1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong bảo ninh những truyện ngắn

64 529 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... đề tài: Thế giới nghệ thuật Bảo Ninh - truyện ngắn Mục đích nghiên cứu Làm rõ giới nghệ thuật Bảo Ninh - truyện ngắn qua việc nghiên cứu chủ đề, hình tượng người nghệ thuật ông tập truyện Khẳng... Bảo Ninh góp phần khẳng định giá trị truyện ngắn vai trò Bảo Ninh đổi văn xuôi Việt Nam đương đại Với lí vậy, định lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật Bảo Ninh - truyện ngắn Lịch sử vấn đề Bảo. .. qua truyện ngắn Bảo Ninh để nhấn mạnh vai trò Bảo Ninh văn học Việt Nam đương đại [4] Từ việc tìm hiểu viết, công trình nhỏ lẻ truyện ngắn Bảo Ninh góc nhìn nghệ thuật, định lựa chọn đề tài: Thế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

-

LÊ THỊ PHƯƠNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG

BẢO NINH – NHỮNG TRUYỆN NGẮN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, ThS Dương Thị Thúy Hằng, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

đề tài: Thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn

Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Phương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Dương Thị Thúy Hằng, kết quả nêu trong này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhưng đề tài tôi nghiên cứu không trùng với đề tài nghiên cứu của các tác giả khác

Những trích dẫn tài liệu đã được sử dụng trong khóa luận là đúng sự thật và được trích dẫn nguồn gốc từ các tài liệu, tạp chí, công trình nghiên cứu

đã được xuất bản, công bố

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Dự kiến đóng góp của đề tài 4

8 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1.BẢO NINH VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 6

1.1 Những chuyển động của văn xuôi Việt Nam sau 1986 6

1.2 Bảo Ninh - Tiểu sử - Hành trình sáng tác 7

1.2.1 Tiểu sử 7

1.2.2 Hành trình sáng tác 8

1.3 Tập Bảo Ninh - những truyện ngắn 10

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG BẢO NINH - NHỮNG TRUYỆN NGẮN 12

2.1 Hiện thực chiến tranh bi tráng, dữ dội 12

2.1.1 Một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước 12

2.1.2 Chiến tranh tàn khốc, hủy diệt 15

2.2 Hiện thực hậu chiến đói nghèo, lạc hậu 18

2.3 Con người trong Bảo Ninh - những truyện ngắn 21

2.3.1 Hình tượng người lính 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN -

LÊ THỊ PHƯƠNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG

BẢO NINH – NHỮNG TRUYỆN NGẮN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2015

Trang 5

2.3.2 Hình tượng người phụ nữ 30

2.3.3 Hình tượng người trí thức, nghệ sĩ 34

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ YẾU TỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG BẢO NINH - NHỮNG TRUYỆN NGẮN 36

3.1 Kết cấu dòng ý thức 36

3.2 Giọng điệu trần thuật 38

3.2.1 Giọng ngậm ngùi buồn thương 39

3.2.2 Giọng mỉa mai chua xót 40

3.2.3 Giọng tra vấn 41

3.3 Ngôn ngữ 43

3.3.1 Ngôn ngữ mang màu sắc triết lí 44

3.3.2 Ngôn ngữ đậm tính hiện thực 46

3.3.3 Ngôn ngữ giàu chất thơ 46

3.4 Thời gian và không gian nghệ thuật 47

3.4.1 Thời gian nghệ thuật 48

3.4.2 Không gian nghệ thuật 51

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1.2 Trong số các nhà văn viết về chiến tranh thời kì hậu chiến, Bảo Ninh được coi là một trong những cây bút tiêu biểu Danh tiếng và đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam đương đ ại là không thể phủ nhận Nếu

tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (còn có tên gọi khác là Thân phận tình yêu)

đã mang lại cho ông những thành công lớn, là một tác phẩm điển hình cho cả một giai đoạn văn học thì chính tác phẩm này cũng tạo nên một áp lực lớn không dễ vượt qua với chính nhà văn và cả trong cách tiếp nhận của bạn đọc

Do đó, truyện ngắn của Bảo Ninh lâu nay vẫn chưa hẳn được quan tâm đúng mức với những giá trị nghệ thuật đặc sắc của nó

1.3 Truyện ngắn luôn là thể loại “xung kích” trong mọi thời đại văn học Sự vận động và cách tân của nó nhiều khi phản ánh xu thế đổi mới của cả một nền văn học Ở Việt Nam chúng ta đang gặp thực trạng ấy Hơn 30 năm

đã trôi qua, quá trình đổi mới văn học đã đạt được những thành tựu nổi bật mà

Trang 7

2

truyện ngắn là một trong những thể loại đi đầu Truyện ngắn có khả năng trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Do dung lượng nhỏ, nắm bắt được những nét bản chất nhất của cuộc sống… nên truyện ngắn chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người một cách chính xác, nhạy bén Cũng chính điều này đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong

quan niệm nghệ thuật Tìm hiểu Bảo Ninh - những truyện ngắn sẽ phần nào

cho chúng ta thấy những thành tựu to lớn về những sáng tạo và đổi mới ở bút pháp Bảo Ninh góp phần khẳng định giá trị truyện ngắn cũng như vai trò của Bảo Ninh trong những đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại Với những

lí do cơ bản như vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ

thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn

2 Lịch sử vấn đề

Bảo Ninh là một trong số những nhà văn viết về đề tài chiến tranh có đóng góp trong cách nhìn về đề tài chiến tranh trong văn học hậu chiến Đề tài chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trong hai thể loại: truyện ngắn và tiểu thuyết Tuy nhiên, những bài viết, công trình tìm hiểu về Bảo Ninh ở phương diện truyện ngắn còn khá ít ỏi và nhỏ lẻ

Trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Bùi Việt Thắng đã khẳng định Bảo

Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn, và là cây bút gây

ấn tượng mạnh với người đọc [4, 337]

Tác giả Waynekarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn

Tình yêu sau chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo

Ninh: “in dấu niềm khao khát tình yêu” [26, 12], “đối diện trực tiếp với hậu

quả chiến tranh, những bậc cha mẹ bị mất con” [26, 14]

Giáo sư Mai Quốc Liên khi nhận xét về cuốn sách Bảo Ninh - tác phẩm

chọn lọc cho rằng: “Đã lâu lắm, tôi mới đọc được một tập truyện hay như thế

Trang 8

3

Anh tôi, tuy làm “chính trị” đọc lên cũng thốt lên “hay”… Một nỗi buồn sâu lắng, nhưng trong lành, một tình yêu thương đằm thắm, xót xa thắm đượm trong từng trang sách… Và cao hơn, một sự nhận thức đầy đủ, chân thành, lương tâm của một người lính trở về từ chiến trận Một cái nhìn, một cách nhìn và điểm nhìn đã được lọc qua tháng năm, những suy nghĩ trải nghiệm qua máu xương, chiến trận… Số phận của từng người, số phận của tình yêu, cái ngẫu nhiên và cái sống, cái chết đã làm cu ộc đời thêm xót xa, cay đắng nhưng càng đáng yêu hơn” [12, 42]

Nhà phê bình trẻ Đoàn Ánh Dương, trong bài viết với nhan đề Bảo

Ninh - nhìn từ thân phận của truyện ngắn, cho rằng thân phận truyện ngắn

Bảo Ninh tiêu biểu cho chính thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh, chứ không

chỉ tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Sự long đong chọn một đời Kiều của

tiểu thuyết rồi cũng đã có cơ hội “đoàn viên” vào đời sống văn học đương đại Truyện ngắn của ông thì khác hẳn, nó vẫn còn là một sự long đong của văn chương ông Phải chăng nó nhỏ bé hơn so với thành tựu của tiểu thuyết như lối viết của ông so với chủ âm của lối viết đương thời? Chúng tôi nghĩ phải giải mã truyện ngắn Bảo Ninh cũng như văn nghiệp ông từ một giác độ khác như đã nói ở trên, là câu chuyện cuộc đời Đặt ra vấn đề câu chuyện cuộc đời qua truyện ngắn của Bảo Ninh ở đây là để nhấn mạnh vai trò của Bảo Ninh trong văn học Việt Nam đương đại [4]

