... chọn Mục đích nghiên cứu - Đưa thành phần loài kiến thuộc phân họ Ponerinae Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Biến động số lượng loài kiến thuộc phân họ theo mùa năm Trạm đa dạng sinh học Mê Linh. .. số lượng loài kiến thuộc phân họ Ponerinae với số cá thê thu Trạm đa dạng sinh học Mê Linh Ket phân tích đa dạng loài kiến thuộc phân họ Ponerinae (bảng 3.6) cho thấy: Tại Trạm đa dạng sinh học. .. LUẬN 3.1 Thành phần vị trí loài kiến thuộc phân họ Ponerìnae thu Trạm đa dạng sinh học Mê Linh • • 3.1.1 o • Thành phân loài kiến thuộc phân họ Ponerỉnae Trong tống số 3440 cá kiến phân họ Ponerinae
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
Ngưòi hưó’ng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN TS ĐÀO DUY TRINH
HÀ NỘI, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận và tiến hành nghiên cứu đề tài tại ViệnSinh thái và Tài nguyên sinh vật, cũng như học tập tại trường, em đã nhận được sựgiúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô công tác tại Viện Sinh thái và Tài nguyênsinh vật, các thầy cô giáo trong khoa Sinh - KTNN - trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, cùng sự động viên khích lệ của gia đình và các bạn sinh viên Em xin chân thànhcảm ơn sự giúp đõ’ quý báu này
Đặc biệt em xin bày tở lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Phương
Liên, CN Nguyễn Đắc Đại công tác tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, anh Trịnh Xuân Thành công tác tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc và TS.
Đào Duy Trinh giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã tận tình hướng dẫn, giúp đõ’ em trong suốt thòi gian qua để em có thế hoàn thànhkhóa luận
Em cũng xin bày tở lời cảm ơn đến gia đình, cũng như bạn bè đã tạo điều kiện
và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên khóaluận khó tránh khởi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo và góp ý của các thầy côcũng như các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên thực hiện Trần
Thị Ngát
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS
Nguyễn Thị Phương Liên và TS Đào Duy Trinh Tôi xin cam đoan rằng: Đây là
kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Neu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Trần Thị Ngát
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cún 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
4 Điểm mới 3
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát về kiến 4
1.2.Tình hình nghiên cún phân họ Ponerinae trên thế giới 6
1.3.Tình hình nghiên cứu phân họ Ponerinae trong nước 7
CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 8
2.1.Đối tượng nghiên cứu 8
2.2.Thời gian nghiên cún 8
2.3.Địa điểm nghiên cứu 8
2.4.Nội dung nghiên cún 8
2.5.Phương pháp nghiên cứu 8
2.5.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 8
2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm 9
2.5.3 Xử lí và phân tích mẫu vật 9
2.5.4 Phương pháp định loại 10
2.6.Một vài nét khái quát về Trạm đa dạng sinh học Mê Linh,Vĩnh Phúc 10
2.6.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 10
2.6.1.1 Vị trí địa lí 10
Trang 52.6.2 Tài nguyên động, thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh
Phúc 11
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
3.1 Thành phần và vị trí các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae thu được tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 13
3.1.1 Thành phần các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae 13
