1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp thành tố văn hóa trong nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng việt

53 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 82,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... chứađựngnhững thành tố văn hóa người Việt 6.2 thực tiễn Việc tìm nét văn hóa đơn vị từ vựng Tiếng Việt, giúp ích cho việc nghiên cứu văn hóa nói chung nghĩa từ vựng nói riêng Ket nghiên cứu khóa luận. .. Như rõ ràng nghĩa chuyển từ “a/ 2” tiếng Việt gắn với văn hóa ăn người Việt Cùng với văn hóa ăn, văn hóa lại người Việt nét văn hóa thê rõ nghĩa từ, điên hình nghĩa từ chạy Từ chạy có nghĩa là:... Cùng với 234 thành ngừ tiếng Việt Những từ ngữ thành ngữ thống kê từ hai nguồn tài liệu: Từ điển tiếng Việt Thành ngữ tiếng Việt Đây từ ngữ tiêu biểu có chứa thành tố văn hóa Việt Nam Trong giới

Trang 2

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhậnđược sự giúp đờ của thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới

TS Đỗ Thị Thu Hương - người cô đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Sư phạm HàNội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tố Ngôn ngữ khoa Ngữ văn đã giảng dạy, chỉ bảo

em trong suốt thời gian qua

Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành khóa luậnnày

Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóaluận khó tránh khỏi nhừng thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô

và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Người thực hiện

Hoàng Thị Lương

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ ThịThu Hương.

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cún của riêng tôi Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Người thực hiện

Hoàng Thị Lương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐÀU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp 5

CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Nghĩa của từ 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Các thành phần ý nghĩa của từ 7

1.2 Ngữ cố định 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Đặc điểm 11

1.2.3 Giá trị văn hóa - dân tộc của ngừ cố định 13

1.3 Vài nét về văn hóa Việt Nam 15

1.3.1 Khái niệm 15

1.3.2 Các thành tố trong hệ thống văn hóa 16 CHƯƠNG 2 MỘT VÀI THÀNH TÓVĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT

Trang 5

TRONG NGHĨA CỦA TỪ VÀ THÀNHNGỮ TIẾNG VIỆT 21

2.1 Kết quả thống kê 21

2.2Thành tố văn hóa trong nghĩa chuyến của từ tiếng Việt 21

2.2.1 Khái niệm nghĩa chuyển 21

2.2.2 Các phương thức chuyển nghĩa 22

2.2.3 Biếu hiện của thành tố văn hóa trong nghĩa chuyển của từ 25

2.3 Thành tố văn hóa trong nghĩa biếu trưng 38

2.3.1 Khái niệm nghĩa biểu trưng 38

2.3.2 Phân biệt nghĩa biểu trưng và nghĩa chuyển 39

2.3.3 Thành tố văn hóa trong nghĩa biếu trưng của từ tiếng Việt 39

2.3.4 Thành tố văn hóa trong nghĩa biếu trưng của thành ngữ tiếng Việt 44

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐÀU 1.

Lí do chọn đề tài

Do vị trí địa lí của mình, Việt Nam có một vị thế địa văn hóa, địa chính trị khá đặc biệt Vị thế ấy tạo điều kiện cho văn hóa Việt Nam đón nhận nhiều luồng văn hóa khác nhau Có thế đó là luồng văn hóa đến từ lục địa Trung Hoa, có thể đó lại là luồng văn hóa đến từ Ấn Độ, nhưng cũng có khi là luồng văn hóa đến từ trời Tây hay bên kia

bờ biến Thái Bình Dương xa xôi Tuy vậy, nét đặc biệt của văn hóa Việt Nam lại là “sự không chối từ” các nền văn hóa khác Cởi mở trong việc tiếp nhận văn hóa nước ngoài,

Trang 6

tiếp thu tinh hoa của mọi nền văn hóa làm giàu cho văn hóa mình, đó là một hằng sốcủa văn hóa Việt Nam Nhìn ở phương diện xã hội, nông dân, nông nghiệp lúa nước vàxóm làng là ba nhân tố cơ bản của nền văn minh thôn dã Việt Nam, bên cạnh đó ngônngữ cũng là một nhân tố tạo nên các nét đặc sắc của văn hóa Việt.

Văn hóa và ngôn ngữ có liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Ngôn ngừ làphương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Người ta nóirằng ngôn ngừ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhò' ngôn ngữ và văn tự đếđược lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào ngôn ngữ đế phát trien

Sự biến đối và phát trien ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với biến đối và phát triểnvăn hóa Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ, và tất nhiênmuốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa

Trong ngôn ngữ, bộ phận phản ánh đậm nét nhất đặc thù của văn hóa chính lànghĩa của các đơn vị từ vựng bao gồm từ và ngữ cố định Nghĩa của các đơn vị từ vựng

bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa và ngược lại qua việc tìm hiếu nghĩa của các đon vịtù’ vựng, ta thấy được phần nào bức tranh văn hóa của dân tộc Việt

Xuất phát từ lí do nói trên, chúng tôi chọn đề tài “Thành to văn hóa trong nghĩa

của các đơn vị từ vụng tiếng Việt” đế nghiên cứu, với hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ

giúp chúng ta thấy được nhiều nét văn hóa Việt Nam được chứa đựng trong các lớp từvựng tiếng Việt

quan tâm đó, người ta đã xây dựng nên môn “đất nước học” (stranovedene) ở Nga hay

“ngôn ngữ học xuyên văn hóa” (cross cultural linguistics) ở các nước phương Tây Và

Trang 7

có thể nói tới một số tác giả đã từng nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và ngônngừ như: Humboldt, Sapir, Whort

Ke thừa những thành tựu nghiên cứu của thế giới về văn hóa và ngôn ngữ, ởViệt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học như TrầnNgọc Thêm, Nguyễn Đức Tồn, Đỗ Hữu Châu Tiêu biểu như một sô công trình :

“Việt Nam: những vân đê ngôn ngữ và văn hóa ”, “Đi tìm ngôn ngừ của văn hóa và đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ” Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, những vấn đề của

ngành ngôn ngữ học như khái niệm, loại hình, hệ phương pháp có thế giải thích và xâydựng nên ngành văn hóa học lý thuyết và ngược lại đặc trưng của các loại hình văn hóa

có thể giúp ta định hướng dễ dàng hơn trong việc đi tìm những mối liên hệ từ nguyênhọc, đi tìm nguồn gốc từ của những khái niệm, sự vật ở nơi phát sinh của chúng Vấn

đề này được Trần Ngọc Thêm nói rõ hơn trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam phần viết về văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ Đó là các đặc trưng cơ bản của

người Việt như thái độ giao tiếp, quan hệ giao tiếp, đối tượng giao tiếp, chủ thế giaotiếp, cách thức giao tiếp và nghi thức lời nói Đó là những đặc trưng cơ bản của nghệthuật ngôn từ Việt Nam như tính biêu trưng, tính biểu cảm, tính động, linh hoạt Cùngvới tác giả Trần Ngọc Thêm, GS Đỗ Hữu Châu cũng có một số bài viết bàn về vấn đề

này Tiêu biểu là bài Tìm hỉêu vãn hóa qua ngôn ngữ đăng trên tạp trí ngôn ngừ

10/2000 Trong bài viết này, GS đã đề xuất phương thức tiếp cận bản sắc văn hóa củamột xã hội qua ngôn ngữ của xã hội đó như cách phát hiện các hiếu biết văn hóa trongcác trường nghĩa văn hóa, xác lập các hệ thống những đơn vị từ vựng đồng nhất vớinhau ở một nét nghĩa nào đó, phát hiện thông qua hệ thống ấn dụ, thông qua các lẽthường trong giao tiếp hay qua các phong cách giao tiếp Cũng bàn về mối quan hệ

giữa ngôn ngừ và văn hóa, PGS Nguyễn Đức Tồn trên bài Nghiên cứu đặc trưng văn

hỏa dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy qua ngôn ngữ đã thế hiện quan điếm của mình.

Theo ông, đặc trưng văn hóa dân tộc được biếu hiện ở tất cả các quá trình ngôn ngữ

như ý nghĩa từ, sự phạm trù hóa hiện thực và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới ” quá

trình định danh sự vật, quá trình chuyên nghĩa tên gọi

Trang 8

Như vậy có thể thấy, các tác giả đi trước đều thống nhất cho rằng trong mốiquan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thì hiện tượng ngôn ngữ chịu sự quy định rất lớn từđặc trưng văn hóa dân tộc Đặc biệt trong ngôn ngữ luôn chứa đựng rất nhiều nét vănhóa Các nét văn hóa thế hiện ở nhiều cấp độ ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Trên đây là những nhận định khái quát về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và vănhóa Những nhận định này, mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp lí thuyết nói chung Vậndụng những kết quả nói trên, đề tài của chúng tôi tìm hiểu những biếu hiện cụ thể củamối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa trong nghĩa của các đon vị từ vựng tiếng Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún

3.1.Mục đích

Đe tài tìm hiểu những thành tố văn hóa chứa đựng trong nghĩa của một số đơn

vị từ vựng tiếng Việt Từ đó góp phần khang định thêm mối quan hệ giữa văn hóa vàngôn ngữ, văn hóa có tác dụng thúc đấy sự phát triển của từ vựng nói riêng và ngônngừ học nói chung

Ket quả của việc xem xét nghiên cứu trên sẽ giúp người Việt có thêm vốn hiếubiết về văn hóa dân tộc trên bình diện ngôn ngữ

- Thống kê phân loại

- Miêu tả các thành tố văn hóa trong nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt

4 Đối tưọng và phạm vỉ nghiên cún

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là nghĩa của các từ và các thành ngữ cóchứa đựng các yếu tố văn hóa

4.2 Phạm vi

Trang 9

- Khóa luận chú ý đến những biếu hiện của yếu tố văn hóa trong nghĩa của các

từ nhiều nghĩa, một số từ ghép và thành ngữ tiếng Việt

- Đe phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ngừ liệu được khảo sát trong Từ đỉến

tiếng Việt và Từ đỉến thành ngữ, tục ngữ Việt Nam do Vũ Duy, Vũ Thúy Anh, Vũ

Quang Hào biên soạn, Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực, Lương Văn Đang biên

soạn

5 Phương pháp nghiên cún

Với đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

Thống kê các từ trong từ điển Tiếng Việt và thành ngữ trong Từ điến Thành ngữ

tiếng Việt có chứa yếu tố văn hóa, sau đó phân loại theo đặc trưng.

- Phương pháp phân tích - tông hợp

Sau khi đã thống kê, phân loại chúng tôi tiến hành phân tích các yếu tố văn hóachứa đựng trong từ và ngữ

Sau đó, chúng tôi thực hiện tống hợp lại những đặc trưng chung về văn hóa trongnghĩa của các đon vị từ vựng

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

Trong quá trình phân tích, chúng tôi đối chiếu, so sánh nghĩa của từ tiếng Việt vànghĩa của từ tiếng anh tương ứng để thấy được sự khác biệt

Ngoài những phương pháp nói trên, đề tài chúng tôi còn sử dụng thủ pháp phântích nghĩa tố Thủ pháp này được vận dụng khi phân tích các nghĩa tố trong cấu trúc của

từ, từ đó chỉ ra các nghĩa tố chi phối sự chuyến nghĩa của từ

6 Đóng góp

6.1 về lí luận

Đe tài khóa luận góp phần khắng định mối quan hệ mất thiết giữa ngôn ngữ vàvăn hóa.Văn hóa chi phối tới quá trình tạo nghĩa mới của cácđơn vị từvựng và ngược lại trong lớp vỏ ngôn ngữ luôn chứađựngnhững thành tố vănhóa của người Việt

Trang 10

7 Bố cục

Khóa luận gồm 2 chương:

ChưoTLg 1: Cơ sở lí luận

ChưoTLg 2: Một vài thành tố văn hóa của người Việt trong nghĩa của từ vàthành ngữ tiếng Việt