Từ việc tìm hiểu những bài viết, công trình còn khá nhỏ lẻ về truyện ngắn của Bảo Ninh dưới góc nhìn nghệ thuật, chúng tôi quyết định lựa chọn

đề tài: Thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn

3 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn qua

việc nghiên cứu các chủ đề, hình tượng con người và nghệ thuật của ông trong tập truyện

Trang 9

4

Khẳng định những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật cũng như cá tính

sáng tạo của nhà văn và đóng góp của ông trong nền văn học đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận đặt ra nhiệm vụ đi tìm hiểu hiện thực cuộc sống, hình tượng

con người và một số yếu tố hình thức nghệ thuật trong Bảo Ninh - những

truyện ngắn Từ đó khẳng định vai trò và những đóng góp của nhà văn Bảo

Ninh trong dòng chảy văn học đương đại

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tập Bảo

Ninh - những truyện ngắn

Phạm vi nghiên cứu là các truyện ngắn trong tập truyện Bảo

Ninh - những truyện ngắn

Đối chiếu so sánh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của cùng tác giả

ở những vấn đề liên quan và một số truyện ngắn của các tác giả khác

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng

các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp khái quát tổng hợp

7 Dự kiến đóng góp của đề tài

Khóa luận góp phần làm rõ thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những

truyện ngắn từ đó khẳng định những đóng góp của Bảo Ninh trong nền văn

học đương đại

Trang 10

5

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của khóa luận được triển

khai thành 3 chương:

Chương 1: Bảo Ninh và đời sống văn học đương đại

Chương 2: Hiện thực cuộc sống và hình tượng con người trong Bảo

Ninh - những truyện ngắn

Chương 3: Một số yếu tố hình thức nghệ thuật trong Bảo Ninh - những

truyện ngắn

Trang 11

6

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 BẢO NINH VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Những chuyển động của văn xuôi Việt Nam sau 1986

Vào những năm giữa của thập niên 80 thế kỉ XX, sau đại hội VI của Đảng, đất nước bước vào thời kì đổi mới Cùng với sự đổi mới về tư duy chính trị, kinh tế, quan niệm văn chương cũng có đổi khác Không đơn điệu, một chiều, dám đối mặt với thực tế đời sống, văn chương thực sự đã phản ánh chân thực tâm lí phức tạp của con người cũng như cuộc sống sau chiến tranh

Trong không khí đổi mới, văn xuôi đã đem đến nhiều điều mới lạ, đáp ứng nhu cầu phản ánh hiện thực và sự đổi mới văn học nước nhà trong quá trình hội nhập nền kinh tế thị trường Đọc văn xuôi thời kì đổi mới không khó khăn để nhận ra được một điều: các tác giả đã trung thực trong việc phân tích

mổ xẻ các mối quan hệ phức tạp, những mối quan hệ chằng chịt cùng nhiều vấn đề mới nảy sinh, mang vẻ mới lạ, điều mà trước đây do nhiều nguyên cớ chưa phản ánh được, hay đúng hơn chưa có điều kiện suy ngẫm Bởi vậy văn xuôi thời kì này mạnh bạo, nói thật, ý thức cảnh cáo, dự báo rõ ràng

Trong xu thế đổi mới của văn xuôi đương đ ại, những tác phẩm viết về chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến đã có những thay đổi căn bản Từ vai trò là

cổ vũ cho chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, giờ đây khi thắng lợi thuộc về dân ta, nhà văn trở thành người đào sâu trực tiếp vào hiện thực cuộc sống để trình bày, phát hiện mọi mặt của nó Nếu như chất giọng sử thi tràn ngập trong những tác phẩm văn học trước 1975 thì sau đổi mới chất giọng ấy đã dần ít hơn Văn xuôi viết về chiến tranh thời kì hậu chiến có thêm những chất giọng

mới: từ giọng điệu thâm trầm, khắc khoải trong Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn

Trang 12

7

Minh Châu) đến chất giọng xót xa trong Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy

Anh), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo) hay giọng triết lí, tra vấn…

Văn học không chỉ tập trung nói về những niềm vui, sự lạc quan tin tưởng mà còn nói cả những mất mát đau thương

Như vậy văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã có những bước phát triển vượt bậc và mạnh mẽ, chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sức cách tân không ngừng để tạo nên sự phù hợp với thời đại mới Và một trong số những nhà văn có đóng góp to lớn cho sự nghiệp ấy là nhà văn Bảo Ninh với những cách tân, sáng tạo trong sáng tác của mình

1.2 Bảo Ninh - Tiểu sử - Hành trình sáng tác

1.2.1 Tiểu sử

Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/1952 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An; quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Nhưng ông lớn lên và sống ở Hà Nội từ năm 1954 Sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là giáo sư ngôn ngữ Hoàng Tuệ Ông vào bộ đội năm 1969 Trong chiến tranh chống Mỹ ông chiến đấu ở mặt trận B3, Tây Nguyên, tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm 1975 Bảo Ninh giải ngũ, từ năm 1976 đến 1981 ông học đại học ở Hà Nội, sau đó ông làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam Từ năm 1984 đến 1986 ông học khóa 2 trường Viết văn Nguyễn Du được giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trực tiếp chỉ bảo giúp đỡ Ngay từ khi còn theo học dưới mái trường Viết văn Nguyễn Du Bảo Ninh đã

tỏ ra là một tài năng thiên phú Chính ở giai đoạn này bản thảo cuốn tiểu

thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh đã được hình thành Cuối năm 1996, Bảo

Ninh về làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ Không giống như nhiều người làm văn nghệ ở nước ta, Bảo Ninh tương đối kiệm lời Ông không xuất hiện trên các kênh thông tin đại chúng, trong các chương trình giao lưu, ông như cố giấu mình trước thiên hạ Bảo Ninh dường như không nổi giận bao giờ, ngay

Trang 13

8

cả khi người ta phê bình ông một điều gì đó ác ý Ông chỉ nhún vai và cọ quậy cái đầu rồi nói một câu gì đó mà chẳng ai nghe thấy Nhưng đó là vẻ ngoài ẩn giấu bên trong một trái tim nhân hậu, nhạy cảm với cuộc đời Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1997 Với giọng văn đậm chất trữ tình, một tâm hồn nhân hậu, một cây bút tài năng đầy trách nhiệm và những đóng góp của mình Bảo Ninh xứng đáng được vinh danh như một gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam

1.2.2 Hành trình sáng tác

Cũng như bao người lính khác trở về từ chiến trường, Bảo Ninh giữ cho riêng mình những kỉ niệm từ chiến trường gian khổ nhưng oanh liệt Trong hành trang tâm hồn của mình, chiến tranh là nỗi nhớ da diết, là nỗi buồn nguyên khối Nó như miền kí ức không bao giờ phai nhòa trong lòng mỗi con người đã từng vào sinh ra tử Vậy nên chiến tranh đã đi qua nhưng được viết về nó, với Bảo Ninh như một mối nợ, một niềm hạnh phúc, viết bằng tất cả sự say mê, bằng cả tấm lòng của một người lính đã trải nghiệm sâu sắc về giá trị của cuộc chiến hôm qua

