1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ

55 642 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN - - LÊ QUỐC VINH ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ HÓA HỌC CỦA ĐẤT TRỒNG ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ... tin ảnh hưởng việc áp dụng loại phân bón đến môi trường đất trồng ổi Đồng sông Cửu Long Chính vậy, đề tài “ Ảnh hưởng phân xỉ thép đến tính chất lý - hóa đất trồng ổi xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền,. .. phân đất phù sa huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Từ khóa: phân xỉ thép, xỉ thép, tính chất lí đất, tính chất hóa đất, đất trồng ổi iii MỤC LỤC PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG .i CẢM TẠ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN

- -

LÊ QUỐC VINH

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ HÓA HỌC CỦA ĐẤT TRỒNG ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường

Cán bộ hướng dẫn: PGs.TS Nguyễn Hữu Chiếm

TS Ngô Thụy Diễm Trang

Cần Thơ, 2013

Trang 3

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG

Luận văn kèm theo đây, với tựa đề là “Ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính

chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”, do Lê Quốc Vinh thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông

qua

PGs.TS Bùi Thị Nga TS Ngô Thụy Diễm Trang

PGs.TS Nguyễn Hữu Chiếm

Trang 4

Gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả cán bộ Bộ môn Khoa Học Môi Trường, Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình đào tạo đại học để Tôi hoàn thành tốt công việc học tập

Xin trân trọng cám ơn Dự án Sumitomo (dự án hợp tác giữa công ty phân bón Sumitomo - Nhật và Trường ĐHCT) đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp chi phí trong suốt thời gian thực hiện đề tài Xin cám ơn sự hợp tác và giúp đỡ của các bạn chung nhóm đề tài Dự án Sumitomo

Xin cảm ơn thầy Trần Sỹ Nam đã tạo điều kiện làm việc tốt nhất để Tôi có thể hoàn thành quá trình thu và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm cũng như cung cấp những kiến thức quý báu và những lời động viên nhiệt tình giúp Tôi hoàn thành tốt luận văn

Xin cảm ơn tất cả các bạn sinh viên Khoa Môi Trường và Tài nguyên Thiên Nhiên, đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Sau cùng Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã giúp đỡ và động viên tinh thần cho Tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Trân trọng!

Cần Thơ, ngày…….tháng……năm 2013

Lê Quốc Vinh

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài được thực hiện tại vườn ổi 02 năm tuổi ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ nhằm khảo sát ảnh hưởng của việc bón bổ sung phân xỉ thép đến một số đặc tính lí hóa học đất như pH, EC, hàm lượng chất hữu cơ (CHC), TN, TP, tổng sắt, dung trọng, tỉ trọng, độ xốp Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2013 đến tháng 07/2013 trên các mẫu đất được thu trước và sau khi bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) gồm 5 nghiệm thức (NT) và 4 lần lặp lại Năm nghiệm thức bao gồm: (i) bón phân theo nông hộ (NT1), (ii) bón vô cơ theo khuyến cáo + 4640kg phân xỉ thép/ha (NT2), (iii) bón vô cơ theo khuyến cáo + 9280kg phân xỉ thép/ha (NT3), (iv) bón phân vô cơ theo khuyến cáo (NT4, được xem là đối chứng) và (v) bón vô cơ theo khuyến cáo + 500kg CaCO3/ha (NT5)

Đặc tính lí, hóa đất ở khu thí nghiệm được đánh giá trước khi bón phân là nhóm đất phù sa không phèn, chua vừa, không mặn, chất hữu cơ trung bình, hàm lượng đạm tổng số thấp, hàm lượng lân tổng số ở mức trung bình đến giàu, hàm lượng sắt tổng số trong đất ở mức rất cao Giá trị dung trọng được đánh giá là đất được đào xới với tỉ trọng đươc đánh giá là có độ mùn cao và độ xốp đất ở mức trung bình Nhìn chung, đất

ở điểm thí nghiệm phù hợp cho trồng cây ăn trái Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thêm vào phân xỉ thép chưa giúp cải thiện được đặc tính lí - hóa đất trong phạm vi thực hiện của đề tài sau thời gian 3 tháng và 6 tháng bón phân trên đất phù sa tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Từ khóa: phân xỉ thép, xỉ thép, tính chất lí đất, tính chất hóa đất, đất trồng ổi.

Trang 6

MỤC LỤC

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG i

CẢM TẠ ii

TÓM LƯỢC iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG viii

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Nội dung thực hiện 2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1 Khái quát khu vực nghiên cứu 3

1.1 Vị trí địa lí 3

1.2 Điều kiện tự nhiên 4

2 Quy trình bón phân 5

3 Vai trò của một số loại phân bón đối với cây trồng 5

3.1 Phân đạm (N) 5

3.2 Phân lân (P) 5

3.3 Phân kali (K) 6

3.4 Phân xỉ thép 6

3.4.1 Silic (Si) 6

3.4.2 Canxi (Ca) và Magie (Mg) 6

3.4.3 Lưu huỳnh (S) 7

3.4.4 Bo (B) 7

4 Vôi 7

5 Các chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất 8

5.1 Các đặc tính vật lí cơ bản của đất 8

5.1.1 Tỉ trọng của đất 8

5.1.2 Dung trọng đất 9

5.1.3 Độ xốp 11

5.2 Các đặc tính hóa học cơ bản của đất 12

Trang 7

5.2.1 pH đất 12

5.2.2 Độ dẫn điện dung dịch đất 13

5.2.3 Chất hữu cơ trong đất 13

5.2.4 Nitơ tổng số 14

5.2.5 Lân tổng số 15

5.2.6 Sắt tổng trong đất 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

1 Thời gian và địa điểm 17

2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 17

2.1 Dụng cụ 17

2.2 Vật liệu 17

3 Phương pháp nghiên cứu 17

3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17

3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 19

3.3 Phương pháp phân tích 20

3.4 Phương pháp xử lí số liệu 21

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Đặc tính lí - hóa học đất trồng ổi trước khi bón phân xỉ thép 22

