... xanh cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 3.1.1 Thành phần loài Ve giáp đất trồng súp lơ xanh cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố. .. thành phẩn loài ve giáp (Acari Oribatida) đất trồng súp lơ xanh làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Biến động số lượng đặc điểm phân bố Oribatida đất trồng súp lơ xanh. .. giáp đất trồng cầy súp lơ xanh cánh đồng làng Trung Hậu , xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Bảng 3.2 Thành phần phân loại học Ve giáp đất trồng súp lơ xanh tạ cánh đồng làng Trung Hậu,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ LỆ
NGHIÊN CỨU Sự BIỂN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC Bộ ORIBATIDA (ACARI:
ORIBATIDA) Ở ĐẤT TRÒNG CÂY SÚP Lơ XANH TẠI CÁNH
ĐÒNG LÀNG TRUNG HẬU,
XÃ TIÈN PHONG, HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • • Chuyên ngành: Sinh thái học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ THƯ ANH TS ĐÀO DUY TRINH
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của thầy
cô, gia đình, bạn bè.Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới:
Các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2 những người đã trực tiếp giảng dạy,truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu này
Ban lãnh đạo, các thầy cô, cán bộ trong tổ Động vật học, khoa Sinh - KTNN đã tạo điều kiện thuận lợi
đế tôi học tập và hoàn thành việc nghiên cứu của mình
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Anh, TS Đào Duy Trinh ngườitrực tiếp hướng dẫn tận tình chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Cuối cùng, tôi xin chân thànhcảm ơn tất cả những người thân, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ để tôi hoàn thành báo cáonghiên cứu này
Hà Nội, tháng 04 năm 2015 Sinh viên
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Lệ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản
thân dưới sự hướng dẫn tận tình của TS.N GUYỄN THỊ THU ANH, TS ĐÀO DUY TRINH.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
Hà Nội, tháng 4 năm 2015 Sinh viên
Nguyễn Thị Lệ
MỤC LỤC
MỞ ĐÀU 1
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tổng quan về đối tượng nghiên cún 3
Trang 4Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.2.Tình hình nghiên cún ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giói 3
1.3.Tình hình nghiên cún ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIẺM VÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8 2.1.Đối tượng nghiên cún 8
2.2.Thòi gian nghiên cún 8
2.3.Địa điểm nghiên cún 8
2.4.Phương pháp nghiên cún 9
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 9 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 9 2.4.3 Xử lý số liệu 10 2.5.Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cún 12
2.5.7 Vị trí địa lý, địa hình 12
2.5.2 Khí hậu, thủy văn 12 CHƯƠNG 3 KÉT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 13
3.1.Thành phần loài Ve giáp ử đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 13
3.1.1 Thành phần loài Ve giáp ở đất trồng cây súp lơ xanh tại cảnh đòng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 13
3.1.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trổng cây súp ỉơxanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 16
3.2 Biến động số lượng loài và số cá thễ của Oribatida ở đất theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển cây súp lơ xanh 18
3.3 Các loài Oribatida ưu thế ở đất trồng súp lơ xanh cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh,thành phố Hà Nội 19
3.4 Một số chỉ số định lượng của ve gỉápở đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 21
Trang 5Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
3.4.1 So lượng cá thể 25
3.4.2 So lượng loài 25
3.4.3 Chỉ số đa dạng loài H’ 25
3.4.4 Chỉ số đồng đều J’ 26
KÉT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT KÍ HIỆU VIẾT TẮT AI Độ sâu đất từ 0 - 1 Ocm A2 Độ sâu đất từ 10 - 20cm H’ Chỉ số đa dạng Shannon-Weaver J’ Chỉ số đồng đều Pilou DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Thời gian, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cứu 8
Bảng 3.1 Danh sách thành phần họ, giống, loài Ve giáp ở đất trồng cây súp lơ xanh tại làng Trung Hậu, Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội 13
