... lang huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát trạng hiệu canh tác danh mục/ nguồn gốc thuốc BVTV sử dụng phổ biến để trồng khoai lang huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 1.3 Nội... ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ DANH MỤC THUỐC BVTV ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ TRỒNG KHOAI LANG TẠI HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG Sinh viên thực NGUYỄN HOÀNG... + Khảo sát trạng hiệu canh tác khoai lang huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long( kỹ thuật, chi phí, lợi nhuận) Tìm hiểu danh mục/ nguồn gốc thuốc BVTV tác hại chúng môi trường canh tác lúa khoai lang
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ DANH MỤC THUỐC BVTV ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ TRỒNG KHOAI LANG
TẠI HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG
Sinh viên thực hiện NGUYỄN HOÀNG HÀ 3103805
Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ
Cần Thơ, 12/20 3
Trang 2KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ DANH MỤC THUỐC BVTV ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ TRỒNG KHOAI LANG
TẠI HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG
Sinh viên thực hiện NGUYỄN HOÀNG HÀ 3103805
Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ
Cần Thơ, 12/20 3
Trang 3Lê Văn Dũ, người đã hướng dẫn em hoàn thành khóa luận văn này Em xin chân thành cảm ơn thầy
Em cũng xin được cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình các chú và anh chị ở phòng Nông nghiệp huyện Bình Tân giúp em có những số liệu cần thiết cho bài luận
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn gia đình và các bạn bè đã luôn sát cánh cùng
em, giúp đỡ và ủng hộ em những lúc khó khăn
Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài này có thể hoàn thiện hơn
Một lần nữa, em xin gửi lòng biết ơn chân thành và lời chúc sức khỏe đến với mọi người
Cần thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoàng Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH HÌNH iv
DANH SÁCH BẢNG v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Khái niệm 3
2.1.1 Khái niệm về thuốc BVTV 3
2.1.2 Dư lượng thuốc BVTV 4
2.1.3 Định nghĩa về LD50 5
2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình chung 7
2.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long 9
2.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 10
2.3 Tình hình sản xuất khoai lang 15
2.3.1 giới thiệu vài nét về giống khoai lang 15
2.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai lang ở Việt Nam 19
2.3.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai lang ở huyện Bình Tân 20
2.4 Mô tả vùng nghiên cứu 23
2.4.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sữ hình thành của huyện Bình Tân 23
2.4.2 Đặt điểm hành chính xã hội 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 26
3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Phương tiện nghiên cứu 26
Trang 5CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Hiện trạng canh tác khoai lang tại huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 27
4.2 Thông tin chung về kết quả phỏng vấn 27
4.2.1 Đặc điểm về hộ dân 27
4.2.2 Thông tin về trình độ học vấn 28
4.2.3 Thông tin về diện tích đất canh tác 28
4.2.4 Thống kê về yếu tố kỹ thuật 29
4.2.5 Chi phí và thu nhập 29
4.2.6 Giá cả và đầu ra 30
4.3 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV để trồng khoai lang tại huyện Bình Tân 31
4.3.1 Nhóm thuốc sử dụng 31
4.3.2 Kinh nghiệm sử dụng thuốc BVTV 35
4.3.3 Số lần phun thuốc trên ruộng 36
4.3.4 Thuốc BVTV đối với sức khỏe và môi trường 37
4.3.5 Đề xuất các biện pháp khắc phục 40
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 45
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình dáng khoai lang 17
Hình 2.2 Sơ đồ quy trình sản xuất khoai lang 17
Hình 2.3 Bà con nông dân trồng khoai lang 18
Hình 2.4 Thu hoạch khoai lang 19
Hình 2.5 Bản đồ hành chánh huyện Bình Tân 23
Hình 4.1 Sơ đồ tớm tắt lịch trồng khoai lang 28
Hình 4.2.Tỷ lệ học hỏi kinh nghiệm của người phỏng vấn 29
Hình 4.3 Thống kê giá bán khoai lang tím năm 2012 31
Hình 4.4 Biểu đồ danh sách các loại thuốc BVTV đang được người dân huyện Bình Tân sử dụng (kết quả qua phiếu điều tra) 32
Hình 4.5 Tỷ lệ thay đổi thuốc BVTV 36
Hình 4.6 Tỷ lệ đáp viên trả tiền thuốc BVTV 37
Hình 4.7 Tỷ lệ hướng phun thuốc của đáp viên 37
Hình 4.8 Tỷ lệ sử dụng đồ bảo hộ 38
Hình 4.9 Tỷ lệ hành động sau khi phun thuốc cảm thấy khó chiụ của các đáp viên 38
Hình 4.10 Tỷ lệ dự trữ thuốc 39
Hình 4.11 Tỷ lệ bì thuốc sau khi sử dụng 39
Hình 4.12 Thuốc BVTV được bỏ thành đóng, lâu năm 40
Hình 4.13 Sơ đồ đề xuất cơ chế duy trì hoạt động thu gom và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật ở quy mô hợp tác xã 41
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Bảng phân chia các nhóm độc của WHO 6
Bảng 2.2 Bảng phân chia các nhóm độc của Việt Nam 6
Bảng 2.3 Độ độc tính cấp trung bình của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trung bình LD50 7
Bảng 2.4 Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/9/2013 8
Bảng 2.5 Diện tích lúa và rau màu ở huyện Bình Tân năm 2010-2012 11
Bảng 2.6 Tình hình sản xuất rau màu ở huyện bình tân qua ba năm(2010-2012) 11
Bảng 2.7 Diện tích năng suất và sản lượng khoai lang của các xã trong huyện Bình Tân năm 2012 21
Bảng 4.1 Độ tuổi của chủ hộ 28
Bảng 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 28
Bảng 4.3 Tổng diện tích đất canh tác khoai lang khảo sát 28
Bảng 4.4 Diện tích canh tác của nông hộ 28
Bảng 4.5 Chi phí 29
Bảng 4.6 So sánh kết quả của chi phí và thu nhập 30
Bảng 4.7 Danh sách các loại thuốc BVTV được sử dụng thực tế trên đồng ruộng huyện Bình Tân và độc tính của chúng (kết quả thu thập qua phiếu điều tra) 34
Bảng 4.8 Kinh nghiêm sử dụng thuốc 35
Bảng 4.9 Pha thuốc 36
