1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn (KL07169)

60 432 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 750,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... Điểm nhìn trần thuật Sống đọa thác đày Chương 2: Ngôn ngữ trần thuật giọng điệu trần thuật Sống đọa thác đày NỘI DUNG Chƣơng 1: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN 1.1 Khái... tố nghệ thuật trần thuật Mạc Ngôn Đó sở để làm đề tài Đối tƣợng phạm vi khảo sát 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật Sống đọa thác đày Mạc Ngôn 3.2 Phạm vi khảo sát Tác phẩm Sống đọa. .. biệt Mạc Ngôn tự biếm 24 1.3 Sự dịch chuyển điểm nhìn Sống đọa thác đày 34 CHƢƠNG 41 NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

BÙI THỊ HẢI YẾN

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG

SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

HÀ NỘI– 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

BÙI THỊ HẢI YẾN

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG

SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Thị Bích Dung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Dung người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện luận văn Em cũng xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô trong khoa văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện tốt nhất cho em học tập và nghiên cứu

Dù đã hết sức cố gắng, nhưng vì khả năng và thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của các thầy cô

Em xin chân thành cám ơn !

Người thực hiện

BÙI THỊ HẢI YẾN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 6

Chương 1: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN 6

1.1 Khái niệm 6

1.1.1 Trần thuật 6

1.1.3 Điểm nhìn trần thuật 7

1.1.3 Người kể chuyện 8

1.2 Điểm nhìn gắn với ngôi kể trong Sống đọa thác đày 9

1.2.1 Điểm nhìn bên trong ở ngôi thứ nhất (điểm nhìn súc vật) với người kể chuyện tự bạch 11

1.2.2 Điểm nhìn bên ngoài với người kể chuyện ở ngôi thứ hai (trẻ thơ) và sự phân thân đa ngã 18

1.2.3 Điểm nhìn hư ảo với người kể chuyện đặc biệt là Mạc Ngôn tự biếm 24

1.3 Sự dịch chuyển điểm nhìn trong Sống đọa thác đày 34

CHƯƠNG 2 41

NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY 41

2.1 Khái niệm giọng điệu trần thuật 41

2.2 Giọng điệu trần thuật trong Sống đọa thác đày 42

2.2.1 Giọng điệu bỡn cợt 42

2.2.2 Giọng điệu tâm tình 46

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Được xem là nhà văn hàng đầu Trung Quốc hiện nay với rất nhiều giải thưởng và danh hiệu, Mạc Ngôn đang trở thành một “hiện tượng” của văn đàn Trung Quốc và thế giới

Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Mạc Ngôn với trên 200 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, tiểu thuyết là thể loại gây tiếng vang lớn nhất, gặt hái được nhiều thành tựu nhất Một trong những yếu tố khẳng định tài năng của Mạc Ngôn trong thể loại tiểu thuyết là nghệ thuật tự sự độc đáo

Lí luận Văn học Trung Quốc có rất nhiều nét dị biệt so với tự sự phương Tây Xuất phát từ những đặc trưng đó, khóa luận sẽ trình bày các yếu

tố tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn bằng chính những gì nhà văn này tiếp nhận được từ tinh hoa tự sự của dân tộc kết hợp với lí thuyết tự sự học phương Tây

để lí giải những cách tân, chỉ ra được sự đan quyện giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn, đồng thời khẳng định vị trí của nhà văn này trong dòng chảy của tiểu thuyết Trung Quốc

2 Lịch sử vấn đề

Ngay sau khi tiểu thuyêt Báu vật của đời, Đàn hương hình ra đờivà tiếp

đó là tiểu thuyết Sống đọa thác đày, Ếch, Mạc Ngôn đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình trên thế giới Khi tác phẩm Báu vật của đời xuất

hiện, bàn về tiểu thuyết này, nhiều người nói đến tài phù phép của Mạc Ngôn

Trên báo Tiền Phong, Nguyễn Khắc Phê trong bài viết Tài phù phép của Mạc

Ngôn đã nói đến thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, mà Báu vật của đời được xem là thể hiện sự tập trung nhất Đây là tác phẩm của Mạc Ngôn có

sức hút mạnh mẽ, sự quan tâm của độc giả, và giới phê bình ở Việt Nam Bàn

về nghệ thuật tiểu tuyết Mạc Ngôn trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn khai

thác tối đa chất liệu dân gian truyền thống Chia sẻ quan điểm ấy, Nguyễn

Trang 6

Thanh Sơn lại nói đến sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp tiểu thuyết truyền thống và tiểu thuyết hiện đại Có cùng cách nhìn ấy, Võ Thị Hảo lại nói đến

“Một bút pháp hiện đại vượt khỏi những lối mòn…” Tiếp đó, nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn đã được dịch, giới thiệu, như: Đàn hương hình, Ếch, Sống đọa

thác đày, Cao lương đỏ, Cây tỏi nổi giận, Bốn mươi mốt chuyên tầm phào…Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu có ý kiến trái chiều về tác phẩm của

Mạc Ngôn Nhà phê bình Vương Cán phê phán Mạc Ngôn có tư tưởng chống lại qui phạm truyền thống Bên cạnh đó, xuất phát từ góc nhìn nghệ thuật nhiều nhà nghiên cứu đa khẳng định “sự trở về và vượt lên” tạo đẳng cấp thế giới của tiểu thuyết Mạc Ngôn Họ chỉ ra sự sáng tạo, độc đáo, mới lạ những huyền thoại mới bên cạnh huyền thoại cổ xưa…

Ở Việt Nam, Mạc Ngôn được biết đến khi Báu vật của đời xuất hiện,

và sau đó là Sống đọa thác đày, được Trần Đình Hiển chuyển dịch, NXB Phụ

Nữ xuất bản năm 2007 Cũng chính dịch giả đã đưa các tác phẩm như: Đàn

hương hình, Cây tỏi nổi giận, Ếch…vào Việt Nam Trên báo chí, đặc biệt là

các báo điện tử xuất hiện nhiều bài phỏng vấn và bài viết liên quan tới nội dung tác phẩm Mạc Ngôn cũng được giới thiệu với độc giả Việt qua cuốn

Mạc Ngôn và những lời tự bạch của dịch giả Nguyễn Thị Thại Cuốn sách là

tập hợp những bài phỏng vấn của nhà văn, qua đó tác giả trình bày những quan điểm của mình về sáng tác văn học, bật mí những thủ pháp nghệ thuật

và dấu ấn tuổi thơ trong sáng tác Có thể nói cuốn sách đã cho người đọc nhìn nhận nhiều chiều về con người và sáng tác của Mạc Ngôn

Trên báo Văn nghệ, số 5 tháng 12 năm 2003 có đăng bài viết Tiểu

thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ Sỹ Điệp Bài viết tổng kết

những sáng tạo của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên Tiếp đó, bài viết

của Lê Huy Tiêu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn in trong cuốn Cảm nhận mới về văn học Trung Quốc, đã khái quát đặc điểm nghệ

Trang 7

thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn từ hình ảnh, cảm giác, giọng điệu, nghệ thuật tự sự, ngôn ngữ’ bản sắc dân gian Nguyễn Thị Tịnh Thy với luận án

tiến sĩ về đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Trên cơ sở

nghiên cứu tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung, tác giả đã khảo sát đề tài trên ba phương diện: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự, nghệ thuật tổ chức không gian thời gian và kết cấu tự sự, nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu, từ đó tác giả chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như vị trí của Mạc Ngôn trong dòng tiểu thuyết Trung Quốc, xác định phong cách tự sự Mạc Ngôn Mạc Ngôn đã đưa Cao Mật – quê hương

