... Monitoring Working Party : động vật không xương sống VQG : Vườn quốc gia Nnk : Những người khác UK : United Kingdom Hình 2.1 Sơ đồ điểm thu mẫu suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 16 MỤC LỤC Lời... tới tất thầy cô giáo, cán nghiên cứu công tác tổ Động vật, tạo điều kiện tốt cho trình nghiên cứu khoa học Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đếnLỜI gia đình, bạn bè, thầy cô động viên CẢM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
Chuyên ngành: Môi trường
Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN VĂN HIÉU
HÀ NỘI - 2015
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS NguyễnVăn Hiếu - cán bộ giảng dạy tố Động vật, Khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời giantôi thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, cán bộ nghiêncứu đang công tác tại tổ Động vật, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trìnhnghiên cứu khoa học
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè, thầy cô đãluôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ở trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hoàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: khóa luận này là công trình nghiên cứu thực sự của các nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Văn Hiếu
Các số liệu, những nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này trung thực
và chưa từng công bố dưới bất cứu hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 05 thảng 05 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm 19
Bảng 3.1 Thành phần họ ĐVKXS cỡ lớn tại các điếm nghiên cứu 20
Bảng 3.2 Số lượng họ ĐVKXS cỡ lớn ở mùa khô và mùa mưa 22
Bảng 3.3 Số lượng họ ĐVKXS cỡ lớn tại các điếm thu mẫu 25
Bảng 3.4 Giá trị DO, pH và nhiệt độ nước tại các điêm nghiên cứu 28
Bảng 3.5 Chỉ số BMWP và ASPT của các điểm theo mùa 31
Bảng 3.6 xếp loại chất lượng nước tại các điểm nghiên cứu thông qua chỉ số ASPT 31
Bảng 3.7 Bảng tương quan giữa chỉ số ASPT với DO (mg/1) và pH 33
Bảng 3.8 Ket quả phân tích tương quan và hồi quy 34
Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu ở suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
16 Hình 3.1 Tỷ lệ % số họ theo bộ ở các điếm nghiên cứu 21
Hình 3.2 Sự biến động số lượng họ ĐVKXS theo mùa 23
Hình 3.3 Sự biến đổi số lượng họ theo độ cao của các bộ ĐVKXS cỡ lớn 26
Hình 3.4 Sự biến thiên của nhiệt độ tại các điểm nghiên cứu 30
Hình 3.5: Sự biến đổi chỉ số ASPT của các điếm nghiên cứu qua 2 mùa 32
Hình 3.6: Tương quan giữa chỉ số BMWP và ASPT với chỉ số DO (mg/1) 35
Trang 5MỤC LỤC Lời cảm ơn Lời cam
đoan Danh mục các từ
viết tắt Danh mục bảng
Danh mục hình
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trênthế giới 3
1.2 Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đế đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam 6
1.3 Một số đặc điểm tự nhiên của VQGTam Đảo,tỉnh Vĩnh Phúc 10
1.3.1 Vị trí địa lý 10
1.3.2 Địa hình 10
1.3.3 Địa chất và thổ nhưỡng 11
1.3.4 Khí hậu 12
1.3.5 Mạng lưới thủy văn 13
CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 15
2.1 Thời gian nghiên cứu 15
2.2 Địa điểm nghiên cứu 15
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.4 Đối tượng nghiên cứu 17
2.5 Phương pháp nghiên cứu 17
2.5.1 Phương pháp thu mẫu thực địa 17
2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 18
Trang 62.6 Phương pháp tính chỉ số BMWP và ASPT 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN 20
3.1 Số lượng các họ ĐVKXS cỡ lớn ở khu vực nghiên cứu 20
3.2 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo mùa tại khu vực nghiên cứu 22
3.3 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo độ cao tại khu vực nghiên cứu 24
3.4 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu 28
3.4.1 Một số chỉ số thủy lí hóa học của nước 28
3.4.2 Đánh giá chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu bằng hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT 30
3.4.3 Mối tương quan giữa ASPT với các chỉ số của nước 33
3.5 Những tác động gây ảnh hưởng tới chất lượng nước tại suối Thác Bạc 35
3.5.1 Nguyên nhân 36
3.5.2 Biện pháp khắc phục 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
Kết luận 38
Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Các thủy vực nước ngọt trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bị
ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều loại chất thải khác nhau mà nguyên nhân chủ yếu là do chất thải từ các hoạt động: công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của con người Chúng tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người cũng như mọi sinh vật trên trái đất Từ đó, công tác đánh giá và
dự báo ô nhiễm môi trường trở thành một nhu cầu cấp thiết, không còn chỉ giới hạn
Trang 7Hiện nay, trong công tác đánh giá và dự báo giám sát môi trường, phương pháp
sử dụng nhiều nhất là đánh giá chất lượng nước thông qua phân tích các chỉ tiêu lýhóa Nhưng phương pháp này có một số hạn chế là chỉ phản ánh tình trạng thủy vựcngay tại thời điếm lấy mẫu, khó có thể dự báo được chính xác về các tác động lâu dàicủa môi trường nước đến hệ sinh vật dưới nước, đồng thời phương pháp này phảiđược thực hiện liên tục với tần số lớn gây tốn kém về mặt kinh tế