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
FAO Tổ chức Nông nghiệp và lương thực của Liên Hiệp Quốc
Trang 9CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ 21, với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thế giới, nền kinh
tế Việt Nam đang ngày một đi lên sánh vai với các cường quốc trên thế giới Sự chuyển đổi mạnh sang nền kinh tế thị trường cùng với việc mở mang các khu công nghiệp đã và đang nảy sinh vấn đề trong an ninh lương thực Bên cạnh đó, sự bùng nổ dân số trong những năm qua đã làm tăng sức ép lên các vùng đất nông nghiệp làm diện tích đất nông nghiệp đang ngày một thu hẹp Vậy làm thế nào để đáp ứng đủ nhu cầu của con người đang là một vấn đề đặt ra cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Một trong những biện pháp đó là sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
Trong vài thập kỷ gần đây năng xuất cây trồng không ngừng tăng lên, không chỉ có sự đóng góp to lớn của công tác giống mà còn có vai trò quan trọng của phân bón Giống mới chỉ phát huy được tiềm năng năng xuất khi được bón phân đầy đủ và cân đối Sự ra đời của phân bón đã làm năng xuất cây trồng của các nước Tây Âu tăng 50% so với luân canh với cây họ đậu Theo FAO (1989), cứ mỗi tấn dinh dưỡng sẽ sản xuất được 10 tấn ngũ cốc.Bón phân đầy đủ và cân đối không những làm tăng năng xuất mà còn tăng chất lượng sản phẩm Theo Phùng Minh Phong (2002) nhờ sử dụng HCBVTV mà ít nhất 20% sản phẩm nông nghiệp ở các nước phát triển và 40-50% ở các nước chậm phát triển không bị phá hoại bởi các loại côn trùng, vi sinh vật gây bệnh và cỏ dại
Tuy nhiên, do điều kiện sống, điều kiện lao động và ý thức của người dân còn thấp nên phân bón, thuốc BVTV đã bị lạm dụng quá mức, nhiều loại thuốc đã bị cấm
sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc vẫn được lưu hành và sử dụng một cách tùy tiện tình hình buôn lậu thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là các loại thuốc nằm trong danh mục cấm sử dụng và lưu thông, như thuốc trừ cỏ Butachlor, thuốc trừ sâu Methamidoph, Dimethoate, sát trùng linh, thuốc diệt chuột các loại diễn ra khá sôi động Chính những điều đó đã dẫn đến hậu quả làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái một cách nghiêm trọng, làm cho đất bị chua hóa, mặn hóa, mất khả năng sản xuất Đối với cây trồng, nông sản việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV với liều lượng lớn, không đảm bảo thời gian cách ly đã tạo ra dư lượng thuốc và phân bón trong rau quả, thực phẩm và tồn đọng lại trong đất theo chuỗi thức ăn nó ảnh hưởng tới sức khỏe con người, động vật, thủy sản
Huyện Bình Tân là một huyện mới có nền sản xuất nông nghiệp từ lâu với mức đầu tư thuốc BVTV cao đặt biệt là khoai lang Là sản phẩm nông nghiệp được trồng lâu đời không chỉ phục vụ nhu cầu cho người trong vùng mà còn phục vụ cho các vùng lân cận Vì vậy, tình hình sử dụng thuốc BVTV là vấn đề cần được quan tâm Xuất
phát từ vấn đề đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: khảo sát hiện trạng canh tác và
Trang 10danh mục thuốc BVTV được sử dụng để trồng khoai lang tại huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát hiện trạng và hiệu quả canh tác và danh mục/nguồn gốc thuốc BVTV được sử dụng phổ biến để trồng khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
1.3 Nội dung nghiên cứu
+ Khảo sát hiện trạng và hiệu quả canh tác khoai lang tại huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long( kỹ thuật, chi phí, lợi nhuận)
Tìm hiểu các danh mục/nguồn gốc thuốc BVTV và tác hại của chúng đối với môi trường trong canh tác lúa và khoai lang (loại thuốc, thành phần, số lượng,…)
Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và canh tác hiệu quả trong canh khoai lang liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV
Trang 11CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …)
Theo qui định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc, …) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt
Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại Sở dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại, …) có một tên chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại
Thuốc trừ chim hại mùa màng
Thuốc trừ động vật hoang dã hại mùa màng
Thuốc trừ cá hại mùa màng
Trang 12 Thuốc xông hơi diệt trừ sâu bệnh hai nông sản trong kho
Thuốc trừ than cây mộc
Thuốc làm rụng lá cây
Thuốc làm khô cây
Thuốc điều hòa sinh trưởng cây
Trong các nhóm thuốc BVTV trên đây được sử dụng phổ biến hơn cả làthuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại
Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây
2.1.2.2 Động thái dư lượ ng thu ố c BVTV trong s ả n ph ẩ m cây tr ồ ng
Căn cứ theo nguồn gốc hóa học của thuốc trừ sâu, người ta chia ra làm các nhóm như sau:
Thuốc trừ sâu Clo hữu cơ: Trong công thức hóa học của thuốc có chứa nguyên tố Clo và C, H, O, Thuốc này thường gây độc mãn tính, thuốc lưu tồn lâu trong môi trường, gây tích lũy sinh học mạnh và dễ dàng gây hiện tượng ung thư Thuốc thuộc thế hệ rất xưa, hầu hết đã bị cấm sử dụng
Thuốc trừ sâu Lân hữu cơ: Dẫn xuất từ acid phosphoric, trong công thức
có chứa nguyên tố phospho và C, H, O, ., tác động thần kinh, gây hiện tượng ngộ độc cấp tính rất mạnh mẽ, dễ dàng gây tử vong khi nhiễm thuốc với một liều lượng nhỏ Diệt sâu hại và thiên địch rất mạnh
Thuốc trừ sâu Carbamat: dẫn xuất từ acidcarbamic trong công thức có chứa N, C, H, O , tác động thần kinh Thuốc thuộc nhóm này cũng gây độc cấp tính nhưng ít độc với thiên địch hơn, diệt trừ sâu hại có tính chuyên biệt
Thuốc trừ sâu thuộc nhóm Pyrethroit và một số hợp chất khác: Các hợp chất Pyrethroid, Benzoylphenyl urê, dẫn xuất Thiadiazin, hợp chất Oxihidrocacbon, dưới tác động của enzyme cây và ánh sáng mặt trời, chuyển hóa
Trang 13và phân giải nhanh, ít tồn lưu trong nông sản, các hợp chất chuyển hóa trung gian
ít độc hơn dạng hợp chất ban đầu hay không độc
Thời gian cách ly (Preharvest interval: PHI) là khoảng thời gian tính từ ngày cây trồng hoặc sản phẩm cây trồng được xử lý thuốc lần cuối cùng cho đến ngày được thu hoạch nông sản làm thức ăn cho người và vật nuôi mà không tổn hại đến cơ thể
Thời gian cách ly được qui định rất khác nhau đối với từng loại thuốc trên mỗi loại cây trồng và nông sản Dùng thuốc cho cây trồng và nông sản chưa hết thời gian cách ly đã thu hái nông sản, người dùng nông sản có nguy cơ bị ngộ độc và có thể bị nguy hiểm đến tính mạng do ăn phải các hợp chất độc trung gian, nhất là khi cây trồng
và nông sản có xử lý thuốc lân hữu cơ
2.1.3 Định nghĩa về LD 50
LD50 (Lethal dose, 50%) được định nghĩa là "lượng chất độc hoặc phóng xạ cần thiết để giết một nữa số lượng sinh vật thí nghiệm sau một quãng thời gian định sẵn" Chỉ số LD50 biểu thị độ độc cấp tính của một loại thuốc bảo vệ thực vật đối với động vật máu nóng (đơn vị tính là mg chất độc/kg trọng lượng chuột) Chỉ số này chính là lượng chất độc gây chết 50% số cá thể chuột trong thí nghiệm LD50 càng thấp thì độ độc càng cao
LD50 cũng có thể viết là ED50 (Effective dose, 50%)
Liều LD50 của thuốc đối với cơ thể còn phụ thuộc vào cách thức xâm nhập của thuốc vào cơ thể Cùng một loại thuốc với cùng một cơ thể, khi xâm nhập qua miệng vào đường ruột tác động có thể khác xâm nhập qua da, vì vậy liều LD50 qua miệng cũng có thể khác liều LD50 qua da Mỗi loại thuốc có có trị số LD50 khác nhau LD50 với chuột đực cũng có thể khác với chuột cái Từ độ độc cấp tính với chuột cũng có thể suy ra cho người và động vật máu nóng khác
Trang 14Bảng 2.1 Bảng phân chia các nhóm độc của WHO
Phân nhớm
và kí hiệu
nhóm độc
Biểu tượng nhóm độc
IV - Nền xanh
lá cây (Không có
biểu tượng) >2000 >3000
(nguồn: tiêu chuẩn TCVN 3164-79)
Bảng 2.2 Bảng phân chia các nhóm độc của Việt Nam
(nguồn: tiêu chuẩn TCVN 3164-79)
Trang 15Bảng 2.3 Độ độc tính cấp trung bình của thuốc được biểu thị qua liều gây chết trung bình LD 50
Phân nhóm
và kí hiệu
nhóm độc
Biểu tượng nhóm độc
500-2000 2000-3000 >1000 >4000
IV – Nền xanh
lá cây
(không có biểu tượng) >200 >3000
(nguồn: tiêu chuẩn TCVN 3164-79)
2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình chung
Tính đến trung tuần tháng Chín năm 2013, cả nước đã gieo cấy được 1734,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 101% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1185,6 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 549 nghìn
ha, bằng 103,1% Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước năm 2013 ước tính đạt 1987,9 nghìn ha, tăng 0,7% so với vụ mùa năm 2012 Theo báo cáo từ các địa phương, hiện nay lúa mùa đã trỗ bông, trà lúa sớm đang trong giai đoạn vào chắc và chín với một phần diện tích đã cho thu hoạch Thời tiết bão và mưa kéo dài đầu tháng Chín làm ngập, đổ nhiều diện tích lúa, trong đó một phần diện tích bị mất trắng, ảnh hưởng phần nào đến kết quả sản xuất Nếu điều kiện thời tiết những tháng cuối năm thuận và ít bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì sản lượng lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 9,6 triệu tấn, tăng 0,9% so với vụ mùa năm 2012; năng suất ước tính đạt 48,1 tạ/ha, tăng 0,2
Trang 16tạ/ha, trong đó năng suất các tỉnh phía Nam tăng 0,8 tạ/ha, chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.4 Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15/9/2013
Thực hiện cùng
kỳ năm trước (nghìn ha)
Thục hiện kỳ này (nghìn ha)
Thực hiện kỳ này
so với cùng kỳ năm trước (%)
Thu hoạch lúa hè thu
(Nguồn: báo cáo và thống kê tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tâp chí tài chính)
Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương trên cả nước đang bước vào thu hoạch lúa hè thu Tính đến 15/9/2013, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1894,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 111,6% cùng kỳ năm trước và chiếm 68,6% diện tích gieo trồng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1668,1 nghìn
ha, bằng 105,4% và bằng 72,3% diện tích xuống giống Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 51,9 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng ước tính đạt 14,3 triệu tấn, tăng 2,7%
Ước tính diện tích lúa cả năm 2013 đạt 7890,7 nghìn ha, tăng 129,5 nghìn ha so với năm 2012; năng suất đạt 55,9 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 44,1 triệu tấn, tăng 407 nghìn tấn
Trang 17Đến trung tuần tháng Chín, cả nước đã gieo trồng được 993,3 nghìn ha ngô, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2012; 131,3 nghìn ha khoai lang, tăng 0,8%; 205,3 nghìn ha lạc, giảm 1,3%; 115,3 nghìn ha đậu tương, tăng 0,3% và 866,4 nghìn ha rau, đậu tăng 4,9%
Sản lượng cây lâu năm có xu hướng tăng do nhiều diện tích đến kỳ cho sản phẩm Sản lượng cao su năm 2013 ước tính đạt 936,9 nghìn tấn, tăng 6,8% so với năm trước; cà phê đạt 1331,4 nghìn tấn, tăng 5,6%; chè đạt 931 nghìn tấn, tăng 2,3%; hồ tiêu 123,5 nghìn tấn, tăng 6,5%; dừa 1276,6 nghìn tấn, tăng 0,3%; riêng sản lượng điều chỉ đạt 281,7 nghìn tấn, giảm gần 10% do đầu vụ gặp mưa và ảnh hưởng của sâu bệnh
Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục gặp khó khăn do giá bán sản phẩm ở mức thấp trong khi giá thức ăn và các chi phí khác cho chăn nuôi ở mức cao khiến người nuôi không có lãi Dịch bệnh trên gia cầm những tháng đầu năm diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến tâm lý của người chăn nuôi Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu, bò cả nước giảm 2-3% so với cùng kỳ năm 2012; đàn lợn giảm 0,5%; đàn gia cầm giảm 1,5-
2% Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng chín tháng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm
trước; thịt lợn hơi xấp xỉ cùng kỳ năm trước; thịt gia cầm giảm 1,3% Tính đến
24/9/2013, cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai
xanh chưa qua 21 ngày Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Quảng Nam
2.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh Vĩnh Long có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp: quỹ đất nông nghiệp năm 2010 là 117.332,12 ha chiếm 78,39% diện tích tự nhiên; nằm giữa sông Tiền và sông Hậu nên đất đai màu mỡ, lại đảm bảo đủ nước ngọt quanh năm phục vụ phát triển ngành nông nghiệp theo hướng toàn diện Khai thác những lợi thế
đó, tỉnh Vĩnh Long đã phân bổ sản xuất nông nghiệp theo hướng: khu vực đất liền sẽ tập trung trồng lúa, cây ăn quả, cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi bò, lợn, gà và nuôi trồng thuỷ sản; các cù lao trên sông là nơi có điều kiện thổ nhưỡng thích hợp trồng các loại cây ăn quả đặc sản, nuôi cá trong các mương vườn, vùng bãi bồi ven sông, ven cù lao Từ sự phân bổ này, ngành nông nghiệp Vĩnh Long đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm hướng tới mục tiêu đưa kinh tế vườn thành thế mạnh thứ hai trong sản xuất nông nghiệp, qua đó góp phần xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng liên tục và bền vững theo vùng sinh thái, tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng và giá trị cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường, mang lại giá trị ngày càng tăng trên một đơn vị diện tích
Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp, đem lại giá trị thu nhập cao hơn cho người nông dân và phá thế độc canh cây lúa, tỉnh Vĩnh Long chủ trương đưa giá trị kinh tế từ vườn cây ăn quả thành thế mạnh thứ hai sau cây lúa Từ những chủ trương đúng đắn và những giải pháp thiết thực, phong trào phát triển kinh
Trang 18tế vườn ở Vĩnh Long phát triển khá mạnh mẽ Trong những năm qua, người dân Vĩnh Long đã tích cực cải tạo vườn tạp, vườn kém hiệu quả, tận dụng diện tích ngoài đê bao
để lập vườn và trồng những cây đặc sản có giá trị kinh tế, góp phần đưa diện tích vườn cây ăn quả của tỉnh lên gần 47 nghìn ha năm 2010 Đặc biệt, tỉnh đang từng bước hình thành nhiều vùng chuyên canh cây đặc sản như: cam sành ở Tam Bình, bưởi Năm Roi
ở Bình Minh, nhãn, chôm chôm ở Long Hồ… Kinh tế vườn đã đem lại thu nhập bình quân trên 50 triệu đồng/ha, thậm chí có loại trái cây đặc sản đem lại thu nhập hàng trăm triệu đồng /ha/năm như: bưởi Năm Roi, cam sành, sầu riêng, xoài cát Hoà Lộc,
Trong nỗ lực đưa kinh tế vườn phát triển mạnh và bền vững, tỉnh Vĩnh Long đã
và đang thực hiện nhiều giải pháp phù hợp nhằm ổn định và mở rộng đầu ra cho các sản phẩm trái cây của địa phương Nhờ vậy, trái cây Vĩnh Long đã đến với người tiêu dùng trong và ngoài nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng toàn diện và bền vững
Với cây lúa, do làm tốt công tác thuỷ lợi, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
và đưa giống lúa chất lượng cao vào sản xuất nên năng suất bình quân tăng từ 4,51 tấn/ha/vụ năm 2000 lên 5,47 tấn/ha/vụ (năm 20010 Vì thế, tuy diện tích giảm từ 216.328 ha (năm 2001) xuống còn 169.979 ha (năm 2010), nhưng sản lượng lúa năm
2010 đạt 928nghìn tấn, đảm bảo tốt an ninh lương thực và tích cực tham gia xuất khẩu Bên cạnh đó, việc đưa rau màu xuống ruộng đã tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Long Xét về hiệu quả kinh tế, sản xuất chuyên canh cây màu luôn cho thu nhập ổn định và cao hơn so với sản xuất thuần lúa 2 - 3 lần trên cùng một đơn vị diện tích Vì vậy, phong trào chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây màu và luân canh cây màu trên ruộng lúa diễn ra khá mạnh mẽ và rộng khắp Những mô hình chuyên canh rau màu an toàn, mô hình 3 vụ màu /năm; 2 lúa - 1 màu, 2 màu - 1 lúa, 1 lúa - 3 màu… những vùng chuyên canh màu tập trung đã
và đang hình thành đã mang lại giá trị thu hoạch trên 50 triệu đồng/ha/năm
2.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
2.2.3.1 Tình hình s ả n xu ấ t n ề n nông nghi ệ p
Sản xuất nông ghiệp của huyện chủ yếu là trồng lúa và các loại rau màu Xu hướng sản xuất của huyện những năm gần đây là chuyển trồng lúa sang trồng màu Diện tích trồng lúa và màu giai đoạn 2010-2012 cụ thể được nêu trong bảng sau:
Trang 19Bảng 2.5 Diện tích lúa và rau màu ở huyện Bình Tân năm 2010-2012
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm 2010,2011,2012 của phòng Nông nghiệp huyện Bình Tân) Nhận xét:
Diện tích trồng trọt (lúa và rau màu) ở huyện Bình Tân ngày càng tăng cụ thể là năm 2012 tăng 2 nghìn ha so với năm 2011 (tăng 8,4%) Nguyên nhân là do nông dân được sự hỗ trợ từ các chính sách khuyến nông của sở Nông nghiệp & PTNT, các đợn
vị trực thuộc sở, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Người dân được áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất giúp cho sản lượng tăng nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, người dân có thu nhập cao hơn, nên mở rộng diện tích đất canh tác Bên cạnh đó, công tác đầu tư thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh được cải thiện hơn, người dân chủ động xây dựng đê đập ngăn lũ giúp giảm bớt các thiệt hại do ngập úng
Diện tích lúa ở huyện đang có xu hướng giảm dần, năm 2011 diện tích trồng lúa
là 17,6 nghìn ha tăng 0,5 nghìn ha so với năm 2010 nhưng đến năm 2012 thì diện tích trồng lúa giảm xuống còn 14,8 nghìn ha, giảm 2,8 nghìn ha Nguyên nhân chủ yếu là
do nông dân chuyển đất trồng lúa vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu sang trồng màu Vì vậy
mà diện tích đất canh tác rau màu ngày càng tăng, năm 2011 tăng 1,2 nghìn ha so với năm 2010, đến năm 2012 diện tích trồng màu tăng mạnh hơn trước, tăng 4,8 nghìn ha
so với năm 2011
Tình hình sản xuất rau màu cụ thể:
Bảng 2.6 Tình hình sản xuất rau màu ở huyện bình tân qua ba năm(2010-2012)
So sánh 2012/2011 Diện
Nâng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Sản lượng (nghìn tân)
Nâng suất (tấn/ha)
Đvt: Nghìn ha