CHƯƠNG 1 CO SỎ LÍ LUẬN 1.1 Nghĩa của từ

1.1.1 Khái niệm

Trong tiếng Việt, có nhiều loại đon vị khác nhau về chức năng trong ngôn ngữ

Âm vị là những đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, tự thân không có nghĩa, được dùng đế tạo ra

vở âm thanh cho các đơn vị có nghĩa

Hình vị là nhừng đơn vị được tạo ra từ các âm vị, tự thân có nghĩa nhưng khôngđược dùng trực tiếp đế giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạothành câu

Các hình vị kết hợp với nhau thành những đơn vị có nghĩa lớn hơn Những đơn

vị này trục tiếp kết hợp với nhau tạo thành các câu nói Truyềnthống ngôn ngữ học gọi loại đơn vị thứ ba này là Từ

Với các từ như: nhà, chiếu, đường, mặt tròi, bên, sáng Chúng ta có thê tạo ra một đơn vị lớn như: nhà bên đưòng, mặt trời chiếu sáng

Cái đơn vị mới này không sẵn có, không cố định, không bắt buộc Chúng đượctạo ra trong một hoạt động giao tiếp nào đó Giao tiếp kết thúc nó lại bị “tháo rời” rathành các từ trong bộ não Đợi đến nhũng lầngiao tiếpkhác, từ lại kết hợp với nhau cho vô số những đơn vị mới:

Trang 11

- Đường nhà bên

- Đường bên nhà

- Mặt trời chiếu sáng đường bên nhà

- Nhà bên đường sáng mặt trời Từ

mang một số đặc điếm sau:

- Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa

- Có tính sẵn có, cố định, bắt buộc

- Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ

Nó là đon vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ Trong hệ thống ngôn ngữ, khôngcòn đơn vị nào cũng có hình thức ngữ âm và ý nghĩa cụ thế mà lại lớn hơn từ

- Từ là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu.Hình vị cũng là đơn vị nhở nhất có âm, có nghĩa nhưng không được sử

dụng độc lập để tạo câu, chúng chỉ là các đơn vị được dùng đế cấu tạo nên từ

Từ đó có thế thấy, nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà tù’ biếu hiện, nó đượchình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có nhũng nhân tốnằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữnhư: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tốtrong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ

1.1.2 Các thành phần ý nghĩa của từ

Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ cónhững thành phần ý nghĩa sau:

- Ý nghĩa biếu vật ứng với chức năng biếu vật

- Ý nghĩa biếu niệm ứng với chức năng biêu niệm

- Ý nghĩa biếu thái ứng với chức năng biếu thái

Các thành phần ý nghĩa này thường được gọi chung là ý nghĩa từ vựng; ý nghĩa

từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư là:

- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngừ pháp

1.1.2.1 Ý nghĩa biểu vật.

Trang 12

Sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý nghĩabiếu vật của từ Tuy nhiên, ý nghĩa biếu vật không phải là sự vật, hiện tượng y nhưchúng có thực trong thực trong thực tế Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi Mà ý nghĩabiểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng , trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những

mấu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực

Ví dụ: các vận động mà các từ đi, chạy, nhảy, biểu thị nằm trong vận động lớn

là “di chuyển” hoặc “dời chỗ”; bàn, ghế, giường, tủ , là các loại hẹp nằm trong loại lớn là đạc”.

• Quan niệm riêng của từng ngôn ngữ trong việc khái quát các ý nghĩa biêu vậtthành các loại khác nhau Trong các loại do từ biêu thị, có những loại được lập nên theo

sự phân loại lô-gic, ít nhiều phù hợp với nhận thức khoa học: như loại “đồ đạc” gồm

các sự vật như bàn, ghế, giường, tủ, đối lập với các loại “dụng cụ” như kìm, búa, vồ,

giũa, đục, cưa, cũng có những loại mà sự khái quát dựa vào những tiêu chí rất hình

thức , không bản chất như loại “củ” bao gồm cả rễ, cả thân ngầm,thân nổi và cả gốclá,

Mỗi ngôn ngữ có các kiếu cấu tạo từ và hệ thống các hình vị cấu tạo khônggiống nhau, cho nên mỗi ngôn ngừ có những kiếu ý nghĩa cấu tạo khác nhau Chúnghoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm xuất hiện kiếu ý nghĩa biểu vật này, hoặc cản trởkhông cho xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật kia trong một ngôn ngừ nào đấy

Ví dụ: các ý nghĩa biêu vật của các từ láy, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phânnghĩa sắc thái thái hóa không có trong tiếng Nga và tiếng Nga không sử dụng các

Trang 13

kiểu cấu tạo đó Nhưng với sự sử dụng rộng rãi phương thức phụ gia và hệ thống cácphụ tố cấu tạo từ, tiếng Nga lại có thế tạo ra hàng loạt các ý nghĩa biếu vật mà tiếngViệt không có từ tương ứng.

1.1.2.2 Ỷ nghĩa biếu niệm

Với thuật ngữ nét nghĩa, chúng ta có thế xác định thêm một bước rằng ý nghĩabiếu niệm là tập họp của một số nét nghĩa

Ví dụ: “bàn”: đồ dùng, có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng đủ lớn

bởi các chân, bằng nguyên liệu rắn, dùng đế đặt các đồ vật khác hay sách vở khi viếtlách hay nghiên cứu

“bủa”: dụng cụ, gồm một khối nguyên liệu rắn có trọng lượng đủ lớn; có cán

hoặc không, đế tạo ra một lực tác động bằng thao tác gõ, nện

Tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biếu niệm là một tập hợp có quy tác,giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Các từ thuộc các từ loại khác nhau, cócách tố chức các nét nghĩa khác nhau Còn các ý nghĩa biếu niệm của những từ trongmột từ loại lại có tố chức giống nhau

Ví dụ: hai từ bàn búa, cắt chặt, lành hiền , từng đôi một có tố chức ý nghĩa

biểu niệm giống nhau

So sánh các nét nghĩa của các từ trong cặp, ta thấy có những nét nghĩa chungcho nhiều từ và những nét nghĩa riêng cho từng từ

Ví dụ: nét nghĩa “đồ dùng” là chung cho các từ bàn, ghế, giường, tủ nét nghĩa

“dụng cụ” là chung cho các từ búa, kìm, dao, cưa, đục

Nét nghĩa”dời chỗ” trong từ đi cũng là nét nghĩa chung vì nó còn xuất hiện trong

chạy, nhảy, bò, lăn, bơi

Các nét nghĩa còn khác nhau ở tính chất khái quát và cụ thể Một nét nghĩa kháiquát khi nó có thể được phân chia thành những nét nghĩa nhở hon nằm trong nó

Đế phát hiện ra các nét nghĩa cần phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhấttrong nhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra những

Trang 14

nét nghĩa cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi chúng ta gặp những nét nghĩa chỉ có riêngtrong một từ.

Từ đó có thể rút ra định nghĩa: ý nghĩa biếu niệm của từ là tập họp một số nétnghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thế theo một tố chức, một trật tự nhất định Giữacác nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ýnghĩa biểu vật của từ Tập họp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ

được gọi là "cấu trúc biểu niệm ”

1.1.2.3 Ý nghĩa biêu thái

Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh giá như to, nhỏ,

mạnh, yếu , nhân té cảm xúc như dễ chịu, khó chịu, sợ hãi , nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét , mà từ gợi ra cho người nói và người nghe.

Ví dụ: núi thường gợi ra cái gì “to lớn”, biển gợi ra cái mênh mông, cha gợi ra

sự nghiêm nghị, mẹ trái lại chứa đựng sự âu yếm, dịu dàng.

Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ cũng vậy Có những từ khi phát âm lên gợi

ra cho chúng ta những cảm xúc sợ hãi: ma quái, chém giết, tàn sát , hoặc gợi ra sự ghê tởm: đờm dãi, mửa, đĩ thõa Và có những từ gợi ra cảm giác khoan khoái dễ chịu:

thanh thoát, êm ải, quê hương Có những từ giúp ta bộc lộ sự khinh bỉ: đê tiện, hèn

hạ, thồ bỉ, lì lợm, bợ đỡ Lại có những từ giúp ta báy tỏ lòng tôn trọng: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thắng thắn hay sự thiết tha: khản thiết, da diết, ân cần, đắm say

Như vậy có thể thấy, ý nghĩa biểu thái là bên cạnh các sự vật, hiện tượng đượcbiểu thị trong ngôn ngừ được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người, thì qua tên gọicủa các sự vật, hiện tượng con người thường gửi kèm những cách đánh giá, thái độ củamình trong đó

Tóm lại, ba thành phần ý nghĩa nói trên xuất hiện không đều đặn trong các từcủa tiếng Việt, có từ thiên về biểu vật (danh từ riêng), có từ thiên về nghĩa biếu niệm(thuật ngữ khoa học), có từ lại thiên về nghĩa biếu thái (thái từ)

Trang 15

1.2 Ngữ cố định

1.2.1 Khái niệm

Ngữ cố định là các cụm từ đã cố định hóa nên có tính chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc,

có tính xã hội như từ

Ví dụ: ngữ cố định chờ hết nước hết cái, cụm từ này nói lên sự chờ đợi đã kéo

dài khá lâu vượt mức nhẫn nại của người phải chờ, khiến cho người đó phải sốt ruột,bực dọc

Nói khác đi, chúng ta lĩnh hội nghĩa của ngữ này theo cách chúng ta lĩnh hộinghĩa của một cụm từ chính phụ thông thường: lĩnh hội nghĩa của từ trung tâm và lĩnhhội nghĩa bố sung của các từ phụ

Trong ngữ cố định, người ta chia làm hai loại: quán ngữ và thành ngữ Nhưngtrong hệ thống từ vựng, các thành ngữ xuất hiện nhiều hon và mang nhiều ý nghĩa vănhóa hơn Vì vậy mà, trong đề tài này chúng tôi sẽ chủ yếu đề cập tới mảng thành ngữtiếng Việt

Theo tác giả Hoàng Văn Hành trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt, thành ngữ

là một loại tố họp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bấy về ýnghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong ngôn ngữ [6;27]

1.2.2 Đặc điểm

1.2.2.1 Kết cấu

Thành ngữ tiếng Việt có các kết cấu sau:

- Thành ngữ kết cấu ba tiếng

Ví dụ: bạc như vôi, anh hùng rơm, có máu mặt, xấu như ma

Trong kiều này có một số trường hợp tuy hình thức là tố hợp ba tiếng một,

nhưng về mặt kết cấu đó chỉ là sự kết hợp của một từ đơn và một từ ghép như : nhảy

chân sáo, không bờ bến, đau điếng người

Trang 16

- Thành ngữ kết cấu bốn từ đon hay hai từ ghép liên họp theo kiểu nối tiếp hay

xen kẽ là kiểu phố biến nhất của thành ngữ tiếng Việt: ăn cháo đái bát, cháy mặt lấm

lưng, nhà tranh vách đất

Trong kiêu này được chia làm hai loại nhỏ:

Kiêu thành ngữ có láy ghép: chạy ngược chạy xuôi, ghét cay ghét đãng

Kiểu thành ngữ tố hợp của hai từ ghép: đau lòng xót ruột, nằm gai nếm mật, tầm sư học đạo

Thành ngữ kết cấu năm hay sáu tiếng cũng tương đương như kiểu kết cấu trên:

ăn trông nồi ngoi trỏng huứng, nói một đằng làm một nẻo

Một số thành ngữ có kiếu kết cấu từ bảy, tám, mười tiếng Nó có thể hai hay bangừ đoạn, hai hay ba mệnh đề liên hợp tạo thành một tố hợp kiểu ngừ cú dài cố định

như: nói như dùi đục chấm mắm cấy, giã gạo thì ốm, giả ốm thì khỏe

1.2.2.2 Ngữ nghĩa

Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính

thành ngữ Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho một tố hợp có nghĩa s do cácđơn vị A, B, c mang ý nghĩa lần lượt s[l], s[2], s[3] tạo nên nếu như nghĩa s khôngthế giải thích bằng các ý nghĩa s[l], s[2], s[3] thì tổ họp A, B, c có tính thành ngữ

Ví dụ: hết nước hết cái là tố hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa quá dài, quá mức

chịu đựng, bực dọc, sốt ruột của nó không thế giải thích được bằng các nghĩa của hết

nước hết cái

Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa là nói chung Sự thực trong các ngữ

cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấu tạo là các câu như: chuột sa chĩnh gạo, cha

truyền con nối, chó ngáp phải ruồi, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng Bởi vậy, cái

quyết định đế xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chứcnăng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chúng có tínhsẵn có, bắt buộc như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vịtrí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu

Trang 17

Những đon vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do như: nói khác đi, nói

tóm lại, một mặt thì, mặt khác thì Tính chất cụm từ tự do của các ngữ này đã quá rõ

ràng về ý nghĩa cũng như về hình thức Đây là các cụm từ tự do đã được cố định hóa donội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải lặp đi lặp lại vì cần thiết chosuy nghĩ và cho sự diễn đạt

Nói ngừ cố định có tính chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biếnđối trong câu văn cụ thế Ngay cả các từ phức, những đơn vị mà ý nghĩa có tính chấtthống nhất rất cao cũng còn có những biến thể lời nói, huống chi các ngữ cố định vốn

có ý nghĩa lỏng lẻo hơn ý nghĩa của từ phức nhiều Cho nên sự biến đối của các ngữ cốđịnh đa dạng hơn, “tự do” hon các biến thể của từ phức

Ví dụ: các ngữ cố định có thế rút gọn chết nhãn răng, tốt mã giẻ cùi có thế rút gọn thành nhăn răng, tôt mã Hay có thê mở rộng, ngữ học như cuôc kêu mở rộng thành học như cuốc kêu ra rả mùa hạ.

Chúng ta thấy những biến thế của ngữ cố định là linh hoạt hơn, rộng rãi hơn,không có quy tắc như biến thế của từ phức Tuy nhiên dù có biến đối thế nào đi nữa thìcác biến thế cũng không được phép vượt quá kết cấu và các liên hệ ngữ nghĩa vốn cótrong ngữ quá xa Neu không đảm bảo điều kiện này thì chúng ta có ngữ cố định khác,không còn là ngữ cố định cũ nữa

1.2.3 Giá trị vãn hóa - dân tộc cứa ngữ cố định

Ngữ cố định mang một số đặc trưng sau:

Tính biểu trung: hầu hết các ngữ cố định dù có tính thành ngữ cao hay thấp đều

là những bức tranh nho nhỏ về những vật thực, việc thực cụ thể, riêng lẻ, được nâng lênnói về cái phố biến, khái quát trùn tượng Chúng là các ấn dụ, so sánh hay các hoán dụ

Ngữ cố định lấy những vật thực, việc thực đế biếu trung cho những đặc điểm,tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến khái quát Đặc biệt là các ngừ cố định biếu thịcác tình thế có tính chất biểu trung rất cao Tình thế là cái gì hết sức phức tạp khó nói,lại còn bộc lộ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với tình thế hay đối với người bị

lâm vào tình thế đó nữa Ví như tình thế được diễn đạt bằng ngữ chuột chạy cùng sào.

Trang 18

Đó là tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào đường cùng, không lối thoát mặc dù đãxoay xở hết cách.

Tính dân tộc: tính dân tộc ở các ngữ cố định hiện ra thứ nhất ở chính nội dung

của chúng Như đã nói, các ngữ cố định phản ánh các biểu hiện, các sắc thái khác nhaucủa sự vật, hiện tượng đã có tên gọi hoặc chua có tên gọi Thấy được biếu hiện nào,sắc thái nào đáng chú ý đế ghi giữ chúng lại Điều này tùy thuộc vào đời sống, kinhnghiệm và cách nhìn của từng dân tộc Thứ hai ở các tài liệu, tức là các vật thực, việcthực mà ngữ cố định đã dùng làm biếu trưng cho nội dung của chúng

Con mèo, con chuột, con chó, con ong, ngôi chùa, pho tượng, tấm áo, manhquần, cảnh hai gái lấy một chồng, sự bám dai như con đỉa , tất cả là những tài liệumang đậm màu sắc quê hương, xứ sở Việt Nam trong xã hội nông nghiệp xưa đượcquan sát một cách tài tình, liên hệ một cách độc đáo mà đúng đắn, tinh tế với nhữnghiện tượng nhân sinh Những tài liệu này của ngữ cố định Việt Nam khiến cho chúngkhông thể lẫn được bất cứ ngữ cố định nào của các dân tộc khác

Tỉnh hình tượng và tính cụ thê: tính hình tượng của thành ngữ là kết quả tất yếu

của tính biểu trưng Do chỗ tài liệu của các ngữ cố định là sự vật, sự kiện cảm giácđược, quan sát được cho nên nhắc tới một ngữ cố định trước hết là tái hiện lại chínhnhững hình ảnh về các sự vật, hiện tượng tài liệu đó Nhờ tính hình tượng mà các ngữ

cố định thường gây ra những ấn tượng mạnh mẽ, đột ngột, tác dụng của chúng đậm đà

và sắc, càng ngẫm càng thú vị Ớ tính chất này, ngữ cố định mang tính chất của cácsáng tác văn học, đó là những phác thảo văn học đã có định hóa thành phương tiện giaotiếp

Tính biểu thái: nói các ngữ cố định không thế dùng cho bất cứ hạng người nào

cũng được thì cũng tức là nói đến tính biếu thái của chúng Các ngữ cố định thườngkèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá, có thể nói lên hoặc lòng kính trọng, hoặc sự áingại, hoặc sự xót thương, hoặc sự không tán thành, lòng khinh bỉ, thái độ chê bai củachúng ta đối với người hay vật gì được nói tới Không chú ý tới các sắc thái biểu cảm

Trang 19

khác nhau thì việc dùng các ngữ cố định có khi sẽ làm hỏng các nội dung “trí tuệ” củacâu văn của lời nói.

