... tác quản lý Trƣớc thực trạng trên, cần sớm nghiên cứu tìm giải pháp nhằm quản lý sử dụng bền vững tài nguyên NDĐ Do đó, đề tài Hiện trạng thách thức quản lý tài nguyên đất Nghiên cứu thí điểm thị. .. đến công tác quản lý tài nguyên NDĐ vùng nghiên cứu 4.1 Xu thay đổi nguồn tài nguyên nƣớc thị xã Vĩnh Châu 4.1.1 Nguồn tài nguyên nước mặt Thị xã Vĩnh Châu có đặc điểm với tỉnh Sóc Trăng, với mạng... TRƢỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG HIỆN TRẠNG VÀ THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG VÀ THÁCH THỨC TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Nghiên cứu thí điểm tại Thị xã Vĩnh Châu
tỉnh Sóc Trăng
Sinh viên thực hiện
LÝ THỊ NGỌC PHƯỢNG 3 037 6
Cán bộ hướng dẫn Ths HUỲNH VƯƠNG THU MINH H
Cần Thơ, 12/20 3 3
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG VÀ THÁCH THỨC TRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Nghiên cứu thí điểm tại Thị xã Vĩnh Châu
tỉnh Sóc Trăng
Sinh viên thực hiện
LÝ THỊ NGỌC PHƯỢNG 3103766
Cán bộ hướng dẫn Ths HUỲNH VƯƠNG THU MINH
Cần Thơ, 12/2013
Trang 3i
TÓM LƯỢC
Thị xã Vĩnh Châu là khu vực duy nhất của tỉnh Sóc Trăng không nhận được nguồn nước ngọt từ sông Hậu ngay của trong mùa lũ Hơn nữa, do thuộc vùng ven biển nên nguồn nước mặt tại đây bị ô nhiễm và nhiễm mặn quanh năm Đây là nguyên nhân làm cho nguồn nước dưới đất và một phần nước mưa trở thành nguồn nước chính được người dân nơi đây khai thác sử dụng phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh Với mục tiêu đánh giá hiện trạng và thách thức trong quản lý tài nước dưới đất, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn hộ gia đình, phỏng vấn chuyên gia, các nhà quản lý kết hợp với khảo sát thực địa và thu thập số liệu thứ cấp từ các bài báo cáo và tạp chí khoa học để thực hiện cho nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý tài nguyên dưới đất Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn nước dưới đất đang có xu thế thay đổi cả về trữ lượng (đạt 19,2% trữ lượng tiềm năng), chất lượng (14,5% cho rằng nguồn nước có dấu hiệu suy giảm, 7% mắc bệnh liên quan đến nguồn nước) và động thái (suy giảm trung bình 0,4 m/năm, độ sâu giếng khoan thay đổi từ 90 m – 100 m đến 115 m) Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy công tác quản lý nước dưới đất tại địa phương chưa được quan tâm đúng mức, nhất là trong việc cấp phép khai thác Bên cạnh đó, nhận thức của người dân trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước còn hạn chế (71,8% không đăng ký khi khoan giếng) Do đó, áp lực trong quản lý tài nguyên nước dưới đất ngày càng lớn, nhất là trong bối cảnh phát triển kinh tế, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu
Trang 4ii
MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Những nghiên cứu liên quan 3
2.2 Đặc điểm các tầng chứa nước ở Vĩnh Châu 5
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Địa điểm nghiên cứu 7
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.2.1Phương pháp thu thập số liệu 9
3.2.2Phương pháp xử lý số liệu 10
3.2.3Phương pháp phân tích ma trận SWOT 10
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
4.1 Xu thế thay đổi nguồn tài nguyên nước ở thị xã Vĩnh Châu 12
4.1.1Nguồn tài nguyên nước mặt 12
4.1.2Nguồn tài nguyên nước mưa 12
4.1.3Nguồn tài nguyên nước dưới đất 13
4.2 Hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất 19
4.2.1Thông tin chung 19
Trang 5iii
4.2.2Khai thác nước dưới đất tập trung 20
4.2.3Khai thác nước dưới đất đơn lẻ 20
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài nguyên nước dưới đất 26 4.3.1Hiện trạng quản lý tài nguyên nước dưới đất 26
4.3.2Những tồn tại và thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất 28
4.3.3Giải pháp quản lý tài nguyên nước dưới đất 31
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Kiến nghị 33
Tài liệu tham khảo 35
Phụ Lục 1 37
Phụ Lục 2 40
Phụ Lục 3 42
Phụ Lục 4 44
Phụ Lục 5 45
Phụ Lục 6 46
Phụ Lục 7 47
Phụ Lục 8 48
Phụ Lục 9 49
Trang 6iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Mô hình phân tích ma trận SWOT 11
Bảng 4.1 Đánh giá hiện trạng khai thác NDĐ 15
Bảng 4.2 Quy hoạch khai thác sử dụng các tầng nước nhạt tại Vĩnh Châu 15
Bảng 4.3 Thông tin người được phỏng vấn 19
Bảng 4.4 Hiện trạng khai thác nước tập trung tại Vĩnh Châu 20
Bảng 4.5 Lịch thời vụ tại Vĩnh Châu 23
Bảng 4.6 Thay đổi cơ cấu đất thị xã Vĩnh Châu qua các năm 23
Bảng 4.7 Đánh giá hiện trạng khai thác NDĐ 29
Bảng 4.8 Kết quả phân tích ma trận SWOT 32
Trang 7v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị xã Vĩnh Châu 7
Hình 3.2 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu 8
Hình 3.3 Sơ đồ các bước thiết kế phiếu phỏng vấn 10