3.1.2 Số loài và số lượng cá thế của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae 16 3.2 Tương quan giữa số lượng các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae với số cá thế thu được tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 21
3.3 Sự phân bố của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae ở các sinh cảnh 23
3.4 Sự biến động số lượng cá thế các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae theo các mùa trong năm 26
KÉT LUẬN VÀ KIÉN NGHỊ 29
1 Kết luận 29
2 Kiến Nghị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
1 Tài liệu Tiếng Việt 30
2 Tài liệu Tiếng Anh 30
PHỤ LỤC DANH LỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Thành phần và số lượng các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae thu được ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 13
Bảng 3.2 Chỉ số đa dạng loài của kiến tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 15
Trang 6Bảng 3.3 Số loài và số lượng cá thế thuộc các giống của phân họ Ponerinae thuđược tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 17Bảng 3.4 Số lượng cá thế của các loài kiến phố biến trong tống số lượng cá thếkiến thu được tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 18Bảng 3.5 Số lượng cá thế loài thu được ở các sinh cảnh nghiên cứu của 6 loàikiến phổ biến 19Bảng 3.6 Sự đa dạng của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae tại Trạm đadạng sinh học Mê Linh 22Bảng 3.7 Số lượng loài kiến của các giống thuộc phân họ Ponerinae bắt gặp tạibốn sinh cảnh nghiên cún 24Bảng 3.8 Số cá thế kiến thuộc phân họ Ponerinae theo các ngày thu 26Bảng 3.9 Số loài kiến thuộc phân họ Ponerinae của các mùa trong năm 28
DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Độ ưu thế của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae thu được tại
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 19Hình 3.2 Số lượng cá thể kiến thuộc phân họ Ponerinae thu được ở các sinh
cảnh khác nhau của 6 loài kiến phố biến 20Hình 3.3 Tương quan giữa số lượng các loài kiến theo số cá thế thu được 23 25Hình 3.4 Sự phân bố của các loài kiến trong các giống tại 4 sinh cảnh nghiên
cứu 25Hình 3.5 Sự biến động số cá thế kiến thuộc phân họ Ponerinaetheo các ngày
Trang 7Kiến được xem là vật chỉ thị sinh học lý tưởng đế đánh giá sự đa dạng sinh học
và kiểm soát môi trường Kiến được biết đến như một kỹ sư của hệ sinh thái Ngoài ra,kiến còn được sử dụng trong phòng trù’ sinh học một số loài sâu hại cho nông nghiệp
Ớ Việt Nam, mới chỉ có một số tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
về các loài kiến họ Formicidae, trong khi tiềm năng nghiên cứu về nhóm này ở ViệtNam là rất lớn
Nghiên cứu của Bùi Tuấn Việt và các cộng sự (năm 2005) đã thống kê được 151loài thuộc 50 giống và 11 phân họ tại Vưòn quốc gia (VQG) Tam Đảo, trong đó có 28loài và 9 giống thuộc phân họ Ponerinae [10]
Ponerinae là một phân họ hoạt động chủ yếu trên mặt đất và trong lóp hữu cơ củanhững tầng lá rụng trên mặt đất Nhóm này chuyên tìm bắt các động vật chân đốtkhác, do đó chúng có vai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái Bên cạnh đó,trong quá trình xây dựng tố, chúng mang các vật chất hữu cơ xuống lòng đất Hoạtđộng sống của phân họ này làm thay đổi tính chất vật lí, hóa học của đất, đồng thờilàm tăng độ phì nhiêu của đất Tuy nhiên, mới chỉ có nghiên cứu về thành phần cácloài kiến được thực hiện tại VQG Tam Đảo, mà chưa có nghiên cún nào về sự đa dạng
Trang 8và biến động số lượng cá thế của phân họ Ponerinae vào các mùa trong năm ở VQGTam Đảo và vùng đệm là Trạm đa dạng sinh học Mê Linh.
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (21°23’57” 21°25’15” vĩ độ Bắc, 105°42’40” 105°46’65” kinh độ Đông) là vùng đệm của VQG Tam Đảo
-Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (-Trạm) có diện tích 170,3 ha trong đó chiều dàikhoảng 3.000 m, chiều rộng trung bình khoảng 550 m (chỗ rộng nhất khoảng 800 m,chỗ hẹp nhất khoảng 300 m) Trạm có địa hình đồi và núi thấp với xu hướng thấp dần
từ Bắc xuống Nam Tuy có diện tích không lớn nhung Trạm có hệ động, thực vật rấtphong phú Tại đây, đã xác định được 59 loài động vật có xương sống: 13 loài thú , 14loài bò sát và 13 loài ếch nhái Trong khu bảo tồn bán tự nhiên của Trạm, hiện vẫn cóthế bắt gặp nhiều loài động vật như hươu, lợn rừng, cầy, sóc, dúi, rắn, Đặc biệt,Trạm sở hữu 1 bộ sưu tập đáng chú ý nhất - bộ sun tập rùa hiện có 11 loài rùa với trên
80 cá thế Tại Trạm, có khoảng 1.200 loài cây tự nhiên và nhân tạo Hệ thực vật đượcchia thành các bộ, gồm thực vật trên núi đất, thực vật trên núi đá, thực vật hạt trần, bộtre nứa, thực vật ưa ấm, thực vật thủy sinh, Hơn nừa, Trạm có trên 30 loài với 300mẫu lan khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về côn trùng ở Trạm còn rất ít, đặc biệt lànhững nghiên cứu về sự đa dạng của các côn trùng xã hội nói chung và các loài kiếnnói riêng
Xuất phát từ những lí do trên, và đế có một cái nhìn tống quát hơn về sự đa dạng
của các loài kiến tại VQG Tam Đảo và vùng đệm, đề tài “ N g h i ê n c ứ u v ề thành
phần và sự biến động số lượng của các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae
(Hymenoptera: F'ormicidae) theo các mùa trong năm tại Trạm đa d ạ n g s i n h
h ọ c M ê L i n h - V ĩ n h P h ú c 9 9 được lựa chọn
Trang 9- Đưa ra thành phần các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae tại Trạm đa dạng sinhhọc Mê Linh.
- Biến động số lượng các loài kiến thuộc phân họ này theo các mùa trong năm tạiTrạm đa dạng sinh học Mê Linh
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về đa dạngthành phần các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
và xác định những mùa trong năm mà phân họ này phát triến với số lượng lớn nhất
- Ý nghĩa thực tiễn: Đe xuất nhừng giải pháp bảo tồn sự đa dạng của các loàikiến thuộc phân họ này
4 Điểm mới
Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự đa dạng thành phần loài và biến động số lượngcủa các loài kiến thuộc phân họ Ponerỉnae theo các mùa trong năm tại Trạm đa dạngsinh học Mê Linh
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về kiến
Tên khoa học: Formicidae Tên tiếng Anh: Ant Tên Việt Nam: Kiến
Trang 10Hình 1 Loài Emeryopone buttelreepenỉ Forel, 1912
(Nguồn: Nguyễn Đắc Đại)
Cơ thế kiến được chia thành 3 phần: phần đầu, phần ngực và phần bụng.Phần ngực nối với phần bụng bởi đốt eo
Phần đầu có hai râu (gồm gốc râu, cuống râu, đốt chuyến, đốt roi và chùyrâu), mắt kép và miệng Kiến dùng hai râu đế định hướng, ngửi mùi trong khôngkhí, tìm thức ăn và nhận biết đồng loại Kiến có hai mắt, mắt kiến thuộc về đatròng, tức là có nhiều tròng trong mắt nên chúng chỉ nhìn thấy được một phần củavật thế trong mỗi tròng mắt Tập họp các điểm ảnh ở mỗi tròng mắt tạo nên vậtthế hoàn chỉnh Miệng kiến có hai hàm, hàm ngoài và hàm trong Hàm ngoài lớnhon hàm trong, dùng để tha thức ăn, tráng hoặc ấu trùng Hàm trong của
kiến có hàng lông rất nhỏ mà công dụng như chiếc lược đế lau chùi hai râu
Trang 11Phần ngực gồm 3 đốt ngực (đốt ngực trước, đốt ngực giữa, đốt ngực sau) và
3 đôi chân (chân gồm có đốt háng, đốt đùi, đốt ống, gai ống chân, bàn chân và gaibàn chân) Mỗi chân được chia ra làm 9 khúc nối nhau bởi những khuỷu chân Mỗibàn chân của kiến đều có hai cái móc Nhờ vào hai cái móc này mà kiến có thể bám,
di chuyển trên cây và các bề mặt Kiến cũng dùng các móc này đế bới đất và đàocác đường hầm dưới đất Cặp chân trước cũng có cái lược giống như hàm trongdùng đế lau chùi những cặp chân khác và đôi râu
Phần cuối của phần bụng có ngòi đốt
Kiến là nhóm côn trùng có tập tính xã hội cao và sống thành đàn với số lượnglớn (dao động khoảng 1.000 - 20.000.000 cá thể trong một đàn) Thông thường trong
xã hội kiến, có thế phân biệt 5 dạng đắng cấp xã hội chính như sau: Kiến chúa sốngtrong phòng chúa giữa tố, là những cá thể cái có nhiệm vụ đẻ trứng trong suốt đờisống của mình Kiến chúa có phần ngực và đôi cánh phát triển Mổi tố kiến có tù’ mộtđến nhiều con kiến chúa Sau khi bay giao hoan và phân đàn, kiến chúa rụng cánh,phần ngực và các đôi chân cũng suy kiệt và trở nên yếu ớt Lúc này chỉ có các cơ quanchức năng phục vụ sinh sản ở kiến chúa phát triên
Kiến đực, là các cá thể có phần ngực, cánh và cơ quan sinh dục đực phát
triển
Kiến thợ chiếm số lượng chủ yếu của đàn Cơ thể kiến thợ có cấu trúc thích ứngvới tập tính sống linh hoạt lao động và đi lại nhiều Do đó, kiến thợ có nhiệm vụ chămsóc kiến chúa, vận chuyển và bảo vệ trứng, tìm kiếm thức ăn, đào đất xây tổ, canh giáctố, Tất cả nhũng con kiến thợ này là những kiến cái không có khả năng sinh sản (cơquan sinh dục tiêu giảm) Hệ cơ quan cảm giác của chúng phát triển Các con kiến
Trang 12trong từng tố trao đối với nhau bằng “ thông tin hóa học - pheromon” còn các con kiếntrong mỗi tố phân biệt với các con cùng loài khác tố bằng mùi.
Kiến lính, là loại to nhất và có bộ hàm lớn nhất, chúng có nhiệm vụ bảo vệ tốchống lại kẻ thù và bảo vệ kiến thợ đi trên đường
Một số dạng kiến trung gian cá thế đực, khi cần thiết có thể biến đổi thành conđực, có chức năng giao phối đế bảo toàn và phát triến xã hội tố tiên Dạng trung gianthứ hai là những kiến thợ cá thế cái, có thể chuyển thành kiến chúa đế sinh sản
Kiến là họ côn trùng ăn tạp Chúng tìm mồi ở khắp mọi nơi, đôi khi còn lấy củacác tố khác Và việc vận chuyến thức ăn của chúng tương đối thuận lợi vì chúng cótính tập thế cao, chúng cùng nhau chuyến thức ăn về tố theo hàng lối nghiêm chỉnh.Ponerinae là một phân họ của loài kiến thuộc họ Formicidae Trên thế giới cókhoảng 2.347 loài thuộc 48 giống của phân họ Ponerinae đã được ghi nhận [21] Cácloài kiến thuộc phân họ Ponerinae mang đầy đủ những đặc điếm chung của kiến nhưsống theo đàn có số lượng lớn, sự phân chia đẳng cấp trong đàn, tập tính giao phối, Nhưng bên cạnh đó, chúng cũng mang nhũng đặc điếm riêng Phân họ Ponerinae sốngchủ yếu ở dưới đất gồm các loài chuyên bắt mồi như các động vật chân đốt khác, đặcbiệt là những loài sâu hại cây trồng Do đó, chúng có ý nghĩa hết sức quan trọng trongviệc cân bằng sinh thái cũng như bảo vệ cây trồng trong nông nghiệp
1.2 Tình hình nghiên cứu phân họ Ponerinae trên thế giói
Năm 2007, Yoshimura and Fisher đã xác định được 7 giống (giống
A n o c h e t u s , giống H y p o p o n e r a , giống L e p t o g e n ỵ s , giống
O d o n t o m a c h u s , giống P a c h y c o n d y l a , giống P l a t y t h y r e a và giống
P o n e r a ) thuộc phân họ Ponerinae ở vùng Malagasy [20].