4.1.1 Tỉ trọng, dung trọng, độ xốp 22

4.1.2 pH 22

4.1.3 EC 23

4.1.4 Chất hữu cơ 23

4.1.5 Nitơ tổng số 23

4.1.6 Photpho tổng số 23

4.1.7 Sắt tổng số 24

4.2 Đặc tính lí - hóa đất trồng ổi sau 3 tháng và 6 tháng bón phân xỉ thép 24

4.2.1 Tỉ trọng 24

4.2.2 Dung trọng 25

4.2.3 Độ xốp 26

4.2.4 pH đất 27

4.2.4 EC đất 28

4.2.6 Chất hữu cơ 29

4.2.7 Nitơ tổng số 30

Trang 8

4.2.8 Photpho tổng số 31

4.2.9 Sắt tổng số 33

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 35

5.1 Kết luận 35

5.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ tổng quát nơi nghiên cứu 3

Hình 3.1: Mô tả bố trí thí nghiệm 19

Hình 4.1: Tỉ trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 24

Hình 4.2: Dung trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 25

Hình 4.3: Độ xốp đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 26

Hình 4.4: Giá trị pH giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 27

Hình 4.5: Giá trị EC giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 28

Hình 4.6: Hàm lượng CHC giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 30

Hình 4.7: Hàm lượng N tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 31

Hình 4.8: Hàm lượng P tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 32

Hình 4.9: Hàm lượng Fe tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng & 6 tháng bón phân 33

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tỉ trọng của một số loại đất 9

Bảng 2.2: Thang đánh giá tỉ trọng đất (g/cm3) 9

Bảng 2.3: Thang đánh giá dung trọng đất (g/cm3) 10

Bảng 2.4: Thang đánh giá độ xốp đất (g/cm3) 11

Bảng 2.5: Dung trọng, tỉ trọng và độ xốp của một số loại đất ở Việt Nam 12

Bảng 2.6: Thang đánh giá pHH2O (Tỷ lệ đất:nước = 1:2,5) 13

Bảng 2.7: Thang đánh giá độ dẫn điện (mS/cm) 13

Bảng 2.8: Thang đánh giá đất theo hàm lượng chất hữu cơ (% CHC) 14

Bảng 2.9: Thang đánh giá đất theo hàm lượng đạm tổng số (%N) 15

Bảng 2.10: Thang đánh giá đất theo hàm lượng lân tổng số (%P2O5) 16

Bảng 2.11: Thang đánh giá hàm lượng Fe2O3 tự do 16

Bảng 3.1: Các thông số của từng nghiệm thức 18

Bảng 3.2: Hàm lượng dinh dưỡng (g/cây/lần bón) trong 05 nghiệm thức 18

Bảng 3.3: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu đất 20

Bảng 4.1: Các chỉ tiêu về đặc tính đất đầu vụ 22

Trang 11

ô nhiễm ở nhiều nơi Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do việc lạm dụng quá nhiều phân bón hóa học của nông dân trong sản xuất nông nghiệp.Bên cạnh đó cây ổi vẫn chưa thoát ra khỏi những hạn chế chung của ngành sản xuất cây ăn quả như việc sản xuất manh mún, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, sản lượng chưa nhiều, chưa thu hút được nhiều sự chú ý từ cộng đồng khoa học trong việc đầu tư các đề tài nghiên cứu cũng như rất ít các dữ liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng mang tính chính thức Ngoài ra, công tác nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật thâm canh ổi cũng chưa mang tính hệ thống; một số quy trình kỹ thuật được xuất bản nhưng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và chưa được khuyến cáo rộng rãi cho người sản xuất Trong thực tế, người trồng ổi áp dụng phân bón theo tập quán canh tác của họ mà không quan tâm nhiều đến tài liệu khoa học.

Qua những thực trạng trên nhằm mang lại hiệu quả tối ưu trên cùng một diện tích đất trồng, cải tạo độ phì nhiêu, bồi trả lại cho đất các thành phần khoáng đa, vi lượng cần thiết cho sự tăng trưởng cây trồng, hạn chế sự ảnh hưởng của đất phèn, cải tạo những vùng đất bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất, tái tạo lại nguồn tài nguyên có sẵn, giảm tác hại và thân thiện với môi trường Công ty phân bón Sumitomo đã sản xuất và tiến hành nghiên cứu một loại phân bón (phân xỉ thép), bón trên cây Ổi nhằm đánh giá những hiệu quả nêu trên

Phân bón xỉ thép này là một sản phẩm phụ trong ngành sản xuất thép công nghiệp với thành phần chủ yếu gồm các nguyên tố khoáng trung lượng và vi lượng như: SiO2 (13,8%), CaO (44,3%), MgO (6,4%), S (0,07%), B (79ppm) góp phần làm tăng năng suất của cây trồng Nhưng nếu sử dụng thường xuyên phân từ xỉ thép có chứa kim loại nặng có thể dẫn đến việc tích lũy độc tố trong đất theo thời gian (MacNaeidhe & O'Sullivan, 1999) Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có thông tin về ảnh hưởng của việc áp dụng loại phân bón này đến môi trường đất trồng ổi ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chính vì vậy, đề tài “ Ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất lý - hóa của đất trồng ổi tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được tiến hành với

Trang 12

mục tiêu đánh giá được khả năng của phân xỉ thép trong việc cải thiện một số đặc tính

lí hóa của đất

2 Mục tiêu cụ thể

- Khảo sát các chỉ tiêu lí đất như dung trọng, tỉ trọng và độ xốp của đất trồng Ổi;

- Khảo sát các chỉ tiêu hóa đất như pH, EC, tổng N, tổng P, sắt tổng và chất hữu

cơ trong đất trồng Ổi

3 Nội dung thực hiện

- Thu thập tài liệu về quy trình kĩ thuật và kinh nghiệm sản suất của nông dân

- Tìm hiểu ảnh hưởng của các loại phân bón đến tính chất lí - hóa của môi trường đất