Hình 4.1 Tổng lượng mưa theo từng năm ở Vĩnh Châu từ năm 2002 – 2008 13 Hình 4.2 Bản đồ phân bố nước nhạt tầng chứa nước qp2-3 14
Hình 4.3 Mật độ giếng và cường suất khai thác NDĐ tỉnh Sóc Trăng (2010) 16 Hình 4.4 Đồ thị mực nước công trình Q598020 tại thị xã Sóc Trăng 17
Hình 4.5 Sử dụng ống tiêm trong khai thác nước 17
Hình 4.6 Kết quả khảo sát chất lượng NDĐ trong sinh hoạt 18
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện nghề nghiệp của người dân 19
Hình 4.8 Các nguồn nước chính sử dụng cho sinh hoạt 21
Hình 4.9 Tầng suất khai thác NDĐ cho sinh hoạt vào mùa mưa và mùa khô 22 Hình 4.10 Mô hình canh tác chính tại Vĩnh Châu 23
Hình 4.11 Diện tích đất canh tác nông nghiệp 24
Hình 4.12 Người dân sử dụng nước tưới hành 24
Hình 4.13 Các nguồn nước chính cung cấp cho nông nghiệp và thủy sản 25
Hình 4.14 Tầng số khai thác nước dưới đất trong nông nghiệp 26
Hình 4.15 Hoạt động xin cấp phép 27
Hình 4.16 Cơ quan khoan giếng 27
Hình 4.17 Hiện trạng sử dụng nước dưới đất phân theo địa phương 28
Trang 8TN & MT ST Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng
BSNT Bổ sung nhân tạo
IUCN International Union for Conservation of Natural BĐKH Biến đổi khí hậu
Trang 9bị nhiễm mặn ở vùng ven biển thì NDĐ đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn Song, hiện tại người dân vẫn chưa nhận thức rõ tầm quan trọng trong việc khai thác sử dụng và bảo vệ NDĐ Bên cạnh đó, những bất cập trong công tác quản lý dẫn đến nguy cơ suy thoái, cạn kiệt nguồn tài nguyên này
Tỉnh Sóc Trăng hiện có hơn 79.981 giếng nhưng phân bố không đều theo không gian, với tổng lượng nư ớc khai thác khoảng 245.000 m³/ngày (ở tầng Holecen, Pleistocen) nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn NDĐ tại tỉnh đang được khai thác một cách tràn lan, thiếu quy hoạch dẫn đến sự suy giảm mực nước (khoảng 0,2 m - 0,3 m/năm),
nghiêm trọng nhất là ở thị xã Vĩnh Châu, huyện Mỹ Xuyên và Trần Đề (Sở TN
& MT ST, 2010a) Thị xã Vĩnh Châu thuộc vùng ven biển của tỉnh Sóc Trăng,
là khu vực duy nhất của tỉnh không được cung cấp nước ngọt từ sông Hậu Do
đó, NDĐ và một phần nước mưa là nguồn nước chủ yếu, quyết định đến sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh Mặc dù mật độ giếng khai thác tại Vĩnh Châu đứng thứ 03 so với toàn tỉnh (26 giếng/km2) nhưng cường suất khai thác lại cao nhất chiếm 77,12 m³/ngày/km2
tượng nhiễm mặn các tầng NDĐ (Sở TN & MT ST, 2010a)
Những vấn đề trên đã nói lên thực trạng quản lý tài nguyên NDĐ ở địa phương vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng khai thác NDĐ một cách tràn lan, thiếu quy hoạch, gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý Trước những thực trạng trên, cần sớm nghiên cứu và tìm ra giải pháp nhằm
quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên NDĐ Do đó, đề tài “Hiện trạng và
thách thức trong quản lý tài nguyên dưới đất Nghiên cứu thí điểm tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng” được đề ra nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng
khai thác sử dụng NDĐ và xác định những thách thức trong công tác quản lý tài nguyên NDĐ Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 101.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung thực hiện trong mục tiêu 1:
- Để xác định xu thế biến động về trữ lượng NDĐ, nghiên cứu đã thực hiện các bước: (i) lược khảo và kế thừa số liệu về trữ lượng khai thác an toàn, trữ lượng tiềm năng, động thái, chất lượng NDĐ tại các tầng chứa nước trong khu vực nghiên cứu; (ii) phân tích đánh giá xu thế biến động về động thái, chất lượng NDĐ tại các tầng chứa nước;
Nội dung thực hiện trong mục tiêu 2:
- Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng NDĐ thông qua phiếu phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn hộ gia đình về lượng nước khai thác cho sinh hoạt, nông nghiệp và các mục đích khác ở vùng nghiên cứu;
- Khảo sát thực địa bổ sung thông tin để làm cơ sở giải thích các kết quả nghiên cứu về hiện trạng khai thác sử dụng NDĐ phục vụ cho sinh hoạt, nông nghiệp, thủy sản;
Nội dung thực hiện trong mục tiêu 3:
- Đánh giá, so sánh giữa lượng nước khai thác hiện tại cho các mục đích khác nhau với trữ lượng an toàn và trữ lượng tiềm năng;
- Đánh giá công tác quản lý tài nguyên NDĐ, chỉ ra những tồn tại và thách thức trong công tác quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên NDĐ thông qua phỏng vấn cán bộ quản lý ở Phòng TN & MT và các chuyên gia;
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên NDĐ tại khu vực nghiên cứu bằng phương pháp phân tích ma trận SWOT;
1.4 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu đến các tầng chứa nước nhạt ở vùng nghiên cứu và triển khai phỏng vấn tại 06 phường xã
Trang 113
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Những nghiên cứu liên quan