Tất cả những đặc điếm về ngữ nghĩa nói trên tạo nên giá trị của các ngữ cố định.Ngữ cố định có hình thức ngắn gọn song lại nói được nhiều: tính cô đọng, hàm xúc củachúng ta là do tác dụng tông hợp của những đặc điêm đó mà có

1.3 Vài nét về văn hóa Việt Nam

1.3.1 Khái niệm

Văn hóa là một khái niệm hiện nay rất phố biến nhưng việc giải thích nó lại rấtphức tạp Theo thuật ngữ gốc, từ “văn hóa” bắt nguồn từ Châu Âu đế dịch từ “culture”của Pháp, Anh; “ kultur” của Đức; “kultura” của Nga Những chữ này bắt nguồn từ chữLatinh “cultus” trong kết hợp “cultus animi” tức “ trồng trọt tinh thần” nghĩa là giáodục, bồi dưỡng tâm hồn con người

Đối tượng của “văn hóa” là một phạm vi rất rộng cho nên khái niệm “văn hóa”được hiếu theo nhiều góc độ, nhiều ý nghĩa khác nhau Cách hiếu phố thông nhất, thôngdụng nhất đối với đại đa số quần chúng là “văn hóa” đế chỉ học thức (trình độ văn hóa);lối sống (nếp sống văn hóa) Chảng hạn khi người ta nói “anh ấy có văn hóa cao” thế cónghĩa là “anh ta có học vấn cao hay khi họ bảo “con người chảng biết đến văn hóa làgì” có nghĩa đế ám chỉ cách ứng xử với cộng đồng không phù hợp

Theo nghĩa rộng mang tính thuật ngừ thì “văn hóa” bao gồm tất cả từ những sảnphẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động Tuy nhiênngay cả với cách hiếu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm cách định nghĩa khácnhau Cho tới nay, người ta đã thống kê có hon 400 định nghĩa về “văn hóa” Điều đóchứng tỏ việc xây dựng một định nghĩa có tính khoa học với tư cách là một thuật ngữcho khái niệm về “văn hóa” không phải dễ dàng

Trong bài nghiên cứu này chúng tôi lấy định nghĩa “văn hóa” của tác giả TrầnNgọc Thêm làm điểm xuất phát về lý luận đế nghiên cứu: “Văn hóa là một hệ thốnghữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình

Trang 20

hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xãhội” [13; 10]

Khái niệm về văn hóa này chứa đựng 4 đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính giátrị, tính lịch sử và tính nhân sinh

Tính hệ thống cho phép văn hóa thực hiện chức năng tố chức xã hội và là cơ sở

để xem nó là đối tượng của một khoa học riêng biệt

Tính giá trị cho phép văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội, phân biệtcác hiện tượng văn hóa và phi văn hóa Theo mục đích phục vụ, các giá trị văn hóa cóthể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần tương ứng với hai tiếu văn hóa hợpthành: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Tính nhân sinh cho phép phân biệt giá trị văn hóa với giá trị tự nhiên nghĩa làxem văn hóa như toàn bộ các kết quả và quá trình hoạt động xã hội của con người đốilập với hoạt động tự nhiên bên ngoài - những điều kiện tồn tại của con người, khôngphụ thuộc vào con người

Tính lịch sử cho phép phân biệt văn hóa với văn minh và một số hiện tượng xãhội Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và

cố định hướng dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật Có thề coi

đó là những “hiểu biết văn hóa” (Đỗ Hữu Châu) mà mọi thành viên trong xã hội lấy đólàm chuẩn mực để tự mình đánh giá mình và đánh giá người khác sống có phù hợp vănhóa của cộng đồng hay không

1.3.2 Các thành tố trong hệ thống văn hóa

1.3.2.1 Văn hỏa nhận thức

Văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người Cónhững nhận thức có nguồn gốc cố xưa (thuộc lớp văn hóa bản địa), và có những nhậnthức mới được hình thành, bồi đắp trong những giai đoạn về sau (thuộc lóp văn hóagiao lun với Trung Hoa và khu vực và lóp giao lun với văn hóa Phương Tây)

Thuộc loại nhận thức hình thành trong lớp văn hóa bản địa có triết lí Âm dương

giải thích bản chất của vũ trụ: Ngũ hành giải thích cấu trúc không gian của vũ trụ, lịch

Trang 21

âm dương và hệ đếm can chi giải thích cấu trúc thời gian của vũ trụ Cũng những trithức đó đã được vận dụng đế tìm hiểu và khám phá con người trên các phương diện tựnhiên và xã hội, (trên phương diện tự nhiên, có thế nói rằng người xưa đã khá thànhcông).

Thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp vãn hóa giao lưu với Trung

Hoa và khu vực thì để lại dấu ấn sâu đậm hơn cả là những tri thức về vũ trụ quan và

nhân sinh quan do Tam giáo (Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo) mang lại Còn thuộc loại nhận thức được hình thành trong lớp văn hỏa giao lưu với phương Tây thì có các

tri thức khoa học Tuy nhiên, các tri thức khoa học hiện đại đã là sản phấm của vănminh, phần lớn chúng trở thành tài sản chung của nhân loại, vì vậy chúng ta sẽ khôngnói tới

Các tư tưởng nhận thức Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, dù lànguồn gốc cố xưa (như Âm dương, Ngũ hành) hay mới được bồi đáp trong giai đoạn vềsau (như các tư tưởng về Nho - Phật - Đạo), đều là những sản phẩm đặc thù của lối tư

duy tống hợp và trọng quan hệ (biện chứng) của người nông nghiệp Cho nên chúng

đều là nhừng tư tưởng mang tính Triết Lí của nền Đạo học phương Đông, chứ không

phải là những hệ thống Triết Học như ở khoa học phương Tây ĩ.3.2.2 Văn hỏa tô chức

cộng đồng

Thành tố quan trọng thứ hai của văn hóa là văn hóa tố chức cộng đồng, với hai

bộ phận tố chức đời sống tập thể và tổ chưc đời sống cá nhân

Tố chức đời sống tập thể bao gồm những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, liên quan đếncuộc sống của cộng đồng, trong đó quan trọng nhất là ba lĩnh vực: quốc gia - nông thôn

- đô thị

Đó là bức tranh chung của mọi nền văn hóa Đối với mọi nền văn hóa gốc nôngnghiệp điến hình như Việt Nam thì tố chức nông thôn là lĩnh vực quan trọng nhất Nóchi phối cả truyền thống tố chức quốc gia lẫn tố chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tínhcách con người Nắm vững những đặc thù của tố chức nông thôn tức là nắm được chìakhóa văn hóa tố chức đòi sống cộng đồng của người Việt Nam

Trang 22

Tố chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tố chức cộng đồng.

Nó bao gồm những vấn đề vĩ mô, liên quan đến cuộc sống của từng cá nhân

Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời Khitrình độ hiếu biết còn thấp, họ tôn sùng những thần thánh do họ nghĩ ra (tín ngưỡng)

Từ tự phát lên tự giác, tín ngưỡng có thế trở thành tôn giáo, song điều đó đã không xảy

ra ở xã hội Việt Nam cố truyền, là nơi mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu về óc phântích Các tôn giáo phổ biến ở Việt Nam (Nho, Phật, Đạo, Kito), phần đa đều có nguồngốc ngoại nhập Tất cả những điều đó làm cho cuộc sống con mỗi cá nhân được tố chứcquy củ hon, đồng thời cũng phong phú hơn

1.3.2.3 Văn hóa úng xử với mỏi trường tự nhiên

Con người sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên - cách ứng xử với môitrường tự nhiên là thành tố quan trọng thứ ba của văn hóa

Trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên có thế xảy ra hai khả năng: những gì

có lợi cho mình thì con người hết sức tranh thủ tận dụng, còn những gì có hại thì phải rasức ứng phó Việc ăn uống thuộc lĩnh vực tận dụng môi trường tự nhiên, còn mặc, ở, đi

là thuộc lĩnh vực ứng phó với thời tiết, khí hậu và khoảng cách

Ranh giới giữa tận dụng và ứng phó không phải lúc nào cũng rạch ròi Đế ứngphó với thời tiết, khí hậu, con người đã tận dụng các chất liệu để đặt ngôi nhà sao cho

có lợi nhất Đế ứng phó với khoảng cách, con người đã tận dụng tối đa địa hình vật đểchọn cho mình phương tiện giao thông thuận tiện nhất

Như vậy, trước tự nhiên con người luôn biết tận dụng, dựa vào nó đế làm lợi chocuộc sống của mình nhưng ngược lại khi thiên nhiên gây hại cho con người như lũ lụt,bão, hạn hán , thì con người lại ra sức đối phó Có thế thấy con người và thiên nhiênluôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau

13.2.4 Văn hóa ủng xử với môi trường xã hội

Một cộng đồng cư dân không chỉ sống trong quan hệ với tự nhiên mà còn phảiquan hệ với các dân tộc xung quanh - đó là môi trường xã hội

Trang 23

Trong lĩnh vực ứng xử với môi trường xã hội, với vị trí ngã tư đường của cácnền văn minh, người Việt Nam đã tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa nhân loại: tiếp thu vănhóa Ấn Độ theo cách của mình, ta có nền văn hóa Chăm độc đáo và một nền Phật giáoViệt Nam Tiếp thu văn hóa Trung Hoa, ta có Nho giáo và Đạo giáo, văn hóa phươngTây đem lại Ki to giáo cùng những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mới mẻ.

Có thế nói văn hóa Việt Nam là nền văn hóa không chối từ những nền văn hóakhác Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc cùng với nền văn hóa bản địa, văn hóaViệt Nam luôn luôn biết tiếp thu những tinh hoa của các nền văn hóa khác trên thế giới.Tất cả nó tạo nên một nền văn hóa đa bản sắc mang những nét riêng của con ngườiViệt

Tiêu kêt

Từ vựng của một ngôn ngừ là một hệ thống đa dạng và phức tạp bao gồm hàngtrăm vạn đơn vị khác nhau Nó là tấm gương phản ánh trực diện văn hóa của một cộngđồng ngôn ngữ nhất định Thành phần quan trọng nhất trong từ là ý nghĩa của từ Ý

nghĩa này là sự phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức và “tồn tại dưới dạng một cơ

cấu, do một chùm những thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tỏ chức theo tôn tỉ trật tự nhât định” Trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa khác nhau:

những thành phần ý nghĩa thuộc nội tại ngôn ngữ (ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm,

ý nghĩa biếu thái) và thuộc phạm vi ngoài ngôn ngữ (ý nghĩa hành vi, ý nghĩa liên hội)Lâu nay các nhà nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa thường quan tâm nhiều tới việc nghiêncứu nghĩa của từ trong nội tại ngôn ngữ mà tách rời chúng khỏi quá trình tâm lý xã hội,văn hóa, lịch sử, tách rời khỏi những quan hệ ngữ nghĩa sinh động và phức tạp Đây là

một thiếu sót lớn bởi “nghĩa của từ không chỉ là kêt quả của quá trình nhận thức mà

còn là kêt quả của những quá trình có tính chất tâm lí - xã hội, lịch sử và cá nhân Điều

này khang định rằng: các thành tố văn hóa luôn có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữnói chung và hệ thống từ vựng nói riêng

Trang 24

CHƯƠNG 2 MỘT VÀI THÀNH TÓ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG

NGHĨA CỦA TÙ VÀ THÀNH NGŨ TIẾNG VIỆT

Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi không thế trình bày hết được tất cảnghĩa của các từ ngữ và thành ngữ có chứa đựng yếu tố văn hóa Vì vậy, chúng tôi chỉchọn một số từ ngữ và thành ngữ tiêu biểu nhất để phân tích, bộc lộ rõ nhất văn hóa củangười Việt

2.2 Thành tố văn hóa trong nghĩa chuyến của từ tiếng Việt

2.2.1.Khái niệm nghĩa chuyên

Từ lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biếu vật Sau mộtthờigianđược sử dụng, nó có thể thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biếu vậtmới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biếu niệm của nó càng có khả năng biến đổi

Trong quá trình giao tiếp nghĩa của từ được hiện thực theo hướng cụ thể hóa và

có sự nảy sinh nghĩa mới, đó là sự chuyển biến ý nghĩa của từ

Nghĩa chuyển là nghĩa của từ được nảy sinh trên cơ sở từ nghĩa gốc tạo ra các từnhiều nghĩa

Ví dụ:

Từ “nhà ” có nghĩa gốc là “công trình kiến trúc đế ở”, từ nghĩa này nó chuyến

nghĩa sang đế chỉ các đối tượng khác

- Chỉ người trong gia đình (cả nhà)

- Chỉ một triều đại phong kiến (nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần )

- Chỉ vợ hoặc chồng (nhà tôi, nhà anh, nhà em )

Trang 25

2.2.2 Các phương thức chuyến nghĩa

Có hai phương thức chuyển nghĩa phố biến nhất trong tất cả các ngôn ngữ trênthế giới là ấn dụ và hoán dụ

2.2.2.7 Phương thức ân dụ

Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a đế gọi tên các sự vật b, c, d vì giữa a,

b, c, d có điếm giống nhau Hay nói cách khác, ấn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựavào quy luật liên tưởng tương đồng

Liên tưởng tương đồng là hướng liên tưởng dựa trên sự giống nhau về một hayvài nét nghĩa nào của từ Đó có thế là nét nghĩa về hình thức, về cách thức, về kết quảhay về chức năng Chính những nét nghĩa ấy là cơ sở đế người ta có sự liên tưởng vàkhi đã có sự liên tưởng thì người ta dịch chuyến các từ ngữ này sang một từ ngữ khácmột cách dễ dàng

- Tương đồng về nét nghĩa hình thức:

Là sự tương đồng dựa trên sự giống nhau về hình thức của sự vật Hình thức đóbao gồm hình dáng, màu sắc, vị trí, kích thước Tương đồng về hình dáng như “bánh” -một món ăn và “bánh” trong “bánh pháo, bánh xà phòng” (có hình khối nhất định),

“quả”- một bộ phận của thực vật và “quả” trong “quả bóng, quả bom, quả đất” (hìnhcầu) Tương đồng về màu sắc như “hoa”

- một bộ phận của thực vật và “hoa” trong “hoa tuyết, pháo hoa, gạch hoa” (màu sắcđẹp) Tương đồng về vị trí như “cội”- gốc cây to, lâu năm và “cội” trong cội nguồn,cội rễ” chỉ nơi xuất phát (chung vị trí: khởi đầu) Tương đồng về kích thước như “cây”

- thực vật có thân cao, lá, rễ và “cây” trong “cây cột, cây rơm, cây đèn” (chung nétnghĩa: chiều cao)

- Tương đồng về nét nghĩa cách thức:

Là loại tương đồng dựa trên sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai loạihiện tượng Loại hiện tượng này chiếm khá lớn trong tiếng Việt Thí dụ: “mọc” là “hoạtđộng nhô lên và tiếp tục phát triển” thường gắn với đối tượng “cây” chuyển sang đế chỉ

cho các đối tượng khác không phải là cây như mặt trời mọc, sao mọc là tương đồng

Trang 26

về cách thức: nhô lên; “lặn” là “hoạt động hụp xuống dưới mặt nước” như thợ lặn, cá lặn chuyển sang chỉ sự biến đi, mất đi, không còn trên bề mặt như trăng lặn, sao lặn,

mặt trời lặn là tương đồng về cách thức: mất đi, không thấy nữa.

- Tương đồng về nét nghĩa kết quả

Là sự tương đồng về kết quả tác động của các sự vật Có thề dẫn ra một sốtrường họp “quả báo, quả kiếp, hậu quả” là tương đồng về kết quả: cuối cùng; “đauruột, bầm gan, nhẹ dạ, nặng lòng, đau đầu, nhức óc, sôi gan, buốt ruột” là tương đồng

về kết quả sự tác động, chịu đựng

- Tương đồng về nét nghĩa chức năng

Là sự tương đồng dựa trên sự giống nhau có tính mục đích hay giá trị của sự vật,hiện tượng Thí dụ: “áo đường, áo nhộng, áo hạt, bột áo” là tương đồng về chức năngbảo vệ; “cửa sông, cửa biến, cửa rừng” là tương đồng về chức năng trấn giữ, thôngthương

2.22.2 Phương thức hoán dụ

Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a đế gọi tên cho sự vật b, c, d vì giữa a,

b, c, d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào đó về không gian haythời gian Hoán dụ là phương thức chuyến nghĩa dựa trên quy luật liên tưởng tương cận

Liên tưởng tương cận là hướng liên tưởng dựa trên sự gần nhau giữa các sự vật,hiện tượng trong thực tế khách quan Hướng liên tưởng này có hai cơ chế chính: cơ chếliên tưởng bộ phận - toàn thế và cơ chế liên tưởng toàn thể - bộ phận

Cơ chế liên tưởng bộ phận - toàn thế là cơ chế liên tưởng lấy tên gọi của bộ phận

đế chỉ toàn thể Cơ chế này gồm các dạng thức nhở sau:

+ Lây tên gọi củabộ phận cơ thê hoặc tên gọi của một phân sự vật đê gọi thaycho cả cơ thể hoặc cả sự vật Đây là dạng thức rất phổ biến trong tiếng Việt

Ví dụ: “chân, tay, mặt, miệng” là tên gọi của các bộ phận cơ thê nhưng trong cáckết hợp “chân sút”, “tay vợt”, “mặt con”, “miệng ăn” thì nó lại chỉ cả cơ thế trọn vẹn,

cả người Cách dùng tên gọi của loại nhỏ đế chỉ loại lớn trong các từ “đất nước”, “sông

Ngày đăng: 30/09/2015, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w