Trong sự nghiệp văn chương c ủa mình, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu ở hai thể loại: tiểu thuyết và truyện ngắn Về tiểu thuyết, Bảo Ninh sáng tác đến

giờ mới có một cuốn duy nhất Nỗi buồn chiến tranh hay Thân phận của tình

yêu Cuốn tiểu thuyết được in lần đầu năm 1987 với tên Thân phận của tình yêu, đến năm 1991 cuốn tiểu thuyết được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt

Nam, cuốn tiểu thuyết được bạn đọc đón đợi nồng nhiệt Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức

về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn tên Phương Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng hùng tâm tráng chí c ủa người lính chiến đấu vì vận mệnh dân tộc, Bảo Ninh

đã miêu tả chiến tranh ở góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi

Trang 14

9

sâu vào nỗi niềm cá nhân Cuốn tiểu thuyết được giới nghiên c ứu đánh giá rất cao Chính vì được đánh giá cao như thế nên cuốn sách được dịch ra nhiều

thứ tiếng khác nhau Lần đầu được dịch ra tiếng Anh với tựa đề “The sorrow

of war” xuất bản năm 1994 Năm 2005 tiểu thuyết được tái bản với nhan đề

ban đầu Thân phận của tình yêu, năm 2006 tái bản với nhan đề Nỗi buồn

chiến tranh Đến năm 2008 cuốn tiểu thuyết này, đã được chuyển ngữ và giới

thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới

Bên cạnh đó, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu là truyện ngắn, bạn đọc biết

đến Bảo Ninh từ tập truyện đầu tay Trại “bảy chú lùn” xuất bản năm 1987 Năm 2002, Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành cuốn Truyện ngắn Bảo

Ninh Năm 2003 Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn Hà Nội lúc không giờ Năm 2005 Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Lan man trong lúc kẹt xe Năm 2006 Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Chuyện xưa kết di được chưa? Đến năm 2011 Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản cuốn Bảo Ninh - tác phẩm chọn lọc Năm 2012 trên báo Nghệ thuật mới (số 01) cho in tác

phẩm Tòa dinh thự Năm 2013 Nhà xuất bản Trẻ cho in cuốn Bảo Ninh -

những truyện ngắn

Cho đến nay Bảo Ninh đã nhận được nhiều giải thưởng khác nhau ở cả trong nước và ngoài nước:

- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991

- Giải thưởng Văn học nước ngoài c ủa tờ Independent (Anh quốc) năm

1995

- Giải thưởng Văn học Châu Á năm 1996 của Đan Mạch

- Giải thưởng Sách hay năm 2011 (cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

tranh, với 100% số phiếu)

- Giải thưởng Châu Á trong lĩnh vực văn hóa của nhật báo Nikkei (Nikkei Asia Prize), Nhật Bản

Trang 15

10

Với những sáng tác đó, chúng ta có thể khẳng định Bảo Ninh là một nhà văn có sự nghiệp sáng tác đặc sắc, gây được tiếng vang trong lòng bạn đọc không chỉ trong nước Một cây bút đầy sung mãn, nung nấu trong mình những tác phẩm lớn, để đời

1.3 Tập Bảo Ninh - những truyện ngắn

Bảo Ninh - những truyện ngắn được xuất bản tháng 10 năm 2013, do

nhà xuất bản Trẻ ấn hành Tác phẩm đã thu hút được sự chú ý của nhiều tầng lớp bạn đọc

Cuốn sách Bảo Ninh - những truyện ngắn này dường như cũng là cách

để tác giả “giữ chân” độc giả của mình Và độc giả đã bị níu giữ ở từng trang sách, bởi sự quan sát tinh tế và văn chương khoáng hoạt

36 truyện ngắn được chọn in trong tuyển tập gần 600 trang được tác giả viết ở nhiều thời điểm, trải dài từ những năm 1980 - 1990 của thế kỷ trước vắt sang đầu thế kỷ này Bối cảnh truyện ngắn của Bảo Ninh trải rộng nhưng hai mảng đậm đặc nhất, dễ nhận thấy nhất là những câu chuyện chiến tranh, hậu chiến và Hà Nội

Mục đích cuối cùng của Bảo Ninh qua những trang văn trong tuyển tập này chính là vấn đề thân phận con người với những mối quan hệ tình cảm phức tạp Ðiều ấy cũng trùng khít với quan niệm văn chương c ủa Bảo Ninh:

“Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ Nhà văn tự xem mình là

kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình th ế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những

vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui”

Trang 16

11

Những câu chuyện được kể bằng giọng điềm đạm, chậm, từng từ từng chữ tinh tế, ăm ắp hình ảnh và mùi hương của kỉ niệm Nhiều đoạn văn như thơ Đọc to lên sẽ cảm nhận được rõ ràng những xót xa ẩn giấu, hay tình người cảm động, qua kí ức về chiến tranh và sau đó, về tình yêu, về những đau khổ, cay đắng hay hạnh phúc tột cùng của con người trong những năm tháng ấy

Có thể nói, Bảo Ninh - những truyện ngắn là một tập truyện xuất sắc

của văn học thời kì đổi mới Tập truyện đã giúp Bảo Ninh tiếp tục khẳng định tên tuổi, tài năng của mình trên văn đàn văn học đương đại, đồng thời nhấn mạnh một lần nữa những giá trị nhân văn mà Bảo Ninh theo đuổi

Trang 17

12

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI

TRONG BẢO NINH - NHỮNG TRUYỆN NGẮN

2.1 Hiện thực chiến tranh bi tráng, dữ dội

2.1.1 Một thế hệ người Vi ệt Nam anh hùng trong thời kì kháng chi ến chống Mỹ cứu nước

Về hiện thực chiến tranh, đặc biệt là thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bảo Ninh đã viết không ít những tác phẩm phản ánh điều đó Ấy là một thời kì nhiều đau thương mất mát, gian khổ nhưng cũng không kém phần anh hùng, bi tráng của dân tộc Đọc Bảo Ninh, ta có thể thấy phần lớn các tác phẩm của ông đều lấy đề tài từ chiến tranh và có lẽ chiến tranh là đề tài xuyên suốt trong tác phẩm của ông Dù là tiểu thuyết hay truyện ngắn, hiện thực ấy cũng vô cùng sinh động, hùng tráng nó tái hiện lại nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau của chiến tranh Cũng như nhiều nhà văn khác, chiến tranh là chết chóc hủy diệt nhưng chính nó cũng tạo nên những người anh hùng, tạo nên cả một thế hệ người Việt Nam anh hùng trong cuộc chiến chống xâm lược

Bảo Ninh - những truyện ngắn đã dựng lại bức tượng đài của cả một

thế hệ anh hùng Đó là Mộc, YNua, Tâm, Tý, Huy, Vinh, Khương, Dưỡng, Tuấn, Văn… và những người đồng đội của họ là đại diện cho thế hệ những người cầm súng bảo vệ đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Họ là những người con ưu tú, tốt đẹp của thời đại Vậy mà họ đã chấp nhận hi sinh

để đồng đội mình được sống để đất nước được hòa bình Họ chính là những người liệt sĩ của lòng nhân, là những con người tuyệt vời

Mộc, YNua, Tý, Tâm, Hinh, Huy những người lính hậu cần đã luôn thầm lặng cống hiến hi sinh cho tổ quốc dân tộc Họ bỏ lại sau lưng tuổi trẻ tươi đẹp xung phong ra chiến trận Nhưng nhiệm vụ của họ không phải là trực

Trang 18

13

tiếp chiến đấu, giết kẻ thù mà là cung cấp lương thực làm hậu cần cho quân

ta Một nhiệm vụ tưởng như đơn giản nhưng lại vất vả khó khăn vô cùng Họ phải sống nơi rừng núi hoang vắng, phải chiến đấu với thú rừng và phải chịu

một nỗi “cô độc đến kinh người” “Nhưng có sao đâu điều đó Chúng tôi là

lính B3 mà Chúng tôi chỉ biết làm lụng cật lực để có lương thực, lương thực thật nhiều, không phải cho bản thân mình mà cho anh em đồng đội đang chiến đấu ở những đâu đó xa tít mù tắp bên kia đại ngàn” [17, 124] Mặc dù

phải làm lụng vất vả, đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng họ vẫn thản nhiên bởi trong lòng họ không gì lớn hơn độc lập tự do của dân tộc Gian khổ ấy chỉ là một phần nhỏ bé so với những gì dân tộc đang phải chịu đựng