Trang 13General and Alpert (2012) đã xác định được 11 phân họ, 92 giống tạiPhilippines, trong đó có 14 giống thuộc phân họ Ponerinae [15].
Tại Ấn Độ, Bharti and Wachkoo (2013), đã thống kê được 216 loài thuộc giống
L e p t o g e n ỵ s của phân họ Ponerinae, đồng thời ghi nhận được 2 loài mới là
Leptogenys transỉtỉonỉs và Leptogenys lattkeỉ [6].
Năm 2014, Rakotonirina and Fisher đã xác định được 60 loài thuộc giống
L e p t o g e n y s trong phân họ Ponerinae tại Malagasy [14].
1.3 Tình hình nghiên cứu phân họ Ponerinae trong nước
Ớ Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ kiến được tiến hành từ những nămđầu thế kỷ 21 do một số tác giả trong và ngoài nước thực hiện (Yamane, 2002; Eguchi,Bui & Yamane, 2008; Le, 2010; Eguchi, 2011; Bui, Eguchi & Yamane, 2013), đã pháthiện được 344 loài kiến thuộc 10 phân họ trong đó xác định được 46 loài kiến thuộc
11 giống của phân họ Ponerinae trên lãnh thố Việt Nam [8, 9, 12, 13, 18, 19]
Bùi Tuấn Việt (2003) đã xác định được 160 loài thuộc 50 giống và 8 phân họ tạiVườn Quốc gia Cúc Phương trong đó phân họ Ponerinae có 42 loài thuộc 14 giống;
120 loài thuộc 42 giống trong 8 phân họ tại rừng Hương Son, Hà Tĩnh trong đó phân
họ Ponerinae có 27 loài thuộc 12 giống; tại Sa Pa đã xác định được 87 loài thuộc 33giống trong đó có 24 loài, 10 giống thuộc phân họ Ponerinae; tại Vườn Quốc gia TamĐảo đã ghi nhận được 85 loài thuộc 38 giống trong đó có 21 loài, 11 giống thuộc phân
họ Ponerinae
Đã ghi nhận được 118 loài kiến thuộc 43 giống ở rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh trong đó có 26 loài, 11 giống thuộc phân họ Ponerinae; 159 loài, 49 giống ở VQG Cúc Phương, trong đó có 42 loài, 13 giống thuộc phân họ Ponerinae (Bui Tuan Viet, 2005) [3]
Trang 14Năm 2005, Bùi Tấn Việt và nnk đã ghi nhận được 151 loài kiến thuộc 46 giốngtại VQG Ba Vì trong đó có 29 loài, 9 giống thuộc phân họ Ponerinae; xác định được
151 loài kiến thuộc 50 giống tại VQG Tam Đảo, trong đó có 28 loài, 9 giống thuộcphân họ Ponerinae [11]
Bùi Thanh Vân và nnk (2010) đã xác định 50 loài kiến thuộc 31 giống và 5phân họ tại VQG Ba Vì, Hà Nội, trong đó phân họ Ponerinae chiếm 14 loài thuộc 8giống [1]
CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae, họFormicidae, bộ Hymenoptera, lóp Insecta phân bố ở 4 sinh cảnh: sinh cảnh rừng kínthường xanh mưa mùa nhiệt đới (rừng cây lá rộng, rừng nứa xen cây gỗ), rừng thưathường xanh mưa mùa nhiệt đới (rừng cây lá rộng, rừng nứa xen cây gỗ và rừnggiang), rừng trồng dưới tán cây keo và rừng keo tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
2.2 Thòi gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2015
2.3 Địa điêm nghiên cứu
Địa điểm: Đe tài được thực hiện tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Bốn sinh cảnh được chọn để nghiên cún:
+ Sinh cảnh rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới (rừng cây lá rộng và rừngnứa xen cây gỗ)
+ Sinh cảnh rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới (rừng cây lá rộng, rừngnứa xen cây gỗ và rừng giang)
Trang 15+ Sinh cảnh rừng trồng dưới tán cây keo +
Sinh cảnh rừng keo
2.4 Nội dung nghiên cún
-Xác định thành phần loài của phân họ Ponerinae ở Trạm đa dạng sinh học MêLinh và so sánh thành phần loài giữa các sinh cảnh khác nhau
- Xác định các loài kiến chiếm ưu thế theo số lượng cá thề thu được
-Nhận xét về sự biến động số lượng các loài trong phân họ Ponerinae theo cácmùa trong năm
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp thu mâu ngoài thực địa