Cao lương đỏ của mình ra thế giới bằng bút pháp, phong cách riêng Dù chưa

nhiều, nhưng nhìn chung các sáng tác của Mạc Ngôn, nhất là tiểu thuyết đang thu hút ngày càng nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Viết về Sống đọa thác đày,có bài Nhà văn Mạc Ngôn sống đọa thác

đày là “nhánh cây mới trên cái cây già nua” của Trần Trung Sáng trên báo

Văn Nghệ Theo ông, nếu chưa đọc Báu vật của đời sẽ không thể hiểu được Mạc Ngôn Ông nói: Sống đọa thác đày chính là “nhánh mới trên cây già nua

đó” Hình thức của cuốn tiểu thuyết này khác biệt khá nhiều so với các cuốn

trước Sống đọa thác đày đã nêu ra một so sánh hình tượng hóa Đây có thể

coi là cuốn tiêu biểu nhất cho kiến trúc trên bản đồ quê hương Đông Bắc Cao

Mật của ông Ngoài ra phải đến bài viết Thời gian trong Sống đọa thác đày

của Mạc Ngôn của Nguyễn Thu Phương, đã lập ra thời gian biểu các sự kiện

chính và ngôi kể trong tác phẩm Sống đọa thác đày xong mới chỉ dừng lại ở

việc khảo sát chưa đi sâu phân tích, dấu ấn từng mốc thời gian

Khóa luận của Phạm Thị Nhung năm 2012 với đề tài Nghệ thuật tiểu

thuyết Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn, đã đi sâu phân tích tác phẩm về tổ

chức kết cấu, nhân vật, không gian, thời gian Luận văn đã chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật trong tác phẩm Cuộc trò chuyện về Nhà văn Mạc

Trang 8

Ngôn: “43 năm thai nghén Sống đọa thác đày” của Nguyễn Lệ Chi trên báo

Người lao động … Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại ở điểm sách, chưa tác giả

nào nghiên cứu thật sâu sắc về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Sống

đọa thác đày

Điểm lại những ý kiến trên, có thể thấy nhiều bài viết về Mạc Ngôn Song các bài viết mới chỉ khái quát chung, giới thiệu, cảm nhận về tiểu thuyết

Mạc Ngôn và chủ yếu tập trung ở Báu vật của đời, Đàn hương hình, chưa có

công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích cụ thể các yếu tố trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn Đó là cơ sở để tôi làm đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghệ thuật trần thuật trong Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn

3.2 Phạm vi khảo sát

Tác phẩm Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát, hệ thống, so sánh, phân tích tổng hợp

5 Đóng góp của khóa luận

Từ việc phân tích và kiến giải những đặc điểm của các yếu tố tự sự trong mối quan hệ lôgic giữa chúng, khóa luận đã xác định phong cách “tự sự kiểu Mạc Ngôn” Đó là một phong cách được hình thành nên bởi sự phối kết giữa đặc trưng tự sự truyền thống và đặc trưng hậu hiện đại của văn học Trung Quốc

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Điểm nhìn trần thuật trong Sống đọa thác đày

Trang 9

Chương 2: Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật trong Sống đọa thác

đày

Trang 10

NỘI DUNG

Chương 1: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG SỐNG ĐỌA THÁC

ĐÀY CỦA MẠC NGÔN

sự kiện thắt nút, mở nút sang chủ thể thẩm mỹ của tác phẩm tự sự”[8, tr.248]

Cùng với những quan niệm đó, các tác giả trong cuốn Lý luận văn học xác định cụ thể: “Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết,

sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức Bố cục của trần thuật là sắp xếp, tổ chức sự tương ứng giữa các phương diện khác nhau của hình tượng với các thành phần khác nhau của văn bản”[7,tr.307]

Từ những quan điểm đó, ta có thể hiểu: Trần thuật là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự việc theo cái nhìn nhất định Nghệ thuật trần thuật là phương diện cơ bản, đặc trưng của phương thức tự sự, nó có tác dụng soi sáng nội dung tư tưởng của phương thức tự sự Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách Với đặc điểm đó, trần thuật trong tiểu thuyết là một

Trang 11

phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại Trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật

1.1.2.Điểm nhìn trần thuật

Các nhà lý luận, phê bình sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên thuật ngữ này: quan điểm trần thuật, điểm nhìn tâm lý, cái nhìn trần thuật, phương thức trần thuật Ở đây thống nhất thuật ngữ điểm nhìn trần thuật

G.N Pospclov khẳng định: “Trần thuật tự sự bao giờ cũng tiến hành từ

phía một người nào đó”[13,tr.14].Từ đó ông cho rằng: “Mối tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật gọi là điểm nhìn trần thuật” Ông khẳng

định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong

tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [13; 90]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Khoảng cách, góc độ của lời kể đối

với cốt truyện tạo thành cái nhìn”[8,tr.247]

Còn trong Nghệ thuật văn xuôi (1884), Henry James lại cho rằng:

“Điểm nhìn trần thuật là sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn”[34,tr121]

Nhận thấy vai trò đặc biệt của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương

Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sĩ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của

đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên ngoài”[10,tr12], bởi sự trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng tiến

hành từ một điểm nhìn nào đó Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật và tổ chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điểm nhìn, một chỗ đứng nhất định Việc chọn một chỗ đứng thích hợp để người kể chuyện kể câu chuyện là

Trang 12

một trong những sự trăn trở đối với nhà văn khi sáng tạo tác phẩm Bởi vậy điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể vào sự thành công của tác phẩm, qua

đó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trên hành trình lao động nhọc nhằn của mình

Điểm nhìn là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật

Trong tác phẩm Dẫn luận thi pháp học do Trần Đình Sử chủ biên, có viết:

“Điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả Khái niệm điểm nhìn mang tính

ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, quan sát, cảm thụ của chủ thế đối với thế giới Nó là cái vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thế và khách thể, cả phương diện vật lí, tâm lí, văn hóa”[24, tr45]

Như vậy có nhiều quan niệm về điểm nhìn trần thuật, ta có thể thấy: Điểm nhìn trần thuật là vị trí, khoảng cách, góc độ chủ thể trần thuật dùng để quan sát đối tượng trần thuật Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, có thể

từ bên trong, có cái nhìn từ một phía, có cái nhìn từ nhiều phía … Trong quan

hệ giữa chủ thể trần thuật với người đọc thì chủ thể trần thuật được coi là người chỉ đường và dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm theo các diễn biến, xung đột, thắt nút, mở nút của các sự kiện đời sống Do đó, điểm nhìn trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn khá độc đáo tạo nên nét phong cách thống nhất trong hệ thống các tiểu thuyết của ông

1.1.3 Người kể chuyện

Theo các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, thì “người

trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [8, tr.211-212] Như vậy,

người kể chuyện là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm của

Trang 13

mình và văn bản tự sự chính là sản phẩm ngôn từ do hoạt động ngôn ngữ nhân vật xây dựng nên

Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khác: “Trần thuật tự

sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích những gì đã xảy ra” [3,tr.360]

Thực chất kể chuyện là hoạt động hội thoại giữa người kể chuyện và người nghe Người kể có thể kể về mình (kể về ngôi thứ nhất), hoặc kể về người khác (ngôi thứ ba), cũng có thể kể về ngôi thứ hai (kể về người nghe) Mỗi định nghĩa khai thác người kể chuyện ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau

về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: Người kể chuyện là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự.Trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự.Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người kể chuyện của nó Người đọc luôn cảm thấy được linh hồn của người kể chuyện một cách gần gũi, rõ rệt Người kể chuyện giữ vai trò là cầu nối giữa tác giả, tác phẩm với người đọc Người đọc nhận ra hình tượng người

kể chuyện qua cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và tình cảm của anh ta

Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là yếu tố thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất quan điểm, tư tưởng, phong cách của nhà văn Người kể chuyện gắn với khái niệm ngôi kể và điểm nhìn

1.2 Điểm nhìn gắn với ngôi kể trong Sống đọa thác đày

Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật chính là hai yếu tố cấu thành phương thức trần thuật của một tác phẩm văn học Sự phối hợp giữa hai yếu tố này

Trang 14

với nhau tạo thành các phương thức tự sự khác nhau, mang lại những khả năng khái quát hiện thực phong phú cho truyện kể, đồng thời mở rộng những phương diện tiếp cận nghệ thuật đa dạng cho độc giả đối với thế giới hư cấu trong truyện Người kể có thể kể chuyện ở ngôi thứ ba với điểm nhìn “biết tuốt” bằng một thái độ khách quan Anh ta cũng có thể vắng mặt trong thế giới nhân vật trong truyện, nhưng vẫn thể hiện được dấu ấn chủ quan của mình khi trần thuật dựa vào điểm nhìn bên trong của nhân vật

Trong văn học truyền thống, người trần thuật dùng giọng điệu của người ngoài cuộc (ngôi thứ ba) kể chuyện Người trần thuật ở đây là người biết hết tất cả, người trần thuật lớn hơn cả nhân vật Cách trần thuật đó có lợi thế là tác giả có điều kiện tự do phóng khoáng trong cách viết nhưng sẽ có trường hợp việc này làm nảy sinh tùy tiện khống chế, sắp xếp các nhân vật và

sự kiện, người đọc sẽ không có cơ hội được hoài nghi, tranh cãi hay đặt ra một câu về một sự tranh luận nào đó Người đọc có cảm giác có một đáng toàn năng đang chi phối câu chuyện này chứ không thấy câu chuyện diễn tiến một cách tự nhiên, phát triển một cách logic theo nội tại của nó

Trong một vài năm đầu thời kì đổi mới, do sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật và con người thì các nhà văn đã nhận thấy sự độc quyền của việc

sử dụng ngôi kể thứ ba là không còn phù hợp Vì vậy, sự xuất hiện của nhân vật người kể chuyện hiện diện trong tác phẩm đã tạo điều kiện cho nhà văn thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm con người

Xuất hiện trong tác phẩm văn học tự sự với tư cách là người tái hiện những vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm, là cầu nối để nhà văn thể hiện quan điểm và tư tưởng của mình, người kể chuyện có vai trò hết sức quan trọng Sẽ không có và không thể cảm thụ được trọn vẹn giá trị của tác phẩm nếu không theo dõi kiểu cách trần thuật trong từng lời, từng ý của nhân vật

Trang 15

người kể chuyện Sẽ là chân thực và đặc sắc hơn nếu tác phẩm có sự đa dạng

về ngôi kể

Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tất cả những truyện kể ở ngôi thứ ba đều được dẫn dắt bởi người kể chuyện có tầm hiểu biết hạn tri, đối lập với người kể chuyện tòan tri truyền thống Mỗi người kể chuyện chỉ nắm giữ một phần hiện thực, quyền năng của họ đã bị tước bớt, và nếu không có sự phối hợp của những người kể chuyện khác thì bức tranh hiện thực mà họ tái hiện sẽ không thể vẹn toàn Vì vậy, sự hạn tri của người kể chuyện đã gián tiếp tạo

nên tính đa thanh, đa giọng điệu cho tác phẩm Sống đọa thác đày là tác phẩm

đã chiếm lĩnh được độc giả bởi sự đa dạng đó Không chỉ bắt gặp hình thức người kể chuyện ở ngôi thứ nhất mà còn xuất hiện một phương thức hiếm gặp

là người kể chuyện ở ngôi thứ hai Hơn thế nữa, việc sử dụng Mạc ngôn – tác

giả thực tế, như một cách kể chuyện đặc biệt là nét độc đáo trong Sống đọa

thác đày Sự đa dạng ngôi kể cho thấy câu chuyện được nhìn từ bên trong ra,

từ bên ngoài vào Do đó, ít nhiều mang tới cho câu chuyện sự đan xen, lồng ghép và sự chân thực

1.2.1 Điểm nhìn bên trong ở ngôi thứ nhất (điểm nhìn súc vật) với người

kể chuyện tự bạch

Người kể chuyện tự bạch lộ diện trực tiếp với đại từ nhân xưng “tôi” dưới hai dạng: có thể là kể câu chuyện với tư cách là người quan sát, làm chứng, hoặc giữ vai trò là một yếu tố của tổ chức tự sự, đồng thời trực tiếp tham gia vào hành động truyện Đặc biệt người kể chuyện này trong tiểu thuyết Mạc Ngôn vô cùng đa dạng, đa biến và đa phần là “không đáng tin cậy” Có khi “tôi” là con người, có khi là con vật, có khi mỗi vai kể một sự kiện, có khi tất cả các vai cùng hướng vào một sự kiện Bằng điểm nhìn bên trong, người kể chuyện tự bạch dù trong vai trò chứng nhân hay trải nghiệm

Trang 16

đều có thể diễn tả tâm lý, nội tâm nhân vật Vì vậy, nội dung được kể từ họ thường dễ gây xúc cảm cho người đọc

Đa phần trong các tiểu thuyết của Mạc Ngôn đều có sự tham gia của cái

“tôi”tự thuật Có thể nói, trần thuật ở ngôi thứ nhất đã tạo ra một bước tiến quan trọng trong việc sáng tạo và khám phá hiện thực.Người kể chuyện mang điểm nhìn bên trong vì đó chính là nhân vật ngay trong câu chuyện, ở đây là Tây Môn Lừa, Tây Môn Trâu, Tây Môn Lợn, Tây Môn Chó, Tây Môn Khỉ.Với ngôi trần thuật này, người kể chuyện xưng tôi có vai trò to lớn trong việc quyết định cấu trúc tác phẩm cũng như toàn quyền miêu tả những nhân vật khác từ điểm nhìn của bản thân

Khác với nhiều nhà văn và các tác phẩm khác của Mạc Ngôn, nhân

vật người kể chuyện xưng tôi trong Sống đọa thác đày của ông là súc vật: lừa,

trâu, lợn, chó, khỉ Nhân vật đó đã kể chuyện bằng tất cả sự trải nghiệm, có lúc kể chuyện người khác với tư cách chứng nhân Qua điểm nhìn của chúng,

người đọc cảm nhận được, con người và xã hội ở Sống đọa thác đày dường

như có quá nhiều dã tính và sai lầm Để cho súc vật phán xét con người, dùng góc nhìn của động vật để quan sát sự biến đổi của thế giới loài người, quan sát

và thể nghiệm sự thay đổi của nông thôn Đó cũng là những nét lạ hóa đặc sắc trong nghệ thuật tự sự Mạc Ngôn

Những con vật trong Sống đọa thác đày đều là hậu kiếp của địa chủ

Tây Môn Náo, con người “cả đời chưa làm điều gì thất đức” – bị giết oan trong cải cách ruộng đất

Toàn bộ quyển một được kể bằng ngôi thứ nhất: kiếp lừa phóng đãng Câu chuyện được nhân vật tôi – Tây Môn Náo và Tây Môn Lừa kể về cuộc đời bị đày đọa dưới âm tào địa phủ, chịu cực hình tàn khốc được đầu thai thành lừa trải qua mọi thăng trầm của cuộc sống Tây Môn Lừa chứng kiến cảnh Lam Mặt Xanh làm ăn cá thể, cả xã hội đã tẩy chay ông, loại ông ra khỏi