Bên cạnh đó phương pháp quan trắc sinh học, có thể khắc phục được một sốhạn chế của phương pháp trên là, cung cấp được các dẫn liệu về thời gian, tiện lợicho việc sử dụng và cho kết quả nhanh Việc sử dụng động vật không xương sống(ĐVKXS) làm sinh vật chỉ thị (SVCT) đê đánh giá chât lượng nước và giám sát sinhhọc bằng SVCT có rất nhiều ưu điểm nên được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu Nhữngnăm gần đây, việc áp dụng quan trắc sinh học đã được chú ý tại Thái Lan và các nướcĐông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Suối Thác Bạc thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
là môi trường sống thuận lợi cho các loài thủy sinh vật nói chung và các loài ĐVKXS
cờ lớn nói riêng Tuy nhiên chất lượng nước tại suối Thác Bạc đang bị tác động ởnhiều mức độ khác nhau chủ yếu là do hoạt động của con người.Vì vậy, đế tìm hiếu
và đánh giá chất lượng nước ở khu vực này, tôi quyết định chọn hướng nghiên cứu:
“Sử dụng Động vật không xương sống cỡ lớn đánh giả chất lượng
Trang 8nước tại suối Thác Bạc thuộc vườn quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, Tỉnh Vĩnh Phúc ” đế tìm hiểu thực trạng chất lượng nước tại suối Thác Bạc thuộc vườn quốc gia Tam
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá thực trạng môi trường nước tại suốiThác Bạc thuộc vườn quốc gia Tam Đảo, tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượngnước từ đó đưa ra giải pháp khắc phục
Chưo’ng 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước trên thế giới
Quan niệm hiện đại về sử dụng quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nước sông,suối đã được khởi xướng ở Châu Âu với sự đề xuất của tác giả Kolkwitz và Marsson (1908,1909) Các nhà khoa học này chia mức độ nhiễm bẩn của sông, suối thành 4 loại: Bẩn ít, bẩnvừa a, bẩn vừa p và rất bẩn, mức độ được xác định vào chỉ số độ nhiễm bẩn (Saprobicindex).Mặc dù hệ thống này đã được ứng dụng rộng rãi nhưng phương pháp này vẫn còn nhiềuhạn chế là dựa trên sự nhiễm bẩn chỉ thiên về chỉ số sinh học và hệ thống điểm đơn giản [25],[26]
Sau đó những chỉ số khác dựa trên nguyên tắc các nhóm sinh vật chống chịu khác nhau
Trang 9cao là chỉ số định lượng “chỉ so Trent” (TBI) của Woodiwis (1964), chỉ số này được phát triển
ở nước Anh và Bắc Mỹ nó sử dụng ĐVKXS đáy để đánh giá chất lượng nước ở sông Trent(Anh) và chỉ số bán định lượng “điểm số chandler (CBS) của Chandler (1970) [18]
Hệ thống BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tương đối dễ dàng áp dụng khi đòi hỏicủa nó về mức độ kỹ năng phân loại tương đối bình thường Vì vậy nó không chỉ được áp dụngrộng rãi mà còn được cải tiến đế áp dụng ở nhiều nước trên thê giới như:
Ờ New Zeland
Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những hiệu quả trong việc sử dụng hệ thống điểm soBMWP trong việc đánh giá chất lượng nước sông nhất là loại ô nhiễm hữu cơ Do vậy họ đãtiếp nhận hệ thống điểm này và phát triển chúng cho phù hợp với đất nước mình, chỉ số đượcbiến đổi gọi là MCI (Macroinvertebrate Community Index) chỉ số này tương tự như điểm trungbình bậc phân loại ASPT của Anh [20]
Ở Bỉ:
Năm 1978 Bộ y tế Bỉ đã quyết định phát triển và chon phương phápđánh giá sinh học cho áp dụng rộng rãi, đó là phương pháp dựa trên phân tích quần thểĐVKXS cỡ lớn đáy Sau khi lấy ý kiến của các nhà khoa học thuộc các Viện khoa học và cáctrường Đại học ở Bỉ, người ta quyết định kết hợp ưu điếm của các chỉ số sinh học Trent (TBI)(Woodiwiss, 1964) và chỉ số sinh học Pháp (FIB) (De Pauw, 1988) thành chỉ số sinh học Bỉ(BBI) Những cải tiến liên quan đến việc chuẩn hoá quy trình ấy mẫu (thường 5 phút đạp nước,thu mẫu bằng vợt hand net) và mức độ phân loại được chuẩn hoá tới đơn vị giống hoặc họ Chỉ
số sinh học có thể biến thiên từ 0 đến 10; Giá trị càng lớn thì số lượng các đơn vị phân loạimẫn cảm trong quần xã càng lớn [18], [23]
Trang 10học ở Anh đã phát triển, cải tiến và xây dựng nên mô hình RIVPACS (Hệ thống phân loại và
dự báo ĐVKXS ở sông) ở mức độ họ và đưa ra một chỉ số chất lượng sinh thái “EcologicalQuality Index” (EQI)
Bằng mối liên hệ của việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn ở đáy trong giám sát sinh học chấtlượng nước sông, nhóm quan trắc sinh học thuộc Uỷ ban thường trực về phân tích “StandingCommittee of Analysis” (SCA) của bộ môn môi trường đã đưa ra một seri các phương pháp lấymẫu Nó bao gồm lấy mẫu bằng vợt tay (Hand net), dụng cụ lấy mẫu Colonization cho nhữngcon sông vùng đồng bằng và lấy mẫu ở những sông sâu Những phương pháp lấy mẫu khác đốivới những sinh vật ngoài ĐVKXS cũng được nêu lên; bao gồm tảo sống đáy, thực vật thuỷsinh bậc cao, quân thê cá trong nước, thực vật tích tụ kim loại và tảo bám trên đá Ngoài ra,nhưng phương pháp của SCA còn dùng để thu xác ấu trùng
Chironomidae cũng được mô tả (Wilson and McGill, 1977) [27]
ơ Malaysia:
Một cuộc nghiên cứu ở Malaysia vào năm 1999 do Bộ Môi trường Malaysia thực hiệntrên sông Linggi nhằm đánh giá tiềm năng của việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn trong việc đánhgiá, giám sát chất lượng nước
Cùng thời điểm này, Khoa Sinh học trường Đại học Putra cũng tiến hành nghiên cứu sửdụng hệ thống BMWP để đánh giá chất lượng sông Langat với 4 khu vực lấy mẫu ở thượngnguồn và 4 khu vực lấy mẫu ở hạ nguồn Ket quả nghiên cứu cho thấy ở thượng nguồn thuđược 54 loài còn ở hạ nguồn thu được 49 loài, chất lượng nước sông cũng giảm dần khi chảyđến hạ nguồn do chịu ảnh hưởng của nguồn ô nhiễm từ khu dân cư [16]
Ở Thái Lan:
Thái Lan hiện đang phải đối mặt với ba vấn đề lớn liên quan tới nguồn nước là sự thiếuhụt nước, lũ lụt và ô nhiễm Người ta đã ban hành ít nhất là 4 đạo luật quan trọng về bảo vệnguồn nước
Năm 1997, phương pháp đánh giá chất nước dựa vào động vật không xương sống nướcngọt của Đan Mạch đã được giới thiệu ở Thái Lan Năm mươi tám trường cấp 2 của Thái Lan
đã tham gia dự án này
Trang 11Các nghiên cứu về côn trùng nước, đặc biệt ở giai đoạn trưởng thành, được thực hiện ởmiền bẳc Thái lan nham phát hiện những tác động tới môi trường nước Sangpradub et al(1996) đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa khu hệ động vật không xương sống cỡ lớn với chấtlượng nước sông Pong
Mustow (1997) đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 địa điểm ở Mae Ping vàtrong khi chấp nhận một số những thay đổi được đưa ra bởỉ de Zwart và Trivedi (1994) đã ủng
hộ việc cộng thêm cho phù hợp với điều kiện ở Bắc Thái Lan [28]
Ở Án Độ
Ở Ân Độ, năm 1994 De Zwart và Trivedi đã chuyển đối điểm so BMWP cho phù hợp với
Ấn Độ là loại ra một số họ không có và thêm vào một số họ có ở
Ấn Độ Một vài điểm số đã được phân phối trong điểm gốc cũng được thay thế để phản ánhcác mức độ khác nhau về sự chống chịu của các họ nhất định đã tìm thấy tại các cửa sông của
Ân Độ Hai họ được cho là chống chịu tốt hơn so với điểm BMWP gốc đã được giảm điểmxuống đó là Dugesidae từ 5 giảm xuống còn 4 điểm và Agriidae từ 8 giảm xuống còn 6 điếm.Còn hai họ được cho là ít chống chịu thì điểm số được tăng lên đó là Hydrobiidae tăng từ 3 lên
6 điểm và Platycnemidiidae tăng từ 6 lên 8 điểm
Một nghiên cứu sử dụng điểm so BMWP khác do Bihar nghiên cứu ở sông Ramjan nhậnthấy các thông số lý hóa biến động theo mùa, nó sẽ ảnh hưởng đến độ phong phú của ĐVKXS
cỡ lớn và cũng nhận thấy kích thước quần thể ĐVKXS cỡ lớn cũng tương quan nghịch vớithông so pH và DO Tác giả Sabib nghiên cứu ở sông Shendumi nhận định rằng dựa vàokích thước cộng đồng ĐVKXS cỡ lớn có theerxasc định được tình trạng chất lượng nước sông,
hồ Tác giả Maruthaynayagan và các cộng sự nghiên cứu ở hồ Thirukulam qua nghiên cứu củamình thì khảng định kích thước ĐVKXS phụ thuộc vào mùa, cao nhất vào mùa mưa và tấpnhất vào mùa hè [2], [29]
1.2 Tình hình sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mặc dù việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm của các thủy vực đượcquan tâm từ lâu, nhưng tới năm 1995 hầu như vẫn chưa có hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn ởcác thủy vực Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùng với những chỉ tiêu trong các thangbậc phân loại trước đó đều là những dẫn liệu được nghiên cứu ở các thủy vực vùng ôn đới,
Trang 12hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên cũng như đặc tính sinh học của các thủy vưc ở nước ta.
Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (1985- 1995) cùng với dẫn liệu đã biêt trước đây về các
thủy vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn Xuân Quýnh (1995) đã đề xuất hệ thống phân loạinhiễm bấn các thủy vực có nước thải ở Hà Nội dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản về sinhhọc.Kèm theo đó là các chỉ tiêu lí hóa học quy định sự có mặt hay vẵng mặt của một số loàihay nhóm loài ĐVKXS cỡ lớn được coi như sinh vật chỉ thị, quy định sự phát triển về số lượng
và khối lượng của chúng ở mức độ khác nhau từ những kết quả thu được, tác giả đã nhận địnhrằng ĐVKXS cỡ lớn (thông qua các giá trị về sinh vật lượng, sự khác nhau về tính đa dạng,mức độ phong phú về thành phần loài, ) chỉ thị tốt cho mức độ ô nhiễm của các thủy vực[11]
Từ năm 1997 đến 1999, với sự tài trợ của Quỹ Darwin của chính phủ Anh, Hội nghiêncứu thực địa và Viện Sinh thái nước ngọt Anh Quốc đã phối hợp với khoa Sinh học, TrườngĐHKHTN, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện chương trình nghiên cứu “Bảo tồn đa dạng sinhhọc thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chấtlượng nước ở Việt Nam”
Từ năm 1999- 2000 chương trình nghiên cứu được tiếp tục với sự tham gia của SteveTilling và tập trung nghiên cứu các dữ liệu ban đầu, xây dựng công trình quan trắc và điềuchỉnh hệ thống tính điểm BMWP cho phù hợp với nước ta bằng việc loại bỏ một số họ không
có và thêm vào một số họ có ở nước ta và thay đổi thang điểm số cho một số họ Hệ thốngBMWP được thay đổi ở Việt Nam gọi là BMWP BMWPVIET [8]
Từ sau khi có hệ thống đánh giá phù hợp thì đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm đánh giátính hiệu quả của phương pháp này Những nghiên cứu đầu tiên được các nhà sinh học Khoasinh học, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hiện ở các con sông , suốithuộc cả khu vực phía Bắc và phía Nam với 14 địa điếm thu mẫu ở phía Bắc và 15 địa điểmthu mẫu ở phía Nam Ớ phía Bắc, các địa điếm thu mẫu được bắt đầu từ những con suối nhởchảy từ núi Tam Đảo ra khu vực đồng bằng, xung quanh là đồng lúa và cuối cùng là khu vựcsông cầu, nơi tiếp nhận nguồn thải từ nhiều hoạt động của con người Ớ phía Nam, các địađiểm thu mẫu thuộc khu vực nằm trong và xung quanh thành phố Đà Lạt, các địa điểm thuộc
Trang 14lưu vực sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên Qua nghiêncứu nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ô nhiễm vừa đến ô nhiễm nặng, những loài đạidiện cho môi trường nước sạch như bộ cánh úp đã không được tìm thấy ở đây khắng định môitrường nước ở đây đang bị tác động nghiêm trọng Ngoài kết quả nghiên cứu tác giả còn bốsung thêm 7 họ mới vào bảng điểm BMWPVIET bao gồm 5 họ côn trùng thủy sinhEcdyonuridae, Polymitarcyidae, Sciomyzidae, Muscidae và 2 họ thân mềm Stenothyridae vàHyalidae [15].
Năm 2003, tác giả Nguyễn thị Mai thuộc bộ môn sinh học, Khoa Khoa học, Trường ĐHNông Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá sự đa dạng vềthành phần loài ĐVKXS cỡ lớn và sử dụng chúng để dánh giá chất lượng nước sông Sài Gònthuộc quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện trên 3 địa điểm và kết quảthu nhận được qua 2 lần lấy mẫu là đợt 1 gồm 23 họ và đọt 2 gồm 25 họ, qua xác định chỉ sốASPT cho thấy nước khúc sông này thuộc loại bấn vừa a, cùng với nó kết quả này còn chothấy chất lượng nước và thành phần loài có liên quan đến nhau Điều này càng khẳng định việc
sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước là có cơ sở [9]
Năm 2004, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự, trên cơ sở các công trình nghiên cứu vềgiám sát sinh học nước ngọt bằng sinh vật chỉ thị, mà đặc biệt là kết quả từ năm 1998 - 2000,
đã thiết lập một quy trình lấy mẫu và một hệ thống tính điếm sử dụng trong quan trắc sinh họcđối với các thuỷ vực nước chảy tại Việt Nam Đã xuất bản cuốn sách “Giám sát sinh học môitrường nước ngọt bằng động vật không xương sống cỡ lớn” Đây là tài liệu đầu tiên của ViệtNam được xuất bản làm cơ sở nghiên cứu đánh giá chất lượng nước thông qua sinh vật chỉ thị
là ĐVKXS cỡ lớn (Nguyễn Xuân Quýnh và nnk, 2004) [12]
Lê Thu Hà (2003), đã xác định được 37 họ thuộc 8 bộ côn trùng nước tại khu vực suốiTam Đảo Trong đó bộ Hai cánh (6 họ), bộ Cánh cứng (7 họ), bộ Phù du (5 họ), bộ Cánh nửa(7 họ), bộ Chuồn chuồn (6 họ), bộ Cánh lông (3 họ), bộ Cánh vảy, bộ Cánh rộng và bộ Cánh
úp mỗi bộ chỉ có một họ Tuy nhiên, về mặt phân loại, nghiên cứu chỉ xác định đến bậc họ.Tác giả đã sử dụng nhóm côn trùng này
đế chỉ thị và đánh giá chất lượng môi trường nước ở khu vực nghiên cứu [4]
Trang 15Năm 2006, tác giả Trương Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh thuộc Trường Đại họcKhoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM tiến hành khảo sát thành phần ĐVKXS cỡ lớn của 4 hệthống kênh chính của TP.HCM ( Tham Lương - Vàm Thuật, Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Đôi -
Tẻ - Tàu Hủ - Ben Nghé, hệ thống sông khu vực Nam Sài Gòn [2]
Năm 2008, tác giả Ngô Xuân Quảng công bố kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh họcquần xã Động vật không xương sống và đánh giá chất lượng môi trường nước hệ thống các consuối ở Vườn Quốc Gia Núi Chúa, tỉnh NinhThuận Tại khu vực miền Trung vào năm 2010,Nguyễn Văn Khánh và Trần Ngọc Sơn đã ứng dụng hệ thống quan trắc sinh học BMWPVIETgiám sát chất lượng môi trường nước sông ở TP Đà Nang.Các chỉ số sinh học đã phản ánhđược hiện trạng chất lượng môi trường nước sông và cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn vềnhững tác động tổng hợp của chất ô nhiễm đến hệ sinh thái và đời sống sinh vật
Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu chỉ tập trung ở miền Bắc và miền Nam mà chưa quantâm đến khu vực miền Trung Nhiều năm gần đây phương pháp này được nghiên cứu ở khu vựcmiền Trung tiêu biếu như tác giả Nguyễn Văn Khánh và các cộng sự thuộc khoa Sinh - Môitrường, trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Đà Nang đã thực hiện những nghiên cứu dùngĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước ở các khu vực trên địa bàn thành phố Đà Nang.Các nghiên cứu được thực hiện tại sông Phú Lộc, sông Cu Đê, hệ thống sông cầu Đỏ - TuýLoan, cánh đồng Xuân Thiều Qua xác định chỉ số BMWP và ASPT cho thấy trên hầu hết các
khu vực chất lượng nước đều thuộc loại bẩn vừa a đến rất bẩn, các kết quả này hoàn toàn phù
hợp với những kết quả phân tích lí hoá đi kèm càng khảng định việc sử dụng ĐVKXS trongđánh giá chất lượng nước là có hiệu quả Điều đó góp phần làm đa dạng các phương pháp đánhgiá chất lượng môi trường nước tại khu vực miền Trung [5], [6], [7]
Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy phương pháp quan trắc sinh học thông quaĐVKSX cỡ lớn là tối ưu, đã phần nào phát triển và đang ngày càng được áp dụng rộng rãi ởViệt Nam Việc sử dụng hệ thống điểm BMWPVIET và chỉ số ASPT đã nâng cao độ chính xáctrong việc đánh giá chất lượng nước, phục vụ cho việc công tác quản lý môi trường nước hiệuquả hơn
Trang 161.3 Một số đặc điểm tự nhiên của VQG Tam Đáo, tĩnh Vĩnh Phúc
Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trên địa giới của 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên vàTuyên Quang), gồm 26 xã của 7 huyện, thị xã Tổng diện tích tự nhiên của VQG Tam Đảo là:36.883 ha VQG có toạ độ địa lý: 21°21 ’ đến 21°42’ vĩ độ Bắc và 105°23’ đến 105°44’ kinh
độ Đông Ranh giới VQG được xác lập từ độ cao 100m đến 1.592m Vùng đệm có tổng diệntích là 53.515 ha từ độ cao 100m trở xuống bao quanh VQG Trung tâm VQG Tam Đảo cách
Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc VQG Tam Đảo có khoảng 25.000 ha (chiếm gần 70% tổngdiện tích ) gồm 22.000 ha rừng tự nhiên và 3.000 ha rừng trồng
- Phía Đông Bắc là đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp Quốc lộ 13A tại
xã Phú Xuyên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)
- Phía Nam là ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc; Phổ Yên,Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Phía Tây Nam hợp bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ đường 13A tại xãKháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân núi Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã
Mỹ Khê bên hồ Đại Lải
1.3.2 Địa hình
Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ,nằm ở phía Bắc đồng bằng Bắc bộ, chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Cả dãy núi cóđặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt
Trang 17sâu và dầy Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao trên 1.000m được nối vớinhau bằng đường dông sắc nhọn Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1.592m) là ranh giới địa chínhcủa 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang Chiều ngang biến động trong khoảng 10 -15km Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25 - 35°, nhiều nơi trên 35°nên rất hiểm trở và khó đi lại Vườn quốc gia Tam Đảo có ba đỉnh núi nổi tiếng là: Thiên Thị(1.375m), Thạch Bàn (1.388) và Phú Nghĩa (1.300m).
Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành 4 kiểu địahình chính:
1 Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao dưới lOOm, độ dốc cấp I(<7°) Phân bố dưới chân núi và ven sông suối
2 Đồi cao trung bình: có độ cao từ 100 - 400m, độ dốc cấp II (từ 8° - 15°) trở lên Phân
bố xung quanh chân núi và tiếp giáp với đồng bằng
3 Núi thấp: kiểu địa hình này có độ cao từ 400 - 700m Độ dốc trên cap III (16° - 26°).Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình
4 Núi trung bình: có độ cao từ 700m - 1590m Độ dốc > cap III Phân bố ở phần trêncủa khối núi Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn
Như vậy có thế nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp dần về haiđầu), chạy gần 80km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên nó như bức bình phong chắn giómùa Đông Bắc tràn về đồng bằng và trung du Bắc bộ Vì vậy, ảnh hưởng lớn đến chế độ khíhậu và thủy văn trong vùng
Đất Feralit đỏ vàng: loại đất này phát triển trên nhiều loại đất đá khác nhau,
diện tích vào khoảng 24.641 ha (chiếm 47%)
Trang 18Đất phù sa và dốc tụ: loại đất này có diện tích 9.497 ha (chiếm 18,1 %).
1.3.4 Khí hậu
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn và có sự phânhóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa khí hậu đặc trưng của từng vùngkhông phải là vấn đề đơn giản Dựa trên số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và cáctrạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên và Đại Từ) đế đưa ra các nhận định kháiquát cho toàn vùng như sau:
Tam Đảo thuộc kiêu khí hậu nhiệt đới âm gió mùa vùng cao Dựa vào các số liệuquan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên
và thị trấn Tam Đảo (Bảng 1.1) [3]
Bảng 1.1 Số liệu khí tưọng các trạm trong vùng
Trạm Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho sườn phía Tây, trạm Đại Từ đặc trưngcho sườn phía Đông, trạm Tam Đảo ở độ cao khoảng 900m so với mực nước biển đặc trưngcho khí hậu trên cao của khu bảo tồn Vùng núi VQG Tam Đảo nói riêng cũng như Vĩnh Phúcnói chung nằm trong khu vực khí hậu gió mùa chí tuyến, có mùa đông lạnh, khô
Do ảnh hưởng của địa hình, địa mạo nên nhiệt độ trung bình hằng năm ở
Tên yếu tố
Trạm TuyênQuang
Trạm VĩnhYên
Trạm ĐạiTừ
Trạm Tam Đảo
(Nguồn Ban quản lý VQG Tam Đảo -2007)
Trang 191 3
vùng thấp vào khoảng 23,7°c, tháng nóng nhất ở vùng thấp trên 28°c (tháng 7), tháng lạnhnhất có nhiệt độ khoảng 15°c (tháng 1) Vùng đỉnh có nền nhiệt độ thấp hơn (bình quân là18°C), tháng nóng nhất là 23°c (tháng 7) và tháng lạnh nhất là 10,8°c (tháng 1) Chênh lệchnhiệt độ ngày đêm khá lớn
Lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.355mm, cao hơn nhiều so với lượng mưa trungbình của cả nước (1.960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1.500 - 1.800mm/năm) Lượng mưangày lớn nhất đạt 318,6mm Bình quân hằng năm có khoảng 203 ngày mưa, tập trung chủ yếuvào tháng 6 Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 (cao hơn so với các nơikhác của tỉnh Vĩnh Phúc (5 tháng)) Mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9 Cao nhất là vàotháng 8 Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá
Độ ấm trung bình nhiều năm là 80 - 87% Trong mùa mưa, nhất là khi có mưa phùn độ
ẩm tăng lên tới 90%, nhưng đến mùa khô hanh độ ấm chỉ còn 70 - 75%, đặc biệt có ngày chỉcòn 60% (vùng núi cao)
Sương mù: bình quân hằng năm có 118 ngày có hiện tượng sương mù
Số giờ nắng: một năm bình quân có 1.212 giờ
Tổng lượng bốc hơi: bình quân hằng năm là 512mm
Tốc độ gió: bình quân là 3,0 m/s, tốc độ gió cực đại đến 30 m/s
1.3.5 Mạng lưới thủy văn
Vườn quốc gia Tam Đảo có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây (TuyênQuang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên) Đường phân thủy rõ rệt nhấtcủa hai hệ thống sông này là các đường dông nối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực Nam đếnĐèo Khế ở điểm cực Bắc Mạng lưới sông suối hai sườn của VQG Tam Đảo dồn xuống hai hệthống sông này có dạng chân rết khá dày đặc và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnhxuống chân núi Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khábằng phang, tương ứng với dạng địa hình đã tạo ra nó
Mật độ sông suối khá dày (trên 2 km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều ghềnhthác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Do đặc điếm khí hậu mưa lớn, mùa mưa kéodài, lượng bốc hơi ít (ở đỉnh của VQG Tam Đảo) nên cán cân nước dư thừa Đó là nguyênnhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tam Đảo xuống có nước quanh năm
Trang 20Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa khô Mùa lũ trùng vớimùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lũ lớn thườngxảy ra vào tháng 8, lũ tập trung nhanh và rút cũng nhanh.
Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông chủyếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vở phong hóa địa chất và lượng mưa phùn mùa đông)
Do đó, cả hai sông: Phó Đáy và sông Công đều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy, khả năng cungcấp nước cho mùa đông là rất hạn chế Các dòng sông, suối trong vùng không có khả năng vậnchuyển thủy, chỉ có thể dùng làm nguồn thủy điện nhỏ cho từng gia đình dưới chân núi Trongvùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như: hồ Núi Cốc, hồ Đại Lải; các hồ cỡ trung bình hoặcnhỏ như: hồ Xạ Hương, Khôi Kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai Đó là nguồn dự trữ nước khá phongphú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng Hệ thống suối chính ởVườn quốc gia Tam Đảo là suối Thác Bạc Thác Bạc do suối Mơ, suối Bạc và suối Tiên đổvào Suối ở VQG Tam Đảo bắt nguồn từ các mạch nước nhỏ trên đỉnh núi cao nhập lại, đổxuống suối Thác Bạc cao trên 40m nên có nước quanh năm Suối có nhiệt độ nước tương đốithấp, ít khi tăng cao và có xu hướng ôn định Do đặc điêm địa hình chảy từ độ dôc trên 35mnên có tôc độ nước chảy mạnh, cuốn theo các chất mùn bã Vì vậy suối ở đây khá trong, hầunhư không có hiện tượng lắng đọng Nen đáy suối chủ yếu là đá tảng, ít chất mùn Vào mùamưa lưu lượng dòng nước khá lớn thường cuốn theo mùn bã thực vật, xác động vật, lákhô Do đó mùa này, nước suối thường vấn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nước chảy từcác mạch nước ngầm với tốc độ chậm hơn nhiều Dòng nước chảy xuống khu vực suối có độcao thấp với tốc độ chảy rất chậm, lòng suối rộng và nông
Chương 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIẺM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 06/2014 đến tháng 11/2014 Cácđiểm điều tra thuộc khu vực suối Thác Bạc của Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
• Đợt 1 được tiến hành 23/06/2014 đến 26/06/2014 (thuộc mùa mưa)
• Đợt2được tiến hành 12/11/2014 đến 15/11/2014 (thuộc mùa khô)
Trang 211 5
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Độngvật học, khoa Sinh-KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.2 Địa điếm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 6 điểm nghiên cứu thuộc suối Thác Bạc của Vườn Quốcgia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và được đánh số thứ tự từ ĐI đến Đ6 Đồng thời, chúng tôi cũngđiều tra một số đặc điếm về nền đáy, sinh cảnh tại điểm thu mẫu
Điếm Đl: với độ cao 880m (so với mực nước biển), nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít cát.Nước suối trong, tốc độ dòng chảy nhỏ, đầu suối có nhiều rác thải sinh hoạt, cuối điểm thumẫu lượng rác thải ít hơn Độ che phủ khoảng 0 - 5%
Điểm Đ2: điểm thu mẫu có độ cao 840m, đặc điểm của nền đáy chủ yếu là cát và sỏi nhỏ.Nước suối bị ảnh hưởng nhiều của du lịch và sinh hoạt của người dân, nước chảy mạnh Độche phủ khoảng 60% - 80%
Điểm Đ3: có độ cao 737m, nền đáy chủ yếu là đá tảng, ngoài ra còn có đá nhỏ, sỏi và cát.Nước suối trong, chảy mạnh, trong suối có nhiều rác thải sinh hoạt, ít mùn bã thực vật Điểmthu mẫu là một trong các tuyến du lịch của Vườn Quốc gia Độ che phủ khoảng 70% - 100%.Điếm Đ4: có độ cao 106m, đá nhỏ chiếm ưu thế ở nền đáy, ngoài ra ở nền đáy có ít cát.Nước suối trong, chảy mạnh Địa điểm thu mẫu ít chịu tác động của con người, ít rác thải vàmùn bã thực vật Độ che phủ khoảng 50% - 60%
Điếm Đ5: độ cao của Đ5 là 76m, nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít cát Nước suối
Trang 22chảy mạnh, mùn bã thực vật không phong phú, ít rác thải Độ che phủ 30% - 40%.
Điếm Đ6: điểm thu mẫu cuối cùng này có độ cao 60m, nền đáy chủ yếu là đá nhỏ và
cát, giữa suối có nhiều cây bụi nhỏ Điểm thu mẫu có nhiều mùn bã thực vật, nhiều rácthải Độ che phủ khoảng 10% - 20%
Hình 2.1 So’ đồ các điểm thu mẫu ỏ’ suối Thác Bạc, VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh
Phúc
Trang 231 7
2.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn tại suối Thác Bạc thuộc vườn quốc gia TamĐảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Xác định một số chỉ số thủy lí, hóa học của nước
Đánh giá chất lượng nước tại các điểm nghiên cứu thông qua hệ thống tính điểmBMWPVIET và chỉ số ASPT
Xác định mối tương quan giữa chỉ số ASPT với một số chỉ số của nước
Bước đầu tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và đề xuất giảipháp khắc phục
2.4 Đối tượng nghiên cứu
Các họ ĐVKXS cỡ lớn tại các điểm thu mẫu thuộc suối Thác Bạc - Vườn Quốc gia TamĐảo, tỉnh Vĩnh Phúc
2.5 Phưong pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp thu mẫu thực địa
Trước khi thu mẫu, chúng tôi tiến hành đo một số chỉ số thủy lý, hóa học của nước tạikhu vực nghiên cứu bằng máy đo WQC - 22A, TOA, Japan và đi khảo sát, điều tra đặc điếmsinh cảnh ở địa điếm cần thu mẫu
Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net)
Chúng tôi tiến hành thu mẫu bằng cách: Ớ các điểm thu mẫu nước thường nông có thế lộiqua, ta sử dụng vợt tay để lấy mẫu, thu mẫu ở 2 bên bờ bằng cách sục vợt vào các đám cỏ, câybụi thủy sinh ven bờ hoặc các đám cây thủy sinh sống nổi trên mặt nước Các loại ĐVKXSsống trên mặt thủy vực được thu bằng cách đưa nhanh vợt trên mặt nước
Mầu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Mau thu ngoài thực địa được bảoquản trong cồn 80°, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tạiphòng thí nghiệm Động vật hoc, khoa Sinh-KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay (đãi mẫu) Dùng panh nhặt cácđại diện của ĐVKXS cỡ lớn, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 80°
Phương pháp phân tích:
Trang 24- Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩa petri, lam kính, lamen, kimnhọn,panh.
- Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được công bố trong
và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003); Cao Thị Kim Thu (2002); Hoàng Đức Huy(2005); Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001); Đặng ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm VănMiên (1980); Meritt R w và Cummins K w (1996); Morse J c., Yang L & Tian L (1994)
[24], [17],[19], [13], [14], [22], [21].
- Ket quả phân tích sẽ được ghi chép đầy đủ vào phiếu điều tra
Phương pháp xử lí số liệu: Tất cả các kết quả nghiên cứu được xử lý trên
máy vi tính bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 của hãng Microsoft®
Corporation, USA và lập biếu đồ [10]
2.6 Phương pháp tính chỉ số BMWP và ASPT.
Sử dụng hệ thống thang điếm BMWP (Biological Monitoring Working Party, 1976) chođiêu kiện Việt Nam: Hệ thông điêm BMWP có điêm sô từ 1 đên 10, môi một họ ĐVKXS cỡlớn trong hệ thống điểm được nhận một giá trị điểm tương ứng với khả năng chống chịu với ônhiễm của họ đó Các họ kém chống chịu ô nhiễm như các họ Phù du (Ephemeroptera), Cánh
úp (Plecoptera) có số điểm cao nhất là 10; còn những họ có khả năng chống chịu ô nhiễm nhưgiun ít tơ Oligochaeta, họ chironomidae thì có số điểm thấp là 1 và 2
Dựa vào thành phần các họ tương ứng có mặt trong bảng tính điểm BMWP để tính điếmcho từng họ Điểm tổng cộng BMWP là giá trị tổng tất cả các điếm số thu được từ mỗi họ tạitừng điểm nghiên cứu Sau khi có điếm tổng cộng BMWP, tính điểm số trung bình hay còn gọi
là ASPT (Average Score Per Taxon) bằng cách lay
tổng số điếm chia cho tổng số họ đã tham gia tính điểm Điểm số ASPT là chỉ số sinh họctương ứng với một mức chất lượng nước Chỉ số này nằm trong khoảng từ 1 đến 10, chỉ sốcàng thấp thì nước có độ ô nhiễm càng cao
Chỉ số ASPT được tính theo công thức: ASPT = (£BMWP)/N
Trong đó:
N: tổng số họ tham gia tính điểm BMWP: tổng điểm số
Trang 251 9
ASPT: điếm số trung bình trên một đơn vị phân loại
Bảng 2.1 Mối liên quan giữa chỉ số sinh học ASPT và mức độ ô nhiễm
Nguồn: - Environment Agency, UK, 1997.
- Richard Orton, Anne Bebbington và John Bebbington, 1995
- Nguyễn Xuân Quýnh và nnk, 2004
Chương 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thành phần các họ ĐVKXS cỡ lớn ở khu vực nghiên cứu
Ket quả phân tích mẫu vật thu được tại khu nghiên cứu ở 2 đợt điều tra đã xác địnhđược 59 họ của 11 bộ ĐVKXS cỡ lớn và lđại điện của lớp Giun ít tơ Ket quả được thể hiện
Trang 27Hình 3.1 Tỷ lệ % số họ theo bộ ở các điểm nghiên cứu
Ket quả nghiên cứu ở bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy trong tổng số 59 họ thu được
ở khu vực nghiên cứu thì bộ Chuồn chuồn có số lượng họ nhiều nhất là 12 họ (chiếm20,34%) gồm: họ Cordulegastridae, họ Libellulidae, họ Gomphidae, họAmphipterygidae, họ Aeshnidae, Tiếp đến là bộ Cánh lông 11 họ (18,64%) gồm: họHydropsychidae, họ Hydrotilidae, họ Leptoceridae, họ Ondontoceridae, Tiếp đến là bộCánh nửa có 9 họ (15,25%) gồm: họ Gerridae, họ Naucoridae, họ Corixidae, họAphelocheiridae, họ Belostomatidae, bộ cánh cứng có 7 họ (11,86%) bao gồm: họ
Gyrinidae,họ Hydrobibidae, họ Psephenidae, họHydrophilidae, Bộ Phù du và bộ Hai cánh đều có 6 họ (10,17%), bộ Cánh úp 3 họ(5,08%) là: họ Leuctridae, họ Nemouridae và họ Perlidae Các bộ chỉ thu được 1 họ(chiếm 1,69%) gồm bộ Cánh vẩy (họ Pyralidae), bộ Cánh rộng (họ corydalidar), bộMười chân (họ Parathelphusidae) và bộ Prosobranchia (họ Thiaridae), ngoài ra còn có
sự hiện diện của lớp giun ít tơ chiếm 1,69%
Trang 283.2 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo mùa tại khu vực nghiên cứu
Ket quả phân tích cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về số lượng họ giữa mùa mưa
và mùa khô (bảng 3.2)
Bảng 3.2 Số lượng họ ĐVKXS cỡ lớn ở mùa khô và mùa mưa
Sốlưọng họ Bậc phân loại
Trang 29Hình 3.2 Sự biến động số lượng họ ĐVKXS theo mùa
Nhìn chung, thành phần họ của ĐVKXS cỡ lớn vào mùa khô đa dạng hơnmùa mưa nhưng không đáng kể Sự ổn định tương đối về chế độ dòng chảy củasuối vào mùa khô có thể là nguyên nhân giải thích sự khác biệt này
Ket quả nghiên cứu cho thấy, ở mùa mưa và mùa khô có số họ thuộc bộChuồn chuồn và bộ Cánh lông có số lượng họ chiếm ưu thế Trong khi đó, số họthuộc bộ Cánh rộng, Cánh vảy, bộ Mười chân, bộ Prosobranchia và lớp Giun ít tơ
có số họ rất ít chỉ có 1 họ số họ của bộ Cánh lông, bộ Cánh cứng và bộ Cánh nửa
có sự biến động lớn theo hai mùa nghiên cứu
Ket quả nghiên cứu ở bảng 3.2 và hình 3.2 cũng cho thấy, tại khu vựcnghiên cứu đã xác định được 52 họ ở mùa khô và 45 họ ở mùa mưa số họ củacác bộ Phù du, Cánh rộng, Hai cánh, Cánh vảy và bộ Mười chân không có sựthay đổi ở cả hai mùa Sự thay đổi này tập chung chủ yếu vào các họ Baetidae(bộ Phù du) và họ Tipulidae (bộ Hai cánh) Nguyên nhân có thể là do điều kiện
tự nhiên khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa đã ảnh hưởng đến sự xuất hiện củacác loài thuộc hai họ này Số họ của bộ Cánh nửa hầu như không có sự thay đổigiữa mùa mưa và mùa
khô Tuy nhiên, số họ của bộ Cánh lông trong mùa khô lại nhiều hơn hẳn so với mùamưa, số họ trong bộ Cánh úp xác định được trong mùa mưa lại lớn hơn so với mùa khô
Trang 30Theo kết quả ở bảng 3.1, trong số 59 họ định loại được tại khu vực nghiên cứu có
38 họ tìm thấy ở cả 2 mùa Các họ này chủ yếu thuộc bộ Phù du (6 họ) bao gồm:Baetidae, Caenidae, Ephemerellidae, Ephemeridae, Heptageniidae, Leptophlebiidae; BộChuồn chuồn (12 họ) như: Amphipterygidae, Calopterygridae, Cordulegastridae,Gomphidae, Libellulidae, Macormidae,
Tại khu vực nghiên cứu, có 14 họ tìm thấy ở mùa khô mà không thấy trong mùamưa Các loài này chủ yếu thuộc bộ Cánh lông (6 họ) gồm: Calamoceratidae,
Stenopsychidae; bộ Cánh nửa (5 họ) gồm: Belostomatidae, Corixidae, Pleidae, Saldidae
Pelecochynchidae; bộ Prosobranchia 1 họ là Thiaridae
Ket quả phân tích cũng cho thấy, có 7 họ tìm thấy ở mùa mưa mà không thấy ởmùa khô Các loại tập trung chu yếu trong bộ: bộ Cánh cứng (3 họ) gồm:Chrysomelidae, gyrinidae và Hydrophilidae; các bộ còn lại đều có 1 họ là Bộ Cánh nửa(Aphelocheiridae), Bộ Cánh úp (Nemouridae), bộ Hai cánh (Pelecochynchidae) và BộChuồn chuồn (Corduliidae)
Như vậy, tại khu vực nghiên cứu chúng tôi đã xác định được 52 họ côn trùngnước vào mùa khô và 45 họ vào mùa mưa Thành phần họ ở 2 mùa có sự khác biệttrong số 59 họ định loại được ở khu nghiên cứu có 38 họ có ở cả 2 mùa, có 14 họ tìmthấy ở mùa khô và chỉ có 7 họ tìm thấy ở mùa mưa
3.3 Phân bố của các họ ĐVKXS cỡ lớn theo độ cao tại khu vực nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu ngoài thực địa, chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 6 điểm
có độ cao khác nhau dọc theo suối Thác Bạc - Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh VĩnhPhúc Các điếm thu mẫu có độ cao giảm dần từ điếm ĐI với độ cao 880m xuống điểmĐ6 với độ cao chỉ còn 60m Thành phần họ có sự biến đổi khác nhau tương đối rõ rệt(Bảng 3.3) Sự khác biệt này phản ánh sự khác nhau về điều kiện
thủy lý hóa học, đặc điếm sinh cảnh của từng tuyến thu mẫu Kết quả nghiên cứu
số họ ĐVKXS cỡ lớn ở cả mùa mưa và mùa khô tại các điểm thu mẫu được trình