Bảng 3.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trồng cây súp lơ xanh tạicánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 16
Bảng 3.3 Phân bố số lượng loài và cá thể Oribatida ở đất theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển cây súp lơ xanh 18
Bảng 3.4 Các loài Oribatida ưu thế ở đất trồng súp lơ xanh tạicánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 20
Bảng 3.5 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng đất ở các sinh cảnh ở đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu,xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội22
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cấu trúc loài ưu thế của Oribatidaở đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh,thành phố Hà Nội
21
Hình 3.2 Chỉ số đa dạng loài H’ của quần xã Oribatida theo tầng đất ở các sinh cảnh ở đất trồng cây súp
lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền
Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 26
Hình 3.3 Chỉ số đồng đều loài J’ của quần xã Oribatida theo tầng đất ở các sinh cảnh ở đất trồng cây súp
lơ xanh tại cánh đồnglàng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 27
MỎ ĐÀU
1 Lí do chọn đề tài
Súp lơ xanh (Brassỉca oleracea) từ lâu đã được coi là siêu thực phẩm đối với sức khỏe con người Nó
là nguồn thực phẩm giàu sắt, protein, canxin, crom, vitamin A, vitamin c Nhiều nghiên cứu trên thế giới đãchứng minh súp lơ xanh ngoài vai trò thực phẩm còn có rất nhiều ứng dụng trong y học (như ngăn ngừa thiếumáu; cải thiện hệ thống miễn dịch; chống lại quá trình lão hóa, )
Súp lơ xanh đã trở thành thực phấm gần gũi và không thể thiếu đối với người dân Việt Nam Cây súp
lơ xanh được trồng phổ biến và rộng rãi ở nhiều địa phương trên cả nước Vì thế cây súp lơ xanh trở thànhmột trong những đối tượng để chúng tôi quan tâm và nghiên cứu
Thế giới sinh vật trong đất rất đa dạng và phong phú Chúng đóng vai trò quan trọng trong các quátrình khoáng hóa, mùn hóa, giúp đất được tơi xốp và giàu dinh dưỡng, tạo điều kiện cho thực vật nói chung,cây trồng nói riêng sinh trưởng và phát triến Trong số các nhóm sinh vật sống trong đất, phải kể đến quần xã
ve giáp (Oribatida) - một trong những nhóm chiếm ưu thế về mặt số lượng so với các nhóm khác
Nghiên cứu sự biến động thành phần số lượng quần xã Oribatida sẽ góp phần cơ sở cho việc quản lí vàkhai thác bền vững nguồn tài nguyên môi trường đất
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari: Oribatida) ở đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong,huyện Mê Lỉnh,thành phố Hà Nội
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
2 Mục đích nghiên cún
Nghiên cứu thành phần và biến động số lượng quần xã Oribatida ở đất trồng súp lơ xanh làng TrungHậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
3 Nội dung nghiên cún
Xác định thành phẩn loài ve giáp (Acari Oribatida) ở đất trồng súp lơ xanh làng Trung Hậu, xã TiềnPhong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Biến động số lượng và đặc điểm phân bố của Oribatida ở đất trồng cây súp lơ xanh làng Trung Hậu, xãTiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Xác định các loài Oribatida ưu thế ở đất trồng súp lơ xanh và khảo sát một số chỉ số định lượng cấutrúc quần xã Oribatida
Phân tích sự thay đổi giá trị các chỉ số định lượng như: số lượng loài, cấu trúc thành phần, đa dạngthành phần loài, chỉ số đa dạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’)
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
Bộ Ve giáp (Acari : Oribatida) bao gồm những nhóm ve bét đa dạng và phong phú nhất ngoài tự nhiên,chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và thực vật, trên thân hay dưới vỏ cây gỗ, trên vỏ cây, và dưới táncây
Hệ thống phân loại Oribatida, cùng các quan hệ tiến hóa của chúng với các nhóm ve bét khác được xâydựng và xắp xếp theo hệ thống phân loại của các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960;Ghilarov et al., 1975; Balogh J., Balogh J et al., 1988; 1992 - đây là những chuyên gia nghiên cứu hệ thốnghọc Oribatida được chấp nhận trên thế giới Các nghiên cứu ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 60 vàđược các tác giả nước ngoài thực hiện và được mở rộng từ những năm 80 của thế kỉ trước Trên cơ sở đó đãhình thành một bộ sưu tập khá phong phú mẫu Oribatida, mà một phần trong đó đã được phân tích tại một số
cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của Việt Nam và quốc tế (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5]
1.2 Tình hình nghiên cún ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Vào những năm 40 - 50 của thế kỉ XX, bộ môn khoa học sinh học mới, khoa học sinh thái đất đượchình thành như một chuyên ngành khoa học riêng Sinh thái đất là bộ môn khoa học nghiên cứu các nhómsinh vật đất cùng với các hoạt động sống của chúng, liên quan chặt chẽ với môi trường sống Chính hoạt động
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
sống của các nhóm động vật đất quyết định độ sâu của tầng đất, độ phì, chất khoáng trong đất ảnh hưởng đến
độ thấm của đất và sự thoáng khí của đất Có vai trò quan trọng trong các quá trình sinh học của đất hoànthành chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên
Chân khớp bé (Microarthropoda) với 2 đại diện chủ yếu là: Ve bét và Bọ nhảy cũng như các nhómđộng vật đất được biết từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm, nhưng các hoạt động nghiên cứu con lẻ tẻ.Trongkhoảng mấy chục năm năm gần đây, hoạt động nghiên cứu Oribatida diễn ra mạnh mẽ và nhiều kết quả đượccông bố
Hệ thống phân loại Oribatida, cùng các quan hệ tiến hóa của chúng với các nhóm Ve bét khác đượcxây dựng và xắp xếp theo hệ thống phân loại của các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick,
1960; Ghilarov et aL, 1975; Balogh J, Balogh J et al, 1988, 1992 Đây là những chuyên gia nghiên cứu hệ
thống học Oribatida được chấp nhận trên thế giới
Nghiên cứu về Oribatida ở Nga phát triển mạnh mẽ từ những năm 50 của thế kỉ 20 cho đến nay, đã ghinhận được 300 loài Oribatida ở tất cả các hệ sinh thái Riêng hệ sinh thái Oribatida sống trên cây, cũng đượcquan tâm, từ cách đây mấy chục năm ( Ermilov S.G., et al 2007) [15]
Năm 2004, Karasawa đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida ở đất treo và các nhân tố hữu sinh, vôsinh lên sự đa dạng của chúng Theo tác giả, Oribatida là một trong những nhóm chân khớp chiếm ưu thế về
số lượng trong đất treo Từ sinh cảnh này, thu được không ít hơn 50 loài Độ đa dạng loài Oribatida ở đất treo
có thế thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng (Karasawa, 2004) [16]
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng với kết quả nghiên cứu của riêng mình.Schatz, 2006 một chuyên gia Oribatida người Thụy Sĩ đã công bố và tổng hợp bản danh lục các loài Oribatida
đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm 543 loài Oribatida thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê
số lượng Oribatida đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cuba (225loài), Antilles (387 loài), Jamaica (28 loài) Hiện tại có 498 loài Oribatida đã được ghi nhận (gồm 300 loài
đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng sp., cf )
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ thị trong việc đánh giá chấtlượng hệ sinh thái trên cạn ở chỗ: chúng có độ đa dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ởtất cả các mùa trong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối dễ; hầu hếtchúng sống trong tầng hữu cơ của lóp đất màu mõ' và chúng là nhóm dinh dưỡng không đồng nhất Chúng
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởngthành dài, khả năng tăng quần thể chậm (Behan - Pelletire, 1999) [12]
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách
hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị Ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về nhóm nàyđang được quan tâm và phát triến
1.3 Tình hình nghiên cún ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam
Động vật chân khớp bé ở Việt Nam đã được bước đầu nghiên cứu từ nhũng năm 30 của thế kỉ XX, banđầu chỉ là những nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài khi kết hợp với các nhóm sinh vật khác,sau nàyđược nghiên cứu rộng hơn ở nhiều sinh cảnh khác nhau của các nhóm tác giả trong nước Nhiều kết quảnghiên cứu về Ve bét, Bọ nhảy được công bố ở một số hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế
Trước năm 1975,các công trình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam còn chưa được chuyên sâu và đồng