Trang 17

xã hội Hậu quả của việc này là những người của công xã đã đến cướp hết lương thực của Lam Mặt Xanh Tây Môn Lừa đã nhìn thấy hết thảy những bất công mà xã hội đã tạo ra với mình và ông chủ của mình

Cuộc sống là những ngày lao động vất vả, cực nhọc và vô vàn khó

khăn Đó cũng là những năm mất mùa lớn:“Cái đói làm cho con người biến

thành một loài dã thú hung tàn” Hoàn cảnh đói khổ lúc đó khiến con người

phải làm những việc không đành để nuôi sống mình, dân làng đã giết lừa lấy

thịt chia nhau Kiếp lừa hóa kiếp và kết thúc từ đây: “Linh hồn tôi bay lên, lơ

lửng trên không gian, nhìn xuống thấy những người đói khát kia kẻ dao người thớt đang cắn vụn thi thể tôi thành hàng trăm mảnh”, đó là thời điểm của

năm 1959 Như vậy, kiếp lừa tồn tại trong vòng chín năm trời và đã kể một sự loạt những sự kiện lớn liên quan lẫn nhau làm nền cho câu chuyện ban đầu

Quyển hai: Kiếp trâu quật cường: Nhân vật “tôi” đóng vai trò là người

kể chuyện chính là Lam Giải Phóng Tây Môn Lừa giờ đây đã đầu thai thành Tây Môn Trâu Hai bố con Mặt Xanh ra chợ mua trâu và câu chuyện lôi kéo mọi người vào công xã cũng nảy sinh từ đây Cho dù, mọi người khuyên can nhưng Mặt Xanh quyết giữ con trâu của mình và quyết không gia nhập công

xã Mặt Xanh và Tây Môn Trâu tự do tự tại đi theo con đường của mình dù có

bị gia đình li tán, bị chèn ép ra sao họ vẫn ngày đêm cần cù trên mảnh đất nhỏ giữa những thửa ruộng lớn Cuối cùng Tây Môn Trâu bị tra tấn dã man dưới bàn tay của Kim Long Và qua lời kể của Lam Giải Phóng thì câu chuyện lại

càng cảm động hơn bởi tình người và con vật thân yêu: “Tây Môn Trâu chết

trên mảnh đất cá thể của bố tôi Cái chết của cậu đã làm mọi người tỉnh ra rất nhiều trong cái cao trào cách mạng văn hóa ấy” Kiếp trâu quật cường đã

đầu thai thành kiếp lợn hoan lạc Dưới đôi mắt của súc vật, Tây Môn Trâu vẫn nhìn thấy, nhận ra những sai lầm của kiểu làm ăn tập thể Trong khi đó, toàn

xã hội loài người không thể hoặc không dám nhận ra điều đó:“Trâu cá thể là

Trang 18

trâu phản động”, bản án đã tròng vào cổ Tây Môn Trâu và con trâu ấy đã

chấp nhận một cách kiên cường, cho dù bị đày đọa thân xác nhưng vẫn quyết không trở thành trâu của công xã

Quyển ba, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất là Tây Môn Lợn với hơn

250 trang, là quyển dài nhất kể về cuộc đời của kiếp lợn với bao sóng gió và

sự kiện diễn ra trong hơn mười năm (từ những năm 70 đến năm 1982) Năm năm làm vua lợn, đối với Tây Môn Lợn đó là cả một thời kì có cả huy hoàng,

có cả sự thất bại và cuối cùng cũng phải ra đi vì cứu những đứa trẻ con Câu chuyện về Tây Môn Lợn phấn khởi với chỗ ở mới và công cuộc cho đại hội nuôi lợn ở làng quê Đông Bắc Cao Mật, rồi đến cuộc đại chiến của Tây Môn Lợn và Tiểu Lam

Nếu kiếp trâu quật cường hóa kiếp một cách đau đớn và nặng nề bao nhiêu thì kiếp lợn lại nhẹ nhàng bấy nhiêu Trước khi chết, Tây Môn Lợn còn

cứu đám trẻ con: “Trước lúc chết, nhớ lại chuyện xưa Cứu trẻ con, vua lợn

hóa kiếp” Một câu kể về sự hóa kiếp thật nhẹ nhàng và thanh thản: “Ba tháng sau tôi chết Đó là vào một buổi chiều không có mặt trời, trên dòng sông phía sau làng Tây Môn, một đám trẻ con đến mười mấy đứa đang nô đùa trên băng dày”

Tây Môn Lợn lại tỏ ra hiểu biết hơn khi nhận ra rằng, trong thời cách

mạng văn hóa, người ta “sẽ làm được những chuyện mà ngày nay mọi

người có thể cho là tức cười và ấu trĩ, nhưng trong thời ấy lại là một kỳ tích vinh quang” Sống trong tập thể đó, nó ghét cái gọi là “hội nghị điển hình tiên tiến về nuôi lợn”… và nó dám bỏ trại nuôi lợn để tìm tự do Tây

Môn Lợn thể hiện cái nhìn sâu soi rọi vào tâm can nhân tính và thú tính Không phải ngẫu nhiên mà kiếp lợn lại có thời gian văn bản dài hơn các kiếp khác Ở kiếp sống này Tây Môn Lợn đã cho người đọc thấy được cái nhìn cả về xã hội con người cũng như động vật

Trang 19

Quyển bốn: Kiếp chó trung thành, Lam Giải Phóng và Tây Môn Chó là hai nhân vật thay nhau kể chuyện Hai người kể chuyện đan xen nhau, đều ở ngôi thứ nhất Câu chuyện được nhìn nhận ở dưới nhiều góc độ khác nhau,

tạo nên nét đặc sắc rất riêng chỉ có ở Sống đọa thác đày Tây Môn Chó không

chỉ hiểu cuộc sống nhân tính của con người mà nó còn biết cảm thông cho những bi kịch mà con người phải gánh chịu Nếu theo dõi toàn bộ câu chuyện, người ta dễ dàng nhận thấy rằng nếu ở các quyển trước con người và cả loài súc vật phải đấu tranh với cái đói, cái khát, lúc nào cũng đứng trước nguy cơ

bị diệt vong vì cuộc sống gian khổ, thì đến quyển bốn, người và chó đều được sống no đủ, thậm chí dư thừa tới mức Chó Bốn được ăn cả những sơn hào hải

vị Nhưng khi đã đầy đủ về vật chất thì những dục vọng của con người lại đẩy

họ vào bi kịch Chó Bốn không những biết được tâm tư của người trong gia đình ông chủ mà dường như nó còn thấu hiểu và cảm thông với từng người

Ở quyển này, Chó Bốn cũng rời xa vùng Cao Mật để đến với thành phố, một không gian khác một cuộc sống khác, một người chủ khác Nhưng Chó Bốn vẫn thể hiện cái nhìn rất sâu sắc và tri kỉ với con người Trong mục

41 của quyển bốn, Chó Bốn có kể câu chuyện tình cảm, những rạn nứt trên

của Lam Giải Phóng và Hợp Tác: “Tôi biết khi làm tình với vợ, trong lòng

ông nổi lên cảm giác đạo đức khiến ông có thể chế ngự cảm giác ghét bỏ đối với vợ”

Với vai trò của người kể chuyện, chó Bốn cũng đã nói hộ tâm tư, bộc lộ những suy nghĩ của Hợp Tác – khi mà chồng cô là Lam Giải Phóng đang bỏ mặc cô để đến với Xuân Miêu:

“Chó Bốn! Mày nghĩ tao phải làm gì bây giờ?