- Thời gian thu mẫu: mẫu được thu thập từ tháng 6/2012 đến tháng5/2013
- Địa điếm thu mẫu: được thực hiện ở 4 sinh cảnh là rừng kín thường xanhmưa mùa nhiệt đới, rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới, rừng trồng dưới táncây keo, ròng keo tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
- Kiến được thu thập chủ yếu bàng phương pháp bẫy hố Bầy hố được làm từcác cốc nhựa có đường kính 10 cm, chiều cao 13 cm, mỗi cốc chứa 20 ml cồn với 4%foocmon Cốc được đặt thấp hơn mặt đất khoảng 1 cm
- Sử dụng bẫy hố để điều tra định lượng Tổng số có 15 bẫy được đặt ở mỗiđiếm sinh cảnh Khoảng 10 ngày thu mẫu từ các bẫy hố một lần, đế cách 10 ngày rồilại đặt bẫy, sau 10 ngày lại thu mẫu lần tiếp theo
- Ngoài ra, các loài kiến bò trên mặt đất, dưới lớp thảm mục, trong thân câymục, dưới tán cây cao từ 1-1,5 m còn được thu thập bằng các phương pháp khác nhưbắt bằng tay, sử dụng panh và rây sàng 30x30 cm
Trang 162.5.2 Phương pháp phân tích mâu vật trong phòng thỉ nghiêm
- Mau sau khi được thu thập sẽ được tách lọc và bảo quản trong cồn 70% Sau
đó, mẫu kiến được làm khô và cắm lên bằng kim cắm côn trùng đối với mẫu vật cókích thước lớn, những mẫu vật có kích thước nhỏ được dính trên miếng bìa cứng hìnhtam giác, sau dùng kim côn trùng đế cắm
- Mỗi mẫu có 1 etiket riêng
- Mau được đế trong các hộp gỗ, lun giữ tại phòng Sinh thái côn trùng, ViệnSinh thái và Tài nguyên Sinh vật
2.5.3 Xử lí và phân tích mâu vật
Xử lí và bảo quản mẫu bằng cồn 70°
Xử lý số liệu và vẽ biếu đồ bằng phần mềm excel 2010
Các số liệu được tính toán dựa trên cơ sở sau:
* Độ ưu thế (D) của 1 loài được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể củamột loài so với tống số cá thể thu được
Trang 17ĩij: số lượng cá thế loài i N: Tổng số lượng cá thế thu được
2.5.4 Phương pháp định loại
- Việc định tên các loài kiến được dựa theo Bolton (1994), Eguchi et al.(2011), Jaitrong (2011), Yamane (2012) cùng sự giúp đờ của TS Nguyễn Thị PhươngLiên và CN Nguyễn Đắc Đại
2.6 Một vài nét khái quát về Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc
Theo tài liệu của ƯBND xã Ngọc Thanh (2004) [5] và báo cáo khoa học của
Lê Đồng Tấn (2003) [4], Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc có những đặcđiểm sau:
2.6.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
2.6.1.1 Vị trí địa lí
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của hợp tác xã ĐồngTrầm, thuộc xã Ngọc Thanh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cách thị xã Phúc Yên35km, cách hồ Đại Lải khoảng 12km về phía Bắc Khu trực trạm ở phía Bắc giáphuyện Phố Yên, tỉnh Bắc Thái, phía Đông giáp họp tác xã Đồng Trầm, xã NgọcThanh, huyện Mê Linh, phía tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyệnTam Đảo
Diện tích của Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc khoảng 170,3 ha,chiều dài khoảng 3.000m, chiều rộng từ 300-800m Độ cao từ 50-520m so với mặtnước biển
2.6.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Trạm đa dạng sinh học Mê Linh thuộc vùng bán sơn địa phía Bắchuyện Mê Linh Đây là phần kéo dài về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa
Trang 18hình đồi núi thấp với xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, điếm cao nhất thuộc đỉnhnúi Đá Trắng cao 520m Địa hình phần lớn là đất dốc (độ dốc trung bình 15-30°), cácbãi bằng rất ít, rải rác vài ba bãi nhở dọc ven suối vùng ranh giới phía Tây Đây là khuvực rừng đầu nguồn của một vài suối nhỏ chảy ra hồ Đại Lải [5].