bộ Hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka s lần đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu khu hệ, danhpháp đặc điểm phân bố của 33 loài Oribatida trong công trình “New oribatids from Viet Nam” năm 1967.Trong đó mô tả 29 loài và 4 giống mới [13]
Các nghiên cứu ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 60 và được các tác giả nước ngoài thực hiện
và được mở rộng từ những năm 80 của thế kỉ trước Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phongphú mẫu Oribatida, mà một phần trong đó đã được phân tích tại một số cơ quan nghiên cứu chuyên ngànhcủa Việt Nam và quốc tế (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5]
Từ sau 1975, các tác giả trong nước bắt đầu có các nghiên cứu độc lập về Oribatida Đầu tiên là côngtrình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh (1980) về thành phần, phân bố và số lượng của các nhómMicroarthropoda ở một số kiểu hệ sinh thái đồng bằng sông Hồng và rừng nhiệt đới Trong công trình này,tác giả cũng đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố tự nhiên chính đã ảnh hưởng tới sự phân bố và
sự biến động số lượng của hai nhóm Acari và Collembola ở đất [1]
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của
11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam và 1 loài mới cho khoa học [2]
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm Chânkhớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý của vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Ket quả cho thấy ảnhhưởng của thời tiết lên lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện được 8 họ [4]
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Theo Vũ Quang Mạnh (2007) hệ thống phân loại và chủng loại phát sinh của Ghilarov và Krivolutsky(1975), Ve giáp (Oribatei Duge’, 1833) là một nhóm), nằm trong bộ Ve bét thực (Acarifomes), phân lớp Vebét (Acari), của lóp chân khớp hình nhện (Arachnida)
Năm 2008, các tác giả Vũ Quang Mạnh và cộng sự Đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Chân khóp bétrong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điếm của thảm cây trồng
ở vùng đồng bằng sông Hồng, trong các báo cáo tại hội nghị Techmart tại Tây Nguyên vào tháng 4/2008, cáctác giả: Vũ Quang Mạnh và cộng sự Đã trình bày về vai trò của động vật đất, trong đó có Oribatida là yếu tốchỉ thị cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất [6]
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Năm 2010, các tác giả Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang Mạnh đãđưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điếm phân bố và địa động vật khu hệOribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Ghi nhận được 103 loài thuộc 48giống, 28 họ, số loài giảm dần theo độ cao và theo thứ tự: rừng tự nhiên —> trảng cỏcây bụi —> rừng nhân tác —► đất canh tác —> vườn quanh nhà Đặc điếm phân bố
và địa động vật khu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn thể hiện rõ yếu tố Ấn
Độ - Mã Lai [7]
Năm 2012, các tác giả Đào Duy Trinh,Trần Thị Ngà, Hoàng Thị Hiền,Nguyễn Thị Thảo, Hà Trọng Hiến đã nghiên cứu sự tương đồng thành phần loài Vegiáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Tân Trường - Hải Dương và phụ cậnnhằm giúp xác định những loài gần gũi nhau và có những loài chỉ xuất hiện ở mộtsinh cảnh.Từ đó giải thích nguyên nhân, ảnh hưởng tại sao phải dựa vào nhiều yếu tốsinh thái học của khu vực nghiên cứu [9]
Năm 2012, các tác giả Đào Duy Trinh, Vũ Quang Mạnh đã nghiên cứu cấutrúc quàn xã Oribatida theo mùa ở hệ sinh thái đất rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn,Phú Thọ số loài giảm đi theo (mùa từ ) mùa khô đến mùa mưa thể hiện rõ nhất ởsinh cảnh rừng tự nhiên [10]
Nhận thấy trong các công trình nghiên cứu về loài Ve giáp (Acari: Oribatida)chủ yếu tập trung trên hệ sinh thái rừng, các vườn quốc gia Chưa có nhiều nghiêncứu thực hiện trên đất nông nghiệp, việc nghiên cứu Oribatida trên hệ sinh thái nôngnghiệp là cần thiết
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 2.1 Đối tưọng nghiên cún
Các loài Oribatida (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda),phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lóp
Ve bét (Acari)
2.2 Thòi gian nghiên cún
Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2014 đến thằng 5/2015 Thu mẫu làm 5 đợt.Tống số mẫu là 50 mẫu
Mầu thu từ thực địa được đưa về phòng thí nghiệm Động vật học trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 để xử lý
2.3 Địa điểm nghiên cún
Chúng tôi tiến hành lấy mẫu thực địa ở đất trồng súp lơ xanh tại xã TiềnPhong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, với 5 đợt lấy mẫu
Thời gian, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cứu trình bày ởbảng 2.1
Bảng 2.1 Thòi gian, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cún
AI tầng đất có độ sâu từ O-lO(cm)A2 tầng đất có độ sâu từ 10-20(cm)
1 10 ngày sau gieo hạt, cây có 4-5 lá 5 5
2 20 ngày sau gieo hạt, lúc cây sinh trưởng sinh
dưỡng
3 30 ngày sau gieo, cây xuât hiện lá nõn 5 5
4 40 ngày sau gieo, cây băt đâu có hoa 5 5
5 50 ngày sau gieo, khichuân bị thu hoạch 5 5
rri A
50 Ghi chú:
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứĩi ngoài thực địa
Khi ra ngoài thực địa thu mẫu định lượng theo phương pháp của Ghilarow,1975
Cách lấy chia làm hai tầng từ 0 - 10(cm) và từ 10 - 20(cm) Kích thước củamỗi mẫu là (5x5x10)cm Diện tích bề mặt tương ứng là 25cm2
Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng tại mỗi sinhcảnh nghiên cứu Mỗi mẫu được cho vào túi nilon, bên ngoài có nhãn ghi rõ: ngàytháng lấy mẫu, địa điểm, khu vực lấy mẫu, kí hiệu mẫu sau đó buộc chặt lại và bỏvào thùng vận chuyển
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mầu sau khi lấy ở thực địa được đưa về phòng thí nghiệm động vật học củatrường để xử lý Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp bé theo phươngpháp phễu lọc “Berlese - Tullgren” Nguyên lý chung của phương pháp là dựa vàotập tính hướng sáng âm và chui sâu xuống đất của oribatida khi các lớp đất trên bịkhô dần [3]
Chúng tôi sử dụng rây lọc tròn, có kích thước mắt lưới 2 - 3mm và phiễu lọcbằng thủy tinh có đường kính 20cm Các mẫu đất được bẻ nhỏ, rải đều lên rây lọc,sau đó đặt rây lọc chứa mẫu đất vào phễu lọc đặt trên giá, ở miệng phiễu có ống thuđựng dung dịch formo 14%
Mầu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm25°c - 30°c, 7 ngày đêm[3] rồi tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được lọc Dùng nút bông bịt kínống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm của cùng một tầng tại một địa điếmlại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có chứa dung dịch íòrmon 4% để giữ mẫukhông bị hỏng
* Xử lý, phân tích Oribatida
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống nghiệmlên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đen lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa Petri và tiến hànhphân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim phân tích nhặttừng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa Petri, nhận dạng và ghi số liệutừng nhóm vào sổ bảo tàng Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Nguyễn ThịThu Anh, TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ có chứadung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh, tầng đất rồinút lại bằng bông không thấm nước Đe giữ mẫu được lâu và không bị giòn, nát cần
bổ sung vài giọt dung dịch định hình Glyxerin
* Định loại Oribatida
Trước khi định loại cần phải tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng Quá trình nàydiễn ra trong vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kínhlõm.Đưa lam kính lõm quan sát dưới kính hiến vi Dùng kim chuyển từng Oribatidavào chỗ lõm dưới lamen để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng vàngược lại
Sau khi quan sát, định loại xong, tất cả Oribatida đã được định tên cùng sinhcảnh được chuyến vào ống nghiệm (5 X 40)mm có chứa dung dịch íormon 4%, nútchặt bằng bông để bảo quản lâu dài
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều được
TS Nguyễn Thị Thu Anh, TS Đào Duy Trinh kiểm định lại
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
D: độ ưu thế
na: số lượng cá thể của loài an: tống số cá thế của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa điếm Theo Ermilov và Chistyakov, 2007: loài Oribatida ưu thế là những loài có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên
- Độ đa dạng loài (H’) hay chỉ số (H’) Shannon- Weaver: được sử dụng đểtính đa dạng loài hay số lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú
cá thế của các loài trong quần xã
n.