- Triển khai thí nghiệm tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

- Lấy mẫu đất lần 1 (sau 3 tháng bón phân) và lần 2 (sau 6 tháng bón phân) để phân tích các chỉ tiêu lí - hóa học đất

- Tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu vật lí và hóa học đất

- Ghi nhận và tổng hợp số liệu, phân tích, đánh giá các kết quả đạt được để đưa ra các kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 Khái quát khu vực nghiên cứu

1.1 Vị trí địa lí

Ấp Mỹ Phụng thuộc xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ;

+ Bắc giáp xã Giai Xuân, huyện Phong Điền

+ Tây giáp xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền

+ Nam giáp ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền

+ Đông giáp ấp Mỹ Long, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền

(Nguồn: UBMTTQVN xã Mỹ Khánh, ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng, 2008)

Hình 2.1: Bản đồ tổng quát nơi nghiên cứu

(Nguồn: http://stnmt.cantho.gov.vn)

Vùng nghiên cứu Ghi chú:

Trang 14

1.2 Điều kiện tự nhiên

Khí hậu:

Mang đặc điểm khí hậu của trung tâm vùng ĐBSCL với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa

từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ:

Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, dao động từ 25,8ºC - 28,6ºC; trung bình 27,2ºC Biên độ dao động giữa các ngày và các tháng không lớn Nhiệt độ cao nhất là 34,6ºC vào tháng 5 và thấp nhất là 19,5ºC vào tháng 1

Lượng mưa và độ ẩm không khí:

Tổng lượng mưa/năm đạt khoảng 1495,5mm, 89,17% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại chiếm 10,83% Đặc biệt tháng 2 hầu như không có mưa Lượng mưa lớn nhất vào các tháng 6, 7 và 11 từ 181,1mm - 384,5mm

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phong Điền, 2011)

Các nguồn tài nguyên

K+ rất thấp; CEC tương đối cao, đạt trị số rất lí tưởng cho việc trồng lúa; Độ no bazo cao Các chất dinh dưỡng về mùn, đạm từ khá đến giàu, lân và kali trung bình

- Đất phèn: được hình thành trên trầm tích đầm lầy biển Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, cùng với sự tích lũy muối phá vỡ các keo đất làm cho đất dính dẻo khi ướt, nứt nẻ và khô cứng khi khô Trong điều kiện yếm khí đất phèn ở dạng tiềm tàng Khi có quá trình thoát thủy, tạo ra môi trường oxi hóa, tầng pyrite chuyển thành tầng jarosite làm cho đất chua đồng thời giải phóng nhôm gây độc hại cho cây trồng, tuy nhiên đất phèn thường rất giàu các hợp chất hữu cơ

Nhìn chung với 2 loại đất trên thì đất phù sa thích hợp cho việc sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diện tích nhỏ cho việc trồng cây ăn trái; đất phèn dùng cho trồng các loại rau màu và một số cây ăn trái khác

Trang 15

Tài nguyên nước:

Nguồn nước mặt của huyện rất dồi dào được cung cấp bởi sông Cần Thơ và hệ thống kênh rạch, chủ yếu phục vụ cho hoạt động hoạt động sản xuất nông nghiệp và một phần nhỏ phục vụ sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn

(Nguồn: UBMTTQVN xã Mỹ Khánh, ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng, 2008)

2 Quy trình bón phân

Theo khuyến cáo ta có thể bón phân cho ổi như sau:

- Năm thứ nhất: Lượng phân bón cần cho một gốc ổi là: 200g phân NPK(16:16:8), 50g urê, 50g KCl

- Năm thứ 2: Lượng phân bón cho một gốc: 400 - 500g phân NPK(16:16:8), 100g urê, 100g KCl Chia thành 4 lần để bón trong 1 năm

- Năm thứ 3: Khi cây cho quả ổn định Tiến hành bón phân thành nhiều lần + Bón thúc ra hoa: 200 - 300g phân NPK (16:16:8) = 100g urê Bón rải quanh gốc Bón xong vun đất lấp kín lại

+ Bón nuôi quả: 1 - 1,5 tháng sau khi bón nuôi hoa Tiếp tục bón 15 ngày 1 lần kết hợp với bấm ngọn để kích thích ra chồi và nuôi quả Bón tất cả khoảng 10 lần

đủ đạm có màu xanh lá cây thẫm, sinh trưởng khỏe mạnh, chồi búp phát triển nhanh, năng suất cao Bón thừa đạm lá có màu tối, thân lá mềm, tỷ lệ nước cao, dễ mắc sâu bệnh Tình hình lốp đổ của các giống lúa cao cây cũng là hậu quả của việc bón quá nhiều phân đạm Cây thiếu đạm có màu vàng, sinh trưởng phát triển kém, còi cọc, có khi bị thui chột, thậm chí rút ngắn thời gian tích lũy, hoàn thành chu kỳ sống nhanh, năng suất thấp (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Gương et al., 2004) Lân còn có vai trò quan trọng trong quá trình biến dưỡng chất béo

Trang 16

ở hạt, sự phát triển của rễ, quá trình chín của hạt và trái (Thomas, 1943) Lân tham gia vào việc tổng hợp chất hữu cơ quan trọng và các quá trình sinh lí quyết định như quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng khoáng,…Vì vậy mà nó có tác dụng rất rõ rệt đến sự

sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng (Trịnh Xuân Vũ et al., 1976)

3.3 Phân kali (K)

Kali tham gia quá trình tổng hợp protein, quá trình hình thành đường, tinh bột, cellulose Kali giúp cho quá trình quang hợp tốt hơn đặc biệt là trong điều kiện thiếu ánh sáng, nhiệt độ thấp thời tiết âm u Kali thúc đẩy hình thành lignine, cellulose làm cho cây cứng cáp hơn, chịu đựng trong điều kiện nước sâu, giảm đỗ ngã và chống chịu sâu bệnh tốt hơn (Nguyễn Xuân Trường, 2004)