Trang 20(Nguồn: Báo cáo tổng kết nông nghiệp của phòng Nông nghiệp huyện Bình Tân năm 2010, 2011,
2012)
Qua bảng trên ta thấy được diện tích sản xuất khoai lang tăng dần từ năm 2010 đến năm 2012 kèm theo đó là sản lượng thu hoạch tăng dần tuy nhiên năng suất lại giảm dần do ảnh hưởng của thời tiết và các loại dịch bệnh sâu hại trên khoai tăng Ngược lại với khoai lang, các loại rau màu cả diện tích, sản lượng và năng suất đều tăng dần qua các năm Cụ thể như sau:
- Khoai lang: năm 2012 diện tích tăng 4,5 nghìn ha so với năm 2011, sản lượng tăng 133 nghìn tấn, nhưng sản lượng lại giảm 0,6 tấn/ha
- Rau mà các loại: năm 2012 diện tích tăng 2,7 nghìn ha, sản lượng tăng 59,2 nghìn tấn và sản lượng tăng 1,4 tấn/ha
2.2.3.2 Thu ậ n l ợi và khó khăn trong sả n xu ấ t nông nghi ệ p c ủ a huy ệ n Bình Tân
a Thuận lợi
Được sở Nông Nghiệp&PTNT và các đơn vị trực thuộc Sở, Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện quan tâm đầu tư kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp Đồng thời, Phòng Nông nghiệp huyện đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể huyện, các trạm thuộc khối Nông nghiệp&PTNT cùng các xã tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách vê nông nghiệp nông thôn
Nghị quyết của Huyện ủy, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của UBND huyện, Nghị quyết của Đảng ủy Cơ quan Chính quyền, Chi bộ xây dựng Nghị quyết của Chi
bộ, Ban lãnh đạo phòng Nông nghiệp & PTNT xây dựng Kế hoạch cụ thể chuyên ngành làm cơ sở để tổ chức thực hiện
Các chương trình mục tiêu của Huyện ủy đề ra, đặc biệt là chương trình nhân giống lúa mới ứng dụng trong sản xuất, đã tác động tích cực đến phẩm chất, giá cả nông sản, kết hợp với kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đưa cây màu luân canh trên đất trồng lúa vụ Xuân Hè và Hè Thu trên địa bàn huyện là 02 nhiệm vụ chiến lược, then chốt đã thúc đẩy kinh tế nông nghiệp không ngừng phát triển
Công tác đầu tư thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh được Trung ương, Tỉnh, Huyện quan tâm đầu tư theo chủ trương tập trung cho công tác chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích cánh đồng thu nhập cao
Công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được tăng cường đầu tư kinh phí, giống cây con chủ lực, năng suất, chất lượng cao, đang từng bước thay thế cho các giống chất lượng kém, giúp nông dân sản xuất ngày càng hiệu quả hơn
Trang 21Việc ứng dụng cơ giới hoá trong khâu thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp
đã giảm chi phí thu hoạch và rút ngắn được thời gian giúp bà con nông dân chạy lũ kịp thời Đặc biệt hiện nay còn ứng dụng khâu vận chuyển sản phẩm khoai lang sau thu hoạch bằng cơ giới thay sức thủ công, đã giúp nông dân tiết kiệm khâu bốc vác từ ruộng ra bãi tập kết để trung chuyển đi tiêu thụ từ 4 – 5 triệu đồng/ha
Việc tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu ở xã Mỹ Thuận đã tạo mô hình sản xuất triển vọng, đã được nông dân tham gia tích cực Từ đó vụ lúa Đông Xuân 2012 – 2013 đã mở rộng quy mô thêm gần 100ha, nâng diện tích cánh đồng mẫu
vụ Đông Xuân 2012 – 2013 ở xã Mỹ Thuận lên gần 200ha
Nông dân có tập quán và kinh nghiệm qua nhiều năm trong việc đưa cây màu luân canh trên đất lúa Đồng thời ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nên sản xuất ngày càng hiệu quả hơn Từ đó đã góp phần tích cực đưa diện tích cây màu vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra
Kế hoạch nhân heo nái giống chất lượng cao và giống lúa xác nhận, đã có quyết định phê duyệt giai đoạn 2011 – 2015 của Ủy ban Nhân dân huyện Bình Tân, nhưng không có kinh phí thực hiện nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng cây lúa và heo thương phẩm trong thời gian tới
Sản lượng rau màu khối lượng lớn, đa dạng về chủng loại nhưng chưa có thương hiệu, nên giá cả chưa ổn định Cụ thể tình hình biến động giảm giá của khoai lang, mận An Phước, cá tra, heo và gà công nghiệp liên tục vào những tháng cuối năm, trong khi giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu, chi phí thức ăn, thuốc thú y, thủy sản biến động tăng liên tục, người sản xuất gặp rất nhiều rũi ro dẫn đến sản xuất
tư khắc phục
Trang 22Các Hợp tác xã, Tổ kinh tế hợp tác chưa phát huy đúng mức nên chưa thu hút nông dân tham gia sản xuất vào các loại hình này, vì vậy trên địa bàn huyện vẫn tồn tại hình thức kinh tế hộ là phổ biến
Kinh phí đầu tư xây dựng Nông thôn mới còn quá khiêm tốn, nên một số tiêu
chí đăng ký thực hiện đầu năm, nhưng thực không đạt kế hoạch do thiếu vốn
Khu vực huyện Bình Tân trước đây được xem là vùng rốn lũ của huyện Bình Minh cũ.có diện tích đất tự nhiên là 158 Km2 Hàng năm đều bị ngập lũ, lũ từ lâu đã chi phối đời sống và sản xuất của dân nơi đây So với các vùng khác trong tỉnh thì lũ
về đây sớm và nước cũng ngập sâu hơn cả
Vào đầu tháng 8 hàng năm, nước từ sông Hậu và sông Tiền theo các kinh, rạch
đổ vào đồng, lũ bắt đầu dâng cao, cao nhất là vào tháng 9,tháng 10 có năm kéo dài đến tháng 11
Từ sau khi tách huyện, Bình Tân tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp Huyện quan tâm đầu tư theo chủ trương tập trung cho công tác chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích cánh đồng thu nhập cao tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ngành nghề Hoa màu dần thay thế cây lúa Các xã Tân Thành, Thành Đông và Thành Trung, Tân Hưng có diện tích màu nhiều nhất
Việc ứng dụng cơ giới hóa trong khâu thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp
đã giảm chi phí thu hoạch cho nông dân vụ Đông Xuân khoảng 1 triệu đồng/ha; vụ Hè Thu và Thu Đông trên 3 triệu đồng/ha (cả 3 vụ lúa Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông
đã ứng dụng thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp trên 95% diện tích gieo sạ mỗi vụ, tiến độ máy thu hoạch nhanh bằng máy đã giúp thu hoạch chạy lũ trên 1.300ha vụ lúa Thu Đông năm 2012 gieo sạ muộn) đặt biệt năm nay còn ứng dụng khâu vận chuyển sản phẩm khoai lang sau thu hoạch bằng cơ giới thay sức thủ công gần 50% diện tích đất trồng khoai lang, đã giúp nông dân tiết kiệm khâu bốc vác từ ruộng ra bãi tập kết
để trung chuyển đi tiêu thụ từ 4-5 triệu/ha
Việt tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu ở xã Mỹ Thuận đã tạo mô hình sản xuất triển vọng, đã được nông dân tham gia tích cực Từ đó vụ Đông Xuân 2012-1013 đã mở rộng quy mô trên thêm gần 100ha, nâng diện tích cánh đồng mẫu vụ đông xuân 2012-2013 ở xã Mỹ Thuận lên gần 200ha
Nông dân có tập quán và kinh nghiệm qua nhiều năm trong việt đưa cây màu luân canh trên lúa Đồng thời ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghệp vào sản xuất nên sản xuất ngày càng hiệu quả hơn Từ đó đã gớp phần tích cực đưa điện tích cây màu vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra
Vào cuối tháng 12, hoa màu vụ Xuân Hè phủ khắp đồng, một màu xanh bạt ngàn trải dài từ kinh Xã Khánh đến kinh Hai Quý Khoai lang, bắp, đậu mè, dưa hấu…
Trang 23được trồng nhiều nhất nơi đây Bình Tân có các loại khoai lang nổi tiếng như bí đỏ, tàu ngạn, dương ngọc, lang sữa, tím Nhật đang có giá bán ổn định
Ngoài ra, nhiều mô hình sản xuất đã đem lại thu nhập đáng kể cho dân nghèo, đặc biệt là mô hình 2 vụ màu - 1 vụ lúa, mô hình thủy sản, trồng màu trong mùa lũ đạt thu nhập từ 50 đến 70 triệu đồng/ha/năm
2.3 Tình hình sản xuất khoai lang
2.3.1 giới thiệu vài nét về giống khoai lang
Khoai lang (tên khoa học là Ipomoea batatas) là một loài cây nông nghiệp với
các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang và nó là một
nguồn cung cấp cả rau lẫn lương thực Các lá non và thân non cũng được sử dụng như
một loại rau Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có
nguồn gốc Nam Mỹ và quan hệ họ hàng rất xa với khoai mỡ (một số loài trong chi
Dioscorea) là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và châu Á
Khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Mỹ, nó được con người trồng cách đây trên 5.000 năm Nó được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm
cả khu vực Caribe Nó cũng đã được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người phương tây tới Polynesia
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới (với sản lượng năm 1990 là 130 triệu tấn; bằng khoảng một nửa sản lượng khoai tây của quốc gia này) Trong quá khứ, phần lớn khoai lang tại Trung Quốc được trồng để làm lương thực, nhưng ngày nay phần lớn (60%) được trồng để nuôi lợn Phần còn lại được dùng làm lương thực hay chế biến các sản phẩm khác cũng như để xuất khẩu, chủ yếu là sang Nhật Bản Tại Trung Quốc hiện nay có trên
100 giống khoai lang
Khoai lang phát triển tốt trong nhiều điều kiện về đất, nước và phân bón Nó cũng có rất ít kẻ thù tự nhiên nên thuốc trừ dịch hại là ít khi phải dùng tới Do nó được nhân giống bằng các đoạn thân nên khoai lang là tương đối dễ trồng Do thân phát triển nhanh che lấp và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại nên việc diệt trừ cỏ cũng tiêu tốn ít thời gian hơn Trong khu vực nhiệt đới, khoai lang có thể để ở ngoài đồng và thu hoạch khi cần thiết còn tại khu vực ôn đới thì nó thường được thu hoạch trước khi sương giá bắt đầu
Trong các điều kiện tối ưu với 85-90 % độ ẩm tương đối ở 13-16 °C (55-61 °F),
củ khoai lang có thể giữ được trong vòng 6 tháng Nhiệt độ thấp hoặc cao hơn đều nhanh chóng làm hỏng củ Hiện nay, có rất nhiều loại khoai lang như: Khoai lang sữa, Khoai bí đường, Khoai lang trắng, Khoai lang đỏ cao sản, Khoai lang tím Nhật…
Thời vụ xuống giống khoai thường là vào khoảng cuối tháng giêng âm lịch (khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch) Tùy theo loại khoai mà có thời gian thu hoạch
Trang 24khác nhau trung bình là khoảng 4,5 tháng Trước đây bà con nông dân chủ yếu là trồng lúa nhưng do thu nhập từ việc trồng khoai ngày càng có lợi nhuận nên một phần lớn các nhà nông chuyển sang trồng khoai Khoai lang ưa chuộng trồng ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt là huyện Bình Tân thành phố Vĩnh Long
2.3.1.2 Ngu ồ n g ố c, xu ấ t x ứ , tên g ọ i
Trước đây khi huyện Bình Tân chưa được chia tách từ thị xã Bình Minh thì chưa có cái tên gọi là Khoai lang Bình Tân cũng như không có tên gọi là Khoai lang Bình Minh Khi còn là huyện Bình Minh thì lúc đó khoai chưa thật sự phát triển mạnh,
bà con nông dân chủ yếu là trồng lúa và các loại rau màu Một năm người dân trồng ba
vụ lúa đó là: Đông xuân, hè thu, thu đông Khoai lang chỉ được người dân trồng một
vụ trong năm đó là thay thế vụ lúa hè thu bằng một vụ khoai nhưng ít nông hộ áp dụng
mô hình 2 lúa 1 khoai đó, vì lúc đó khoai lang cũng chưa đem lại lợi nhuận cao cho bà
con nông dân nhưng lại tốn nhiều nhân công
Nhưng thị trường khoai lang ngày càng được mở rộng hơn, người dân trồng khoai nhiều hơn và dần chuyển sang áp dụng mô hình 2 lúa 1 khoai Diện tích trồng khoai ngày càng được nâng cao sản lượng khoai ngày càng được cải thiện hơn nhờ việc áp dụng nhưng tiến bộ kỹ thuật và tích lũy kinh nghiệm từ lâu đời Đến năm
2007 huyện Bình Tân chính thức được tách ra từ thị xã Bình Minh hiện nay, thời điểm
đó việc trồng khoai lang ngày càng được phổ biến Một số nông hộ còn chuyển sang
mô hình 2 khoai 0 lúa hoặc 2 khoai 1 lúa nếu giống khoai đó có thời gian thu hoạch ngắn Thêm vào đó thị trường khoai lang ở nước ta ngày càng được phát triển, việc xuất khẩu khoai lang ngày càng tăng chủ yếu là khoai lang tím
Chính vậy vì mà các thương lái tìm đến huyện Bình Tân thu mua khoai ngày càng nhiều và các hợp tác xã khoai lang được thành lập ở các xã lần lượt ra đời Nên dần người ta biết đến vùng đất Bình Tân và nổi tiếng với đặc sản là khoai lang Đất ở huyện Bình Tân rất thích hợp để trồng khoai lang, khoai được trồng có chất lượng và đảm bảo sản lượng Từ đó mỗi khi nhắc đến huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
là mọi người sẽ nhớ đến những củ khoai lang no tròn ngon ngọt Vì thế mà mọi người
gọi là “Khoai lang Bình Tân”
2.3.1.3 Mô t ả hình dáng, ph ẩ m ch ất khoai khi đem ra thị trườ ng tiêu th ụ
Khoai lang ở huyện Bình Tân sau khi thu hoạch được làm sạch và sấy khô bên ngoài để đảm bảo khoai được bảo quản lâu Thương lái sẽ thuê người lựa chọn những
củ khoai đủ tiêu chuẩn để đem ra thị trường
Khoai đủ tiêu chuẩn là những củ khoai thân no tròn có dạng bầu dục, đủ trọng lượng từ 50g trở lên (đối với khoai lang Tím) và 80g trở lên (đối với khoai bí đường) Khoai không bị hư, sùng, bị lát,…da bóng mỏng, không bị gân
Trang 25Hình 2.1 Hình dáng khoai lang
Phẩm chất bên trong của khoai phải đảm bảo ruột phải chắc không bị xốp Khi nấu chín có độ ngọt, độ béo, bùi và thơm ngon, không bị nước, không bị sơ
2.3.1.4 Quy trình s ả n xu ấ t khoai lang
Hình 2.2 Sơ đồ quy trình sản xuất khoai lang
Xử lí đất trồng
Quá trính xử lí đất gồm các công đoạn sau:
- Phơi đất: Vụ khoai đầu tiên của người dân hiện nay là thay cho vụ lúa Đông Xuân, khi nước bắt đầu rút xuống người dân tiến hành bơm nước ra khỏi ruộng, làm sạch cỏ và sửa đất để cho mặt đất bằng phẳng, đồng đều Sau đó phơi đất dưới ánh nắng mặt trời từ khoảng từ 15 đến 20 ngày Sau khi đất khô tiến hành công đoạn thứ 2
- Xới đất: Đất được phơi khô, người dân cho máy cày vào xới, thông thường đất được xới hai lần để đảm bảo đất đủ độ nhuyễn thích hợp với từng giống khoai
- Lên dòng: Sau khi xới đất xong công đoạn tiếp theo là cuốc đất lên dòng để trồng khoai Khoảng cách giữa hai dòng khoai thông thường theo kinh nghiệm của người trồng khoai là từ 1m đến 1,02m Công việc cuối cùng là người dân phun thuốc diệt mầm cỏ trong đất để ngăn ngừa cỏ dại sau này
Chuẩn bị giống trồng
Người trồng khoai sẽ mua dây khoai từ những nông hộ có khoai từ 1 tháng tuổi trở lên Giống khoai vụ đầu tiên thường được mua ở Giồng Riềng hay ở Bến Bạ Độ dài của dây khoai trồng khoảng từ 22cm đến 25cm là thích hợp nhất
Tiến hành xuống giống
Quá trình
Thu hoạch
Trang 26Trước khi trồng, người trồng khoai đem dây trải đều ra ruộng, tiếp theo là sương dòng khoai (tức là tưới nước cho dòng khoai ướt đều) Cuối cùng là trồng những cộng dây khoai xuống những đất theo từng dòng
Hình 2.3 Bà con nông dân trồng khoai lang
Quá trình chăm sóc
Giai đoạn đầu tiên của quá trình chăm sóc là tưới nước đều độ để khoai không
bị héo và bón phân Ure để cho dây phát triển rễ, thân lá Sau đó xịt sâu để sâu không hại đến bộ rễ của khoai vì khoai bộ rễ rất quan trọng, bộ rễ là nơi cho cũ Tiếp theo bón các loại phân đạm kali, NPK,….và các loại thuốc dưỡng để khoai phát triển tốt cả
cũ lẫn thân Quá trình chăm sóc kéo dài từ 4 tháng đến 5 tháng
Thu hoạch
Giai đoạn cuối cùng là thu hoạch khoai Khi đến thời gian và giá cả hợp lí người dân sẽ tiến thu hoạch Quá trình thu hoạch gồm các công đoạn là: chặt dây khoai, kéo dòng, nhặt khoai, vác khoai vào trại, lặt khoai, cuối cùng là cân khoai cho
Trang 27Trong vài năm trở lại đây công nghệ chế biến các sản phẩm khoai lang bắt đầu được chú ý Khoai lang được dùng làm lương thực cho người, thức ăn chân nuôi và làm nguyên liệu chế biến tinh bột, rượu, cồn, xi rô, nước giải khác, bánh kẹo, mì, miến, phụ gia, dược phẩm, màng phủ sinh học hiện nay một số công ty Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đang thâm dò khả năng phát triển khoai lang để sản xuất tinh bột, rượu cồn, công nghệ thực phẩm và màng phủ sinh học (bioplascic) Đặt biệt, việc một
số vùng trồng đã xuất khẩu được khoai lang với giá trị kinh tế cao mở ra một hướng phát triển mới cho cây khoai lang tại Việt Nam
Hiện nay cây khoai lang là cây có củ được phân bố rộng rãi ở nước ta ở vùng núi, trung du Bắc Bộ, Duyên hải Miền Trung, Châu thổ sông Hồng, Tây Nguyên, vùng đồng bằng sông Cửu Long khoai lang luôn có mặt trong nhiều cơ cấu luân canh của nhiều vùng đất
Năng suất khoai lang năm 2005 tăng hơn so với năm 2001, tuy nhiên do diện tích giảm nhiều (56.2 nghìn ha) nên sản lượng thu được năm 2005 giảm khá (193 nghìn tấn) diện tích trồng khoai lang ở hầu hết các khu vực trong cả nước điều giảm, trong đóa mạnh nhất là 2 khu vục Bắc Trng Bộ (27.4 nghìn ha) và Đồng bằng sông Hồng (17.1 nghìn ha) Bên cạnh đó, một số khu vực có diện tích trồng khoai lang tăng nhưng không đáng kể như khu vực tây Bắc (0,9 nghìn ha), Tây Nguyên (2,2 nghìn ha), Đồng bằng sông cửu Long(1,9 nghìn ha)
Để khôi phụ và phát triển khoai lang thương phẩm trở thành hàng hóa có năng suất cao, chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 28Trong nhiều năm qua, nước ta đã thu nhập nhiều giống khoai lang từ nước ngoài, trong đóa có giống khoai Nhật Bản bao gồm 2 loại: Beniazuma và KLC-266
Khoai lang nhật bản giống Benizuma vỏ đỏ, ruột vàng Độ đường và chất lượng cao được nhập vào Việt Nam từ tháng 3/1999, được trồng thử nghiệm tại Lâm Đồng cho kết quả tốt, hiện nay đã trồng ở vùng Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, được đưa ra miền Bắc từ năm 2002 đã trồng ở Sơn La, Lạng Sơn, Bắc Ninh và Trung tâm nghiên cứu bộ môn cây có củ Tại Yên Phong-Bắc Ninh vụ mùa năm 2008 thu nhập bình quân 37,8 triệu đồng/ha Qua nghiên cứu khảo nghiệm đã khẳng định tính thích nghi và hiệu quả của cây khoai lang Nhật Bản tại miền Bắc và có thể phát triển trên diện rộng
Khoai lang Nhật Bản giống KLC-266 là một trong những tổ hợp giống khoai lang có nguồn góc từ Nhật Bản được trung tâm nghiên cứu cây có củ tiến hành chon lọc tao ra giống KLC-266 có đặt tính lá xẻ thùy 5, thân màu tím, củ vỏ tím, ruột vàng, nâng suất cao, chất lượng tốt được trồng thử nghiệm tại Hà Tĩnh, viện cây lương thực
và cây thực phẩm Tứ Kỳ - Hải Dương năng suất đạt từ 12-18 tấn/ha/vụ
Thị trường khoai lang Nhật Bản: khoai lang Nhật Bản có chất lượng cao (độ đường >=120 Brix) Khoai lang Nhật Bản ngoài tỷ lệ củ tươi còn chế biến ra nhiều sản phẩm khác như sấy khô, chế biến bánh kẹo, mứt đóng hộp… có thể tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc,… mang lại giá trị kinh tế cao Hiện tại ở miền Bắc chưa có đủ sản phẩm tiêu thụ nội địa, ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ đã xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc thị trường chính là Ba Lan, Thụy Điển, Nga, Nauy, Philipine
và Thụy Sỹ Đầu tư nhà máy chế biến khoai lang là một hướng lớn triển vọng đối với đầu ra của cây khoai lang hiện nay đã và đang được chú trọng nghiên cứu
Thị trường xuất khẩu khoai lang của Việt Nam dự báo thuận lợi và có lợi thế cạnh tranh cao do nhu cầu vè chế biến khoai lang xuất khẩu các loại thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính Diện tích khoai lang của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 188,4 nhìn ha nhưng zẽ tăng năng suất và sản lượng khoai lang bằng cách chon ra và phát triển giống khoai lang tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác khoai lang bền vững và thích hợp vùng sinh thái, đảm bảo thu nhập cho người dân, nhất là các hộ nghèo, các hộ vùng sâu vùng xa
2.3.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai lang ở huyện Bình Tân
Trong huyện gồm có 11 xã, mỗi xã đều có trồng khoai lang nhưng tùy vào điều kiện đất đai, kênh thủy lợi mà diện tích trồng khoai ở mỗi xã khác nhau
Trang 29Bảng 2.7 Diện tích năng suất và sản lượng khoai lang của các xã trong huyện Bình Tân năm 2012
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm 2012 của phòng Nông nghiệp huyện Bình Tân)
Trong 11 xã thì xã có diện tích trồng khoai nhiều nhất là xã Tân Thành (2.520ha), tiếp theo đó là xã Thành Trung (1.753ha) và Thành Lợi (1.530ha) Đây là
ba xã tiếp giáp nhau có điều kiện tốt về đất trồng cũng như hệ thống nước tưới tiêu thuận lợi và các nông dân ở các xã cũng có nhiều kinh nghiệm trong viêc sản xuất nên năng suất và sản lượng cao Xã có diện tích trồng ít nhất là xã Tân Quới chỉ có 90,3ha
do xã Tân Quới là trung tâm huyện người dân sống bằng nghề buôn bán, kinh doanh, còn các nông dân thì trồng các loại rau màu (như hành, đậu, bắp cải…) là chủ yếu
Hiện nay, trên địa bàn huyện Bình tân, tổng diện tích trồng khoai lang là 7.232
ha (9/2013) năng suất bình quân ước đạt 18 – 24 tấn/ha, sản lượng ước đạt 224.192 tấn
Trong những năm qua, bà con nông dân Bình Tân đã có bước tiến dài trong việc chuyển giao và áp dụng những kỹ thuật canh tác mới Cơ giới hóa các khâu làm đất, tưới tiêu, phun xịt, bón phân, chăm sóc đã từng bước thay thế cho việc sử dụng lao động thủ công Song song đó, tại các xã trồng khoai lang trọng điểm của huyện đã hình thành các tổ, nhóm chuyên cung cấp lao động, dịch vụ trồng và thu hoạch khoai lang, thu hút hàng trăm lao động tham gia, vừa giải quyết công ăn việc làm tại chỗ cho
Trang 30người lao động vừa giúp người trồng khoai giải quyết nỗi lo thiếu nhân công mùa vụ Thêm vào đó, từng bước hình thành các hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ khoai lang như Hợp tác xã Tân Thành; Hợp tác xã Thành Trung; Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ rau
an toàn Thành Lợi, Trong đó, khoai lang tím nhật có chất lượng để xuất khẩu
Tại vùng nguyên liệu khoai lang Bình Tân có một số giống khoai lang phổ biến bao gồm: hoai lang trắng giấy, khoai lang trắng sữa, khoai lang bí đường xanh, khoai
Bí Nghệ và khoai lang tím nhật Trong mấy chục năm về trước, sản phẩm khoai lang huyện Bình Tân được người dân tại địa phương và ngoài tỉnh quen gọi là khoai lang Mười Thới giờ đây đã vươn xa, tiêu thụ khắp các thị trường trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài đã mang lại nguồn lợi không nhỏ góp phần phát triển kinh tế địa phương Thị trường tiêu thụ khoai lang tím Nhật chủ yếu bán ở thị trường Trung Quốc qua đường tiểu ngạch, gần đây mở rộng bán qua thị trường Malaysia, Inđônesia, Đài Loan
và Hồng Kông với giá cả dao động từ 500.000 - 1.200.000 đồng/tạ có lúc lên đến 1.350.000 - 1.400.000 đ/tạ, còn các loại khoai lang khác tiêu thụ nội địa và thị trường Campuchia với giá cả dao động từ 200.000 - 300.000 đồng/tạ Hiện tại, giá khoai lang tím Nhật hiện tại thu mua dao động từ 10.000 – 13.000 đồng/ký, các loại khoai khác giá cả dao động từ 5.000 – 8.000 đồng/ký
Nhìn chung về giá cả mua bán các loại khoai lang hiện nay thì nông dân vẫn có lãi cao hơn so với các vụ trồng màu khác trên địa bàn
Tuy nhiên, phần lớn sản lượng khoai tím nhật đều tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc qua đường tiểu ngạch dưới danh nghĩa là hàng hóa nông sản Các thương nhân Trung Quốc đến kiểm tra và thu mua khoai lang hầu hết chưa đăng ký kinh doanh nên chưa được cấp giấy phép theo quy định Đồng thời, việc thu mua còn mang tính thời
vụ, khó kiểm soát làm cho giá cả khoai lang lien tục không ổn định
Hướng tới, để khoai lang tỉnh nhà phát triển ổn định và bền vững, tiếp tục tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua chương trình kết nối giao thương với Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, liên hệ với các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu, chế biến sản phẩm từ khoai lang của tỉnh, xây dựng thương hiệu và tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu khoai lang Bình Tân, Vĩnh Long để tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nhất là thị trường nước ngoài
Hiện tại, vùng khoai lang Bình Tân đã sắp sửa chứng nhận được 17 ha sản xuất theo hướng GlobalGAP và hướng tới sẽ mở rộng sản xuất theo hướng an toàn bền vững với diện tích là 30 ha và hiện nay địa phương đã hoàn thành các thủ tục xây dựng nhãn hiệu cho khoai lang Bình Tân Nhiều khả năng trong năm nay, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) sẽ có quyết định trao nhãn hiệu tập thể “Khoai lang Bình Tân” cho Hội Nông dân huyện quản lý Nhãn hiệu “Khoai lang Bình Tân” sẽ có logo