Chó Bốn! Mày nghĩ là cô ta sẽ bỏ ông ấy chứ?

Chó Bốn! Mày nói đi Là tao sai hay ông ấy sai?”

Trang 20

Rất nhiều lần Chó Bốn dùng cụm từ “tôi biết” để thể hiện sự thông hiểu của mình với tâm tư sâu kín của con người, và cũng rất nhiều lần con người nhìn nó, nói chuyện với nó như với một người tri kỉ vậy

Dưới con mắt của Tây Môn Khỉ, nó lại chứng kiến những đổi thay hoàn toàn khác và những quả báo mà họ phải gánh chịu Những cái chết bất đắc kỳ

tử liên tiếp dồn đến gia đình này Những cậu ấm, tiểu thư của gia đình này trở thành kẻ bụi đời và đỉnh điểm là anh em chú bác ruột loạn luân với nhau Và kết quả là họ sinh ra “đứa con của thiên niên kỉ”, Lam Ngàn Năm Đầu To chính là kiếp luân hồi cuối cùng của Tây Môn Náo sau năm kiếp làm súc vật Tây Môn Khỉ không lên tiếng, không kể chuyện và nó cũng xuất hiện trong quãng thời gian ngắn ngủi Nhưng Tây Môn Khỉ chính là người bạn, là niềm động viên an ủi duy nhất và cuối cùng của cô chủ Phượng Hoàng

Lừa, trâu, lợn, chó, khỉ, mỗi kiếp luân hồi đều tương ứng với mỗi giai đoạn của lịch sử Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XX: cải cách ruộng đất, hợp tác hóa, cách mạng văn hóa, cải cách mở cửa…Trải qua các kiếp đầu thai, mãi cũng không thoát khỏi kiếp đọa đày Mỗi kiếp sống vừa kể về cuộc đời của loài súc vật đó với yêu thương và hận thù, khát vọng và hiện thực Đây là những hình ảnh ẩn dụ về những khổ đau của con người Trung Quốc trong suốt 50 năm:

“Trâu chân thực mà quật cường, lợn bần tiện mà dữ tợn, chó trung thành mà nịnh bợ, khỉ nhanh nhảu mà láu cá” Dưới góc nhìn của chúng, xã hội thời bấy giờ dường như chỉ có quá nhiều dã tính Những nhược điểm của chúng, con người đều có, thậm chí còn nhiều hơn cả chúng Còn những ưu điểm có ở chúng thì lại không có ở con người, cũng chỉ có chúng mới có thể nhận ra những bất công và tồi tàn trong xã hội ngày ấy Những sai lầm của con người trong lịch sử được chúng nhìn nhận ra Còn con người mù quáng

và không nhận ra điều đó, thậm chí con người vẫn còn trượt trên con dốc của

Trang 21

sự sai lầm đó Ở đây chúng chỉ là những vật bình thường, chúng đóng vai trò

là nhân vật xưng tôi tự kể chuyện Đặc biệt, chúng sống bên cạnh loài người, quan sát mọi hoạt động của con người, vừa cố lý giải đến tận cùng những trạng thái cảm xúc của con người vừa phán xét những hành vi của người Trung Quốc

Dùng góc nhìn của súc vật để phán xét, để quan sát sự thay đổi của thế giới loài người là nét đặc sắc trong nghệ thuật lạ hóa của Mạc Ngôn Bằng bút pháp nhân hóa đến độ sâu sắc, Mạc Ngôn đã thể hiện thành công giọng điệu châm biếm sâu cay Nó giống như việc dùng các nhân vật điên để phác họa một con người ở trạng thái khác Dùng loài vật cũng là cách nhìn về con người, để dễ dàng nhận ra sự tha hóa đạo đức của xã hội Con Lừa là nhân vật trung tâm, nhân vật chính của câu chuyện Cách nhìn của nó ở trong xã hội đó

để phán xét, đánh giá con người Do đó, có thể thấy cách kể chuyện này là sáng tạo độc đáo của riêng nhà văn trên cơ sở tiếp thu truyền thống

Có thể nhận thấy ngôi thứ nhất là ngôi kể chính của toàn bộ câu chuyện

và có nhiều nhân vật tham gia kể chuyện từ ngôi này: Tây Môn Náo, Tây Môn Lừa, Tây Môn Trâu, Tây Môn Lợn, Tây Môn Chó, Lam Giải Phóng, Lam Ngàn Năm Đầu To, Mạc Ngôn Nhân vật trung tâm đứng ra xưng tôi kể chuyện khiến cho câu chuyện vừa khách quan vừa chủ quan Nó góp phần bộc

lộ tâm trạng, cái nhìn của nhân vật một cách dễ dàng hơn Đồng thời, tuy cùng dùng ngôi thứ nhất kể nhưng mỗi nhân vật lại có lối kể chuyện khác nhau, và có sự thay đổi linh hoạt làm cho cách kể không trở nên nhàm chán trong suốt 800 trang truyện

Kể chuyện từ ngôi thứ nhất là một hình thức quen thuộc trong tiểu thuyết Mạc Ngôn Thường các nhân vật đóng vai trò người kể chuyện này cũng là nhân vật tham gia trực tiếp vào cốt truyện, kể lại câu chuyện của mình

và của người khác vừa với tư cách người tham gia vừa với tư cách người chứng kiến Nét độc đáo nhất của tiểu thuyết này là ở thân phận của người kể

Trang 22

chuyện Lam Ngàn Năm Đầu To Do đó, về hình thức có hai người kể chuyện

ở ngôi thứ nhất nhưng thực tế lại có tới bảy người cùng tham gia kể chuyện

1.2.2 Điểm nhìn bên ngoài với người kể chuyện ở ngôi thứ hai (trẻ thơ) và

sự phân thân đa ngã

Trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết Mạc Ngôn, bên cạnh những người bình thường, nổi bật lên những nhân vật dị thường, từ ngoại hình đến tính cách, từ hành tung bí ẩn đến khả năng siêu phàm, từ không gian tồn tại đến quá trình sống bất thường,… Những nhân vật như vậy được chúng tôi gọi

là kỳ nhân và một trong số đó là kiểu nhân vật trẻ thơ – người lớn

Trước tiên, có thể nói, điểm nhìn trẻ thơ không phải là mới lạ và

cũng không phải là duy nhất có trong Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn Chúng ta đã gặp cách nhìn bằng con mắt trẻ thơ này ở La Tiểu Thông trong

Bốn mươi mốt chuyện tầm phào, hay Kim Đồng trong Báu vật của đời và

Đậu Quan trong Cao lương đỏ Cũng không phải chỉ Mạc Ngôn sử dụng

điểm nhìn này Nhưng để trở thành hệ thống trong các sáng tác của mình thì không phải nhà văn nào cũng làm được

Đó là những nhân vật mà yếu tố trẻ thơ và yếu tố người trưởng thành cùng tồn tại Nhân vật là trẻ thơ khi xét về vóc dáng, tuổi tác, nhưng tâm hồn, suy nghĩ, hành động lại rất người lớn

Dạng nhân vật là những đứa trẻ sở hữu một trí tuệ vượt tuổi, có những suy nghĩ, hành động khiến người trưởng thành phải ngạc nhiên Đại

diện cho dạng này có thể kể đến Lam Ngàn Năm Đầu To trong Sống đọa

thác đày Lam Ngàn Năm Đầu To là đứa trẻ mang những đặc điểm khác

thường do gốc gác đặc biệt của nó Từ góc độ sinh học, cậu bé là một quái thai, sản phẩm của mối tình loạn luân giữa Bàng Phượng Hoàng và Lam Khai Phóng - hai anh em con cô bác ruột, có chung bà nội Khi biết sự thật, Lam Khai Phóng từ đỉnh cao hạnh phúc rơi xuống vực sâu bi kịch Quá đau