Lê Anh Tuấn cùng các cộng sự (2006), trong nghiên cứu “Quản trị môi trường nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” đã thông qua các cuộc thảo luận, kết luận và nêu lên năm vấn đề môi trường nước ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đây là những yếu tố hạn chế chủ yếu của sản xuất nông nghiệp và sức khỏe con người (i) sự xâm nhập mặn ở các vùng ven biển; (ii) ảnh hưởng của đất phèn; (iii) ô nhiễm nước từ hoạt động của con người, (iv) tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô và (v) lũ lụt trong mùa mưa Đồng thời, nghiên cứu còn đưa ra chiến lược thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) của người dân và các vấn đề quản trị nước trong việc quản lý bền vững tài nguyên nước (TNN) tại khu vực Song, nghiên cứu chưa nêu được vai trò của con người trong việc bảo vệ TNN, tác động từ BĐKH mà người dân ĐBSCL phải gánh chịu trong thời gian tới Tương tự, trong nghiên cứu vào năm 2010 thông qua việc phân tích mối quan hệ của chế độ thủy văn, biển, kiểu đất và ô nhiễm đã cho thấy vai trò quan trọng của TNN trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL Ngoài ra, nghiên cứu còn nêu lên những giới hạn và thách thức trong việc khai thác TNN phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vấn đề TNN nói chung và tài nguyên NDĐ nói riêng không chỉ gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp mà còn là một trong những khó khăn và thách thức đối với các nhà quản lý trong việc khai thác và sử dụng TNN phục vụ cho sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh
Một nghiên cứu do IUCN (International Union for Conservation of Natural) thực hiện vào năm 2011, thông qua việc thu thập tài liệu kết hợp với các cuộc thảo luận đã nói lên đặc điểm sử dụng NDĐ ở ĐBSCL Kết quả nghiên cứu cho thấy, (i) sự tác động của con người vào chế độ thủy văn đã ảnh hưởng trực tiếp đến TNN (làm thay đổi chế độ ngập lũ tự nhiên, suy giảm mực NDĐ, ô nhiễm nguồn nước); (ii) mục đích khai thác, sử dụng NDĐ của người dân (cung cấp nước sinh hoạt, cấp nước đô thị, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản,
và các khu công nghiệp); (iii) khó khăn trong công tác quản lý tài nguyên NDĐ ở vùng ĐBSCL thông qua việc áp dụng luật; (iv) vấn đề NDĐ ở ĐBSCL
và những hậu quả của chúng; và (v) các yếu tố làm suy giảm chất lượng và số lượng NDĐ ở ĐBSCL Tuy nhiên, nghiên cứu không phân tích rõ những khó khăn cũng như thách thức trong công tác quản lý tài nguyên NDĐ thông qua việc áp dụng Luật TNN vào tình hình thực tế của vùng nghiên cứu
Trần Văn Tỷ và cộng sự đã ứng dụng mô hình Modflow đánh giá và dự báo tài nguyên NDĐ ở tỉnh Trà Vinh Nghiên cứu đã sử dụng các thông số về
Trang 124
địa chất thủy văn và các điều kiện biên (hệ thống giếng khoan quan trắc, lưu lượng khai thác NDĐ, lượng bổ cập, bốc hơi, điều kiện biên sông) để hiệu chỉnh mô hình Đầu tiên, tiến hành giải bài toán ổn định với mục đích kiểm tra
sơ bộ lại các thông số và xác lập sai số trong giới hạn cho phép Sau đó, tiến hành hiệu chỉnh lại các dữ liệu đầu vào cho sát với điều kiện thực tế Trong thời gian 720 ngày (từ 01/04/2004 đến 01/04/2006) hiệu chỉnh mô hình, ngoài việc đánh giá được trữ lượng khai thác NDĐ tầng Pleistocen dưới, dự báo mực nước và mực nước hạ thấp vào năm 2010, 2015 Kết quả còn cho thấy trữ lượng khai thác NDĐ tầng Pleistocen dưới là 9.974 m³/ngày, mực nước hạ thấp lần lượt là -9,5 m và -3,9 m Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dùng lại ở việc dự báo trữ lượng khai thác NDĐ theo xu thế phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2015 nhưng không đề cập đến vấn đề trữ lượng khai thác này nằm trong khoảng trữ lượng khai thác an toàn hay trữ lượng khai thác tiềm năng của địa phương
Phạm Lê Mỹ Duyên và các cộng sự (2012), đã triển khai nghiên cứu tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng về đánh giá sự thay đổi các hệ thống sử dụng đất đai dưới tác động của BĐKH và nước biển dâng dựa vào số liệu từ mô hình khí hậu của trung tâm SEA – START kết hợp với việc tổng hợp tài liệu (về hệ thống sử dụng đất đai, vị trí địa lý, đất đai, sông ngòi, tình hình sản xuất nông nghiệp và thủy sản, diễn biến nguồn nước mặt, nước ngầm) và phỏng vấn nông hộ (về hệ thống sử dụng đất đai chính, lao động chính) Nghiên cứu này nêu lên (i) những hệ thống sử dụng đất đai đặc trưng ở thị xã Vĩnh Châu; (ii) nguyên nhân ảnh hưởng và sự thay đổi hệ thống sử dụng đất đai (điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội); (iii) vòng chu chuyển nước đặc trưng cho hệ thống canh tác trong nông hộ Ngoài ra, nghiên cứu còn đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến sản xuất nông nghiệp và đưa ra dự đoán về sự thay đổi hệ thống sử dụng đất đai của thị xã Vĩnh Châu đến năm 2050 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đi sâu vào đánh giá sự thay đổi cơ cấu phát triển nông nghiệp do tác động của BĐKH và nước biển dâng mà không đề cập đến trữ lượng khai thác NDĐ (nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, thủy sản và kinh doanh) cùng với những khó khăn, thách thức trong công tác quản lý nguồn tài nguyên quý giá này ở hiện tại và tương lai của địa phương Một nghiên cứu khác nhằm tính toán thiết kế bổ sung nhân tạo (BSNT) cho tầng chứa nước Pliocen thượng dựa vào việc thiết lập mô hình dòng chảy NDĐ đã được Ngô Đức Chân cùng với Liên đoàn địa chất công trình miền Nam triển khai tại một số khu vực ở thành phố Hồ Chí Minh (quận Hóc - Môn, Gò Vấp, An Lạc, Bình Hưng, Linh Xuân) Nghiên cứu này, đã BSNT NDĐ với lượng nước là 200.000 m³/ngày trong suốt khoảng thời gian từ tháng 7/2001 đến tháng 12/2004 Kết quả cho thấy, (i) lượng BSNT chỉ chiếm
Trang 13Tóm lại, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào nói lên hiện trạng khai thác NDĐ phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hoạt động kinh doanh, đặt biệt là những tồn tại cũng như thách thức của nó trong công tác quản lý tài nguyên NDĐ Vấn đề đặt ra là cần sớm nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý tài nguyên NDĐ cũng như sử dụng bền vững nguồn tài nguyên quý giá này
2.2 Đặc điểm các tầng chứa nước ở Vĩnh Châu
Nguồn tài nguyên NDĐ nhạt tại Vĩnh Châu được chia thành 3 tầng chứa nước: Holocen (qh), Pleistocen giữa - trên (qp2-3) và Pleistocen dưới (qp1) với diện tích phân bố tập trung ở hai tầng qp2-3 là 307,1 km2, qp1 là 381,2 km2 và hoạt động khai thác chủ yếu cũng diễn ra ở hai tầng này (97%)
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Holocen (qh): gồm các trầm tích biển, biển gió lộ trên mặt dưới dạng các giồng cát, phân bố ở độ cao từ 0,5 ÷ 2,0 m Các giồng cát này thường có dạng hình vòng cung kéo dài song song với bờ biển theo hướng Đông bắc - Tây nam hoặc Tây bắc - Đông nam dài từ 3 ÷ 4 km, ngang từ 200 ÷ 300 m Bề dày từ 1 ÷ 12 m Thành phần là cát hạt mịn đến trung lẫn bột màu xám vàng Nguồn nước ở tầng này được khai thác phục vụ cho sinh hoạt và một phần cho sản xuất
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistocen giữa - trên (qp2-3): trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng, tầng chứa nước qp2-3 có diện phân bố rộng khắp toàn vùng và không lô ̣ ra trên b ề mă ̣t Tầng này thường gặp ở độ sâu từ 54 m đến 137 m (trung bình là 82,63 m) và kết thúc ở độ sâu 92 m đến 175 m (trung bình là 131,47 m) Bề dày c ủa tầng biến đổi trong kho ảng 38 m đến 50 m, có khả năng chứa rất giàu nước, chất lượng tốt, tuy nhiên có hàm lượng sắt cao Nguồn cung cấp nước cho tầng qp2-3 chủ yếu từ chung quanh chảy đến và một phần thấm xuyên giữa các tầng chứa nước nằm kề Trong điều kiện tự nhiên mực nước có xu hướng dao động theo mùa với biên độ dao động trung bình khoảng 0,45 m Ngoài ra, trong từng ngày mực nước còn dao động theo chế độ của thủy triều biển Đông
Trang 146
Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistocen dưới (qp1): trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng, tầng qp1 có diện phân bố rộng khắp toàn vùng, không lộ ra trên bề mặt, thường gặp ở độ sâu từ 110,5 m đến 192 m (trung bình là 145,29 m) và kết thúc ở độ sâu từ 146 m đến 250 m (trung bình là 187,4 m) Bề dày của tầng biến đổi trong khoảng từ 46,0 - 53,0 m, có khả năng chứa nước từ trung bình đến giàu, chất lượng nước đạt yêu cầu cho sinh hoạt, tuy nhiên có hàm lượng sắt cao (từ 1,35 - 1,74 mg/L) Nguồn cung cấp cho tầng qp1 chủ yếu từ chung quanh chảy đến và một phần thấm xuyên giữa các tầng chứa nước nằm kề Trong điều kiện tự nhiên mực nước có xu hướng dao động theo mùa với biên
độ dao động trung bình khoảng 0,37 m Ngoài ra, trong từng ngày mực nước còn dao động theo chế độ của thủy triều biển Đông
Trang 157
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu
Thị xã Vĩnh Châu nằm ở phía Nam tỉnh Sóc Trăng, vị trí từ 9014’ đến
9027’ Vĩ bắc, 105050’ đến 106011’ Kinh đông, với 47.313 ha diện tích tự nhiên
và dân số đạt 165.169 người Vĩnh Châu có 04 phường (phường 1, phường 2, phường Vĩnh Phúc, phường Khánh Hòa) và 06 xã (Lai Hòa, Vĩnh Tân, Vĩnh Hiệp, Hòa Đông, Lạc Hòa, Vĩnh Hải) được thể hiện ở Hình 3.1
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị xã Vĩnh Châu
(Nguồn: Khoa Môi trường & Tài nguyên thiên nhiên – ĐHCT)
Vĩnh Châu thuộc vùng ven biển của tỉnh Sóc Trăng, phía Đông và Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 43 km; phía Bắc và Tây (gồm một phần Bạc Liêu) giáp với cửa sông Mỹ Thanh, sông Cái và sông Bạc Liêu là ranh giới lần lượt với 03 huyện (Mỹ Xuyên, Trần Đề và Vĩnh Lợi thuộc tỉnh Bạc Liêu) Vĩnh Châu gần như là một ốc đảo, có địa hình gợn sóng không đều do xen kẽ giữa những cồn cát và bưng trũng, không nhận được nguồn nước ngọt
từ sông Hậu ngay cả trong mùa lũ Theo Duyên và cộng sự (2012), Vĩnh Châu được chia thành 3 vùng: (i) vùng mặn từ cửa sông Mỹ Thanh; (ii) vùng nhiễm mặn từ Biển; và (iii) vùng lợ Nguồn nước cung cấp cho Vĩnh Châu chủ yếu từ
nước mưa và NDĐ, bao gồm nước từ những giồng cát (Sở TN & MT ST,
2011) Nguồn NDĐ ngoài mục đích khai thác sử dụng cho sinh hoạt còn được
người dân khai thác sử dụng phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp (trồng hành tại xã Lạc Hòa, Vĩnh Hải), nuôi trồng thủy sản (phường Khánh Hòa, xã Vĩnh Hải) và sản xuất kinh doanh (sản xuất nước đá, nước uống đóng
Trang 168
chai) Nghiên cứu được triển khai và thực hiện ở Vĩnh Châu từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai theo lưu đồ ở Hình 3.2 Trong nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top – down appproach) và từ dưới lên (bottom - up appproach) Ưu điểm của phương pháp này có thể tiếp cận vấn đề từ tổng quan đến cụ thể từ điều kiện cụ thể của địa phương đến tổng quan của vùng
Hình 3.2 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu
Trang 179
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
a Thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp lược khảo tài liệu: tài liệu được lược khảo từ các tạp chí
khoa học trong nước; các báo cáo liên quan từ Sở/phòng TN & MT ST, tổng Cục Thống Kê tỉnh Sóc Trăng, phòng Thống kê, Trung tâm Nước sạch và vệ sinh Môi trường nông thôn Thông tin lược khảo gồm: (i) địa tầng, trữ lượng, tiềm năng, động thái và chất lượng NDĐ; (ii) hiện trạng khai thác sử dụng NDĐ như số lượng giếng khoan, mật độ khai thác, tầng khai thác, mục đích khai thác, lưu lượng khai thác; (iii) công tác quản lý tài nguyên NDĐ của ở vùng nghiên cứu
Phương pháp khảo sát thực địa: mục tiêu của cách tiếp cận này nhằm
hiểu được bức tranh tổng thể về hiện trạng khai thác cũng như quy hoạch khai thác sử dụng NDĐ của vùng nghiên cứu Ngoài ra, xác định các số liệu cần bổ sung (nếu có) làm cơ triển khai thu thập số liệu sơ cấp tiếp theo
b Thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình: điều tra phỏng vấn trực tiếp các
hộ sử dụng NDĐ Ba nhóm đối tượng sử dụng nước được chọn phỏng vấn gồm: (i) hộ dân sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt; (ii) hộ nuôi thủy sản; (iii) hộ sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, trồng màu) Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 110 hộ gia đình tại 03 phường (phường 1, phường 2, phường Khánh Hòa) và 03 xã (Lạc Hòa, Vĩnh Hải và Vĩnh Phước) Cán bộ phỏng vấn đến từng hộ gia đình có sử dụng NDĐ trong vùng nghiên cứu để phỏng vấn bằng bảng câu hỏi chuẩn bị sẳn Phiếu phỏng vấn được thiết kế theo hai dạng câu hỏi đóng và mở Nội dung phỏng vấn gồm: (i) hiện trạng khai thác sử dụng NDĐ theo mùa trong năm; (ii) động thái và chất lượng nước trong vùng nghiên cứu; (iii) nhận thức của người dân về sự thay đổi lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến mực NDĐ; (iv) khảo sát về mức độ hiểu biết các văn bản pháp luật liên quan đến khai thác và sử dụng NDĐ; (v) khó khăn trong quản lý tài nguyên NDĐ
Phỏng vấn các chuyên gia: nghiên cứu tiến hành phỏng vấn các chuyên
gia tại địa phương (trực tiếp và/hoặc thông qua điện thoại và email) về tình hình quản lý và khai thác NDĐ bao gồm tại Sở TN & MT ST, Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Phòng TN & MT Vĩnh Châu Nội dung phỏng vấn: (i)
cơ quan, lực lượng trực tiếp quản lý; (ii) biện pháp quản lý, kiểm soát số giếng khoan đang và không còn sử dụng; (iii) cơ sở cấp giấy phép khai thác; (iv) giải pháp của địa phương trước sự thay đổi của lượng NDĐ Quá trình thiết kế phiếu phỏng vấn được trình bày như trong Hình 3.3
Trang 1810
Hình 3.3 Sơ đồ các bước thiết kế phiếu phỏng vấn
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu định tính: các số liệu sau khi được thu thập sẽ được sắp xếp,
tổng hợp và biên tập lại Các số liệu định lượng được thể hiện dưới dạng: (i) con số rời rạc hoặc tỉ lệ phần trăm; (ii) dạng biểu bảng, biểu đồ và đồ thị để xác định xu hướng, diễn biến của các yếu tố
Số liệu định lượng (số liệu phỏng vấn): được xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel để mã hóa và tổng hợp lại Một số đại lượng được sử trong phương pháp thống kê mô tả bao gồm: (i) giá trị lớn nhất (Max), nhỏ nhất (Min), giá trị trung bình (Average); (iii) giá trị biến tổng (Sum), biến tổng theo điều kiện (Sumif); (iv) giá trị các biến điếm (Count), biến điếm theo điều kiện, (Counif) Các số liệu có thể được thể hiện dưới dạng: (i) con số rời rạc hoặc tỉ
lệ phần trăm; (ii) dạng biểu bảng, biểu đồ và đồ thị để xác định xu hướng, diễn biến của yếu tố
3.2.3 Phương pháp phân tích ma trận SWOT
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT (Bảng 3.1)
để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, kết hợp với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý tài nguyên NDĐ tại vùng nghiên
Thiết kế phiếu phỏng vấn
Xác định địa điểm phỏng vấn Chính quyền
Mục tiêu nghiên cứu
Phỏng vấn bổ sung
Phân tích và kết luận Đánh giá số liệu
Trang 1911
cứu Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nước trong vùng nghiên cứu
Bảng 3.1 Mô hình phân tích ma trận SWOT
Cơ hội (Opportunities) Rủi ro (Threat) Mặt mạnh
(Strong)
Dùng mặt mạnh để sử dụng các cơ hội
(Chiến lược công kích)
Dùng mặt mạnh để tránh rủi ro (Chiến lược thích ứng)
Mặt yếu
(Weakness)
Loại bỏ, khống chế mặt yếu
để sử dụng các cơ hội (Chiến lược điều chỉnh)
Loại bỏ, khống chế mặt yếu
để tránh rủi ro (Chiến lược phòng thủ)
Trang 2012
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua các nội dung: (i) xu thế thay đổi nguồn TNN ở thị xã Vĩnh Châu (lượng, chất lượng và động thái); (ii) hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên NDĐ; (iii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài nguyên NDĐ tại vùng nghiên cứu
4.1 Xu thế thay đổi nguồn tài nguyên nước ở thị xã Vĩnh Châu
4.1.1 Nguồn tài nguyên nước mặt
Thị xã Vĩnh Châu có cùng đặc điểm với tỉnh Sóc Trăng, với mạng lưới kênh rạch khá dày đặc, mật độ trung bình 2,5 - 3,0 km/km2, phân bố khá đều trên toàn diện tích Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn TNN mặt cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp đã bị hạn chế do:
(i) Nhiễm mặn quanh năm, đặc biệt từ tháng 3 đến tháng 6 Độ mặn trung bình đo được tại các trạm thuộc Vĩnh Châu trong các tháng trên vào năm
2010, 2011 lần lượt là: Mỏ Ó (gần Cầu Mỹ Thanh 2) là 20 g/L và 20.4 g/L;
Trà Niên là 15.8 g/L và 14.1 g/L; Chàng Ré là 10.2 g/L và 6.1 g/L (Quan trắc
môi trường Sóc Trăng, 2011);
(ii) Nhiễm phèn do cấu trúc thổ nhưỡng và đặc điểm địa hình;
(iii) Ô nhiễm từ nước thải nuôi trồng thủy sản không được xử lý thải trực tiếp vào sông Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc gần 60% số hộ phỏng vấn không sử dụng nước sông Nên NDĐ cũng được người dân lựa chọn để phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản
4.1.2 Nguồn tài nguyên nước mưa
Vĩnh Châu là khu vực có lượng mưa tương đối thấp so với toàn tỉnh, theo
số liệu khí tượng thu thập về mưa (2002 - 2008), lượng mưa trung bình là 1.663 mm/năm, trong khi đó lượng mưa trung bình toàn tỉnh là 1.864 mm/năm Trong giai đoạn này, lượng mưa phân bố không đều, có xu hướng tăng nhẹ và cao nhất vào năm 2007 với 2.380 mm nhưng đến năm 2008 thì lại giảm xuống còn 1.962 mm (Hình 4.1) Lượng mưa trung bình trong các tháng mùa mưa tương đối thấp chỉ có 209,5 mm trong khi đó lượng mưa trung bình của toàn tỉnh từ 200 – 250 mm Song, nước mưa vùng Sóc Trăng có chất lượng nước tốt rất phù hợp cho mục đích sinh hoạt Các giá trị pH cùng các
thành phần hoá lý khác đều phù hợp với các tiêu chuẩn cho phép (Sở TN &
MT ST, 2010a)
Trang 2113
Hình 4.1 Tổng lượng mưa theo từng năm ở Vĩnh Châu từ năm 2002 – 2008 Bên cạnh đó, Vĩnh Châu có lượng bốc hơi bình quân năm khá cao (1.023 mm/năm), nên khả năng sử dụng nước mưa bị hạn chế Đồng thời, phần lớn người dân tại đây không có thói quen trữ nước mưa để sử dụng Nước mưa chỉ được sử dụng cho việc trồng lúa vào mùa mưa và một lượng nhỏ để tưới cho rau màu
4.1.3 Nguồn tài nguyên nước dưới đất
a Trữ lượng nước dưới đất
Nguồn nước nhạt ở ĐBSCL được khai thác cho sinh hoạt và các hoạt động khác (công nghiệp, nông nghiệp) ở tầng Pleistocen qp2-3 (Hình 4.2) và
qp1 (Phụ lục 5) chiếm 60% (IUCN, 2011) Cũng như ĐBSCL, Vĩnh Châu nằm
trong vùng phân bố: (i) vùng chứa nước nhạt với độ mặn nhỏ hơn 1 g/L ; và (ii) vùng phân bố nước mặn với độ mặn lớn hơn 1g/L Ngoài ra, Vĩnh Châu còn khai thác ở tầng qh nhưng không đáng kể (<1%) Thành phần trữ lượng các tầng chứa nước bao gồm:
(i) Trữ lượng động là thể tích nước hàng năm đến cung cấp cho tầng chứa nước, lượng nước này duy trì lưu lượng chảy trong tầng chứa nước quanh năm, chiếm tỉ lệ 2,54%;
(ii) Trữ lượng đàn hồi là hiệu số giữa thể tích nước khi nở ra và khi co lại với tỉ lệ 3,52 %;
(iii) Trữ lượng tĩnh là thể tích nước trọng lực chứa trong các đơn vị chứa nước có thể nhả ra khi khai thác có tỉ lệ cao nhất đến 93,94%;
Trang 2214
Hình 4.2 Bản đồ phân bố nước nhạt tầng chứa nước qp2-3
(Nguồn: Sở TN & MT ST, 2010a)
Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng ở cả 3 tầng ở Vĩnh Châu là 204.634
m3/ngày, tương ứng với tầng chứa nước qh, qp2-3 và qp1 lần lượt là 5.155
m3/ngày, 57.664 m3/ngày và 141.815 m3/ngày (Sở TN & MT ST, 2010a), có
thể xem đây là địa phương có nguồn tài nguyên NDĐ giàu trung bình ở Sóc Trăng (Bảng 4.1) Trong đó, trữ lượng động chiếm 14%, trữ lượng đàn hồi đạt 100% và trữ lượng tĩnh đạt 99,6% so với từng thành phần trữ lượng tương ứng
Trang 23Trữ lượng (m 3 /ngày)
Đánh giá theo tiềm năng
Đánh giá theo trữ lượng an toàn Tiềm
năng toàn An
Tỉ lệ (%) Tiềm năng
Tỉ lệ (%) Tiềm năng
1 TP.Sóc trăng 31.145 78.405 6.646 39,7 Thừa nước 468,6 Thiếu nước
2 Kế Sách 23.442 627.529 38.852 3,7 Thừa nước 60,3 Thừa nước
3 Long Phú 22.344 441.667 23.774 5,1 Thừa nước 94,0 Thừa nước
4 Ngã Năm 22.868 230.166 22.847 9,9 Thừa nước 100,1 Thiếu nước
5 Thạnh Trị 16.666 492.163 30.750 3,4 Thừa nước 54,2 Thừa nước
6 Mỹ Tú 12.243 160.495 10.189 7,6 Thừa nước 120,2 Thiếu nước
7 Vĩnh Châu 39.390 204.634 12.410 19,2 Thừa nước 317,4 Thiếu nước
8 Mỹ Xuyên 31.298 138.409 9.454 22,6 Thừa nước 331,1 Thiếu nước
9 Cù Lao Dung 11.417 249.022 10.355 4,6 Thừa nước 110,3 Thiếu nước
10 Châu Thành 8.710 286.495 16.267 3,0 Thừa nước 53,5 Thừa nước
11 Trần Đề 25.328 143.392 5.522 17,7 Thừa nước 458,7 Thiếu nước Tổng cộng 244.850 3.052.378 187.065 8,0 130,9
(Nguồn: Sở TN & MT ST, 2010a)
Theo Bảng 4.2, trữ lượng an toàn của các tầng chứa nước này là 12.410
m3/ngày (chiếm 54,9% tổng trữ lượng) với thể tích theo từng tầng lần lượt là
qh là 4.472 m3/ngày, qp2-3 là 2.423 m3/ngày và qp1 là 5.514 m3/ngày (Sở TN &
Mật độ khai thác (m 3 /ngày/km 2 )
Tầng chứa nước (m) nước hạ Mực
thấp khai thác (m)
Tiềm
năng An toàn Phân bố
Hạn chế
Tiềm năng toàn An
Chiều sâu mái
Bề dày
(Nguồn: Sở TN & MT ST, 2010a)
Tuy nhiên, với hiện trạng khai thác như hiện nay (năm 2010,
Trang 2416
Bảng 4.1), Vĩnh Châu được đánh giá có lượng khai thác đạt xấp xỉ 20% trữ lượng khai thác tiềm năng cho phép Nếu xét theo ngưỡng khai thác bền
vững là 20% trữ lượng khai thác tiềm năng (theo Sở TN & MT ST) thì Vĩnh
Châu cần hạn chế khai thác hoặc có biện pháp khai thác hợp lý So với trữ lượng an toàn, Vĩnh Châu được đánh giá là một địa phương thiếu nước
Hình 4.3 Mật độ giếng và cường suất khai thác NDĐ tỉnh Sóc Trăng (2010)
Số liệu minh chứng ở Hình 4.3 cho thấy mặc dù mật độ giếng khoan ở Vĩnh Châu (26 giếng/km2
) chỉ xấp xỉ mật độ trung bình toàn tỉnh (24 giếng/km2) nhưng cường suất khai thác NDĐ ở Vĩnh Châu là cao nhất, trung bình 77,12 m3/ngày/km2 (so với tỉnh là 55,17 m3/ngày/km2) (Sở TN & MT ST,
2010a)
b Động thái nước dưới đất
Kết quả phỏng vấn hộ gia đình và chuyên gia cho thấy mực NDĐ tại Vĩnh Châu đang dần sụt giảm trong thời gian qua được thể hiện qua độ sâu khoan giếng đã tăng trung bình từ 90 m - 100 m đến 115 m (trước 2005 và từ sau năm 2005 đến 2012) Những giếng đào (chủ yếu ở Xã Lạc Hòa) không còn khai thác được do mực NDĐ hạ thấp (chỉ có vài giếng có thể sử dụng từ 1 - 2 tháng vào mùa mưa) Kết quả này phù hợp với khảo sát của Sở TN & MT ST năm 2010 cho thấy mực NDĐ trung bình ở Sóc Trăng giảm, cụ thể từ 0,5 m -
1 m/năm ở tầng Pleistocen và 3 m - 4 m ở tầng sâu hơn và từ năm 1991 đến tháng 09 năm 2009 mực nước suy giảm tổng cộng 6,0 m, trung bình 0,4 m/năm (Hình 4.3) Xu hướng giảm mực NDĐ ở Vĩnh Châu theo xu hướng chung ở ĐBSCL, theo nghiên cứu của Phúc (2008), mực NDĐ ở Cà Mau đã giảm 10 m kể từ năm 1995
Trang 2517
Hình 4.4 Đồ thị mực nước công trình Q598020 tại thị xã Sóc Trăng
(Nguồn: Sở TN & MT ST, 2010a)
Xét động thái nguồn NDĐ trong năm, 100% hộ gia đình khẳng định có
sự khác biệt lớn về mực NDĐ giữa mùa mưa và khô Đặc biệt vào khoảng từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, tuy nhiên không thể xác định được mực nước
hạ thấp cụ thể Kết quả phỏng vấn các chuyên gia cũng cho thấy rằng, để thích ứng với hiện tượng sụt giảm trên, 90% hộ dân phải đặt “ống tiêm” sâu từ 4 m -
10 m ở các giếng để “mồi nước” thì mới có thể khai thác được NDĐ (Hình 4.5) Nguyên nhân của sự sụt giảm trên là do: (i) phần lớn hộ dân sử dụng lượng lớn NDĐ cho trồng màu vào các tháng mùa khô đối với các mô hình canh tác chuyên màu, lúa - màu, tôm - màu; (ii) nhiệt độ cao và lượng bốc hơi cao trong mùa khô nên nhu cầu tưới cho cây trồng cũng tăng; và (iii) nhu cầu
sử dụng NDĐ cho sinh hoạt trong mùa khô cao hơn mùa mưa
Hình 4.5 Sử dụng ống tiêm trong khai thác nước
Trang 2618
c Chất lượng nước dưới đất
Kết quả khảo sát hộ gia đình cho thấy: khoảng 8,2% hộ dân cho rằng chất lượng NDĐ tốt hơn trước (trong 5 năm trở lại) và đa số các hộ dân (77,3%) cho rằng chất lượng NDĐ sử dụng trong sinh hoạt không thay đổi và
có thể sử dụng trực tiếp không cần qua xử lý (Hình 4.6) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với: (i) ý kiến của chuyên gia cho rằng chất lượng NDĐ ở Vĩnh Châu tốt hơn các vùng lân cận; (ii) báo cáo “Quy hoạch khai thác, sử dụng và
bảo vệ TNN dưới đất tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020” (Sở TN & MT ST,
2010a), kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy chất lượng NDĐ ở các tầng này
thuộc loại trung bình (pH = 7 - 8,5), hàm lượng sắt từ 0,1 - 0,8 mg/L, độ mặn
từ 100 - 200 mg/L Các tính chất khác như độ trong, hàm lượng Ion SO4, NO3vào loại bình thường, hầu như không có khuẩn Ecoli và Coliform nên có thể
sử dụng để sinh hoạt
Hình 4.6 Kết quả khảo sát chất lượng NDĐ trong sinh hoạt
Chỉ khoảng 14,5% số hộ cho rằng chất lượng NDĐ có dấu hiệu suy giảm (có mùi, nhiễm mặn và phèn) và 7% số hộ bị mắc bệnh liên quan đến nước trong khoảng 5 năm trở lại đây Việc giảm chất lượng NDĐ trong thời gian qua là do nhiều giếng không còn sử dụng hoặc khai thác không hiệu quả (ước tính toàn tỉnh có khoảng 1.580 giếng) nhưng không được lắp trám đúng kỹ
thuật Chính nguyên nhân này làm cho nguồn NDĐ ô nhiễm vi sinh (Sở TN &
m3/ngày/km2), dẫn đến mực NDĐ giảm dần (trung bình là 0,4 m/năm) với độ sâu giếng khoan tăng trung bình từ 90 m - 100 m đến 115 m Bên cạnh đó, việc trám lấp giếng không đúng kỹ thuật cũng khiến cho chất lượng NDĐ bắt đầu có dấu hiệu suy giảm và gây ra một số bệnh liên quan đến nước
Trang 2719
4.2 Hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất
4.2.1 Thông tin chung
a Thông tin phỏng vấn về hộ gia đình
Nhìn chung, những người được phỏng vấn điều có thái độ tích cực và hợp tác tốt Không có trường hợp nào bị loại bỏ trong 110 phiếu phỏng vấn Hầu hết người được phỏng vấn được giải thích rõ câu hỏi phỏng vấn hiểu và hoàn thành phần lớn các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn, đạt trên 85% số câu hỏi Những người được phỏng vấn trong từng hộ gia đình chủ yếu là chủ hộ, là lao động chính hộ gia đình, có một vài hộ gia đình người trả lời là con lớn trong nhà (Bảng 4.3) Đa phần người được phỏng vấn là nam giới (chiếm 62%); người được phỏng vấn điều nằm trong độ tuổi lao động (lớn 18 tuổi); trong đó độ tuổi từ 40 trở lên chiếm 67% và thời gian sống tại địa phương trên
10 năm, chiếm 70%, đây là độ tuổi và điều kiện lý tưởng để am hiểu các vấn
đề của địa phương
Bảng 4.3 Thông tin người được phỏng vấn
Người trả lời
PV
Tuổi Thời gian sống
(năm) Nam Nữ < 40 40 – 50 >50 <10 >10
Trong các hộ gia đình được phỏng vấn, nghề nghiệp chủ yếu của gia đình
là nông nghiệp (làm rẫy với trồng hành tím là chủ yếu) và nuôi tôm; kế đến là buôn bán và ngành nghề khác (Hình 4.7)
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện nghề nghiệp của người dân
Trang 2820
b Thông tin phỏng vấn chuyên gia và nhà quản lý
Nghiên cứu phỏng vấn 02 nhà quản lý trực tiếp thuộc Phòng TN & MT Vĩnh Châu và 01 quản lý gián tiếp NDĐ ở Vĩnh Châu, nghiên cứu cũng phỏng vấn 02 chuyên gia về nước ngầm
c Thông tin về số liệu được thu thập
Các số liệu về cơ bản đủ để thực hiện trong nghiên cứu
4.2.2 Khai thác nước dưới đất tập trung
Hiện nay, việc khai thác nước tập trung trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu do hai đơn vị quản lý là Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng (7 trạm) với lưu lượng khai thác là 3.528 m³/ngày; Cty TNHH MTV cấp nước Sóc Trăng (3 trạm) với lưu lượng khai thác đạt 2.900 m³/ngày; ngoài ra còn có các trạm tại 13 cơ sở kinh doanh, lưu lượng khai thác là 732 m³/ngày Các công trình này chủ yếu khai thác ở 03 tầng chứa nước qh, qp2-3 và qp1 với tổng lưu lượng khai thác là 7.160 m³/ngày (Bảng 4.4)
Bảng 4.4 Hiện trạng khai thác nước tập trung tại Vĩnh Châu
khai thác
Lưu lượng khai thác (m³/ngày)
1
4.2.3 Khai thác nước dưới đất đơn lẻ
a Khai thác nước dưới đất cho sinh hoạt
Theo kết quả khảo sát, Vĩnh Châu gần như là một ốc đảo, có địa hình gợn sóng không đều do xen kẽ giữa những cồn cát, bưng trũng và do đó khu vực nghiên cứu cũng như toàn thị xã Vĩnh Châu gần như quanh năm không nhận được nguồn nước ngọt từ sông Hậu như các huyện khác trong tỉnh Điều này phù hợp với kết quả khảo sát hộ gia đình về các nguồn nước cung cấp chính cho sinh hoạt là NDĐ và mưa được thể hiện ở Hình 4.8
Trang 2921
Hình 4.8 Các nguồn nước chính sử dụng cho sinh hoạt
Hiện nay, tại khu vực nghiên cứu có 03 nguồn nước chính được sử dụng cho sinh hoạt là nước mưa, NDĐ và nước mặt Trong đó, NDĐ được sử dụng nhiều nhất, chiếm tỉ lệ lần lượt là 99,1% và 95,5% trong mùa khô và mùa mưa
Kế tiếp là nguồn nước mưa được sử dụng vào mưa chiếm 48,2% ,song nguồn nước mặt được sử dụng rất thấp, chiếm 2,7% và 3,6% lần lượt trong mùa khô
và mùa mưa (Hình 4.8) Kết quả này phù hợp với kết quả phỏng vấn nhà quản
lý và báo cáo của Phòng Kinh tế thị xã Vĩnh Châu (2005) cho biết do bị ngăn cách bởi sông Mỹ Thanh có độ mặn thường xuyên trên ≥ 4 g/L nên hầu hết người dân khai thác NDĐ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và khai thác nhiều nhất ở độ sâu được là 80 - 200 m (tầng qp2-3)