Trại “bảy chú lùn” đã cho thấy cái nhìn toàn diện hơn về những người lính

hậu cần, những hi sinh của họ cho đất nước Tuy không trực tiếp cầm súng đánh giặc như những người lính khác trên chiến trường nhưng họ lại đóng một vai trò quan trọng làm nên thành công cho cuộc chiến Việc làm của họ tuy thầm lặng nhưng vô cùng quí giá đối với sự nghiệp chung của cách mạng Mộc và những con người nơi đây thực sự là những con người lí tưởng dấn thân cho s ự nghiệp chung Những con người cá nhân vẫn sống chiến đấu vì lí tưởng cộng đồng Họ là những người tượng trưng cho lí tưởng dân tộc, chiến đấu vì quê hương tổ quốc

Trong Hỏa điểm cuối cùng đó không còn là hình ảnh những người lính

hậu cần cung cấp quân lương nữa mà là hình ảnh những người lính thực chiến, một khẩu đội cao xạ trong cuộc chiến với địch tại một cao điểm Cuộc tấn công diễn ra ác liệt từ trung đội trưởng Thoan đến trung đội phó Vân với non nửa tiểu đội đều hi sinh Cả tiểu đội chỉ còn vài người mặc dù vậy họ vẫn anh dũng chiến đấu quyết không bỏ cuộc Có thể nói sự quả cảm của tiểu đội

ấy cũng chính là tinh thần anh dũng của cả dân tộc ta trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ gian khổ Tuy khó khăn nhưng luôn cố gắng vững

Trang 19

14

niềm tin bền ý chí không bao giờ bỏ cuộc khi chưa đến đích cuối cùng Cũng

với tinh thần ấy Tuấn trong Gió dại giữa rừng bom mưa đạn nhưng “Tuấn

dửng dưng với những cú bổ nhào trực tiếp lao cắm mặt xuống cắt bom của máy bay cường kích Bom nổ xa, nổ gần, rốckét nã trúng bờ công sự, Tuấn kệ” [17, 70] Đó chính là tinh thần anh hùng của cả dân tộc làm nên kì tích

Đó là sự chiến đấu quên mình của quân giải phóng trên phi trường

những ngày cuối tháng 4 lịch sử trong Đêm cuối cùng ngày đầu tiên Là chiến công vinh quang trên bầu trời nhưng để lại nỗi đau cho người mẹ trong Ngàn

năm mây trắng Hay Khương và các đồng đội của anh đã có một thời ngang

dọc đi đánh Mỹ rất huy hoàng trong Rửa tay gác kiếm Trong Tiếng vĩ cầm

của quân xâm lăng là lòng quả cảm của cô gái Việt Minh trước cán cân cái chết

vẫn lớn tiếng đòi quân thù phải đối xử nhân đạo với đồng đội mình “các người

không được đối xử vô nhân đạo với tù binh bị thương” [17, 255] Cô gái còn

nhanh tay vùng ra khỏi gọng bàn tay tên cai, lao vào chém Philip - một tên sát nhân Cô ngã xuống nhưng tấm gương của cô còn mãi với non sông

Cuộc chiến nào cũng không thể thiếu những người lãnh đạo, người lãnh đạo chính là người đại diện cho tinh thần của cả tập thể như dượng Nguyễn

trong Tòa dinh thự cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng hết lòng vì cách

mạng không một trận chiến nào thiếu vắng ông Không chỉ tham gia chiến

đấu ông còn động viên con cháu mình tham gia với lời “Hẹn gặp các cháu

trên tuyến đầu chống Mỹ!” [17, 497] Hay người tham mưu trưởng không tên

trong Giang cũng vậy ông đã hi sinh cho độc lập dân tộc Họ là những cá nhân

xuất sắc trong một tập thể anh hùng Họ xứng đáng là tấm gương sáng là đại diện cho mọi thế hệ người Việt Nam trong kháng chiến chống kẻ thù xâm lược

Có thể thấy rằng, trong Bảo Ninh - những truyện ngắn, hình ảnh những

con người dấn thân cho sự nghiệp cách mạng xuất hiện nhiều, họ là những người lính mang trong mình phẩm chất tốt đẹp của người lính cụ Hồ Là đại

Trang 20

15

diện cho cả một thế hệ người Việt Nam anh hùng trong kháng chiến chống

Mỹ cứu nước Mặc dù viết về những người anh hùng nhưng truyện của Bảo Ninh không vang vọng âm hưởng sử thi hoành tráng Truyện của ông tập trung vào những lát cắt nhạy cảm, thâm trầm từ đó làm bật lên phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng

2.1.2 Chiến tranh tàn khốc, hủy diệt

Được trở về, được sống trong hòa bình để nhìn lại cuộc chiến đấu mà

cá nhân Bảo Ninh và thời đại ông đã vừa đi qua, nhà văn mang một cái nhìn mới, từng trải và hiện thực hơn Nếu như chiến tranh trước đây được viết trong khói lửa, bom đạn chiến tranh, viết theo yêu c ầu của hoàn cảnh, theo quan điểm ta phải thắng mà chưa phơi bày được những mặt trái còn khuất lấp của chiến tranh thì bây giờ chiến tranh được viết trong thời hậu chiến đã được nhận thức lại Chiến tranh không chỉ có anh hùng mà đó còn khủng khiếp hơn tàn khốc và hủy diệt Nó đã để lại nỗi đau c ả về thể xác lẫn tinh thần cho con người không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ về sau nữa

Đây không phải là lần đầu tiên Bảo Ninh nói đến sự tàn bạo, khốc liệt, hủy diệt của chiến tranh Điều đó đã được nhà văn nói đến ngay trong tiểu

thuyết đầu tay của mình Nỗi buồn chiến tranh tác phẩm đã mang lại tên tuổi

và thành công cho nhà văn Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết mà Bảo Ninh mô tả là những năm tháng buồn bã của đám trinh sát qua sự hồi tưởng của Kiên Đó là những ngày mưa liên miên, những ngày im tiếng súng - trinh sát dựng lán ở ngay bên bờ suối, họ đốt nỗi buồn chiến tranh bằng những cuộc vui đi săn, đặt bẫy, tổ chức duốc cá và tối tối chơi bài, còn kì quái hơn

“đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi bày trò phơi sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng

ma trộn với sợi thuốc rê” [18, 19] nhờ khói hồng ma tạo ra ảo giác, tạo ra

mộng mị, “có thể nhờ khói hồng ma mà quên m ọi nông nỗi đời lính, quên đói

khổ, chết chóc, quên béng ngày mai” [18, 19] Đó là những ngày “trong mưa

Trang 21

16

đại bác vang rền nặng nề thúc dội ra ngoài trăm dặm điềm báo trước một mùa khô hung gở đang áp tới bên trời” [18, 22] Rồi những mùa thu não nề,

đời sống mục ra Theo Kiên “chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang

thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” [18, 39 - 40], “Chân trời chết chóc mở ra mênh mang, vô tận những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô như sóng cồn…” [18, 22], “Ôi chiến trận không bến không bờ… ngày mai hay hôm nay, hôm nay hay ngày mai, nói đi

số mệnh ơi, bao giờ tôi sẽ…” [18, 22] Bảo Ninh đã dùng một loạt các câu

văn dài để nói lên hiện thực chiến tranh dữ dội, một hiện thực tàn khốc đến đáng sợ

Và ở đây cũng vậy, trong Bảo Ninh - những truyện ngắn Bảo Ninh

cũng không ngừng lột tả cái hiện thực chiến tranh ấy Chiến tranh là sự hủy diệt, là cái chết, là chấm dứt sự sống Chiến tranh hủy diệt cả tinh thần, nhân tính, tuổi trẻ của con người, làm cho con người trở nên thảm hại đến cùng c ực tàn phá từ vẻ bên ngoài đến bên trong con người

Với Bảo Ninh, chiến tranh trước hết là sự tàn phá, hủy diệt về con người Con người phải chịu một nỗi đau đớn tột cùng, người chết không được

nguyên trạng, người sống thì khổ sở đối mặt với hiện thực “Năm 72, chiến sự

rùng rợn giết hàng đống người Người chết, chết ngả rạ dọc các ngả đường,

la liệt trên các n ội cỏ và nổi lềnh phềnh trên mặt sông Người còn sống sống ngắc ngoải, dở sống dở chết Tứ phương tan tác Cả đến thiên nhiên cũng như thể bị hóa kiếp Cảnh làng biến tướng.” [17, 57 - 58] (Gió dại), “Cũng như cỏ cây, số phận con người mà bị khói lửa chiến tranh ngốn thì chỉ thoáng ch ốc thôi là thành tro than” [17, 57] (Gió dại) Chiến tranh quả thực đáng sợ nó

khiến con người không còn chốn dung thân tan tác, trở nên thảm hại hơn bao

giờ hết “Đàn ông còn lại chẳng bao nhiêu mà đa phần là những phế binh đã

Trang 22

17

hết thời được ngó ngàng chăm sóc, què cụt, đui mù, b ẹp dí Hầu như chỉ thấy đàn bà và trẻ con ló mặt khỏi nhà Những mụ vợ lính lạc chồng, những ả góa rách rưới, rạc rài, không lai lịch và bầy trẻ ranh ốm đói trần truồng, bụng ỏng, gầy giơ xương” [17, 59] (Gió dại), chiến tranh tàn phá con người một

cách khủng khiếp người không còn là người nữa Chiến tranh đã trở thành nỗi

ám ảnh sâu trong tâm hồn mỗi con người ngay cả trong giấc ngủ họ cũng nghe thấy tiếng bom đạn dội về rồi mỗi sớm mai thức dậy cũng phải chứng kiến cái hiện thực tàn khốc ấy Chiến tranh cũng lấy đi tuổi trẻ của bao nhiêu người, cái

tuổi đáng sống nhất của cuộc đời Mộc trong Trại “bảy chú lùn” đã mất gọn tuổi trẻ của mình ở nơi rừng sâu, Khương, Tú, Quang trong Rửa tay gác kiếm lại

dành trọn tuổi trẻ của mình cho những trận chiến nơi chiến trường

Không chỉ nhìn thấy sự tàn phá về con người mà Bảo Ninh còn nhìn thấy sự tàn khốc hủy diệt về cảnh vật, thiên nhiên Chiến tranh đã biến đất nước ta từ một đất nước tươi đẹp, trù phù với bạt ngàn màu xanh của đồi núi

rừng cây với cảnh sắc chim chóc bay lượn hót ca thành một khối đổ nát “Bao

nhiêu sự giàu có thời Mỹ-ngụy đều rữa nát và mục thối ra dưới những đống hoang tàn” [17, 58] (Gió dại) Những cánh rừng vốn xanh tươi một màu thì

nay “Rừng đang đổ lá Mái rừng tróc từng mảng rộng, lở ra, rụng xuống như

bị lột da Không một phẩy gió, cây cối bất động vậy mà tơi tả chẳng khác nào đang trong một trận động rừng Một trận động rừng câm lặng, lay chuyển ngàn cây nhưng mà lại im phăng phắc Lá, hoa, quả và cả các cành con nữa trút như mưa song không một tiếng xào xạc Chẳng phải lá vàng chẳng phải

lá xanh, lá to lá nhỏ tất cả đều là những xác ch ết thâm xịt và nhầu nhĩ như bị

vò Cỏ dưới đáy rừng cùng đang rũ ch ết, ngả xẹp xuống và đã bắt đầu biến màu…” [17, 270] (Rửa tay gác kiếm), một cánh đồng tươi xanh bát ngát bỗng

nhiên trở thành cánh đồng chết chóc bị bom đạn đào xới băm vằm trong Đêm

trừ tịch Một thành phố đang yên tĩnh bỗng tiếng bom đạn, máy bay phản lực

Trang 23

18

rền vang “Đất đá, xi măng, gạch ngói, nhà cửa cùng một lúc nổ tung Trời đất

rống kêu, rền vang như gang vỡ Sóng xung kích ào qua ập lại Chết này!Chết này Chết-ết-ết…! …, đợi cái chớp mắt cuối cùng tan xương nát thịt” [17,169] (Khắc dấu mạn thuyền), hay “thị tứ sầm uất thành bãi chiến trường hoen máu…” [17, 250] (Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng) Chiến tranh ở đây đã

không còn bộ mặt tươi vui anh hùng, bi tráng như trước nữa thay vào đó là sự tàn khốc, dữ dội ác liệt của một thời đạn bom Con người cũng như cảnh vật thiên nhiên đều phải chịu một nỗi đau chung, nỗi đau do chiến tranh mang lại

Bảo Ninh trong Bảo Ninh - những truyện ngắn đã cho người đọc thấy những

tổn thất, hi sinh c ủa chiến tranh, đồng thời thể hiện rõ cái tàn khốc, hủy diệt của chiến tranh một cách khủng khiếp

2.2 Hiện thực hậu chiến đói nghèo, lạc hậu

Chiến tranh đâu phải sẽ kết thúc khi có kẻ thắng và người bại, hòa bình đâu phải chiến tranh sẽ ngủ yên trong quá khứ, đằng sau hòa bình, chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh đeo bám với những người đã từng sống và chiến đấu trong cuộc chiến Mọi chuyện của chiến tranh tưởng như đã kết thúc sau năm 1975,

ấy vậy mà những hậu quả của nó để lại là không thể kết thúc Không còn phải chiến đấu với kẻ thù nữa nhưng đất nước lại phải đối mặt với hiện thực hậu chiến đói nghèo, lạc hậu

Đất nước ta đã liên tiếp trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và

Mỹ, giờ đây tuy hòa bình đã lập lại nhưng hậu quả mà nó để lại là quá nặng

nề Từ một đất nước với nền văn minh lúa nước lâu đời, nhân dân an cư lạc nghiệp, sống cuộc sống yên ổn bình lặng nay trở nên đói nghèo, lạc hậu Hiện thực hậu chiến ấy đã được Bảo Ninh lột tả một cách cụ thể rõ nét qua những trang viết của mình

Chiến tranh kết thúc trở về với đời thường đất nước nặng một vẻ hoang

tàn “cảnh tượng vẫn nặng một vẻ hoang tàn, buồn thương thê thiết Cả thị xã

Trang 24

19

chỉ là một con phố dài hiu hắt, thẳng đuột không lối rẽ, nhà cửa tồi tàn xập xệ mọc lên rời rạc Buổi tối, dọc phố, đầu thị cuối thị vài ngọn đèn đường mờ đục, một hai cái quán nước tù mù, lỏng chỏng lạc luộc, khoai luộc, cái điếu cày, bịch thuốc lá” [17, 444] Hiện thực đất nước sau chiến tranh phải đối

mặt với muôn vàn khó khăn nghèo đói lạc hậu, con người phải chật vật xoay

xở kiếm sống một cách nhọc nhằn và buồn bã trong Kỳ ngộ

Ở Bội phản đó là cuộc sống nghèo khó của những người sống ở sân sau “Chỗ chui ra chui vào của cả sáu gia đình đều chật chội khổ sở, già trẻ

lớn bé đóng hộp Tất cả nấu nướng cùng một khoang bếp, tắm táp cùng một hốc tường, phơi phóng hít thở, đấu hót, cãi cọ, chuyện gẫu, nuôi lợn, nuôi gà tất cả trong cùng một mảnh sân tù hãm Tất cả đều nghèo túng Tất cả đều đầu tắt mặt tối” [17, 332] Cuộc sống vốn đã khó khăn vất vả ngay cả chốn đi

về cũng trở thành nỗi sợ, con người dường như không còn một khoảng trống riêng tư cho bản thân Cái khổ đau cứ đeo bám họ mãi từ chiến tranh cho đến hậu chiến, con người không được sống một ngày bình yên hạnh phúc Chiến tranh đã kết thúc nhưng dư âm của nó vẫn mãi vang vọng đeo đuổi ngay cả khi con người ta đã cố gắng thoát khỏi Trong cuộc sống đầy khốn khó ấy con người phải làm đủ thứ nghề, xoay xở mọi bề để kiếm sống ngay cả những

nghề mà thiên hạ cho là “những nghề rất mạt với rặt là những lối kiếm tiền

không biết nhục” [17, 333] Nhưng trong cuộc mưu sinh đầy chật vật này có

ai còn được lựa chọn cho mình một cái nghề tử tế mà người đời cho là đẹp, là chuẩn trong khi học hành thì dang dở Chiến tranh là ngọn nguồn của mọi đau khổ nó gây ra cho con người không biết bao nhiêu khổ cực cả về vật chất lẫn tinh thần

Cái nghèo túng lạc hậu ấy còn đeo đuổi đến cả những người trí thức,

những người tưởng như sẽ không bị xã hội bỏ rơi Trong Mắc cạn căn hộ hăm

tư mét vuông của vợ chồng Túc Hảo vốn đã chật chội nay lại còn ngăn đôi

Trang 25

20

càng trở nên chật hơn Nó “buộc Túc Hảo vào ra một cửa, len cùng một lối đi

cực hẹp, thổi nấu một khoang bếp nhỏ tẹo, tắm táp và lau rửa và xử lý hàng loạt các tình tiết riêng tư khác chỉ trong một ô vuông khít khịt không thể ngăn đôi” [17, 379 - 380] Cuộc sống như một cái hộp, cứ tù túng chật hẹp như vậy

con người không sao thoát ra được Họ chỉ còn biết sống “lo sống, cứ thế

sống, sống và chỉ có sống mà thôi” [17, 390] Hình ảnh thời bao cấp khốn

khó đã được Bảo Ninh mô tả lại thông qua cuộc sống của vợ chồng Túc Hảo Những bộn bề lo âu của cuộc sống với những rắc rối tình cảm đã khiến con người không còn suy nghĩ được gì mà người ta chỉ biết sống và sống cho qua

ngày mà thôi Trong Quay lưng là cuộc sống của một anh lính sau khi giải

ngũ về quê rồi lên thủ đô học tập lập nghiệp, tốt nghiệp được bổ về cơ quan

Bộ làm việc nhưng cuộc sống vẫn khó khăn, ngay cả nhà cũng không có Anh chị thương tình cho về ở cùng nhưng căn nhà hăm tư mét vuông vốn chật chội lại càng thêm chật hơn khi anh chị có cháu Cuộc sống của Vinh ngày càng bức bối chỗ ở cứ như một cái chuồng cọp lồng sắt Cuộc sống vật chất khó khăn khiến cho tình cảm cũng dần lụn bại Cái nghèo đã làm cho con người không còn thiết tha với tình cảm ngay cả tình thân Hiện thực hậu chiến đói nghèo đã tác động trực tiếp đến đời sống tình cảm, đạo đức con người Họ dần mất đi bản chất tốt đẹp thay vào đó là những tính toán chi li trong cuộc sống Hoàn cảnh xã hội đã tác động mạnh mẽ đến con người

Lối mòn d ọc phố là cái nghèo túng đủ bề, ngay cả người cán bộ được

tiếng thế chứ cũng chẳng hơn người thường Đó còn là hình ảnh về một thời hậu chiến, Hà Nội với những chuyến tàu điện, cái phương tiện giao thông công cộng cho bao người nhưng nó lại tù đọng khó chịu với nồng nồng những

mùi khiến cho người ta cảm thấy như thể chui vào màn xô nhà trọ “Hai bóng

đèn thõng trên trần, sợi tóc đỏ lừ, phả xuống một thứ ánh sáng võ vàng, phù thũng Hầu hết các cửa sổ đều không nhấc được tấm che lên, để ngỏ cho bụi

Trang 26

21

mưa và gió lạnh” [17, 401] Hình ảnh chuyến tàu đêm cuối cùng trong ngày

ấy như thể chính là cái bóng tối của chiến tranh vẫn đang ám ảnh thời hậu chiến, bóng tối của sự nghèo khó lạc hậu đang đè nặng lên vai con người

Bảo Ninh đã cho người đọc thấy, hiện thực cuộc sống đói nghèo lạc hậu của nước ta những ngày sau chiến tranh Nhà văn đã đi sâu vào từng ngóc ngách của cuộc sống vật chất và tinh thần con người để nhìn thẳng sự thật, phơi bày sự thật Từ đó, nhà văn lên án chiến tranh đồng thời cũng bộc bạch

sự đồng cảm thương xót với con người thời ấy

2.3 Con người trong Bảo Ninh - những truyện ngắn

2.3.1 Hình tượng người lính

Chiến tranh chống Mỹ chiếm trọn hai mươi năm của thế kỷ trước Sức tác động của chiến tranh đến nhân cách con người cả trong chiến tranh và hòa bình vẫn là một chủ đề của văn học hôm nay Bên c ạnh, các tác giả văn học khác, Bảo Ninh đã tái hiện lại chân dung của người lính trong và sau chiến tranh một cách độc đáo

Truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu ra đời năm 1976 được

coi là tác phẩm mở đầu cho sự đổi mới lĩnh vực viết về chiến tranh Trong tác phẩm này, Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho văn học một cách nhìn mới về con người, hình tượng người lính không còn mang vẻ đẹp của người anh hùng nhất phiến toàn diện nữa mà ở đó người lính trở về cuộc sống thường nhật với bao khó khăn vất vả

Cũng viết về người lính và chiến tranh, truyện ngắn Hai người trở lại

trung đoàn của Thái Bá Lợi khám phá lối tư duy mới, những người lính ở đây

không thể hiện phẩm chất anh hùng trong chiến đấu mà chủ yếu được khám phá trong mối quan hệ đời thường, đời tư Đó là những con người không còn mang vẻ đẹp lí tưởng của văn học thời chiến mà là con người với lẫn lộn tốt xấu, trắng đen

Trang 27

22

Người lính trong trong Bảo Ninh - những truyện ngắn được nhìn nhận

trong cuộc sống với đầy biến động Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc những hình tượng người lính với giọng nói riêng, tính cách riêng Mỗi con người một số phận, mỗi con người với niềm đau hạnh phúc riêng trong một cảm nhận về thực tại… Tất cả họ hiện lên trang giấy như là nỗi ám ảnh về một quá khứ đầy đau thương nhưng rất đỗi anh hùng

Người lính trong Bảo Ninh - những truyện ngắn hiện lên với những mất

mát, đau thương; những nhân vật tự thú và sám hối; những con người lạc thời

2.3.1.1 Người lính chịu nhiều mất mát, thiệt thòi, ám ảnh bởi chiến tranh

Đọc Bảo Ninh - những truyện ngắn, người đọc luôn nhận ra những bất

hạnh khác nhau c ủa từng nhân vật Trước hết đó là nỗi đau, mất mát của người lính trong chiến tranh