Trang 23

đớn, anh tự sát, để lại Bàng Phượng Hoàng với một sinh linh đang hoài thai Đúng ngay thời khắc chuyển giao thế kỷ, Bàng Phượng Hoàng hạ sinh Lam Ngàn Năm Đầu To rồi ra đi Là nạn nhân của những tội lỗi mà thế hệ trước gây ra, đứa con phải mang trên mình một hình hài, một thể chất dị

thường: “một cái đầu to quá mức, không tương xứng với vóc dáng và tuổi

tác, bị mắc bệnh máu không đông” Cái đầu to khác thường của Lam Ngàn

Năm Đầu To có lẽ là vì nó phải chất chứa một ký ức kéo dài năm mươi năm và kinh qua nhiều kiếp tồn sinh đầy sóng gió Khuyết tật về thể xác được giải thích bằng lý thuyết di truyền học, siêu việt về trí nhớ được giải thích bằng tư tưởng luân hồi trong Phật giáo Chính ở phương diện này, Lam Ngàn Năm Đầu To trở nên siêu thực vì nó là nhân vật có sự dung hợp giữa thực và ảo vô cùng đậm nét Nhân vật này đứng ở ranh giới giữa đôi

bờ siêu nhiên, kỳ ảo và phàm trần, dị biệt

Lam Ngàn Năm Đầu To kể câu chuyện của mình khi vừa tròn sinh nhật năm tuổi, do vậy, từ góc độ nào đó, cậu thuộc dạng nhân vật kỳ tài với trí nhớ phi phàm và khả năng nói thao thao bất tuyệt Cái chất người lớn của nhân vật còn được thể hiện thông qua câu chuyện mà nhân vật kể Những kiếp trầm luân đọa đày đã được kể lại bằng một giọng điệu bi phẫn, của một người đích thân trải nghiệm tất cả những đau khổ ấy Một đứa trẻ năm tuổi bình thường tất nhiên không thể nào có được điều đó Sự kết hợp giữa một thể xác trẻ thơ với một ký ức trải nghiệm một đời đã tạo nên một kỳ nhân Lam Ngàn Năm Đầu To đầy ám ảnh Đây là nhân vật được tạo nên bởi sự kết hợp giữa thể xác, vóc dáng trẻ thơ nhưng dung chứa tâm hồn và bản chất của những người trưởng thành, từng trải Với nhân vật, ở đây là những trải nghiệm lâu dài và khổ sở Nhân vật này không mang đến cho người đọc cảm giác tươi trẻ, đáng yêu của một đứa trẻ mà khiến chúng ta xót xa cho kiếp người, cảnh giác trước

sự suy đồi đạo đức và tự nhận thức lại chính mình Dưới ngòi bút của Mạc

Trang 24

thiếu có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Lam Ngàn Năm Đầu To là minh chứng sinh động trong mỗi tác phẩm, Mạc Ngôn đều cấp cho các nhân vật trẻ thơ một tuổi thơ không bình yên Môi trường mà chúng tồn tại đầy sự thiếu thốn về vật chất, sự hỗn tạp về nhân cách, sự suy yếu của đạo đức Tuổi thơ của Lam Ngàn Năm Đầu To được tính bằng cả sáu kiếp luân hồi với biết bao đau khổ, bất hạnh Những kiếp sống trầm luân qua quá trình đầu thai chuyển kiếp lại trở thành ký ức bám riết lấy cậu bé mới chỉ lên năm tuổi này Với một ký ức dị thường như vậy, Lam Ngàn Năm Đầu To tất nhiên không thể có một tâm hồn thơ ngây, trong sáng được

Từ điểm nhìn của trẻ thơ, lịch sử, chính trị, chiến tranh, tôn giáo, đạo đức, tình yêu, tình dục…đều được nhìn nhận, tái hiện một cách khách quan, hồn nhiên, trần trụi và chân thực Sáng tạo ra kiểu điểm nhìn này là tài năng trong nghệ thuật viết truyện của Mạc Ngôn

Góc nhìn trẻ thơ được sử dụng để soi rọi vào ngóc ngách tâm hồn con người, những phức tạp của nhân tình thế thái

Dưới góc nhìn trẻ thơ, mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, chiến tranh và đạo đức…được nhìn nhận một cách khách quan, hồn nhiên

và chân thật hơn bao giờ hết Bởi trẻ thơ thường trong sáng trong cách nhìn nhận ít bị chi phối bởi định kiến, thiên kiến Nhưng góc nhìn này không đơn thuần là góc nhìn của những đứa trẻ, nhiều khi đứa trẻ này già hơn so với tuổi của mình, khiến cho câu chuyện được kể dưới một cái nhìn rất đặc biệt Chính góc nhìn này khiến Mạc Ngôn có cơ hội để giải thích với độc giả những vấn

đề lớn lao của xã hội thời bấy giờ

La Tiểu Thông và Lam Ngàn Năm Đầu To là cách nhìn của những đứa trẻ tinh ranh, đặc biệt là cái nhìn của Lam Ngàn Năm Đầu To

Trang 25

Dưới con mắt của Lam Ngàn Năm Đầu To, những góc khuất trong tâm địa mọi âm mưu đen tối, hành vi ám muội của con người có thể lí giải được

Để tồn tại trong xã hội đó và để tự bảo vệ mình, chúng phải thực sự láu cá, lõi đời Đó cũng là cách duy nhất để những đữa trẻ này có thể tồn tại trong xã hội

“ăn thịt người” đó

Lam Ngàn Năm Đầu To mới năm tuổi đã thông hiểu tất cả sáu kiếp luân hồi của mình cũng với bao phen chìm nổi của làng Đông Bắc Cao Mật trong suốt 50 năm cuối thế kỉ XX Sở dĩ tại sao tác giả lại lựa chọn và cần phải dùng góc nhìn trẻ thơ trong trường hợp này là để giải thích những khúc mắc, phức tạp và khuất tất của nhân tình thế thái và lịch sử Đây cũng là điều

mà Mạc Ngôn muốn cảnh báo về sự tha hóa của con người trong xã hội Trung Quốc hiện đại Lam Ngàn Năm Đầu To giống như tên của một cuốn tiểu

thuyết ở Việt Nam Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương Trong

cái đầu của anh ta là lịch sử cả một vùng quê, là kiếp trầm luân của bản thân mình Tuy là ánh mắt trẻ thơ nhưng lại là ánh mắt già dặn và trải nghiệm, đã

đi qua hết những nỗi đau để hiểu thấu triết lí của cuộc đời

Lựa chọn điểm nhìn trẻ thơ để viết về cuộc sống phức tạp của người lớn Mạc Ngôn không viết các câu chuyện thiếu nhi Ông muốn đưa đến cho độc giả một câu chuyện phức điệu và chân thực nhất về cuộc đời nhưng bằng một góc nhìn mới Nó khác với việc đặt điểm nhìn vào trẻ thơ để sáng tác các câu chuyện cho bạn đọc là trẻ em, hoặc viết về trẻ em Ở đây, nhân vật trẻ thơ mang góc nhìn trẻ thơ cũng là một nhân vật tham gia vào câu chuyện phức tạp

ấy, cũng là nhân vật chứng kiến những biến động của lịch sử do đó, góc nhìn của chúng cho ta cảm nhận sâu sắc hơn về những gì “người lớn” làm

Người kể chuyện phân thân đa ngã trong tiểu thuyết Mạc Ngôn là một kiểu con người cô đơn, đánh mất bản thể, đầy hoài nghi Trong các tác phẩm tiểu thuyết, người kể chuyện ở ngôi thứ hai là trường hợp rất hiếm gặp nhưng

Trang 26

chính cái hiếm gặp này lại bắt gặp trong một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn,

trong đó có Sống đọa thác đày Chọn cách kể theo ngôi thứ hai, kể lại theo lời

của nhân chứng cho nên lịch sử được nhìn nhận một cách khách quan hơn,

chân thực hơn

Người kể chuyện ở ngôi thứ hai về hình thức là mượn cách xưng hô của người kể chuyện, nó cho phép người kể chuyện đối thoại với nhân vật xưng tôi Giống như người kể và người nghe cũng hiển thị để minh chứng cho câu chuyện, lối kể này được Mạc Ngôn sử dụng trong một số tiểu thuyết khác

của mình như: Rừng xanh lá đỏ, Thập tam bộ… người kể chuyện phân thân đa

ngã này đem đến nét độc đáo cho tiểu thuyết của Mạc Ngôn, góp phần hình thành nên phong cách của ông

Kể chuyện ở ngôi thứ hai thực chất là kể về người nghe Đây là ngôi kể không phổ biến, do đó cũng khó nhận dạng, là dạng trần thuật mà vai chính được hướng tới ở ngôi thứ hai Đó có thể là cái tôi của người kể chuyện nhưng được gián cách, một cái tôi được kể ra chứ không phải một cái tôi tự

kể Hình thức kể chuyện ở ngôi thứ hai này thường có độ tin cậy hơn vì nó được cả người kể chuyện và người được kể thừa nhận

Người kể chuyện ở ngôi này thực chất là một biến thể của cái “tôi” tự bạch Đứng ở vị trí của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, dùng điểm nhìn toàn trí để kể về người khác Thực chất đó là sự phân thân của người kể chuyện

“Tôi” đang kể về “tôi” nhưng thực chất lại tự tách mình ra và kể về người khác Người kể chuyện ở ngôi thứ hai này tự đứng riêng và phán xét, nhận định bản thân mình và người khác bằng chất giọng chân thực mà thân thiết Cách kể chuyện ở ngôi thứ hai này mang đậm cái tôi tự bạch hơn vì nó được phân trần trên cái nhìn vừa mang sắc thái chủ quan vừa khách quan

Ở quyển hai: Kiếp trâu quật cường Nhân vật người kể chuyên ở ngôi thứ hai này chính là Lam Giải Phóng Tây Môn Lừa giờ đã đầu thai thành Tây

Trang 27

Môn Trâu Lam Giải Phóng kể câu chuyện về cuộc đời của Tây Môn Trâu gắn với gia đình nhà mình ra sao Anh ta đứng ở ngôi thứ nhất để kể nhưng không phải kể về mình mà kể về Tây Môn Trâu Lam Ngàn Năm nghe câu chuyện về chính mình từ người kể chuyện khác Đây chính là nét độc đáo và cũng là sự thay đổi hình thức kể chuyện vô cùng đặc sắc

Ở quyển bốn: Kiếp chó trung thành Chúng ta lại bắt gặp hình thức kể chuyện này Đặc biệt, từ phần 52 của chương bốn trở đi cho đến hết, có sự đan xen của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Sự đan xen này thể hiện trong các đoạn kể rất ngắn, càng cuối chương truyện, mức độ càng dày hơn Sự đan xen của hai ngôi kể chuyện, tức là Tây Môn Chó và Lam Giải Phóng thay nhau kể chuyện

Đó chính là câu chuyện Lam Giải Phóng và Xuân Miêu nhận lời tham gia đóng phim Và ngay trong câu chuyện đóng phim thì mẹ Lam Giải Phóng cũng qua đời Thật và giả được xen lẫn vào câu chuyện Sự thật là Thái Nhạc Kim Long đã qua đời và giả là mẹ của Lam Giải Phóng đóng trong phim cũng qua đời Trong gần 30 trang văn bản, gồm 16 đoạn kể chuyện có chủ đích của từng nhân vật, trong đó có tám đoạn kể chuyện của Tây Môn Náo và tám đoạn kể chuyện của Lam Giải Phóng đan xen nhau

Lúc này, Tây Môn Chó lại đóng vai người kể chuyện ở ngôi thứ hai kể

về cuộc đời Lam Giải Phóng: “Lam Giải Phóng…mẹ ông chết, ông không

chịu về tang, đó là đại nghịch bất hiếu, e rằng lần này Mạc Ngôn cũng không thể biện hộ được cho ông nữa rồi”

Ngay sau đó là lời kể chuyện ngôi thứ nhất - Lam Giải Phóng: “ Tôi

không nhận được tin mẹ mất Sau khi chạy đến Tây An, tôi nhe một tên tội phạm cố gắng che giấu tung tích, tên tuổi…Cho dù tôi không thể về nhà chịu tang mẹ, nhưng ngay trong những ngày ấy, tôi đã cố gắng làm phận sự của đứa con có hiếu trong một vai diễn của một bộ phim truyền hình”

Trang 28

Cho đến gần cuối của chương truyện vẫn là lời kể của Lam Giải Phóng Cái chết của mẹ, của bố và của cả con chó đã khiến cho nhân vật như bừng tỉnh nhận ra chân lí của cuộc đời sau bao năm tháng phiêu bạt nơi đất khách

quê người cùng Xuân Miêu: “Tất cả những gì sinh ra từ đất đều quay trở về

với đất” Con người sinh ra, sống trên mảnh đất bao năm gắn bó và chết đi

cũng quay trở về với cõi đất Mảnh đất một thước sáu sào của Mặt Xanh sẽ còn là nơi qui tụ của những con người trong đại gia đình ông quay trở về cõi đấy cho đến cuối câu chuyện này Mỗi người khi nằm xuống đều có nguyện vọng và mong muốn của mình với chính mảnh đất đó

1.2.3 Điểm nhìn hư ảo với người kể chuyện đặc biệt là Mạc Ngôn tự biếm

Viết về điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Nguyễn

Thị Tịnh Thy có nói: “Cái nhìn hư ảo là bút pháp mượn hư chứng thực mà

Mạc Ngôn kế thừa từ văn học truyền thống Những cái nhìn nhiều khi là say nhưng lại ở trạng thái tỉnh Chúng có thể thấu suốt nhân tâm của con người

và phơi bày chân tướng của hiện thực cuộc sống với bao bộn bề, mâu thuẫn giăng mắc, đan cài vào nhau Ảo mà thật, sự thật khi được ảo hóa càng gây

ấn tượng, càng sinh sắc hơn” [28,tr15]

Trong Bốn mươi mốt chuyện tầm phào, khi kể về cuộc đời mình, La

Tiểu Thông không còn là một con người cụ thể Bản thân cậu cũng là hư ảo, không là thân xác cũng không là linh hồn, cậu là một sự “kể” Cậu cũng chỉ tồn tại trong tư cách kể chuyện Thoát ra khỏi chức năng kể chuyện, cậu sẽ không còn là gì cả Vô hình và hư ảo, La Tiểu Thông dùng cái nhìn hư ảo của một kẻ say thịt để kể chuyện cuộc đời mình Cậu ta sống vì thịt, chết cũng vì thịt Gia đình cậu tan nát vì thịt cũng như nông dân đang điên đảo với thời kì kinh tế thị trường dưới bàn tay điều khiển của bọn cường hào thời hiện đại Còn trong Tửu quốc, Đinh Câu bắt đầu say từ khi bước chân vào xứ

sở của rượu để điều tra vụ án ăn thịt trẻ em của quan chức thành phố Từng

Trang 29

bước anh ta rơi vào cạm bẫy, và từng bước anh ta chìm trong hư ảo Cái nhìn của Đinh Câu càng hư ảo thì mối hoài nghi càng lớn Chuyện ăn thịt trẻ con

có thể là ảo, nhưng sự tha hóa đến tận cùng của quan chức thành phố rượu là

có thật

Với điểm nhìn hư ảo, các nhân vật này của Mạc Ngôn luôn ở trong trạng thái chông chênh, mơ hồ giữa hai bờ thực - ảo, say – tỉnh

Trong Sống đọa thác đày, điểm nhìn của Lam Ngàn Năm Đầu To trong

tác phẩm chính là điểm nhìn hư ảo, anh ta chỉ mang kí ức trong cái đầu của một con người, trong hình hài không hoàn thiện Cái nhìn toàn bộ câu chuyện của Lam Ngàn Năm khiến ta nghi ngờ về tính chân thực của sự tượng trưng cho sự tha hóa, lai giống của con người

“Đó là một đứa bé không bình thường Thân thể nó nhỏ nhưng cái đầu cực to, có một trí nhớ phi phàm và khả năng nói năng thì không chê vào đâu được Giải Phóng và Hỗ Trợ dường như mơ hồ nhận ra gốc gác không bình thường của nó và đắn đo mãi quyết định lấy họ Lam cho nó” Cái nhìn hư ảo

giúp cho việc kể một câu chuyện thực trở nên hấp dẫn mà mơ hồ hơn Nó tạo

ra độ giãn cách giữa đời sống và tiểu thuyết để chúng ta luôn ý thức được rằng tiểu thuyết là hư cấu Đồng thời, cái nhìn hư ảo nhân lên các điểm nhìn cho ta thêm một góc độ để nhìn cuộc sống sâu hơn nữa Điểm nhìn hư ảo của Mạc Ngôn khác với điểm nhìn hư ảo ở nhiều nhà văn khác là đặt điểm nhìn phát ngôn vào một chủ thể mơ hồ khó xác định, hoặc đặt điểm nhìn vào một nhân vật ma quỷ nào đó Cái hư ảo trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn là ở tính hoài nghi về sự tồn tại của nhân vật, ở trong trạng thái tỉnh say bất phân của nhân vật, ở sự ám ảnh và nhập nhằng của kí ức Người đọc chỉ biết một Lam Ngàn Năm Đầu To mang trong mình kí ức của lợn, trâu, chó, lừa, khỉ và Tây Môn Náo

Trang 30

Trong Sống đọa thác đày, điểm nhìn hư ảo không phải là điểm nhìn chủ

yếu dẫn dắt câu chuyện Nó chỉ là những nét phác thêm cho một tác phẩm rất nhiều những chi tiết, sự kiện

Người trần thuật kiểu tác giả “là kẻ tổ chức ra cái thế giới được miêu tả của tác phẩm nghệ thuật và đề xuất với độc giả sự cắt nghĩa của mình, cái nhìn của mình vào các sự kiện và hành động được miêu tả, cái nhìn này là chủ đạo so với “các quan điểm tư tưởng còn lại do các nhân vật biểu lộ” Có hai dạng trần thuật của tác giả được gọi là “người trần thuật tách biệt với các vai, đời sống nội tại của vai được độc giả tiếp nhận thông qua người kể chuyện và được diễn đạt bởi người kể chuyện”, nhân vật - người trần thuật (cái tôi kể chuyện) và nhân vật - vai (cái tôi được kể) là một Tức là “đời sống nội tại của nhân vật được tiếp nhận và diễn đạt bởi bản thân nhân vật” Cả hai dạng thức này đều được nhà văn Mạc Ngôn sử dụng như một phương lược tự sự trong tiểu thuyết, tạo nên một phong cách tự sự độc đáo “không giống một ai” của ông

Phần cuối của Sống đọa thác đày, người kể chuyện kiểu tác giả tách

biệt với các vai, tự tạo nên “những chỗ đoản mạch” để đời sống nội tại của các vai như Lam Giải Phóng, Bàng Xuân Miêu, Tây Môn Hoan được độc giả tiếp nhận thông qua người kể chuyện và được diễn đạt bởi người kể

chuyện có tên là Mạc Ngôn: “Bạn đọc thân mến! hãy để cho hai người kể

chuyện quen thuộc của chúng ta: Lam Ngàn Năm Đầu To và Lam Giải Phóng nghỉ ngơi và tôi, Mạc Ngôn, là bạn của họ được phép viết thêm một đoạn vĩ thanh của câu chuyện vốn đã khá dài này” Từ vai trò của một nhân vật hành

động chuyển hẳn sang vai trò của người kể chuyện, Mạc Ngôn đã lùi lại làm người quan sát và chuyển tải tấn bi kịch sống đọa thác đày

Làm một cái tôi chứng nhân kể câu chuyện từ hình thức ngữ pháp ngôi thứ ba, đứng ở vị trí ngoài cuộc, người kể chuyện - tác giả đã có “quyền năng

Ngày đăng: 30/09/2015, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhật Anh (2003), Mạc Ngôn có thể nhận giải Nobel Văn học, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn có thể nhận giải Nobel Văn học
Tác giả: Nhật Anh
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2003
2. Nhuệ Anh (2006), Mạc Ngôn cá tính làm nên số phận, Báo Văn nghệ số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Ngôn cá tính làm nên số phận
Tác giả: Nhuệ Anh
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 2006
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
4. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
6. Phan Văn Các (2002), Tiểu thuyết Trung Quốc cuối thế kỷ XX, Báo Văn nghệ, số 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Trung Quốc cuối thế kỷ XX
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 2002
7. Hà Minh Đức chủ biên (2003), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Hồ Sĩ Hiệp (2003), Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam. Báo Văn nghệ điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: Báo Văn nghệ điện tử
Năm: 2003
10. Phương Lựu chủ biên (1997), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
12. Jahn Manfred (2005), Trần thuật học – Nhập môn lý thuyết trần thuật (Nguyễn Thị Như Trang dịch), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật học – Nhập môn lý thuyết trần thuật
Tác giả: Jahn Manfred
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
13. Pospelov G.N. (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học (2 tập), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Pospelov G.N
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1985
14. Mạc Ngôn (2007), Sống đọa thác đầy (Trần Trung Hỷ dịch),NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống đọa thác đầy
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
15. Mạc Ngôn (2003), Báu vật của đời (Trần Đình Hiến dịch), NXB Vănnghệ, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báu vật của đời
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Vănnghệ
Năm: 2003
16. Mạc Ngôn (2004), Đàn hương hình (Trần Đình Hiến dịch), NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn hương hình
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2004
17. Mạc Ngôn (2003), Cao lương đỏ (Trần Đình Hiến dịch), NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao lương đỏ
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2003
18. Mạc Ngôn (2004), Bốn mươi mốt chuyện tầm phào (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi mốt chuyện tầm phào
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
19. Mạc Ngôn (2003), Cây tỏi nổi giận (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây tỏi nổi giận
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
20. Mạc Ngôn (2003), Rừng xanh lá đỏ (Trần Đình Hiến dịch), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng xanh lá đỏ
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
21. PHẠM THỊ NHUNG (2012), Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
Tác giả: PHẠM THỊ NHUNG
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w