- Khí hậu, thời tiết
+ Thuộc vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc Bộ Nhiệt độ trung bình năm
là 22 đến 23°c Tháng có nhiệt độ cao từ tháng 6 đến tháng 8 và lạnh vào tháng 12 vàtháng 1 [5]
+ Lượng mưa trung bình 1358,7mm/năm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
10, chiếm 90% lượng mưa của cả năm Mưa tập trung vào các tháng 6,7,8,9 Cao nhất
là vào tháng 8 số ngày mưa khá nhiều 142 ngày/năm Độ ấm trung bình là 84%, thấpvào tháng 2 dưới 80% [5]
+ Có 2 mùa gió thối: gió mùa Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 3 năm sau) và gióĐông Nam (tháng 4 đến tháng 9 trong năm) [5]
2.6.2 Tài nguyên động, thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh
Phúc.
- Hệ động vật: Theo kết quả điều tra năm 2003 đã xác định thành phần phânloại học của 5 lớp: thú (13 loài), chim (109 loài), bò sát (14 loài), ếch nhái (13 loài),côn trùng (25 bộ, 99 họ, 461 loài) [4]
- Hệ thực vật: Trạm đa dạng sinh học Mê Linh hiện có 166 họ thực vật với 651chi và 1129 loài Có thể nói rằng thảm thực vật nguyên sinh ở Trạm đa
dạng sinh học Mê Linh đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là các trạng thái rừng thứ sinh và rừng trồng [4]
Trang 19Trạm đa dạng sinh học Mê Linh.
3.1.1.Thành phân các loài kiến thuộc phân họ Ponerỉnae
Trong tống số 3440 cá thế kiến của phân họ Ponerinae thu được tại các điểm
nghiên cứu, tôi đã xác định được 17 loài kiến thuộc 8 giống (bảng 3.1) Bảng 3.1
Thành phần và số lượng các loài kiến thuộc phân họ Ponerinae thu được ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Số lượng cá thể kiên thu được ở Tổng các sinh
thường thường dưới
Rừngkeo
Tỷ lệ cáthể củamột loàitrên tông
sô các loàikiến (%)Tên loài
STT
Trang 21lượng cá thế ít nhất với 215 cá thế.
Bảng 3.2 Chỉ số đa dạng loài của kiến tại Trạm đa dạng sinh học
Mê Linh
Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt
Sự khác biệt về mức độ đa dạng ở các sinh cảnh nghiên cứu có thế do một sốnguyên nhân sau:
Rừng trồng dưới tán cây keo có thế bị con người tác động mạnh mẽ làm thayđối tính chất lí, hóa của môi trường, đặc biệt là môi trường đất theo chiều hướng xấu,nguồn thức ăn, nơi sống bị hạn chế Từ đó, sự đa dạng loài kiến ở sinh cảnh này thấphơn so với các sinh cảnh khác
Phần lớn các loài kiến là sinh vật ăn thịt, vì vậy sự tồn tại của chúng trong sinhcảnh nào đó sẽ phụ thuộc vào nguồn thức ăn của chúng trong sinh cảnh đó Trong