Mộc trong Trại “bảy chú lùn”, đã hi sinh cả thời tuổi trẻ của mình vì

nhiệm vụ của người lính hậu cần Bản thân Mộc cũng gánh chịu nhiều bất hạnh: mẹ chết, em trai chết Phải đến mười tám năm sau Mộc mới về thăm quê Chiến tranh những hi sinh mất mát của cá nhân là nhiều vô kể Bên cạnh Mộc YNua cũng là một người lính được khắc họa với nhiều nỗi đau thương

mất mát YNua chết ngoài nương do “Một thân cây lớn vật xuống ngược

chiều giằn lên anh ấy” [17, 123], cái chết của Nua thật đau đớn, cái chết có

sức ám ảnh người đọc Không chỉ có YNua mà Trại “bảy chú lùn” còn khắc

họa nhiều cái chết đau thương khác, đó là những người đồng đội của Mộc Họ chết không chỉ do hòn tên mũi đạn của giặc Mỹ mà chết bởi những cơn sốt rét rừng, bởi những thân cây lớn giằn ngang người, những cái chết y hệt nhau

Lần lượt từng người từ giã Mộc Mộc nói “Chết vậy khổ lắm Hệt như nhau,

các anh ấy lên cơn sốt lúc đang phát rẫy Cây gãy, chuyển răng rắc, nhưng mắt hoa, chân tay run giật, đáng lẽ tránh sang trái lại bước sang phải Mà khi chưa tắt thở thì chưa thể nhấc cây lên được Trông sợ lắm Cằm run bần bật,

Trang 28

23

răng cắn nát môi, tóc bết vào trán, và máu thì không rỉ một giọt, mặt tím thâm, và tỉnh táo, ch ịu trọn cái đau cho đ ến lúc chết Mọi người xúm quanh, bất lực” [17, 125] Còn gì đau đớn hơn khi phải chứng kiến những người

đồng đội của mình lần lượt ra đi mà không thể làm được gì cho họ, một nỗi bất lực cùng cực Đó chính là bi kịch của người lính Xây dựng kiểu người như Mộc, nhà văn còn xoáy sâu vào nỗi đau lẩn khuất bên trong tâm hồn của mỗi người lính Mộc đã yêu mà không dám thổ lộ, anh cay đắng nhìn người mình yêu sinh con cho người khác Đây chính là bi kịch tình yêu trong đời Mộc Bi kịch đó cũng là bi kịch của nhiều người lính, yêu thương nhưng không được đền đáp, khao khát một mái ấm gia đình nhưng lại quá đỗi xa vời Người lính đã hi sinh tất cả cho cuộc sống cho hạnh phúc của muôn người nhưng đổi lại họ lại phải gánh chịu những đau thương, mất mát, thiệt thòi về

mình Và ở Trại “bảy chú lùn” không chỉ có Mộc ầm thầm đau đớn vì tình

yêu mà còn có Huy, Nga họ cũng phải chịu nỗi đau ấy

Cùng là nỗi đau mất mát ấy, nhân vật “tôi” trong Bí ẩn của làn nước

không thể nào quên được bí ẩn của cuộc đời mình Năm tháng trôi qua, thời gian như dòng sông trôi chảy, chiến tranh là nguyên cớ của mọi nỗi đau, và với nhân vật “tôi” đó là nỗi đau không thể nói nên lời, nó ở tận cùng trong tim, trong mất mát vô bờ, trong định mệnh oái oăm c ủa số phận Trong cơn

“đại hồng thủy”, nhân vật “tôi” đã không thể cứu được vợ con mình mà cứu con của người khác Thật chua xót khi mọi người tưởng đứa con gái mà anh cứu được là con anh Không ai biết, chỉ có anh và dòng nước biết, sự nhầm

lẫn của số phận và nỗi bi kịch ầm thầm chảy trong mạch huyết anh: “Thời

gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì không nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời” [17, 24]

Trang 29

24

Thể hiện rõ nhất cho những bi kịch của người lính trong chiến tranh

phải kể đến bi kịch tình yêu Cùng với bi kịch tình yêu của Mộc trong Trại

“bảy chú lùn”, Bảo Ninh cũng xây dựng nhiều bi kịch tình yêu khác trong

cuộc sống của người lính trong chiến tranh Hoàn cảnh chiến tranh đã khiến cho tình yêu lứa đôi không được vẹn tròn Các truyện ngắn hầu hết viết về nỗi

bi thương, đau khổ của tình yêu trong hoàn cảnh chiến tranh Rửa tay gác

kiếm là nỗi xót xa của người chồng bị phụ bạc, Thời tiết của kí ức là sự khắc

khoải về năm tháng không được sống cùng nhau của Phúc và Quỳnh, Hà Nội

lúc không giờ đó là niềm tiếc nuối khi “Gần trọn quãng đời trai trẻ của tôi

không hề được hưởng tình yêu” [17, 565], mỗi câu chuyện là một bi kịch tình

yêu khác nhau Thường khi nói về tình yêu người ta hay nghĩ đến cái thơ mộng, lãng mạn Nhưng ở đây, hầu hết các truyện ngắn của Bảo Ninh đều đượm một nỗi buồn, xót xa, tiếc nhớ về một thời đã qua

Xây dựng hình tượng con người không chỉ với những nỗi đau, mất mát không chỉ trong cuộc chiến mà cả di chấn ám ảnh ở thời bình

Cũng như Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, Khương, Tú, Quang trong

Rửa tay gác kiếm đều chịu một nỗi ám ảnh không nguôi của chiến tranh Ban

ngày họ đều là nhưng người bình thường nhưng cứ đến nửa đêm như Khương

chẳng hạn “Đêm nào ở giường bên cạnh giường tôi Khương cũng nghiến

răng, nói mớ và rên rỉ Anh không la to, chỉ ư ử trong đáy họng, khe khẽ và dai dẳng” [17, 267] Trong mơ “Khương mơ thấy lại cảm giác đau của những lần bị thương trước đây” [17, 267] Và “Chẳng riêng gì Khương, tất

cả anh em trong phòng đều ít nhiều đều gặp phải những cơn ác mộng di chứng từ trận mạc Bao giờ cũng là những ác mộng sinh động Tú chẳng hạn luôn sống với trái bom CBU ném xuống rừng cao su Xuân Lộc Hầm sập và

Tú ú ớ ngạt thở, thấy mình bị chôn sống Còn tôi, tôi mơ thấy mưa thuốc độc,

mơ thấy những rừng già trên sườn Ngọc Bờ Biêng bị bọn Mỹ biến thành

Trang 30

25

những đại ngàn củi khô”[17, 268 - 269] Nỗi khiếp sợ súng đạn chiến tranh

của người lính đã biến thành những giấc mơ hãi hùng trong thời hậu chiến

Kiểu nhân vật mang di chứng ám ảnh ấy ta cũng bắt gặp trong tiểu thuyết của Bảo Ninh với nhân vật Kiên Kiên là một trong những con người

ấy, những con người hậu chiến không bao giờ nguôi ngoai nỗi buồn chiến tranh Đây vừa là nỗi đau vừa là niềm tự hào, bởi anh chứ không ai khác được sống dưới thời oai hùng ấy Nhưng rõ ràng bi kịch mất mát, xót xa, thiệt thòi,

ám ảnh lớn hơn niềm tự hào ấy

Như vậy người lính trong Bảo Ninh - những truyện ngắn không còn là

người lính uy phong, lẫm liệt mà là người lính chịu đựng biết bao gian khổ của cuộc chiến, vết thương chiến tranh không chỉ đè nặng quá khứ mà còn đeo đuổi

họ đến cả hiện tại

2.3.1.2 Người lính tự thú và sám hối

Người lính tự nhận thức là con người có chiều sâu tâm trạng Các nhân

vật người lính trong Bảo Ninh - những truyện ngắn hầu hết được xây dựng

theo môtíp lặng theo suy tưởng về một vùng kí ức xa xăm Đó là kí ức về những ngày chiến tranh mà các nhân vật người lính trong vai người kể chuyện

ở ngôi thứ nhất bày tỏ: “như tôi, tuổi đã trừng này còn thời nào nữa ngoài

thời đã qua” [17, 531] (Hà Nội lúc không giờ); “Giờ đây nhớ lại những ngày tháng cuối cùng của đời bộ đội lòng tôi vô hạn một nỗi buồn nhớ sâu lặng”

[17, 260] (Rửa tay gác kiếm); hoặc nỗi niềm thổn thức của ông Phúc trong

Thời tiết của kí ức “Những nỗi niềm đã yên nghỉ từ lâu âu sầu thức dậy, lần

lươt hiện hình, lần lượt trôi qua, dằng dặc và chậm rãi, theo nhịp đếm của chiếc đồng hồ để bàn” [17, 89]… Kiếm tìm về quá khứ đó là phản ứng của

tâm hồn khi thời cuộc đã đổi thay Tất cả nhân vật của Bảo Ninh đều nhận thức quá khứ đã xa vời và trong quá khứ lưu giữ một kỉ niệm thời trai trẻ

Trang 31

26

Phúc trong Thời tiết của kí ức đã không ngừng hối hận về những năm

tháng đã qua của cuộc đời về những việc sai trái thời tuổi trẻ Để giờ đây khi

đã bước vào độ tuổi trung niên ông vẫn luôn trăn trở về quá khứ một thời

Cũng như ông Phúc, nhân vật ông già trong Tiếng vĩ cầm của quân xâm

lăng lại hối hận vì một thời theo Pháp Ông hối hận vì đã che chở cho người

Pháp, làm bạn với người Pháp Những tưởng văn minh Pháp sẽ trị được thói hung tàn c ủa bọn Nhật, nào ngờ sau chiến tranh không phải là hòa bình mà là một cuộc xâm lăng tàn bạo Điều đó khiến ông già vô cùng đau đớn xót xa

Đây là đặc điểm thể hiện nét nhân văn rất mới trong Bảo Ninh - những

truyện ngắn khi ông quan tâm đ ến cả số phận của những con người từng phân

vân đứng giữa ngã ba cuộc đời hay bên kia chiến tuyến Đó là khát vọng khám phá đến tận cùng số phận cá nhân trong cái nhìn toàn diện về con người Những nhân vật của Bảo Ninh luôn có khả năng tự phanh phui, mổ xẻ chính mình Dù họ đã từng sai lầm nhưng điều đáng quý ở họ là là hành vi phản tỉnh, tự nhận thức bản thân, muốn vươn lên thoát khỏi những xấu xa, ích

kỉ, sai lầm đó

Trong Bảo Ninh - những truyện ngắn, có những truyện đề cập đến

những lời tự thú bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt, không đâu nhưng lại ám ảnh, day dứt nhân vật khôn nguôi Những tình huống ấy, có khi chỉ là những

ghen ghét đố kị trước một người bạn học giỏi hơn mình trong Thách đấu, hay

là một lời trêu ghẹo ngẫu sự mà “tôi” thấy “như một vết tự thương cứa sâu

vào lòng, khó bề chữa khỏi” [17, 44] để rồi bỏ lỡ những năm tháng tình cảm

tốt đẹp của cuộc đời trong Cái búng

Trong Bội phản là sự day dứt của người em về những điều đã chứng

kiến xung quanh cuộc đời Thảo với gia đình mình Vị trí phòng ngủ của nhân vật tôi như là một định mệnh khiến anh như có một sợi dây dàng buộc với Thảo người con gái ở sân sau với ngôi nhà lụp xụp Sự việc đầu tiên mà nhân

Trang 32

Việc xây dựng kiểu người lính tự thú và sám hối Bảo Ninh đã đem đến cho bạn đọc một cảm xúc mới Nó có tác d ụng thấm sâu vào tâm hồn con người, có sức lan tỏa

2.3.1.3 Người lính lạc thời

Văn học sau 1975, đặc biệt là văn học từ thời kì đổi mới đã tập trung khắc họa hình tượng người lính thời hậu chiến Họ có thể là những người hòa

nhập nhanh chóng với những con người lam lũ, chất phác đời thường (Trung

tướng giữa đời thường của Cao Tiến Lê); có người lính trở về bắt tay vào xây

dựng kinh tế, tham gia quản lí, tiếp tục với những cống hiến cho công cuộc

xây dựng đất nước sau chiến tranh (Vòng tròn bội bạc của Chu Lai)… Tuy

nhiên, không phải người lính nào cũng như vậy Họ đi ra từ cuộc chiến nhưng những ám ảnh về chiến tranh vẫn luôn đeo bám Nó là vết thương tâm hồn không dễ gì lành được Cùng với những nhân vật luôn ám ảnh chiến tranh,

tâm hồn méo mó, d ị dạng như Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, lạc lõng ngay

Ngày đăng: 30/09/2015, 09:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Tuấn Anh (1995), “Văn học đổi mới và phát triển”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và phát triển”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
[2] Nguyễn Minh Châu (1987), “Người lính chiến tranh và nhà văn”, Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính chiến tranh và nhà văn”, "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[3] Trần Cương (1986) “Về một vài hướng tiếp cận đề tài chiến tranh”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một vài hướng tiếp cận đề tài chiến tranh”, Tạp chí "Văn học
[4] Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[5] Đinh Xuân Dũng (1990), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1990
[6] Đoàn Ánh Dương (2009), “Bảo Ninh – nhìn từ thân phận truyện ngắn”, evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh – nhìn từ thân phận truyện ngắn
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
[7] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2011), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[8] Hoàng Ngọc Hiến (1991), “Những nghịch lí của chiến tranh”, Tạp chí Văn nghệ, (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghịch lí của chiến tranh”, Tạp chí "Văn nghệ
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1991
[9] Nguyễn Hòa (1989), “Suy nghĩ về con người trong văn học viết về chiến tranh”, Tạp chí Văn nghệ, (51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về con người trong văn học viết về chiến tranh”, Tạp chí "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 1989
[10] Trần Quốc Huấn (1991), “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh”, Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân phận tình yêu của Bảo Ninh”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trần Quốc Huấn
Năm: 1991
[11] Lê Thị Hường (1994), “Quan niệm về con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay” Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay” Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lê Thị Hường
Năm: 1994
[12] Chu Lai (1987), “Vài suy nghĩ về sự thật trong chiến tranh”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về sự thật trong chiến tranh”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1987
[13] Mai Quốc Liên (2012), “Bảo Ninh tác phẩm chọn lọc”, Hồn Việt, (57) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh tác phẩm chọn lọc”, "Hồn Việt
Tác giả: Mai Quốc Liên
Năm: 2012
[14] Nguyễn Văn Long (1985), “Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Năm: 1985
[15] Phương Lựu (chủ biên, 2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[16] Nhóm tác giả (1980), “Mấy nét chung quanh mảng văn học viết về chiến tranh trong 35 năm qua”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét chung quanh mảng văn học viết về chiến tranh trong 35 năm qua”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nhóm tác giả
Năm: 1980
[17] Bảo Ninh (2013), Bảo Ninh những truyện ngắn, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh những truyện ngắn
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
[18] Bảo Ninh (2013), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
[19] Hoàng Phê (chủ biên, 1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
[20] Trần Sáng (2012), “Nỗi buồn không mang tên chiến tranh”, Nghệ thuật mới, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn không mang tên chiến tranh”, "Nghệ thuật mới
Tác giả: Trần Sáng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w