H =-Y-Mn-^ ii n n
Trong đó: s: số lượng loài
rijiso lượng cá thể của loài thứ i n: tổng số lượng cá thể trong sinhcảnh nghiên cứu Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến co Chỉ số đa dạng của quần
xã phụ thuộc vào 2 yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phú của cácloài trong quần xã Một khu vực có số lượng loài hoặc số cá thể nhiều chưa hẳn nơi
đó có tính đa dạng cao Chỉ số đa dạng, ở một khía cạnh nào đó cho biết tính đa dạngcủa một quần xã và là một chỉ tiêu có thế đánh giá được tính đa dạng về khu hệđộng, thực vật của một khu vực [3]
- Độ đồng đều (J’) hay chỉ số Pielou
Trong đó: H’: độ đa dạng loài
S: số loài có trong sinh cảnh
2.5 Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cún
2.5.1. Vị trí địa lý, đìa hình
Huyện Mê Linh nằm ở phía tây bắc thành phố Hà Nội, cách trung tâm HàNội khoảng 25km, phía Bắc giới hạn bởi sông Cà Lồ, giáp huyện Bình Xuyên, thị xãPhúc Yên của tỉnh Vĩnh Phúc, phía Nam giới hạn bởi sông Hồng, giáp huyện Đan
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phượng, phía Tây giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; phía Đông giáp huyện SócSơn, Đông Anh
Mê Linh là một huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, địa hìnhtương đối bằng phang, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam theo hướng ra sôngHồng Với tổng diện tích tự nhiên 14.251 ha (nguồn www.vinhphuc.gov.vn)
2.5.2. Khí hậu, thủy văn
Huyện Mê Linh có hình thái khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độtrung bình năm khoảng 23°c - 25°c, dao động nhiệt độ trong năm của Mê Linh từ 12
- 35 độ c Mùa nóng trong năm kéo dài 5 tháng, từ tháng 5-9 với nhiệt độ nóng nhấtvào tháng 6, 7 trung bình trên 30°c, mùa lạnh kéo dài khoảng 3 đến 4 tháng (từtháng 12 đến tháng 2 hoặc 3 năm sau) tháng lạnh nhất (tháng 12, 1) nhiệt độ xuốngthấp < 18° c, giữa mùa nóng và mùa lạnh có thời kỳ chuyển tiếp tạo cho Mê Linhthời tiết 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Độ ẩm trung bình trong năm dao động trongkhoảng 70 - 80% số giờ nắng trong năm khá cao, khoảng 1.400 giờ, lượng mưatrung bình của huyện vào khoảng 1.330mm (tương đối thấp), chủ yếu vào mùa hè,mùa khô kéo dài khoảng 4-5 tháng (từ tháng 11 đến tháng 3)
Thủy văn: Mê Linh có hệ thống sông, hồ và đầm khá phong phú, trong đó
có 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cà Lồ (nguồn www.vinhphuc.gov.vn)
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thành phần loài Ve giáp ỏ’ đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng
làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
3.1.1 Thành phần loài Ve giáp ở đất trồng cây súp lơ xanh tại cánh đồng
làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Bảng
3.1 Danh sách thành phần họ, giống, loài Ve giáp ở đất trồng cây
súp lơ xanh tại làng Trung Hậu, Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
ZETOCHESTES BERLESE, 1888
Furcoppia BALOGH ET MAHUNKA, 1966
II NIPPOBODIDAE AOKI, 1959
Multioppia tamdao MAHUNKA, 1988
III XYLOBATIDAE J BALOGH ET P BALOGH,
V SCHELORIBATIDAE GRAND JEAN, 1953
Schelorỉbates BERLESE, 1908
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
VIII ACHIPTERIDAE THOR, 1929
PARACHIPTERIA Hammen, 1952
IX GALƯMNIDAE JACOT, 1925
Galumna Heyden, 1826
19
Ghi chú:
AI: Tầng đất 0 - 10(cm)A2: Tầng đất 11 - 20(cm)
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ket quả nghiên cứu về Ve giáp (Oribatida) ở đất trồng súp lơ xanh tại làngTrung Hậu , xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ghi nhận 9 họ, 13giống, 19 loài Trong số 19 loài Oribatida ghi nhận có 17 loài xác định tên khoa học
và 2 loài chưa xác định được tên, còn ở dạng sp.gồm: Xylobates sp., Schelorỉbates
Có 9 loài chỉ xuất hiện ở tầng đất AI là cái loài: Furcoppỉa parva Balogh et Mahunka, 1967; Multioppia tamdao Mahunka, 1988; Peloribates stellatus Balogh et Mahunka, 1967; Rostrozetes areolatus (Balogh, 1958); Ceratoietes gracỉlỉs (Michael, 1884); Lamellobates ocularỉs Jeleva et Vu, 1987; Lameỉỉobates palustris Hammer, 1958; Galumna obvỉa (Berlese, 1915); Galumna trỉquetra Aoki, 1965.
Có 2 loài chỉ xuất hiện ở tầng đất A2 là cái loài: Schelorỉbates
sp.; Parachỉpteria distincta (Aoki, 1959).
Sự phân bố các loài theo độ sâu tầng đất giảm dần từ tầng AI đến tầng A2
3.1.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trồng cầy súp lơ xanh tại cánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Bảng 3.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trồng cây súp lơ xanh
tạỉcánh đồng làng Trung Hậu, xã Tiền Phong, huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội