẩm Trong khi đó, ở phương Tây,

nó được biết đến nhiều hơn qua đời sống điện ảnh Khi tìm hiểu các bài viết về Và

chúa đã tạo ra đàn bà với tư cách là một tác phẩm văn học thì chúng tôi nhận thấy

các bài viết mới chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ lược mang tính chất giới thiệu sách, giới thiệu tác phẩm mà thôi

Như vậy, qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấy,

hai tác phẩm Đời mưa gió và Và chúa đã tạo ra đàn bà cũng đã được các nhà

nghiên cứu bàn đến ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên vấn đề nhân vật nữ “nổi loạn” trong hai tác phẩm kể trên chưa được nghiên cứu khách quan, cụ thể ở thế đối sánh Do đó, dựa trên lý thuyết văn học so sánh và đặc điểm của hai cuốn tiểu

Trang 10

thuyết Đời mưa gió và Và chúa đã tạo ra đàn bà, tác giả khóa luận lựa chọn đề tài

“Kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và

chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette” với mục đích làm rõ sự tương đồng và

khác biệt trong việc thiết tạo kiểu nhân vật của hai tác phẩm Đồng thời qua đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp phần ứng dụng lý thuyết văn học so sánh vào nghiên cứu trong thực tiễn văn học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Áp dụng lý thuyết của Văn học so sánh vào việc nghiên cứu đề tài “Kiểu

nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã

tạo ra đàn bà của Simone Colette” nhằm thấy được những nét đặc sắc cũng như giá

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp và trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu so sánh kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong hai tác phẩm nêu trên ở

cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân vật nữ trong hai tác phẩm Đời mưa gió của Khái Hưng và Và chúa đã

tạo ra đàn bà của Simone Colette.

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài khóa luận tập trung phạm vi nghiên cứu trong hai tác phẩm:

- Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng, NXB Đại học và giáo dục

chuyên nghiệp, 1989

- Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette, NXB Trẻ, 2012.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận có sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

6 Đóng góp của khóa luận

- Về phương diện lý luận, khóa luận góp phần làm rõ đặc trưng của Văn học

so sánh với tư cách là một bộ môn nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc

- Trên cơ sở so sánh kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette, khóa luận chỉ

ra nét tương đồng cũng như khác biệt trong cách xây dựng hình tượng hai nhân vật của hai tác giả

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về văn học so sánh

Chương 2: Sự tương đồng giữa kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette

Chương 3: Sự khác biệt giữa kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH

1.1 Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành của bộ môn Văn học so sánh

1.1.1 Khái niệm văn học so sánh

Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ văn học so sánh đã trở nên rất đỗi quen

thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Trong đời sống, trong sáng tạo nghệ thuật, kể cả trong nghiên cứu văn học, bằng thói quen hoặc từ ý thức thẩm mĩ, người ta thường dùng thao tác so sánh Nhưng các thao tác ấy, phần nhiều chỉ biến khái niệm trừu tượng hiển hiện thành hình ảnh sinh động, thành hình tượng nghệthuật, khơi gợi trực tiếp ấn tượng, xúc cảm Còn các công trình học thuật, trước thế

kỷ XVII – XVIII, chỉ mới dừng lại đối sánh những hiện tượng trong cùng một nền văn học Khi đó, chúng chỉ là thao tác so sánh, ở cấp độ phương pháp, tức so sánh văn học

Vậy thế nào là văn học so sánh? Xuất phát từ các cách nhìn nhận và ở các thời điểm khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa về văn học so

sánh Một số nhà văn học so sánh cho rằng, bản thân từ văn học so sánh là cái tên

chưa thực sự đầy đủ, còn dễ gây nên hiểu lầm Wellek cho rằng: “So sánh là phương pháp mà tất cả phê bình và khoa học đều sử dụng, bất luận thế nào nó cũng không thể trình bày đầy đủ về quá trình đặc thù của nghiên cứu văn học” Hơn nữa,

do mỗi nước lại có cách biểu đạt và phiên dịch khác nhau về từ văn học so sánh, nên trọng điểm mà họ nhấn mạnh cũng khác nhau Ví dụ, từ so sánh trong văn học

so sánh tiếng Pháp là comparée, nó ám chỉ trong lịch sử văn học đã từng nảy sinh

quan hệ văn học giữa các nước Trong tiếng Anh, comparative là tính từ, nó làm định ngữ cho từ literature (văn học) Còn ở Trung Quốc, hai chữ so sánh (比较 : tỷ

giáo) trong tiếng Hán dễ làm cho người ta nghĩ đến động tác so sánh, đồng thời từ

văn học so sánh trong tiếng Hán về mặt chữ không có hàm nghĩa là nghiên cứu văn

học Mặc dù các nước lý giải văn học so sánh là khác nhau nhưng do tính quy ước

Trang 13

của bản thân ngôn ngữ, nên khái niệm văn học so sánh được các nước thừa nhận

Người ta tiếp nhận cách nói giản lược này

Trong mục từ “Văn học so sánh” viết trong cuốn “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư”, giáo sư Nhạc Đại Vân ở Đại Học Bắc Kinh đưa ra một giới định: “Văn học so sánh – một phân nhành của nghiên cứu văn học, xuất hiện vào cuối thế kỉXIX – đầu thế kỉ XX Nó là một khoa học nghiên cứu so sánh một cách lịch sử quá trình có tác dụng tương hỗ giữa hai nền văn học dân tộc trở lên, nó nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ hình thức nghệ thuật và hình thái ý thức của các nền văn học dân tộc đó”

Daniel – Henri Pageaux cũng có định nghĩa tương tự: “Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sựkiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hóa khác nhau, cho dù có chung một truyền thống” [29]

Remak, nhà nghiên cứu Hoa Kì, định nghĩa có phần đầy đủ hơn: “Văn học so sánh là nghiên cứu văn học vượt ra ngoài phạm vi của một nước và nghiên cứu mối quan hệ văn học với tri thức khác và lĩnh vực tín ngưỡng, bao gồm nghệ thuật (như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc), triết học, lịch sử, khoa học tự nhiên, tôn giáo, … Nói gọn lại, đó là đem văn học một nước mà so sánh với văn học của một hay nhiều nước khác, so sánh với các lĩnh vực biểu hiện khác của loài người” [28].Tại Việt Nam, sự quan tâm đến văn học so sánh cũng được thể hiện trong nhiều bài viết khá công phu Trương Đăng Dung trong bài báo “Văn học dịch và những vấn đề lý luận của văn học so sánh” định nghĩa rằng: “Văn học so sánh là một trong những ngành khoa học văn học nghiên cứu mối quan hệ qua lại cũng như những đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học nhằm tiếp cận tiến trình văn học lớn nhất: Văn học thế giới” [6; tr.21] Nguyễn Văn Dân thì định nghĩa: “Văn học so sánh là một bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” [4; tr.19] Như vậy, các nhà nghiên cứu đã nói tới đặc

Trang 14

trưng quan trọng nhất của bộ môn Văn học so sánh là nghiên cứu so sánh tác giả, tác phẩm… giữa các quốc gia trong nền văn học thế giới.

Về “Văn học so sánh” có nhiều ý kiến nghiên cứu, song xét về bản chất văn học so sánh là tên gọi một hệ thống phương pháp luận, một bộ môn trong khoa nghiên cứu văn chương Nó phải tuân theo những nguyên tắc đặc thù của bộ môn

Cụ thể, nó chỉ bao hàm những so sánh liên văn học: nó tiến hành đối sánh các nền văn học dân tộc với nhau Quá trình đối sánh này phải đảm bảo tính khách quan, phi định kiến: nhà nghiên cứu không vì lòng tự tôn, tự ti dân tộc, mà nhân danh văn học

so sánh để hạ thấp các nền văn học dân tộc khác, hoặc mặc cảm về văn học dân tộc mình Thao tác so sánh phải trên cơ sở cùng loại: tác phẩm sánh cùng tác phẩm, tác giả đi bên tác giả, … Sự so sánh phải đa diện, nhiều cấp độ, nhiều hệ thống Tất cảđều hướng về lợi ích quốc tế, giải quyết mọi cái riêng qua cái chung Sự giàu có của văn học thế giới phải hội tụ từ vẻ đẹp phong phú, đặc sắc của từng nền văn học dân tộc Ngược lại, văn học từng dân tộc, cũng nhờ đặt trong hệ thống, mà thấy mình độc đáo, đầy sức sống

Mục đích của văn học so sánh, vì thế, là xác định tính khái quát của văn học nhân loại, đồng thời chứng minh tính đặc thù của mỗi nền văn học dân tộc Đó cũng

là quá trình giải quyết cái chung và cái riêng, cái quốc tế và cái dân tộc Mọi trường phái văn học so sánh, muốn thật sự khách quan, khoa học, đều phải tuân thủ các nguyên tắc và các mục đích cụ thể này

Nói một cách ngắn gọn thì có thể hiểu văn học so sánh là sự nghiên cứu đối chiếu, so sánh giữa hai hay nhiều hiện tượng (tác giả, tác phẩm, trào lưu,…) thuộc các nền văn học dân tộc để chỉ ra mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc, là sự

so sánh giữa văn học và các lĩnh vực biểu hiện khác của nhân loại

Khi nghiên cứu về định nghĩa văn học so sánh, chúng ta cũng cần phải lưu ý

để phân biệt được hai khái niệm: văn học so sánh và so sánh văn học Đây là hai khái niệm thường có sự nhầm lẫn khi sử dụng, cho nên, cần khẳng định rằng: Văn học so sánh khác với so sánh văn học Văn học so sánh là một bộ môn khoa học độc

Trang 15

lập; còn so sánh văn học chỉ là một phương pháp của tất cả các ngành nghiên cứu văn học.

1.1.2 Sự hình thành bộ môn Văn học so sánh

1.1.2.1 Điều kiện hình thành bộ môn Văn học so sánh

Văn học so sánh hình thành dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có hai điều kiện

cơ bản là điều kiện văn hóa – xã hội và điều kiện học thuật

- Điều kiện văn hóa – xã hội:

Văn học thế giới đã có mối liên hệ từ xa xưa nhưng ý thức hệ của con người chưa hướng nhiều tới sự tác động, ảnh hưởng qua lại đó Phải tới thế kỉ XIX, khi xã hội loài người có sự chuyển đổi hình thái kinh tế, nhu cầu giao lưu về mọi lĩnh vực, trong đó có văn học thì mới hình thành nền văn học thế giới và lúc đó ý thức so sánh mới bắt đầu

Sự ra đời của bộ môn Văn học so sánh liên quan trực tiếp đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và ý thức chủ nghĩa thế giới Phương thức sản xuất của chủnghĩa tư bản không ngừng thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu các mặt kinh tế thịtrường cũng như giao lưu về văn hóa

Từ trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa cuốn hút toàn châu Âu và sự thức tỉnh của văn học thế giới chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX là điều kiện cho sự ra đời của Văn học so sánh

- Điều kiện học thuật:

Từ đầu thế kỉ XIX, sự phát triển cực thịnh của khoa học lịch sử tạo điều kiện cho sự phát triển nở rộ của các bộ môn lịch sử văn học

Phương pháp so sánh được áp dụng ngày càng chuyên sâu trong nhiều ngành khoa học (như Lịch sử ngôn ngữ học so sánh, Lịch sử folklore so sánh, …)

1.1.2.2 Quá trình phát triển của bộ môn Văn học so sánh

Giai đoạn thứ nhất – nửa cuối thế kỉ XIX: Giai đoạn hình thành và khẳng định Xây dựng nền móng cho bộ môn phải kể đến công lao của các nhà nghiên cứu lịch sử văn học các nước Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Mĩ Latinh

Trang 16

Giai đoạn thứ hai – nửa đầu thế kỉ XX: Giai đoạn phát triển Giai đoạn này tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng và vay mượn Đóng góp lớn cho giai đoạn này

là một số tác giả nghiên cứu văn học người Pháp như: Fernand Baldensperger, Paul Van Tieghem, Marius – Francois Guyard… với trường phái thực chứng – lịch sử

Giai đoạn thứ ba – nửa sau thế kỉ XX đến nay: Giai đoạn hoàn chỉnh bộ môn Văn học so sánh Giai đoạn này, Văn học so sánh vượt qua chủ nghĩa thực chứng, khắc phục lý thuyết vay mượn để nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế (trực tiếp hay không trực tiếp) Đồng thời cũng mở rộng đối tượng nghiên cứu của nó sang lĩnh vực các hiện tượng tương đồng Giai đoạn này có sự góp công của các nhà nghiên cứu Mĩ, Pháp như: René Wellek, R Étiemble… hay các nhà nghiên cứu Nga – Xô như V M Zirmunsky, E M Meletinsky…

1.2 Các loại hình nghiên cứu văn học so sánh

1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng

1.2.1.1 Khái niệm

“Ảnh hưởng” là khái niệm hạt nhân của phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng Khái niệm “ảnh hưởng” của văn học so sánh khác với khái niệm “ảnh hưởng” mang

ý nghĩa chung chung Thông thường nói ảnh hưởng là chỉ sự vật này có tác động tới

sự vật khác, dẫn đến sự phản ứng và phản hồi của sự vật sau “Ảnh hưởng” của văn học so sánh nhấn mạnh đến “tính ngoại lai”, nó quan tâm đến sự xâm nhập của yếu

tố ngoại lai

Nghiên cứu ảnh hưởng (còn gọi là nghiên cứu các mối quan hệ trực tiếp) trong văn học so sánh là “việc dùng phương pháp lịch sử để xử lí các mối liên hệthực tế tồn tại giữa các nền văn học dân tộc khác nhau, căn cứ của nó là sự giao lưu tiếp xúc lẫn nhau giữa các nền văn học dân tộc Nghiên cứu ảnh hưởng nhấn mạnh đến thực chứng và liên hệ thực tế, phàm các suy luận hoặc phán đoán thiếu căn cứthực tế đều không thuộc phạm trù nghiên cứu ảnh hưởng” [15; tr.71]

Chẳng hạn, chúng ta có thể nghiên cứu ảnh hưởng giữa hai nhà văn như Vũ Trọng Phụng và Zola; nghiên cứu ảnh hưởng giữa nhà văn với trào lưu văn học như

Trang 17

Bích Khê với thơ tượng trưng Pháp; hay nghiên cứu ảnh hưởng giữa hai nền văn học như văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, …

Nghiên cứu ảnh hưởng là loại hình nghiên cứu có sức thuyết phục, cũng là phương pháp xuất hiện sớm nhất Đóng góp cho loại hình nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu người Pháp như F Baldenseprger, P.V Tieghem, M F Guyard, …

1.2.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu được các hiện tượng văn học theo hướng so sánh ảnh hưởng,

trước tiên người nghiên cứu phải đặt giả thiết (phải có tư tưởng thì mới có giả thiết) Tiếp đến phải tìm tư liệu để chứng minh và làm sáng tỏ giả thiết đó Sau khi có tư liệu, người viết sử dụng phương pháp phân tích những tư liệu đó để tìm cội nguồn, tìm sự sáng tạo của đối tượng so sánh Và cuối cùng, dùng phương pháp tìm ảnh

hưởng và siêu ảnh hưởng để nghiên cứu về đối tượng.

1.2.1.3 Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng

Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng bao gồm phải có cái gây ảnh hưởng và cái chịu ảnh hưởng

Cái gây ảnh hưởng là cái phải có sức lan tỏa, về mặt nào đó phải có vị trí vượt trội dẫn đầu hoặc phải có một số nhân tố phù hợp với điều kiện của cái chịu ảnh hưởng

Cái chịu ảnh hưởng bao gồm hoàn cảnh xã hội của nước tiếp nhận (mức độcởi mở của chính trị, tinh thần dân tộc, kết cấu tâm lý văn hóa) và truyền thống nghệ thuật, thói quen thưởng thức của nước đó Ngoài ra, sự ảnh hưởng cũng phụthuộc vào điều kiện nội tại của cá nhân người chịu ảnh hưởng (tư tưởng, cá tính, khí chất, hứng thú của nhà văn với một hiện tượng văn học cụ thể)

1.2.1.4 Tính chất và mức độ ảnh hưởng

Về tính chất ảnh hưởng, có thể nhìn nhận ở hai khía cạnh, đó là ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp hay ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực

Ảnh hưởng trực tiếp là sự tiếp xúc, tiếp nhận trực tiếp Ảnh hưởng gián tiếp

là tiếp xúc, tiếp nhận qua “môi giới” như dịch thuật, bình luận, giới thiệu,… Ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp có mối quan hệ mật thiết Ảnh hưởng trực

Trang 18

tiếp thường thúc đẩy ảnh hưởng gián tiếp, nhưng rồi ảnh hưởng gián tiếp lại chuyển hóa thành ảnh hưởng trực tiếp Chẳng hạn như, một số chí sĩ Đông Du Nhật Bản, họthông qua Trung Quốc để học tập phương Tây, ngược lại, một số sách dịch Tây học thời cận đại Trung Quốc có không ít danh từ trong Trung văn đều vay mượn của Nhật Bản.

Ảnh hưởng tích cực là sự ảnh hưởng có khả năng thúc đẩy, làm phong phú sáng tác của các nước khác Hoặc cũng có thể nói, cái chịu ảnh hưởng tiếp nhận, tiêu biến nhân tố ngoại lai, sáng tác dựa trên các tác phẩm ưu tú Ngược lại, ảnh hưởng tiêu cực làm ngăn cản, phá hoại sáng tác của nước khác Hay nói cách khác, cái chịu ảnh hưởng chống lại hoặc phủ định một số nhân tố của cái gây ảnh hưởng Ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực trong một số trường hợp chúng xen lẫn nhau Chẳng hạn, vào thời Ngũ Tứ ở Trung Quốc, ảnh hưởng của các trào lưu văn học phương Tây với văn đàn Trung Quốc đã làm phong phú các sáng tác, nhưng đồng thời cũng tạo ra sự đứt đoạn giữa văn học mới với văn học truyền thống

Về mức độ ảnh hưởng, có thể là sự vay mượn ở cấp độ đề tài, chủ đề, cốt

truyên; hay ảnh hưởng về kỹ thuật viết văn; ảnh hưởng về quan niệm…

1.2.1.5 Các loại hình nghiên cứu ảnh hưởng

Nghiên cứu ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở cái ảnh hưởng, mà phải đứng từgóc độ của cái chịu ảnh hưởng, phải xuất phát từ yêu cầu xã hội thực tế của cái chịu ảnh hưởng mới thấy hết giá trị đặc thù dân tộc của nó Ảnh hưởng không đơn giản chỉ là sự sao chép, vay mượn, mô phỏng, học tập mà còn là vấn đề đồng hóa, sáng tạo, vượt lên để sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới

Nghiên cứu ảnh hưởng được đặt trên nhiều phương diện Về cơ bản, có thểnghiên cứu theo các hướng sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng giữa nhà văn với nhà văn, chẳng hạn như Lỗ Tấn và Gogol, Vũ Trọng Phụng và Zola, Maiakovski với Trần Dần, …

- Nghiên cứu ảnh hưởng giữa tác phẩm với tác phẩm Ví dụ: Huyền thoại phố

phường của Nguyễn Huy Thiệp – Con đầm pích của Puskin, Thiên sứ của Phạm Thị

Hoài và Cái trống thiếc của Gunter Grass, …

Trang 19

- Ảnh hưởng giữa nhóm tác phẩm với nhóm tác phẩm Ví dụ: văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố) – văn học hiện thực Pháp thế kỉ XIX (Balzac, Standhal), …

- Ảnh hưởng giữa nhóm nhà văn với nhóm nhà văn Chẳng hạn: nhóm thơ Bình Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan…) với nhóm thơ tượng trưng Pháp (Baudelaire, Verlaine…), …

- Ảnh hưởng giữa nhà văn với một nền văn học Ví dụ: Đào Tiềm, Đỗ Phủ trong thi

ca Việt Nam; Paustovski, Lỗ Tấn, Gorki, Hugo, Balzac … ở Việt Nam

- Ảnh hưởng giữa nhà văn với trào lưu văn học Ví dụ: Xuân Diệu với chủ nghĩa tượng trưng, Bích Khê và thơ tượng trưng Pháp, …

- Ảnh hưởng giữa thể loại văn học với thể loại văn học, chẳng hạn như: Thơ cổ điển Việt Nam và thơ cổ điển Trung Quốc, truyện đường rừng của Thế Lữ với truyện quái dị của Hoffmann, …

- Ảnh hưởng giữa nền văn học với nền văn học: Văn học La Mã và văn học Hy Lạp, văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, …

- Ảnh hưởng giữa trào lưu với trào lưu: Văn học hiện thực Việt Nam và văn học hiện thực Pháp, thơ lãng mạn Việt Nam và thơ lãng mạn Pháp, chủ nghĩa tượng trưng và thơ mới Việt Nam, …

1.2.1.6 Ưu thế và hạn chế của nghiên cứu ảnh hưởng

Bằng tinh thần thực chứng khoa học, lý luận tỉ mỉ và tác phong nghiên cứu cẩn trọng, nghiên cứu ảnh hưởng trong văn học so sánh trên thực tế đã làm phong phú thêm di sản văn học nhân loại

Nghiên cứu ảnh hưởng, mặc dù có rất nhiều ý nghĩa đối với văn học thế giới, song nó cũng tồn tại những hạn chế như:

Thứ nhất, do quá thiên vào các mối quan hệ thực tế, chú trọng nguồn gốc, ảnh hưởng và khảo chứng tư liệu nên nghiên cứu ảnh hưởng đã bỏ qua tính chỉnh thể của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn, ít nhiều làm cản trở sự cảm thụgiá trị thẩm mĩ của tác phẩm

Trang 20

Thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng nhấn mạnh đến thực chứng nên phạm vi nghiên cứu của nó ít nhiều cũng bị hạn chế và việc tổng kết các quy luật của vănhọc gặp những trở ngại khó khắc phục.

Mặc dù có một số hạn chế như vậy nhưng ngày nay nghiên cứu ảnh hưởng vẫn được phát triển là bởi sự tiếp xúc và giao lưu văn học giữa các nước ngày càng được mở rộng

1.2.2 Nghiên cứu song song

1.2.2.1 Khái niệm

Nghiên cứu song song (nghiên cứu song hành, nghiên cứu đồng đẳng) là việc nghiên cứu hai nền văn học khác nhau trở lên mà giữa chúng không có mối liên hệtrực tiếp

Theo Hồ Á Mẫn: “Nghiên cứu song song là dùng phương thức suy luận logic

để nghiên cứu hai nền văn học dân tộc, hoặc hai nền văn học dân tộc trở lên giữa chúng không có quan hệ trực tiếp” [15; tr.48]

Ví dụ: So sánh truyện cổ tích Việt Nam và truyện cổ tích Grim

Nghiên cứu song hành có thể quan sát văn học các nước khác nhau từ nhiều góc độ, nhiều phương diện Do đó, nó có phạm vi nghiên cứu rất rộng Nghiên cứu song hành chú trọng tính văn học của đối tượng, chú trọng so sánh chủ đề, thể loại, hình tượng nhân vật, phong cách nhà văn,…

Đây là hướng nghiên cứu được các nhà nghiên cứu luận Hoa Kỳ đề xuất

1.2.2.2 Mục đích

Các hiện tượng văn học khác nhau là do đặc tính nhân loại như đời sống sinh hoạt khác nhau, các điều kiện vật chất khác nhau,… Nghiên cứu song song giúp chúng ta phát hiện ra những hiện tượng tương đồng của văn học nhân loại cũng như phát hiện những nét đặc sắc có tính dân tộc, văn hóa vùng miền Hơn thế nữa, nghiên cứu song song còn giúp chúng ta hiểu nhau giữa sự bất đồng về văn hóa, chính kiến

Nghệ thuật ngôn từ được phân hóa từ nghệ thuật nguyên hợp mà thành thơ

ca Các thể loại văn học, con đường phát triển, hành trình văn học của các dân tộc

Trang 21

cũng giống nhau Vì vậy, nếu không nghiên cứu vấn đề này thì sẽ không thấy tính cộng đồng trong nghiên cứu văn học thế giới.

1.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Hai phương pháp được sự dụng chủ yếu trong nghiên cứu song hành là nghiên cứu trực tiếp và nghiên cứu gián tiếp

Những yếu tố đem so sánh phải có ý nghĩa nhất định, đặc biệt người nghiên cứu phải coi trọng tính văn học của vấn đề đem so sánh

1.2.2.4 Cơ sở nghiên cứu song hành

Cơ sở nghiên cứu của hướng nghiên cứu song hành là dựa vào tính phổ quát

và tính đặc thù của văn hóa, văn học

- Tính phổ quát của văn hóa, văn học:

Con người có hình thức sinh mệnh giống nhau (như sinh, lão, bệnh, tử, ngũ quan, tâm – sinh lý,…) Do đó, việc thể nghiệm cõi nhân sinh đều có những tình cảm tương tự, tương đồng (như yêu – ghét, sướng – khổ, hợp – tan, sống – chết,…).Bản thể văn học và các hình thưc tồn tại của nó trong các nền văn học dân tộc cũng có nhiều nét tương đồng (thể loại, chủ đề, các thủ pháp nghệ thuật, con đường phát triển, hành trình văn học của các dân tộc, quan niệm nghệ thuật về thếgiới, quan niệm về văn học,…) Những đặc điểm này làm thành cái siêu cá thể, siêu lịch sử của văn học

- Tính đặc thù của văn hóa, văn học:

Tuy có những tương đồng mang tính loại hình, song các hình thức thểnghiệm trạng thái nhân sinh và thủ pháp trong văn học lại được thể hiện trong truyền thống văn hóa, lịch sử, đặc thù của mỗi dân tộc Do đó, trong các hình thức tồn tại và tiến triển của văn học, sự khác biệt của các hiện tượng văn học ở mỗi quốc gia là một tất yếu

Nghiên cứu so sánh song hành giúp chúng ta phát hiện những nét tương đồng của nhân loại cũng như phát hiện những nét đặc sắc có tính chất dân tộc, văn hóa vùng miền

Trang 22

Tùy theo những mục đích nghiên cứu cụ thể và nhà nghiên cứu cụ thể mà nhà nghiên cứu cần nhấn mạnh đến cái chung hay cái đặc thù.

1.2.2.5 Một số lĩnh vực nghiên cứu

- Nghiên cứu tác giả, chẳng hạn như: Herder (Đức) với Diderot (Pháp), Shakespeare (Anh) với Thang Hiển Tổ (Trung Quốc), Goeth (Đức) với Đỗ Phủ(Trung Quốc), …

- Nghiên cứu tác phẩm, ví dụ: So sánh Vua Lia (Shakespeare) và Lão Gôriô của (Balzac), Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Truyện Xuân Hương (khuyết danh – Hàn Quốc), Số đỏ (Vũ Trọng Phung) và Đường công danh của Nikodem Dyzma

- Nghiên cứu quá trình văn học Ví dụ: So sánh thơ Trung Quốc hiện đại với thơ Việt Nam hiện đại, so sánh trào lưu văn học phi lý của Pháp và của Anh, …

1.2.2.6 Ưu thế và hạn chế của nghiên cứu song hành

Nghiên cứu song hành có ưu thế giúp mở rộng không gian nghiên cứu của văn học so sánh, khuynh hướng này một mặt chú ý nghiên cứu sâu các đặc tính thẩm mĩ của văn học, mặt khác có khả năng cung cấp những khái quát phổ biến vềcác quy luật phát triển của văn học

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên, nghiên cứu song hành còn có những hạn chế:

Một là, lý luận chưa đủ tỉ mỉ và sự thuyết phục cần thiết

Trang 23

Hai là, việc tuyển lựa đối tượng thiếu hạn định nghiêm ngặt nên có nguy cơ làm phai nhạt đặc trưng của bộ môn.

1.2.3 Nghiên cứu liên ngành

Văn học so sánh không dừng lại ở việc nghiên cứu hai hiện tượng thuộc hai nền văn học dân tộc khác nhau mà còn đặt vấn đề nghiên cứu so sánh liên ngành.Nghiên cứu so sánh liên ngành đặt vấn đề so sánh hai lĩnh vực, hai loại hình nghệ thuật, văn học khác nhau trở lên Nghiên cứu liên ngành là sự mở rộng văn học so sánh, tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình văn hóa nghệthuật khác dưới điều kiện duy trì tính chủ thể của văn học

Đây là hướng nghiên cứu mới, xuất hiện tương đối muộn, bắt đầu từ những năm 1960, do học giả người Mĩ H Remak (1916 – 2009) đề xuất Theo Remak, văn học so sánh phải là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực hoạt động sáng tạo của loài người

Trong bài báo “Văn học so sánh: Định nghĩa và chức năng” (1962), Remak từng viết: “Văn học so sánh nghiên cứu văn học vượt ra ngoài phạm vi của một nước, đồng thời nghiên cứu quan hệ văn học với những lĩnh vực tri thức và tín ngưỡng khác (như nghệ thuật, triết học, các khoa học xã hội, tôn giáo,…) Nói gọn lại, đó là đem văn học một nước mà so sánh với văn học của một hay nhiều nước khác, so sánh với các lĩnh vực biểu hiện khác của loài người” [28]

Phạm vi khảo sát của nghiên cứu văn học so sánh liên ngành gồm hai nội dung cơ bản:

Thứ nhất, nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác (văn học với hội họa, văn học với âm nhạc, văn học với điện ảnh,…)

Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức xã hội khác (văn học và tôn giáo, văn học và đạo đức, văn học và tâm lý học, văn học

và khoa học kỹ thuật,…)

Như vậy lĩnh vực nghiên cứu của văn học so sánh đã được mở rộng hơn,

Trang 24

Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, những chuyển biến về phạm vi nghiên cứu tất yếu dẫn đến những chuyển biến sâu sắc đối với chính bộ môn Văn học so sánh Việc mở rộng phạm vi của Văn học so sánh cần duy trì tính chủ thể của văn học (tính chất vì văn học của bộ môn) để tìm tòi mối liên hệ nhiều mặt giữa văn học với các lĩnh vực biểu hiện khác của con người.

1.3 Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn Văn học so sánh

Văn học so sánh giúp mở rộng tầm mắt nghiên cứu và cải tiến phương pháp nghiên cứu học thuật

Văn học so sánh giúp nghiên cứu sâu sắc văn học bản quốc và văn học ngoại quốc, từ đó giúp nhận thức rõ lịch sử văn học, lí luận văn học trong và ngoài nước.Như vậy có thể thể thấy, văn học so sánh có một tầm quan trọng đặc biệt trong nghiên cứu văn học Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, văn học so sánh có triển vọng ngày càng lớn về giao lưu hội nhập, giúp thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu văn hóa, văn học giữa các nước

Trang 25

CHƯƠNG 2

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN

TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG

VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE

Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của

Simone Colette là hai cuốn tiểu thuyết cùng viết về sự “nổi loạn” của giới nữ, mà qua đó các nhà văn đều lên tiếng đòi quyền bình đẳng cho nữ giới, vươn tới giải phóng người phụ nữ ra khỏi những quan niệm truyền thống lỗi thời, những giáo

điều hủ tục Ở đây, chúng tôi xin lưu ý tới khái niệm nhân vật “nổi loạn” Theo Từ

điển tiếng Việt, “nổi loạn” là “nổi lên làm loạn” [17; tr 949] Từ cách hiểu đó, có

thể diễn giải thêm: nổi loạn là đứng lên chống lại, phủ định lại một nền tảng cũ,cũng có thể là đứng lên lật đổ một thế lực nào đấy Theo các nhà nghiên cứu lý luận văn học, nhân vật “nổi loạn” là nhân vật đi lệch với tư tưởng, ý đồ sáng tạo ban đầu của nhà văn Tuy nhiên, cả hai nhân vật nữ chính trong hai tác phẩm kể trên được các tác giả xây dựng với những mục đích rõ ràng, cho nên, nhân vật “nổi loạn” ởđây không hiểu theo quan điểm của các nhà nghiên cứu mà theo bản chất của từ

“nổi loạn” trong Từ điển tiếng Việt Với những tư tưởng mới mẻ, tiến bộ và những hành động “nổi loạn” của mình, nhân vật đã đứng lên chống lại những thành kiến lỗi thời, đả phá vào thành trì lễ giáo trói buộc người phụ nữ, đồng thời lên tiếng đòi quyền tự do, bình đẳng cho nữ giới Với cách hiểu như trên, khi tìm hiểu, nghiên

cứu hai tác phẩm, chúng tôi nhận thấy nhân vật Tuyết trong Đời mưa gió và Juliette Hardy trong Và chúa đã tạo ra đàn bà có nhiều điểm tương đồng như sau:

2.1 Tính cách hồn nhiên, tươi trẻ

Tuyết và Juliette đều là những cô gái hiện đại với những tư tưởng hết sức mới mẻ trong tình yêu, trong hôn nhân, gia đình, trong lối sống, quan niệm sống Ở

họ có sự hồn nhiên, tươi trẻ của những cô gái mười tám, đôi mươi

Tuyết trong Đời mưa gió vốn xuất thân là con nhà quý phái, giàu có, cô được

học chữ Pháp từ nhỏ và được gia đình rất mực cưng chiều Năm mười bốn tuổi đậu

Trang 26

tốt nghiệp, được gia đình cho ra Hà Nội theo học trường nữ cao đẳng tiểu học, sống giữa Thủ đô hoa lệ, chẳng bao lâu Tuyết cũng “theo được ngay các cách lịch sự nơi thị thành” [13; tr.70] Lúc ấy, có biết bao trang công tử tuấn tú trẻ trai ngày ngày theo đuổi cô gái diễm lệ, tươi tắn đương độ xuân thì Tâm hồn ngây thơ của một cô gái mười sáu tuổi khi ấy cũng chứa biết bao ước mơ, hy vọng về tương lai, về một cuộc đời hạnh phúc với người bạn trăm năm

Lần đầu tiên đến nhà Chương nhưng Tuyết hết sức tự nhiên, đó cho thấy hình ảnh của một cô gái trẻ trung, đầy tự tin và yêu đời: “Chương toan lên gác, thoảng nghe có tiếng khúc khích cười trong buồng khách Chàng đứng lắng tai nghe: giọng khàn khàn ai hát, se sẽ và sai điệu một bài hát tây quen quen (…) Vừa bước vào buồng khách, Chương giật mình Một người thiếu nữ đứng xây lưng ra phía ngoài, đang cắm những cành hoa” [13; tr.31] Khi nói chuyện với Chương, cô cũng luôn cười nói vui vẻ, thi thoảng còn chọc ghẹo anh:

“Chương bĩu môi, bảo Tuyết:

- Cô có biết dơ dáng đại hình không?

Tuyết đứng dậy ra ngắm trước gương bầu dục rồi trở lại chỗ cũ trả lời:

- Không anh ạ Hình dáng em vẫn xinh như thường

Chương mỉm cười:

- Sao cô hay dùng chữ “như thường” thế?

- Vâng em nói chữ “như thường” như thường” [13; tr.49] Tính cách vui vẻ, hài hước ấy của Tuyết khiến cho Chương “không ngờ lại có người thiếu phụ ngộnghĩnh đến như thế”

Dẫu cuộc đời trải qua nhiều giông gió nhưng thực tâm bên trong con người Tuyết vẫn là một cô gái hồn nhiên, đẹp dịu dàng ở tuổi đôi mươi Cái vẻ hớn hở của Tuyết chạy ra mở cổng khi Chương đi dạy học về đã cho chàng thấy rõ sự “yêu mến mong đợi của nàng, (…) Không thế, sao chợt thấy bóng chàng, Tuyết lại vứt cả cây

ra đó mà chạy lại âu yếm trò chuyện với chàng, hầu như nàng quên bẵng nàng đương làm gì” [13; tr.59] Lần trở về quê cùng Chương, khi “nàng rẽ xuống bờruộng, xòe bàn tay se sẽ xoa lên những ngọn cây lúa mới cấy màu xanh vàng trông

Trang 27

mơn mởn non tươi” hay khi nàng “rình chộp con châu chấu”, Chương mỉm cười ngắm nghía nàng “chạy nhảy như một đứa trẻ”[13; tr.125].

Tưởng như những ngày tháng lăn lộn với cuộc đời mưa gió đã làm chai lì những cảm xúc ở một cô gái giang hồ nhưng không phải vậy Tận sâu trong con người Tuyết vẫn luôn tồn tại bản tính nữ, chẳng qua nó đã bị cuộc đời mưa gió che khuất mà thôi

Giống như Tuyết trong Đời mưa gió, Juliette Hardy trong Và chúa đã tạo ra

đàn bà cũng là một cô gái vừa bước vào tuổi mười tám với bao khát khao, mơ ước

về một tình yêu đích thực Ở cô gái này cũng nổi bật lên sự hồn nhiên, trẻ trung, hiện đại

Khi Eric Carradine mang chiếc xe ô tô Simca màu đỏ đến cho Juliette, dù bịngăn cách bởi mớ đồ phơi nhưng Eric có thể thấy rõ sự háo hức, thích thú qua giọng nói của nàng: “Ông có chiếc ô tô cho em thật sao? Ông mua rồi à? (…) Loại gì

vậy?” [3; tr.11] Nàng háo hức đến độ, dù đang tắm nắng ở kiểu “au naturel” (hoàn

toàn tự nhiên), trên người không có một mảnh vải nhưng nàng vẫn cố “nhón chân lên cao hơn tấm ga đang phơi, cố nhìn cho được chiếc xe chuyển đổi công năng màu đỏ” Eric khá bất ngờ và “không nghĩ rằng nàng lại háo hức đến thế” [3; tr.12] Nhưng khi biết rằng đó chỉ là một chiếc ô tô đồ chơi, “Cặp mắt của Juliette tối sầm

đi vì thất vọng và giận dữ” Tuy nhiên, cơn giận đó cũng mau chóng qua đi Nàng xoa cằm, “Nào thì đưa em xem chiếc ô tô ông đem đến nào ( ) Nàng ngắm nghía món đồ chơi thật kĩ và nói "Đẹp lắm"” [3; tr.13] Có thể thấy, sự háo hức của nàng cũng giống như sự háo hức của một đứa trẻ được quà vậy Tuy rằng thất vọng vì đó chỉ là một món đồ chơi nhưng nàng cũng mau quên và nhanh chóng vui vẻ trở lại.Không chỉ hồn nhiên như con trẻ, Juliette còn là một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống Căn phòng nhỏ xíu của nàng với dăm ba thứ đồ đạc nhưng lại không hềđơn điệu Nàng có một con chim có tên Minuit vẫn hay “ríu rít trò chuyện với nàng”, một con mèo nũng nịu “cà lưng vào đôi chân trần của nàng” mỗi khi nàng vềphòng Juliette còn nuôi cả một con thỏ nữa nhưng chưa đặt tên Căn phòng của

Trang 28

nàng được bà Morin gọi là “một chuồng thú” nhưng kì thực nó đã giúp cho nàng có những người bạn để trò chuyện, sẻ chia mọi điều trong cuộc sống

Là một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống, cho nên, những điều phiền toái chẳng bao giờ khiến Juilette phải bận tâm Khi bà Morin chửi mắng nàng là “đồ gái hư đốn” và liên tục đi theo nàng để giải giảng về những quy tắc đạo đức, luân lí cổ hủ, lạc hậu mà bà ta cho đó là chuẩn mực thì nàng “vờ như bà không có đó Nàng dúi con thỏ xuống gối rồi đi ra ngoài phòng khách, ở đó có cái gương nứt treo trên tường Nàng cầm lược trong tay, vẫn tiếp tục lẳng lặng chải tóc” và “phớt lờ bài độc thoại của bà” [3; tr.18] Nàng không quan tâm và cũng không để cho những tiếng mắng chửi của bà làm ảnh hưởng đến mình “Hôm nay trời đẹp quá chừng, làm sao nàng có thể để bà Morin khiến nàng tức lên được cơ chứ Nàng duỗi dài dưới nắng

Đã đến lúc vào phố rồi đây” [3; tr.21] Chính vì thế, nàng bới tóc lên, chọn trong tủmột cái áo mỏng mùa hè bằng vải bông và một đôi xăng đan, đoạn rồi nàng đẩy xe đạp xuống ngõ, vừa đẩy vừa ngồi lên yên “Cha-cha-cha, cha-cha-cha, nàng ngâm nga theo nhịp đều đều của nhịp pê đan nàng đạp” [3; tr.22] Quả thật, Juliette hoàn toàn khác hẳn với những người phụ nữ ở thị trấn St Tropez, ở nàng toát lên một vẻđẹp khác biệt: “Juliette là một tia lửa đang lớn dần lên thành ngọn lửa đàn bà viên mãn nên nếu nàng có sự khiêm nhường nào thì đó là sự khiêm nhường về tính ngây thơ, còn nếu nàng có sự tinh tế nào thì đó là sự tinh tế của nhan sắc yêu kiều diễm lệchứ không phải của sự đoan trang phẩm hạnh” (lời của Eric Carradine) [3; tr.16]

Có thể thấy rằng, cả Tuyết và Juliette đều là những cô gái trẻ trung, hồn nhiên, yêu đời Chính tính cách này đã khiến cho cả hai cô gái luôn ý thức về bản thân mình rất rõ và luôn khao khát được giải phóng khỏi những giáo điều trói buộc người phụ nữ để vươn tới tự do cá nhân

Trang 29

2.2 Hình tượng người phụ nữ nổi loạn như là một phương tiện biểu hiện tư tưởng nữ quyền

2.2.1 Người phụ nữ với khát vọng vượt thoát khỏi những cổ lệ, giáo điều hà khắc

Tuyết trong Đời mưa gió là một cô gái tân thời, có lối sống phóng khoáng và

những quan niệm hết sức “mới mẻ” về tình yêu, hạnh phúc cá nhân Vốn xuất thân

là con nhà quý phái, lại được gia đình cho học hành tử tế, lại sớm được tiếp xúc với văn hóa Pháp hiện đại nơi thị thành Khi còn là một cô gái mười sáu tuổi ngây thơ

cô cũng có rất nhiều ước mơ, hy vọng về tương lai, về một cuộc đời hạnh phúc với người bạn trăm năm Thế nhưng mọi thứ bỗng chốc tiêu tan khi mười bảy tuổi, gia đình buộc cô phải thôi học để lấy chồng, một người mà cô không yêu cũng không

hề biết mặt Xét ở góc độ này, Tuyết cũng giống như những người phụ nữ khác, cũng là nạn nhân của xã hội cũ Quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã cướp

đi tương lai, ước vọng tốt đẹp của cô

Có thể thấy ban đầu Tuyết là một cô gái nề nếp, ngoan ngoãn, và đồng thời mang trong mình cả những nét tân tiến văn hóa mới Chính điều này đã khiến cho Tuyết không cam chịu số phận Vốn là một người có học vấn, lại ý thức được về giá trị bản thân, Tuyết không thể cùng chung sống với một người chồng “đã mười bảy, mười tám tuổi đầu mà vẫn còn ngây ngốc như một thằng bé con lên mười” và “chỉđược mỗi một nết là con cưng của một nhà quan” So với trước kia, chồng cô chẳng bằng một phần của các trang công tử đã từng theo đuổi Không những thế, đối với Tuyết, cuộc sống gia đình sau khi lấy chồng như là một tù ngục giam hãm: “ở với cha mẹ, hai vợ chồng ăn bám lại còn nuôi vú, nuôi bõ là đằng khác Chồng thì bỏhọc vô nghệ (…), vợ thì hầu hạ mẹ chồng như con ở (…) Lại thêm cha mẹ chồng

cổ lỗ, bắt khoan bắt nhặt con dâu từng li từng tí” [13; tr.71] Đây chính là hình ảnh đại diện cho những gia đình phong kiến trong xã hội Việt Nam đương thời Lúc bấy giờ, khi mà hệ thống tư tưởng Nho giáo được là chuẩn mực đạo đức của xã hội thì người phụ nữ bị xem nhẹ vai trò, bị khinh miệt, suốt đời bị lệ thuộc và phải phục tùng Nho giáo kìm chân người phụ nữ bên chiếc cối xay, trong xó bếp, sau những

Trang 30

lũy tre làng bởi “tam tòng tứ đức” Quan niệm trọng nam khinh nữ theo thời gian, dần ăn sâu vào tâm thức người dân phương Đông Thực tế, Nho giáo không chỉ biến phụ nữ thành món đồ sở hữu của nam giới, trở thành những “con ở” không công mà còn hạ thấp phẩm giá, năng lực của người phụ nữ bằng những quy định hà khắc: không cho phép phụ nữ đi học, thi cử, không được tham gia vào các công việc xã hội như nam giới, không được quyền tự do yêu đương, hôn nhân thì bị sắp đặt theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và rất nặng nề vấn đề trinh tiết Bằng chứng là Tuyết đã phải thôi học để về lấy chồng theo sự sắp đặt của gia đình, mà về nhà chồng thì bị “bắt khoan bắt nhặt từng li từng tí” Cuộc sống không hạnh phúc và cũng không cam chịu cầm tù như vậy, chán nản, Tuyết ngoại tình với một cậu láng giềng và cuối cùng đã bỏ nhà, bỏ con đi theo tình nhân Hành động “bứt phá” này

đã đưa Tuyết dấn thân vào “đời mưa gió” và trở thành gái giang hồ từ đây Cô cũng dần thay đổi cả quan niệm sống lẫn lối sống của mình Với Tuyết, sống là phải tự

do, phóng túng cả về tâm hồn lẫn thể xác, cho nên, cô sống buông thả, ăn chơi trác táng, sống với sở thích riêng, lý tưởng riêng và không cần biết đến ngày mai Quan niệm sống, lối sống này của Tuyết hoàn toàn khác ngược với tư tưởng về người phụ

nữ truyền thống, nó cũng hoàn toàn đi ngược lại với những chuẩn mực quy tắc đạo đức trong xã hội đương thời Sự “nổi loạn” của Tuyết đã cho thấy “sự cởi trói” cho mình ra khỏi những luật lệ, giáo điều xưa nay đã kìm kẹp người phụ nữ Không phải

là một người phụ nữ “tam tòng tứ đức” hay yên phận theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, Tuyết đã dám làm, dám sống, dám theo đuổi hạnh phúc, chủ động kiếm tìm những thứ mà bản thân mình mong muốn Tuy nhiên, cô lại để cho bản thân mình quá đà sa ngã, để mặc dòng đời xô đẩy, dấn thân vào đời ô trọc mà vốn biết nó nhục nhã, ê chề Cô trở nên “lạc loài”, bị người đời khinh rẻ bởi xã hội đương thời không chấp nhận một người phụ nữ “nổi loạn” như vậy trong khi tư tưởng đạo đức Nho giáo vẫn còn bủa vây chặt chẽ

Cũng như Tuyết trong Đời mưa gió, sự “nổi loạn” của Juliette Hardy trong

Và chúa đã tạo ra đàn bà cũng thể hiện khát vọng vượt thoát ra khỏi những khuôn

phép, lề lối trói buộc người phụ nữ bấy lâu Điều này được bộc lộ qua sự khẳng

Trang 31

định giá trị bản thân, khát khao giải phóng người phụ nữ và thách thức lại những quan niệm truyền thống bảo thủ trong xã hội đương thời.

Khác với những người phụ nữ trong thị trấn St Tropez, Juliette là một cô gái

có cá tính mạnh mẽ, luôn có ý thức về giá trị của bản thân Chính vì vậy, nàng luôn sống theo cá tính của mình, làm những gì mà bản thân được thoải mái nhất Nàng

tắm nắng theo kiểu “au naturel”, đi chân đất trong cửa hàng sách để thuận tiện cho

việc phục vụ khách hàng, hay khi đi khiêu vũ Juliette đã chủ động tìm đến để nhảy cùng Antoine – người đàn ông mà nàng yêu Tất cả những hành động của nàng bịmọi người soi mói, rồi người ta kết tội nàng là người đàn bà lẳng lơ và không thểchấp nhận được Để dựng lên thành trì của những giáo điều lạc hậu bao quanh người phụ nữ mang tư tưởng tiến bộ, Simone Colette đã xây dựng hình tượng các

bà mẹ đại diện cho những quy tắc đạo đức cũ, qua đó làm nổi bật hình tượng người phụ nữ hiện đại thách thức lại những quan niệm truyền thống cố hữu, lỗi thời Tiêu biểu trong tác phẩm này là bà Morin - mẹ nuôi Juliette và người thiếu phụ đến từviện mồ côi

Khi bà Morin bắt gặp Juliette đang tắm nắng “hoàn toàn tự nhiên” và đứng nói chuyện với Eric Carradine thì “Một vẻ bàng hoàng uất giận khiến cho đường nét khuôn mặt bà như hóa đá, tuồng như bà không quyết được nên lại gần để kiểm chứng mối nghi ngờ của mình hay nên tiếp tục cái tư thế của kẻ đoan trang phẩm hạnh đang nổi cơn công phẫn” [3; tr 14] Bà chửi mắng Juliette là “đồ gái hư đốn” bởi ở người phụ nữ này luôn bị ám ảnh những tư tưởng đạo đức cố hữu, bà ta cho rằng hành động của Juliette là đáng xấu hổ, là lẳng lơ và không thể chấp nhận được Nhưng đáp lại thái độ hằn học của bà Morin là thái độ thờ ơ của nàng Juliettekhông thanh minh hay cố gắng nói cho bà Morin hiểu, bởi nàng biết chẳng ích gì vì

bà là một người đàn bà bảo thủ “Nàng đi vào nhà với dáng đi rõ thong dong rồi đóng sập cửa lại” [3; tr 15] Điệu bộ ấy của Juliette như thách thức lại với thái độcủa bà Morin Khi bà ta liên hồi giảng giải, quát mắng nàng về những thứ đạo đức, luân lí cổ hủ, lạc hậu mà bà ta cho đó là chuẩn mực thì nàng “vờ như bà không có

Trang 32

treo trên tường Nàng cầm lược trong tay, vẫn tiếp tục lẳng lặng chải tóc” và “phớt

lờ bài độc thoại của bà” [3; tr.18] Bà Morin một mặt ép buộc Juliette phải tuân theo những quy tắc đạo đức cố hữu nhưng mặt khác lại tìm cách lấp liếm cho những hành động xấu xa của chồng mình - ông Morin Bà bắt quả tang ông Morin rình trộm Juliette tắm nắng nhưng bà không nghe ông ta thanh minh, thay vào đó, là tiếng quát: “Thôi ông im đi” [3; tr.18] Juliette chứng kiến từ đầu đến cuối bộ mặt giả tạo của hai người Vì thế, nàng “không ghìm nổi để đừng phá lên cười nữa, thế

là tiếng cười nàng bật ra” [3; tr.18] Đây chính là tiếng cười đả phá vào những thứgiả tạo mà vẫn cố tình che giấu, cố tình đội lốt cái mặt nạ “đạo đức truyền thống” Juliette cũng mặc cho bà Morin mắng chửi mình là “đồ gái hư đốn” [3; tr.14], “đồ

đĩ thõa”, “đồ chó cái” [3; tr.19] Nàng không quan tâm và cũng không để cho những tiếng mắng chửi của bà làm ảnh hưởng đến mình Trước thái độ ấy của nàng, cuối cùng, bà Morin phải chịu thua trong nỗi uất giận

Xã hội cũ không chỉ dựa vào tư tưởng lạc hậu của những bà mẹ để trói buộc, lấn át tư tưởng tiến bộ của người phụ nữ mà để chắc chắn rằng, sẽ không có bất cứđiều gì có thể làm thay đổi những quy tắc đạo đức đó, họ còn mượn đến sự can thiệp của sức mạnh nhà thờ, sức mạnh của tôn giáo Trong khi đang bán hàng tại hiệu sách, Juliette gặp người thiếu phụ trẻ đến từ viện mồ côi Người thiếu phụ đó

đã mắng nàng một cách không thương tiếc: “Tôi đã dò hỏi về cô, là vì Giám mục nhờ tôi, và tôi đã phát hiện ra là người ta có thấy cô đi cùng với ông Carradine, cô

đã đến thuyền của lão ta, cô đã lấy mình ra làm trò cười, cô lang chạ với những kẻ

tư cách chả ra gì và cô nhảy nhót tới gần sáng” [3; tr.84] “Cô là nỗi ô nhục đối với Viện, ( ) Thật ô nhục, thật vô ơn” [3; tr.85] Trước những hiểu nhầm của người thiếu phụ, Juliette đã tìm cách giải thích cho bà ta hiểu: “Tôi chỉ muốn vui một tí thôi Tôi không làm gì sai hết cả, chỉ là bà ấy (bà Morin) có những ý nghĩ bẩn thỉu nên bà ấy luôn luôn mong điều tệ hại nhất từ tôi” [3; tr.85] Qua lời giải thích này, chúng ta có thể cảm nhận được sự bất lực và bế tắc của Juliette Nàng muốn người

ta hiểu cho mình nhưng không có ai cả Những hành động của nàng trong mắt họchỉ là lố lăng và lẳng lơ Lúc nào, họ cũng muốn nàng khép nép, sống trong một

Ngày đăng: 30/09/2015, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w