Do tác động đến quá trình quang hợp và hô hấp, kali ảnh hưởng tích cực đến việc trao đổi đạm và tổng hợp protit Kali làm giảm tác hại của việc bón quá nhiều phân đạm Thiếu kali quang hợp giảm mà hô hấp tăng lên nên năng suất giảm, chất lượng kém Thiếu kali lá mất sức trương, nhờ kali cây có thể chống rét tốt hơn vì tế bào chứa nhiều đường hơn và áp suất thẩm thấu trong tế bào tăng (Vũ Hữu Yêm, 1995)

3.4 Phân xỉ thép

Phân bón xỉ thép là một sản phẩm phụ của ngành sản xuất thép công nghiệp với thành phần chủ yếu gồm các nguyên tố khoáng trung lượng và vi lượng với tỉ lệ 13,8% SiO2; 44,3% CaO; 6,4% MgO; 0,07% S và 79ppm B có tác dụng với cây trồng như sau:

3.4.1 Silic (Si)

Silic là nguyên tố đứng thứ hai về lượng sau oxi, chiếm 25% khối lượng vỏ trái đất Hầu hết các khoáng của đất hóa thành đều là silicat và do đó đất bao gồm các silicat và SiO2 Trong đất đều có chứa silic với mức độ rất khác nhau, nhiều nhất đối với cây hòa thảo Sự thiếu hụt silic trở nên rất nhạy cảm làm cho cây trồng bị bệnh và hủy hoại khi dư thừa sắt và mangan Hiệu lực chủ yếu của silic với cây trồng là làm tăng hiệu lực P Silicat hòa tan làm tăng khả năng hút P của cây trồng, đặc biệt đáng chú ý với các loại đất khả năng giữ P cao (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

3.4.2 Canxi (Ca) và Magie (Mg)

Canxi và magie là 2 nguyên tố quan trọng nhất của kim loại kiềm thổ trong đất Một mặt chúng có ý nghĩa tạo những lý hóa tính quan trọng của đất, mặt khác chúng là những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng sau N, P, K (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Trong đất chua canxi nghèo do bị rửa trôi, đất vùng nhiệt đới ẩm hàm lượng canxi tổng và trao đổi đều thấp Trong cây, canxi đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của mô (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Trang 17

Trong đất, magie có trong các khoáng sét thường gặp như mica, vecmiculit, clorit

và đôi khi tìm thấy ở dạng cacbonat Cùng với Ca, Mg có ý nghĩa về lý hóa tính của đất và dinh dưỡng của cây trồng Thông thường hàm lượng Ca2+ trong đất cao hơn

Mg2+ (trừ đất dốc tụ, đất phèn, đất mặn và tầng sâu các phẫu diện) Khi tỉ lệ Ca2+/Mg2+

quá thấp có trường hợp có thể gây ra sự ngộ độc Mg2+ (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Khi thiếu S, triệu chứng thể hiện giống như thiếu chất đạm: lá nhỏ, vàng đều, rụng sớm, chồi ngọn chết (thiếu lưu huỳnh lá vàng từ ngọn xuống còn thiếu đạm thì vàng từ lá già lên)

3.4.4 Bo (B)

Bo là một nguyên tố cần cho cây trồng có liên quan đến các quá trình phân chia

tế bào và hình thành các mô Nó được chú ý nhiều vì khoảng cách rất hẹp giữa sự thiếu

và sự dư thừa gây độc hại Dưới 1ppm có thể xem là thiếu, mà trên 3ppm là ngưỡng gây độc Lượng Bo hòa tan trong nước chịu ảnh hưởng của độ pH, hàm lượng hữu cơ

và lượng keo Nói chung Bo hòa tan trong nước thấp trong đất chua ở vùng lượng mưa cao và cao trong đất trung tính và kiềm ở vùng lượng mưa thấp (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Hiện tượng thiếu Bo là rất phổ biến trên thế giới Rất nhiều loại cây ăn quả, cây rau, và các hoa màu khác có biểu hiện thiếu Bo Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phấn hoa, thiếu Bo hoa dễ bị rụng hoặc hạt bị lép Cây trồng nói chung thiếu Bo dễ bị sâu bệnh phá hại, khả năng chống chịu điều kiện bất lợi kém Bo cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống Bo cũng hình thành nên các phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein Thiếu Bo thường làm cây sinh trưởng còi cọc, và trước hết làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non

4 Vôi

Bón vôi không chỉ cung cấp dưỡng chất canxi cho cây mà còn có nhiều tác dụng khác phân hóa học không có được như ngăn chặn sự suy thoái của đất, khử tác hại của mặn, ức chế sự phát triển nấm bệnh trong đất, phát huy hiệu lực phân hữu cơ, vô cơ và thuốc diệt cỏ Thiếu canxi cây yếu ớt dễ đổ ngã, sâu bệnh tấn công, trái hay bị nứt, nếu

Trang 18

thiếu trầm trọng thì đọt lá non biến dạng, quăn queo rồi chết khô Canxi còn giúp cây trồng giải độc, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi nắng nóng, phèn, mặn Cần lưu ý rằng, hầu hết đất canh tác ở ĐBSCL đều thiếu canxi, do đó cần phải bón vôi (bột đá vôi hay vôi tôi) mỗi năm một lần để cung cấp canxi cho cây Nên bón vào đầu mùa mưa với liều lượng 30 - 50kg/1000m2 Để hạn chế tác hại của mặn, những vùng đất mặn có phèn nên bón vôi nung (CaO) để rửa mặn, còn đất mặn không phèn nên bón vôi thạch cao (CaSO4) với liều lượng khoảng 30 - 50kg/1000m2 Bón bằng cách rải đều trên đất liếp, tưới một lượng nước ngọt dư thừa để rửa mặn ra khỏi liếp

Đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh trong đất phát triển như bệnh vàng lá, thối rễ, chảy mủ thân… ngày càng trở nên nghiêm trọng tại ĐBSCL Một trong những biện pháp ức chế sự phát triển của các loại nấm bệnh này

là bón vôi cải tạo đất Thông thường có thể bón hàng năm vào thời điểm sửa soạn đất hoặc bón liều cao 100 - 200kg/1000m2 nhưng vài năm mới bón lại một lần Giúp vi khuẩn có lợi trong đất phát triển, giúp chất hữu cơ phân hủy nhanh hơn, giúp giữ chất mùn không bị rửa trôi… Ở đất phèn, phân lân bón vào đất chỉ hữu dụng khoảng 30%,

vì vậy bón vôi trước khi bón phân lân, nhất là super lân sẽ làm tăng hữu dụng phân lân

5.1.1 Tỉ trọng của đất

Là tỉ lệ khối lượng của thể rắn đối với khối lượng của nước có cùng thể tích Hoặc có thể định nghĩa như sau: tỉ trọng là khối lượng của đất trên một đơn vị thể tích Đất ở trạng thái khô kiệt và không tính đến thể tích các lỗ rỗng trong đất (g/cm3) Tỷ trọng kí hiệu là Pp (Dương Minh Viễn, 2003)

Để tính tỉ trọng ta áp dụng công thức: Pp = Msp/Vw

Trong đó: Pp: Tỉ trọng của đất (g/cm3)

Msp: khối lượng các hạt đất khô (g)

Vw: Thể tích nước trong bình pycnometer được thay bởi mẫu đất (cm3) hoặc (m3)

Đất được hình thành trên các loại đá mẹ có thành phần khoáng khác nhau, có tỉ trọng khác nhau Các loại đất khác nhau có tỉ trọng rất khác nhau (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Trang 19

Tỉ trọng đất lớn hay nhỏ còn phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng chất hữu cơ trong đất Bởi vì tỉ trọng của chất hữu cơ rất nhỏ chỉ khoảng 1,2 - 1,4g/cm3 cho nên các loại đất giàu mùn có tỉ trọng nhỏ hơn đất nghèo mùn Vì thế tỉ trọng của lớp đất mặt nhỏ hơn tỉ trọng của các lớp đất dưới (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau sẽ có tỉ trọng khác nhau (Trần Văn Chính, 2006):

Nguồn: Karchinski (1965) trích bởi Đỗ Thị Thanh Ren (1999)

Ý nghĩa thực tiễn: Tỉ trọng đất được sử dụng trong các công thức tính toán độ xốp, công thức tính tốc độ, thời gian sa lắng của các cấp hạt đất (cát, thịt, sét) trong phân tích thành phần cơ giới Thông qua tỉ trọng đất người ta cũng có thể đưa ra được những nhận xét sơ bộ về hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét hay tỉ lệ sắt, nhôm của một loại đất cụ thể nào đó (Trần Văn Chính, 2006)

5.1.2 Dung trọng đất

Dung trọng là trọng lượng một đơn vị thể tích đất khô không bị phá vỡ cấu trúc

và được tính bằng g/cm3 (Ngô Ngọc Hưng, 2004)

Dung trọng được tính bằng công thức: Pb = Wov-Wr/Vr

Trong đó: Pb: dung trọng khô (g/cm3)

Wov: khối lượng mẫu đất và ring ngay sau khi sấy khô ở 105ºC

Wr: khối lượng của ring (g)

Vr: thể tích ban đầu của dụng cụ lấy mẫu (cm3)

Như vậy dung trọng của đất thường nhỏ hơn so với tỉ trọng vì thể tích đất khô kiệt được xác định ở đây bao gồm cả các hạt đất rắn và các khe hở tự nhiên trong đất Theo Trần Kông Tấu (2002), dung trọng cũng phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, cấu trúc, hàm lượng chất hữu cơ của đất và tổng lượng khe hở trong đất Đất giàu mùn có dung trọng nhỏ và ngược lại Dung trọng cho biết về tình trạng nén dẻ của đất,

Trang 20

đất có dung trọng càng cao thì độ xốp càng thấp Dung trọng thường tăng theo độ sâu tầng đất, nguyên nhân chủ yếu là do chất hữu cơ giảm dần theo độ sâu, kết cấu đất kém, rễ thực vật ít và độ chặt tăng lên do sức nén của lớp đất mặt Hiện nay, các biện pháp canh tác tăng cường chất hữu cơ cho đất như trồng xen, luân canh, trồng cây họ đậu, bón phân hữu cơ…đã tạo điều kiện cho dung trọng đất giảm xuống góp phần cải thiện tính chất đất, đặc biệt là tính chất đất ở lớp mặt

Theo Nguyễn Thế Đặng (1999) ở nước ta dung trọng đất dao động từ 0,7 - 1,7g/cm3 Nếu dung trọng đất > 1,2g/cm3 thì việc canh tác rất khó khăn và năng suất cây trồng thường thấp do đất quá nhiều sét, ít chất hữu cơ, làm ngăn cản sự phát triển của bộ rễ Đất có dung trong thích hợp nhất cho cây là 1,0 - 1,1g/cm3

Bảng 2.3: Thang đánh giá dung trọng đất (g/cm3)

Dung trọng Đánh giá

Nguồn: Karchinski (1965) trích bởi Đỗ Thị Thanh Ren (1999)

Nghiên cứu dung trọng đất cho phép ta sơ bộ đánh giá được chất lượng của đất, đặc biệt là đất cho trồng cạn Các loại đất có dung trọng thấp thường là những loại đất

có kết cấu tốt, hàm lượng mùn cao Do đó những loại đất này cũng sẽ có chế độ nước, nhiệt, không khí và dinh dưỡng phù hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Ý nghĩa: Dung trọng của đất được sử dụng trong việc tính độ xốp của đất, tính khối lượng đất canh tác trên 1 ha để xác định trữ lượng các chất dinh dưỡng, lượng vôi cần bón cho đất hay trữ lượng nước có trong đất (Trần Văn Chính, 2006)

Dựa vào đặc tính nén dẻ của đất, dung trọng còn được dùng để kiểm tra chất lượng các công trình thủy lợi, đê, bờ mương,… để đảm bảo độ vững của các công trình trên đòi hỏi dung trọng cần đạt được tối thiểu phải lớn hơn 1,5g/cm3 (Trần Văn Chính, 2006)

Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng, có thể được sử dụng để đánh giá độ phì của đất về mặt vật lý (như tình trạng nén dẻ, độ xốp, chiều sâu tầng đất mà rễ có thể phát triển,…) và hóa học (như ước lượng hàm lượng tương đối chất hữu cơ trong đất và điều kiện đất có được thoáng khí hay không,…) Ngoài ra, dung trọng đất còn cho biết khả năng đâm xuyên của hệ thống rễ cây trồng ở các tầng đất này (Võ Thị

Gương et al., 2004)

Trang 21

hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng là 50% (Võ Thị Gương et al., 2004)

Bảng 2.4: Thang đánh giá độ xốp đất theo Karchinski, 1965

Nguồn: Karchinski (1965) trích bởi Đỗ Thị Thanh Ren (1999)

Ý nghĩa thực tiễn: Độ xốp của đất rất có ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp và các loại cây trồng vì nước và không khí di chuyển được trong đất là nhờ vào những khoảng trống hay độ xốp của đất Các chất dinh dưỡng của đất có thể huy động được cho cây trồng, các hoạt động của vi sinh vật đất chủ yếu cũng diễn ra ở đây, chính bởi vậy mà người ta nói độ phì đất phụ thuộc đáng kể vào độ xốp của đất Ngoài ý nghĩa trên chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy nếu đất tơi xốp thì làm đất cũng dễ dàng, rễ cây phát triển tốt, khả năng thấm, thoát nước và trao đổi không khí diễn ra cũng hết sức thuận lợi và nhanh chóng Vùng đồi núi nếu đất có độ xốp cao thì phần lớn nước mưa được thấm xuống sâu, hạn chế hiện tượng nước chảy tràn trên mặt đất và do đó hạn

chế được xói mòn trên bề mặt (Trần Văn Chính, 2006) Theo Nguyến Thế Đặng et al

(1999) độ xốp của cùng một loại đất ở độ sâu khác nhau thì khác nhau và giảm dần theo độ sâu

Trang 22

Bảng 2.5: Dung trọng, tỉ trọng và độ xốp của một số loại đất ở Việt Nam

Loại đất (theo phát sinh) Dung trọng (g/cm 3 ) Tỉ trọng Độ xốp (%)

5.2 Các đặc tính hóa học cơ bản của đất

5.2.1 pH đất

Theo Ngô Ngọc Hưng et al (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng vì

nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất

Theo Trần Thành Lập (1999) thì đất ĐBSCL thường có pH thấp, đất phù sa không phèn thường có pH=4,0 - 5,5 Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng pH có thể nhỏ hơn 3,0, ở trị số pH này cây chịu phèn mới sống nổi Đất bị nhiễm mặn thường có pH từ 7 trở lên Một loại đất rất acid có pH thấp, đất này thiếu Ca và

Mg trao đổi; các chất Al, Fe, Mn và Bo hòa tan rất nhiều, chất Mo ít hòa tan, độ hữu dụng của N và P rất thấp Một loại đất kiềm có pH cao, đất này nhiều Ca, Mg và Mo;

có ít Al, độ hữu dụng đạm cao (Trần Thành Lập, 1999) Trên đất mặn pH từ 6,0 - 7,5

và tỉ lệ với độ mặn (Nguyễn Văn Luật, 2003) Nếu đất có pH quá cao, đất sẽ thiếu Fe,

Mn, Cu, Zn và nhất là thiếu P và Bo

Trong đất phèn pH thấp, hàm lượng sắt nhôm hòa tan cao gây độc cho cây trồng Trong đất ngập nước sự ngộ độc do sự hợp chất sunfat không bền, bị khử thành sunfit dưới dạng FeS và ít hòa tan (khoảng 0,1ppm) cũng có thể gây hại trực tiếp cho cây trồng Trong đất ít chua hoặc trung tính các muối của sắt thường ở dạng không hòa tan

và không gây độc cho cây Nếu pH < 4,0, các hợp chất sắt trở nên hòa tan và rất di động, có thể gây hại cho cây trồng, pH cao có thể ảnh hưởng đến độ mặn của đất và độc chất chính trong các loại đất mặn là nồng độ muối NaCl, Na2SO4, các muối clo và sunfat cao (Đỗ Thị Thanh Ren, 1993)

Trang 23

Bảng 2.6: Thang đánh giá pHH2O (Tỷ lệ đất:nước = 1:2,5)

pH H2O Phân loại pH H2O Phân loại

Nguồn: USDA (1983) trích bởi Trần Sỹ Nam (2011)

Tổng quát mà nói thì đất có pH = 6 - 7 là tốt nhất vì ở mức pH này có sự hữu

dụng tối đa của chất dinh dưỡng (Ngô Ngọc Hưng et al., 2004)

5.2.2 Độ dẫn điện dung dịch đất (Electrical conductivity)

Độ dẫn diện (EC) của đất liên quan tổng độ muối tan: muối tan trong đất bao gồm các cation và anion tan trong nước Các cation chủ yếu là Na+, K+, Ca2+ và Mg2+, liên kết với các anion Cl-, SO42- một ít CO32-, HCO3- Với đất chua và đặc biệt là đất phèn trong thành phần muối tan có Mn2+, Al3+, Fe3+, Fe2+ Tùy theo tính chất mặn của đất, thành phần các cation và anion trong muối tan khác nhau

Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng, giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá hủy cấu trúc đất (Tất Anh Thư, 2006)

EC được tính bằng đơn vị mmhos trên centimeter, chính mmhos cũng là trị số nghịch đảo của đơn vị đo sức cản điện (ohms) Trị số mhos/cm là một đơn vị rất lớn, phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ hơn trị số này rất nhiều (Trần Kim Tính, 2003)

Bảng 2.7: Thang đánh giá độ dẫn điện (mS/cm)

EC (mS/cm)

Ảnh hưởng đến cây trồng Đất:nước (1:2)

Nguồn: Western Agricultural Laboratories (2002) trích bởi Ngô Ngọc Hưng (2004)

5.2.3 Chất hữu cơ trong đất

Chất hữu cơ là một chỉ tiêu quan trọng của đất Đó là nguồn cung cấp trực tiếp nhiều dinh dưỡng cho cây trồng: N, P, K, Ca, Mg,…là yếu tố làm tăng lượng và chất của CEC, tăng kết cấu đất, cải thiện tính chất vật lí, khả năng giữ ẩm của đất Chất hữu

cơ (CHC) có thể biểu thị bằng % cacbon hữu cơ (OC), hoặc % chất hữu cơ (CHC), với

hệ số chuyển đổi là 1,724 (%CHC = %OC * 1,724)

Chất hữu cơ của đất còn là chỉ tiêu số một về độ phì và ảnh hưởng đến nhiều tính chất đất: khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, khả năng hấp phụ, giữ nhiệt và kích

Trang 24

thích sinh trưởng cây trồng Để phát triển nông nghiệp bền vững phải giảm sự mất chất hữu cơ đất nhất là sử dụng đất ở vùng nhiệt đới (Lê Văn Khoa, 2000)

Hàm lượng chất hữu cơ đất và độ bền cấu trúc đất liên quan chặt chẽ với nhau Hàng năm bổ sung xác hữu cơ thực vật đã duy trì có hiệu quả độ bền cấu trúc Ở đất không có cacbonat chứa hàm lượng mùn thấp hơn 3,4% thì cấu trúc đất bị suy giảm nhiều hơn so với đất có chứa 4,3% có cấu trúc bền

Bảng 2.8: Thang đánh giá đất theo hàm lượng chất hữu cơ (% CHC)

Chất hữu cơ đất (%) Đánh giá

Theo Ngô Ngọc Hưng et al (2004) thì đạm (N) tổng số vùng nhiệt đới thường

thấp hơn đất vùng ôn đới Ở ĐBSCL, đất phèn có hàm lượng N cao nhất, thường 0,2% Đất phù sa có hàm lượng đạm từ trung bình đến khá Đạm là yếu tố giới hạn năng suất chủ yếu trên đa số các loại đất và cây trồng ở ĐBSCL

Nitơ là chỉ tiêu hàng đầu đánh giá độ phì của đất Đạm không có nguồn gốc từ khoáng mà chủ yếu do nguồn hữu cơ và nguồn cố định từ không khí cung cấp Trong đất 95 - 99% N ở dạng hữu cơ, chỉ có 1 - 5% ở dạng vô cơ (amôn hoặc nitrate) Trong lớp đất cày 40 - 50% ở dạng acid amin (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Do tổng số chất hữu cơ của đất Việt Nam thấp so với đất vùng ôn đới nên hàm lượng N tổng số và dễ tiêu trong đất nói chung thấp Đạm tổng số của đất Việt Nam thường không quá 0,3% đối với đất đồi núi và không quá 0,2% so với đất đồng bằng Cũng thấy rõ sự giảm sút hàm lượng N trong đất khi độ chua của đất tăng (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

N vô cơ trong đất có ở dạng NH4+, NO2-, và NO

-3 được tạo thành do quá trình khoáng hóa và tổng hợp với hai quá trình amôn hóa và quá trình nitrate hóa có sự tham gia của vi sinh vật (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Đất Việt Nam do có pH thấp, nhôm di động cao, độ no kiềm thấp, nhiều chất hữu

cơ hòa tan và độ thoáng khí kém nên quá trình nitrate hóa rất yếu Mặt khác do độ ẩm cao nên N - NH4 tích lũy nhiều, ít rửa trôi hơn NO3- Tuy nhiên ở các loại đất trồng cạn thành phần cấp hạt sét nhỏ và có bón nhiều phân hữu cơ thì hàm lượng NO3- trao đổi đáng kể và thường cao hơn hàm lượng NH4+ (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998) Nitơ là một trong các nguyên tố dinh dưỡng quan trọng của thực vật Cây trồng chỉ sử dụng được nitơ trong đất khi đã chuyển hóa thành dạng vô cơ Nếu C/N càng

Trang 25

cao, nitơ hữu cơ càng khó phân giải Nitơ tổng số trong đất là chỉ tiêu thường được phân tích để đánh giá độ phì nhiêu tiềm tàng của đất (Lê Văn Khoa, 2000)

Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), nitơ được xem là nguyên tố quan trọng trong việc gia tăng năng suất Trên hầu hết các loại đất bón phân đạm giúp gia tăng sự tăng trưởng cây trồng, đặc biệt là sự phát triển của thân và lá

Bảng 2.9: Thang đánh giá đất theo hàm lượng đạm tổng số (%N)

Lân tổng số trong đất phụ thuộc vào thành phần khoáng đất Đất ĐBSCL được tạo thành từ các khoáng nghèo lân Đất phù sa được bồi đắp hàng năm và đất mặn có

hàm lượng lân tổng số cao nhất, thấp nhất là các loại đất phèn (Ngô Ngọc Hưng et al.,

2004)

Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999) thì hàm lượng lân trong cây trồng và đất thấp hơn N và kali Trong đất lân có khuynh hướng phản ứng với các thành phần trong đất tạo ra các hợp chất không hòa tan, chậm hữu dụng trong cây trồng Nguyên tố lân trong tự nhiên kết hợp với oxi để cho ra P2O5, kết hợp với nước để cho ra acid orthophosphoric Đơn vị tính của lân trong đất là % P2O5 hoặc % P

Trong đất lân có thể ở dạng hữu cơ hoặc lân khoáng tùy thuộc vào sự hình thành

và phát triển của đất Hàm lượng lân tổng số trong đất biến thiên trung bình từ 0,15% P2O5 Đất ĐBSCL nhìn chung nghèo lân tổng số, hàm lượng lân trung bình của các nhóm đất chính là 0,006% P2O5 (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

0,02-Đất phù sa được bồi hàng năm và đất mặn có hàm lượng lân tổng số cao nhất và thấp nhất là các loại đất phèn (Ngô Ngọc Hưng, 2005)

Trong đất lân tổng số chia làm hai dạng: lân hữu cơ và lân vô cơ Tỉ lệ này phụ thuộc vào sự hình thành và phụ thuộc vào điều kiện đất Lân hữu cơ thường chiếm khoảng 20 - 80% lân tổng số Hàm lượng lân vô cơ gia tăng theo độ sâu phẫu diện đất, trong khi hàm lượng lân hữu cơ cao nhất ở tầng mặt

Trang 26

Bảng 2.10: Thang đánh giá đất theo hàm lượng lân tổng số (%P2O5)

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, sự tích lũy sắt trong đất là một quy luật tất yếu, biểu hiện ở màu sắt đỏ hoặc vàng của đất Sắt tổng số cao ở đất đồi (khoảng 10%

Fe2O3 ở đất đỏ vàng/granit và khoảng 25% ở đất bazan), thấp hơn ở đất trồng lúa nước (khoảng 1,5% Fe2O3 ở đất bạc màu và 10% ở đất phù sa sông Hồng) (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Động thái sắt trong đất phụ thuộc nhiều ở khả năng oxi hóa - khử và độ chua đất

Sự oxi hóa sắt 2 khó khăn khi độ pH thấp, nhưng khi nâng độ pH lên 5 - 8, do thủy phân Fe2+ tạo thành Fe(OH)2 và sự oxi hóa tiến hành nhanh chóng

Fe2+ + 3H2O = Fe(OH)3 + 3H+ + e (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, 1998)

Bảng 2.11: Thang đánh giá hàm lượng Fe2O3 tự do

Trang 27

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: thí nghiệm được thực hiện từ tháng 02/2013 đến tháng 07/2013

- Bộ khoan lí - hóa đất chuyên dụng

- Ống hình trụ lấy mẫu không xáo trộn (ring)

- Cân điện tử (Startorius; Ep 410s) với độ chính xác cao, sai số không quá 0,001g

- Máy so màu sắc kế (U2800) với model U - 2800 Spectrophotometer, ROM version 2501 09 dùng xác định các chỉ tiêu như TP, tổng sắt

- Tủ sấy có nhiệt độ cố định dùng để phân tích chỉ tiêu dung trọng

- Hóa chất sử dụng trong phân tích các chỉ tiêu hóa học đất

- Hệ thống chưng cất đạm Kjeldahl Gerhardt

- Máy đo pH (pIOn neer 10), EC (pION neer 30)

- Thí nghiệm bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), được chia thành 20

lô bao gồm 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại (Hình 3.1) Diện tích mỗi lô là 50m2, tương ứng với 4 cây (khoảng cách là 3,7m x 3,3m) Thí nghiệm được thực hiện ở vùng sinh thái đất phù sa và nước ngọt quanh năm

- Năm nghiệm thức phân bón áp dụng trong nghiên cứu này được trình bày chi tiết trong Bảng 3.1 và Bảng 3.2

Ngày đăng: 29/09/2015, 22:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ tổng quát nơi nghiên cứu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 2.1 Bản đồ tổng quát nơi nghiên cứu (Trang 13)
Hình 3.1: Mô tả bố trí thí nghiệm - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 3.1 Mô tả bố trí thí nghiệm (Trang 29)
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu về đặc tính đất đầu vụ - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu về đặc tính đất đầu vụ (Trang 32)
Hình 4.1: Tỉ trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.1 Tỉ trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 34)
Hình 4.2: Dung trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.2 Dung trọng đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 35)
Hình 4.3: Độ xốp đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.3 Độ xốp đất giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 36)
Hình 4.4: Giá trị pH giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.4 Giá trị pH giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 37)
Sự khác nhau giữa 5 nghiệm thức phân bón (p&gt;0,05; Hình 4.4). Nhưng ở thời điểm 6  tháng pH đất của nghiệm thức 5 (16g N - 16g P 2 O 5   -  8g  K 2 O  +  CaCO 3 )  là  cao  nhất  (p&lt;0,05; Hình 4.4), không có sự khác nhau giữa 4 nghiệm thức phân bón c - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
kh ác nhau giữa 5 nghiệm thức phân bón (p&gt;0,05; Hình 4.4). Nhưng ở thời điểm 6 tháng pH đất của nghiệm thức 5 (16g N - 16g P 2 O 5 - 8g K 2 O + CaCO 3 ) là cao nhất (p&lt;0,05; Hình 4.4), không có sự khác nhau giữa 4 nghiệm thức phân bón c (Trang 38)
Hình 4.6: Hàm lượng CHC giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.6 Hàm lượng CHC giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 40)
Hình 4.7: Hàm lượng N tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.7 Hàm lượng N tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 41)
Hình 4.8: Hàm lượng P tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.8 Hàm lượng P tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón phân (Trang 42)
Hình 4.9: Hàm lượng Fe tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Hình 4.9 Hàm lượng Fe tổng số giữa các nghiệm thức sau 3 tháng &amp; 6 tháng bón (Trang 43)
Phụ bảng 1.1: Bảng số liệu thô về các chỉ tiêu lí - hóa đất trồng ổi sau 3 tháng bón phân tại huyện Phong Điền, thành phố Cần - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
h ụ bảng 1.1: Bảng số liệu thô về các chỉ tiêu lí - hóa đất trồng ổi sau 3 tháng bón phân tại huyện Phong Điền, thành phố Cần (Trang 48)
Bảng one - way ANOVA sau 6 tháng bón phân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến tính chất vật lý và hóa học của đất trồng ổi tại huyện phong điền, thành phố cần thơ
Bảng one way ANOVA sau 6 tháng bón phân (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm