1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang

63 333 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... tài Nghiên cứu chất lƣợng nƣớc mƣa thu gom từ mái nhà huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thật cần thiết Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá chất lƣợng nƣớc mƣa qua mái nhà lá, nhằm tìm phƣơng pháp thu gom. .. Làm thu 96 - Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Danh Nê Làm ruộng Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Danh Hận Làm thu Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Thị Út Làm thu 94 - Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị. .. 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Trịnh Loan Chạy xe 76 - Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Thị Em Làm thu 78 - Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy Thị Cua Làm ruộng 90 - Ấp 6, Xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Cần Thơ, 2013

Trang 3

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG

Luận văn kèm theo đây, với tựa đề “Nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” do Nguyễn Văn Phúc thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua

Thành viên của hội đồng

Ths Nguyễn Thị Như Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Cô Nguyễn Thị Như Ngọc và anh Đinh Diệp Anh Tuấn đã tận tình hướng dẫn, cung cấp những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Thầy Trần Sỹ Nam - cố vấn học tập, cùng tất cả quý Thầy Cô của Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và hướng dẫn tôi làm tốt đề tài, cũng như học tốt trong suốt thời gian học tại trường Đại học Cần Thơ

Anh Võ Hoàng Phong và anh Đặng Quang Tiên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tại tỉnh Hậu Giang

Gia đình Cô Nguyễn Thị Nguyệt và Bác Đặng Quang Vân đã giúp đỡ tôi trong những ngày thực hiện đề tài tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

Ban chủ nhiệm dự án “Thích ứng biến đổi Khí hậu thông qua phát triển đô thị bền vững” (do tổ chức CSIRO, Úc tài trợ) đã hỗ trợ và cho phép đề tài tham khảo các kết quả nghiên cứu để thực hiện báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học

Tôi xin gửi lời biết ơn đến Gia đình và tất cả bạn bè đã động viên, hỗ trợ, giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2013 Tác giả

Nguyễn Văn Phúc

Trang 5

TÓM LƯỢC

Đề tài tiến hành (i) chọn phỏng vấn 30 hộ dân sống tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang nhằm nắm được tình hình thu hứng và sử dụng nước mưa của người dân sống tại tỉnh Hậu Giang; (ii) khảo sát chất lượng nước mưa từ một vài dụng cụ trữ nước mưa của người dân; (iii) triển khai thí nghiệm thu mẫu nước mưa 2 đợt cho mỗi độ tuổi sử dụng mái nhà lá (dưới 1 năm tuổi, từ 1-3 năm tuổi và trên 3 năm tuổi) tại 6 trận mưa vào các ngày 30/09/2013, 4/10/2013, 06/10/2013, 16/10/2013, 23/10/2013 và 26/10/2013 và mẫu đối chứng (nước mưa không qua mái nhà lá) cũng được thu cùng thời gian với mẫu nước mưa thu từ mái nhà lá

Kết quả phỏng vấn cho thấy, người dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang sử dụng nước mưa cho mục đích ăn uống là chủ yếu chiếm 72%, có 23% hộ sử dụng cho cả 2 mục đích ăn uống và sinh hoạt và 5% hộ chỉ sử dụng cho mục đích sinh hoạt Hình thức xử lý nước mưa trước khi sử dụng cho mục đích ăn uống của người dân có 26% hộ dân đun sôi trước khi uống, 51% hộ dân lọc bằng vải mùn trữ lại để

sử dụng và 23% hộ dân uống trực tiếp

Từ kết quả khảo sát chất lượng nước mưa ngoài trời và nước mưa trong dụng

cụ chứa của hộ dân cho thấy chất lượng nước mưa bị thay đổi theo số năm sử dụng mái nhà lá

Qua kết quả phân tích mẫu nước mưa cho thấy chất lượng nước mưa thu từ mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tương đối tốt, các chỉ tiêu hóa lý và

vi sinh như: độ đục, chất rắn lơ lửng (SS), tổng chất rắn hòa tan (TDS), tổng

Coliform … đều giảm dần theo thời gian trận mưa

Đồng thời qua kết quả phân tích các chỉ tiêu nước mưa thu được theo thời gian sử dụng của mái nhà cho thấy chất lượng nước mưa giảm dần theo độ tuổi của mái nhà

Từ khóa: nước mưa, mái nhà lá, độ tuổi mái nhà

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Trang Bảng 2.1 Lượng mưa (mm) trung bình của một số vùng ĐBSCL 6

Bảng 2.2 Cách sử dụng nước mưa 9

Bảng 2.3 Lượng mưa tháng và năm giai đoạn 2005 – 2009 của tỉnh Hậu Giang 13

Bảng 2.4 Lượng mưa của tỉnh Hậu Giang (trạm Vị Thanh) từ tháng 07-10/2013 14 Bảng 3.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý, hóa, vi sinh trong nước mưa 17

Bảng 4.1 Kết quả khảo sát chất lượng nước mưa ngoài trời và trong dụng cụ trữ 25 DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1 Mưa địa hình 3

Hình 2.2 Mưa đối lưu 4

Hình 2.3 Mưa frông 4

Hình 2.4 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho xối rửa 7

Hình 2.5 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống 8

Hình 3.1 Mô hình thu mẫu nước mưa 16

Hình 4.1 Độ tuổi mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 19

Hình 4.2 Hình thức thu gom nước mưa của người dân 20

Hình 4.3 Tỷ lệ mục đích sử dụng nước mưa của người dân 21

Hình 4.4 Tỷ lệ dụng cụ trữ nước mưa của người dân 22

Hình 4.5 Tỷ lệ các kiểu trữ nước mưa của người dân 23

Hình 4.6 Tỷ lệ các hộ gia đình xử lý nước mưa làm nước ăn uống 24

Hình 4.7 Giá trị pH của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá 28

Hình 4.8 Giá trị độ đục của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá 29

Hình 4.9 Hàm lượng TDS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá 30

Hình 4.10 Hàm lượng SS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá 31

Hình 4.11 Tổng Coliform nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá 32

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ iii

TÓM LƯỢC iv

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Tìm hiểu chung về nước mưa 3

2.1.1 Sự giáng thủy và mưa 3

2.1.2 Sự hình thành mưa 3

2.1.3 Các qui định gọi mưa trong các bản tin thời tiết 5

2.1.4 Diễn biến của mưa theo thời gian và không gian 5

2.2 Mưa ở đồng bằng sông Cửu Long 5

2.3 Một số biện pháp thu gom, dự trữ và xử lý nước mưa trong sinh hoạt 7

2.3.1 Thu hứng nước mưa từ mái nhà 7

2.3.2 Tiêu chí sử dụng nước mưa 8

2.4 Một số thông số lý, hóa, vi sinh để đánh giá chất lượng nước mưa 10

2.4.1 Các chỉ tiêu về chất lượng nước cấp ở một số nước trên thế giới 10

2.5 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí tượng và thủy văn tỉnh Hậu Giang 12

2.5.1 Vị trí địa lý 12

2.5.2 Khí hậu 12

2.5.3 Thủy văn 13

2.5.4 Lượng mưa của tỉnh Hậu Giang từ tháng 07 – 11/2013 14

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 15

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 15

3.2 Phương tiện nghiên cứu 15

3.2.1 Phương tiện thực hiện thu mẫu nước mưa 15

3.2.2 Phương tiện thực hiện phân tích chất lượng nước mưa 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Điều tra phỏng vấn 16

3.3.2 Khảo sát thực địa và chọn địa điểm triển khai thí nghiệm 16

3.3.3 Chuẩn bị thu mẫu và phân tích mẫu 17

3.3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17

3.3.5 Phương pháp thu và bảo quản mẫu 17

3.3.6 Phương pháp phân tích mẫu 18

3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 18

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Kết quả phỏng vấn, khảo sát các hộ sử dụng nước mưa tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 19

4.1.1 Thông tin đợt phỏng vấn 19

4.1.2 Kết quả đợt phỏng vấn 19

Trang 9

4.2 Khảo sát chất lượng nước mưa tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 24

4.2.1 Chất lượng nước mưa ngoài trời 24

4.2.2 Khảo sát chất lượng nước mưa trong dụng cụ chứa của người dân 25

4.3.1 Chất lượng nước mưa thu gom theo độ tuổi mái nhà lá 27

4.3.2 Lượng nước cần thải bỏ ở đầu trận mưa theo số năm sử dụng của mái nhà lá 33

CHƯƠNG VKẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 35

5.1 Kết luận 35

5.2 Đề xuất 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Nước là một loại tài nguyên quí giá và vô cùng quan trọng, nếu không có nước thì không có sự sống Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước hiện nay đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân mà đặc biệt là các hoạt động sản xuất của con người làm suy giảm chất lượng nước Ở nước ta nguồn nước đảm bảo cho con người sử dụng ngày càng ít đi từ 12.800 m3/người/năm vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người/năm vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8.500

m3/người/năm vào khoảng năm 2020 (Trần Thanh Xuân, 2013) Vì vậy việc thiếu nước sạch là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật đe dọa đến cuộc sống của nhân dân

Tài nguyên nước ngày càng cạn kiệt, cạn kiệt về số lượng và chất lượng ngày càng xấu đi Bên cạnh đó, chúng ta đang lãng phí một lượng tài nguyên rất lớn mà thiên nhiên ban tặng, đó là tài nguyên nước mưa Việc xử lý nước mưa đơn giản hơn việc xử lý nước mặt và nước trong lòng đất Mặt khác việc khai thác nước mưa tại chỗ cũng đơn giản và rẻ hơn các loại nguồn nước khác do không phải tốn điện năng, đường ống chuyển tải Do vậy, việc sử dụng nước mưa tại chỗ là một giải pháp cấp nước phân tán an toàn và chi phí thấp Nếu biết cách tích trữ, xử lý và sử dụng thì nước mưa sẽ là nguồn cung cấp nước sinh hoạt có giá trị phục vụ cho nhu cầu sử dụng nước góp phần giảm bớt mức độ thiếu nước sạch sử dụng

Trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu như hiện nay, giải pháp công nghệ thu trữ nước mưa được đánh giá là giải pháp hiệu quả trong việc cấp nước sinh hoạt, cải tạo vườn tạp và cải tạo môi trường

Thu nước mưa là một giải pháp đã được biết đến từ trước, việc thu nước mưa

có thể bổ sung một lượng nước sạch cho các hộ gia đình Tuy nhiên, các hộ gia đình tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng có cách thu gom và sử dụng nước mưa đều chưa có biện pháp để thải bỏ lượng nước mưa bị ô nhiễm ở đầu trận mưa; do đó nước mưa thu được không đảm bảo chất lượng, làm giảm khả năng sử dụng cho các loại mục đích khác nhau

Việc trữ nước mưa để sử dụng trong ăn uống và sinh hoạt không hẳn là một việc dễ dàng trên bình diện toàn xã hội, đặc biệt là vùng nông thôn, nơi mà mức sống của người dân còn thấp và trình độ dân trí nhiều hạn chế

Trang 11

Trước tình hình thực tế trên, cùng với việc tạo ra được nguồn nước sạch để đảm bảo sức khỏe cho người dân đang là vấn đề hết sức cấp bách Vì thế đề tài

“Nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” là thật sự cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá chất lượng nước mưa qua mái nhà lá, nhằm tìm ra phương pháp thu gom và xử lý nước mưa đối với mái nhà lá và khuyến khích người dân sử dụng nước mưa giúp khắc phục tình trạng thiếu nước sạch của người dân vùng nông thôn

Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát tình hình sử dụng nước mưa tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

- Khảo sát chất lượng nước mưa không thông qua mái nhà và trong dụng cụ trữ của một số hộ dân tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

- Đánh giá chất lượng nước mưa theo độ tuổi của mái nhà lá dưới 1 năm tuổi,

từ 1-3 năm tuổi và trên 3 năm tuổi (Phân tích một số chỉ tiêu pH, độ đục,

tổng chất rắn hòa tan (TDS), chất rắn lơ lửng (SS), vi khuẩn E coli và tổng

Coliform)

Trang 12

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Tìm hiểu chung về nước mưa

2.1.1 Sự giáng thủy và mưa

Sự giáng thủy hay là sự ngưng kết hơi nước trong khí quyển là quá trình nước từ thể hơi chuyển sang thể lỏng (mưa, sương) hoặc thể rắn (mưa đá, tuyết) và rơi xuống mặt đất Trong một khái niệm gần đúng ở nước ta, lượng giáng thủy và lượng mưa rơi có giá trị gần như nhau Mưa là hiện tượng các hạt nước nước có từ

sự ngưng tụ hơi nước trong mây và rơi xuống đất

Mưa là nguồn cung cấp nước ngọt chính trên thế giới và là yếu tố quan trọng nhất của sự hình thành dòng chảy sông ngòi ở nước ta Mưa cũng là đối tượng nghiên cứu cơ bản liên quan đến vấn đề khai thác tài nguyên nước và chống thiên tai như lũ lụt, hạn hán (Lê Anh Tuấn, 2008)

2.1.2 Sự hình thành mưa

Mây là một khối ẩm không khí tập hợp bởi sự bốc thoát hơi của nước Phần lớn hơi nước bốc lên từ các đại dương và biển vùng nhiệt đới Một khối không khí

ẩm ướt khi gặp lạnh sẽ có sự ngưng tụ hình thành mưa (Lê Anh Tuấn, 2008)

Có 3 tiến trình chính tạo nên sự làm lạnh, gây ra mưa:

Mưa do địa hình (nâng sơn)

Khi một khối không khí ẩm đang di chuyển gặp một dãy núi chặn lại, khối khí sẽ bị nâng lên gây hiện tượng lạnh đi vì động lực (Hình 2.1) Hơi nước ngưng tụ gây mưa ở một bên sườn dãy núi, bên kia lại khô Loại này gọi là mưa địa hình, rất đặc trưng ở khu vực Trường Sơn nước ta Mưa địa hình thường lớn và kéo dài

Hình 2.1 Mưa địa hình

Trang 13

Mưa do đối lưu

Do sự gia tăng nhiệt độ trong mùa khô tạo nên sự bốc hơi nước mạnh mẽ, khối không khí ẩm sát mặt đất bị nâng lên cao gây hiện tượng mất nhiệt, hơi nước ngưng tụ gây mưa kèm sấm chớp

Hình 2.2 Mưa đối lưu

Mưa do hội tụ

Khi có bão, các cơn gió hội tụ lại tạo ra các xoáy lớn nâng không khí ẩm lên cao và gây mưa lớn Đây là hiện tượng thường xảy ra ở nước ta trong mùa mưa Khi một khối không khí lạnh đang di chuyển gặp một khối không khí nóng và ẩm sẽ tạo

ra một vùng tiếp xúc gọi là frông Khi khối không khí lạnh di chuyển vào vùng không khí nóng sẽ tạo ra hiện tượng front lạnh và ngược lại khi một khối không khí nóng đi vào vùng không khí lạnh đứng yên hay di chuyển chậm sẽ tạo frông nóng Mưa xảy ra ở mặt tiếp xúc giữa khối không khí nóng và lạnh

Hình 2.3 Mưa frông

Trang 14

2.1.3 Các qui định gọi mưa trong các bản tin thời tiết

Lượng mưa được tính bằng chiều dày đo bằng mm của lớp nước rơi trên một mặt phẳng nằm ngang, không bốc hơi, không thấm và chảy tràn đi Dụng cụ đo mưa gọi là vũ lượng kế Cường độ mưa là lượng mưa tính ra mm rơi trong 1 phút Cường

độ mưa vượt quá 1 mm/phút gọi là mưa rào (Lê Anh Tuấn, 2008)

Quy định về diện mưa (khu vực mưa)

- Mưa vài nơi: Số trạm có mưa ≤1/3 tổng số trạm đo mưa khu vực

- Mưa rải rác: Số trạm có mưa >1/3 hoặc = 1/2 tổng số trạm đo mưa khu vực

- Mưa nhiều nơi: Số trạm có mưa >1/2 tổng số trạm đo mưa khu vưc

Quy định về lượng mưa

- Mưa không đáng kể: Lượng mưa từ 0,0 - 0,5 mm

- Mưa nhỏ: Lượng mưa từ 0,5 - 10,0 mm

- Mưa vừa: Lượng mưa từ 10,0 - 50,0 mm

- Mưa to: Lượng mưa từ 50,0 - 100,0 mm

- Mưa rất to: Lượng mưa >100,0 mm

2.1.4 Diễn biến của mưa theo thời gian và không gian

Mưa có đặc tính phân bố không đều theo thời gian và không gian Chính đặc điểm này làm cho việc dự báo mưa gặp rất nhiều khó khăn Vì thế xảy ra tình trạng lúc thiếu, lúc dư nước trên một địa bàn, hoặc nơi này khô hạn, nơi kia bị ngập

úng…

Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL):

- Mùa mưa diễn ra trong tháng 4 đến tháng 11

- Mùa nước lớn, tháng 6 đến tháng 12

- Mùa lũ, từ 15 tháng 8 đến 15 tháng 10

- Mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

2.2 Mưa ở đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm Một năm có hai mùa mưa và mùa nắng phân biệt Mùa mưa kéo dài khoảng 5 tháng, tương ứng

Trang 15

với chủ yếu thời kỳ gió mùa Tây Nam, mưa lớn xảy ra khi các luồng áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên lục địa Châu Á, thường bắt đầu vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và chấm dứt vào cuối tháng 11 hàng năm, bảy tháng còn lại trong năm là mùa khô (Lê Anh Tuấn, 2002)

Bảng 2.1 Lượng mưa (mm) trung bình của một số vùng ĐBSCL

(Lê Anh Tuấn, 2008)

Lượng mưa trung bình ở ĐBSCL biến động trong khoảng 1.400 - 2.200 mm/năm Tỉnh có lượng mưa cao nhất là Cà Mau (trên 2.200 mm/năm), tỉnh có lượng mưa thấp nhất là Đồng Tháp (xấp xỉ 1.400 mm/năm) Trong các tháng mùa mưa, số liệu từ các trạm đo mưa cho thấy có khoảng 13 - 21 ngày mưa/tháng Trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, số ngày có mưa trong tháng rất ít chỉ vào khoảng

0 - 6 ngày mưa/tháng

Các tháng có ngày mưa cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 10, biến thiên 13 -

21 ngày mưa/tháng Mưa tập trung từ 75 - 95% vào mùa mưa So với các khu vực trong toàn quốc thì lượng mưa ở ĐBSCL ít biến động Điều đáng chú ý là vùng ĐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh mưa thứ 1 vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến đều tháng 8 có một thời

kỳ khô hạn ngắn (dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng trên dưới 10 ngày

do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao (Lê Anh Tuấn, 2008)

Một số phân tích ban đầu về chất lượng nước mưa tại một số vùng ở đồng bằng cho thấy, nước mưa vẫn còn sự tinh khiết, ít nhiễm bụi khói trừ một số trận mưa đầu mùa xảy ra ở các đô thị lớn nhưng không cao

Trong nước mưa, có sự ghi nhận hiện diện của thành phần đạm hòa tan, đặc biệt là các trận mưa giông, có sấm chớp (do hiện tượng đối lưu vào mùa hè) Sự hiện diện các vi khuẩn trong nước mưa, nếu có, là do các vật dụng thu hứng không

Trang 16

được sạch sẽ Nhìn chung, chất lượng nước mưa ở khu vực được đánh giá là tốt (Lê Anh Tuấn, 2002)

2.3 Một số biện pháp thu gom, dự trữ và xử lý nước mưa trong sinh hoạt

Theo Lê Anh Tuấn (2008) nước mưa là nguồn nước tự nhiên, dồi dào trong mùa mưa và ít tốn kém để thu gom Nước mưa có thể được thu gom từ mái nhà, mái công trình, hồ chứa, các triền dốc của đồi núi và thậm chí cả đường phố Việc thu gom nước mưa xem như một giải pháp ngắn hạn nhưng hữu hiệu cho cho người nông dân vùng nông thôn Tùy theo nhu cầu sử dụng nước, số người trong từng hộ hoặc cộng đồng, diện tích hứng nước và khả năng kinh tế, ta có thể dễ dàng tính được thể tích bể trữ cần thiết cho các tháng mùa khô

2.3.1 Thu hứng nước mưa từ mái nhà

Theo Lê Anh Tuấn (2002) nước mưa là nguồn nước tốt cho việc sử dụng ăn uống và sinh hoạt Ưu điểm của nước mưa là dồi dào, tương đối sạch, rẻ tiền và đều khắp khu vực Nhược điểm của việc thu trữ nước mưa là thiếu hụt lớn vào mùa khô, đầu mùa mưa nước thường nhiễm bẩn do chảy trên mái nhà, máng xối đầy bụi, phân chim, chuột bọ, … Nơi lấy nước mưa dễ biết nhất là từ mái nhà Mái nhà ở nông thôn thường lợp bằng tole tráng kẽm (thu nước mưa tốt nhất), sau đó mới đến ngói

và cuối cùng là fibro ximăng, mái lá, …

- Đối với mục đích sử dụng nước mưa cho xối rửa hoặc các hoạt động không yêu cầu chất lượng nước quá cao (Đinh Diệp Anh Tuấn, 2013)

Hình 2.4 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho xối rửa

- Đối với mục đích sử dụng nước mưa cho sinh hoạt và ăn uống (Đinh Diệp Anh Tuấn, 2013)

Trang 17

Hình 2.5 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống

Nước mưa có thể sử dụng để uống ở những vùng thiếu nguồn nước tự nhiên,

hệ thống cấp nước hay nước giếng Chất lượng nước mưa tốt hơn nếu được hứng từ các bức tường hay trên bề mặt kính Bởi vì nước mưa hứng từ mái nhà, ban công, mái che không sạch lắm tuy nhiên có thể sử dụng nguồn nước này cho các công trình vệ sinh hay tưới cây (Cục bảo vệ môi trường, 2003)

Ở các vùng núi cao thiếu nước, các vùng nông thôn và các hải đảo thiếu nước ngọt thì nước mưa là nguồn nước quan trọng để cấp cho các đơn vị nhỏ hoặc gia đình Nước mưa tương đối sạch Tuy nhiên, nó cũng bị nhiễm bẩn do rơi qua không khí, mái nhà…nên mang theo bụi và các chất bẩn khác Một hạn chế nữa là nước mưa thiếu các muối khoáng cần thiết cho sự phát triển cơ thể con người và gia súc (Trần Hiếu Nhuệ, 2007)

Một số lưu ý khi lưu trữ và sử dụng nước mưa:

- Không nên dùng sơn các loại, kể cả sơn chống rỉ sét, để sơn lên mái nhà nếu muốn thu nước mưa Bởi vì trong nước sơn có sự hiện diện của chì gây ngộ độc thần kinh cho con người Ngoài ra nước sơn còn gây mùi hôi khó chịu cho nguồn nước được thu và lưu trữ

Trang 18

- Không nên dùng tấm lợp fibro xi-măng để hứng nước mưa Đây là loại vật liệu xây dựng có trộn thêm amiăng vào xi-măng để tăng cường độ cứng, nhưng amiăng là những sợi nhỏ có thể bị bào mòn theo nước mưa Sợi amiăng rất có hại cho cơ thể con người

- Không nên lấy nước vào đầu mùa mưa, phải đợi sau 2 -3 trận mưa lớn để rửa sạch máy nhà, máng xối mới bắt đầu hứng nước

- Nếu có điều kiện nên kỳ rửa mái nhà (mái lợp tole hay ngói) Cũng nên chú ý không nên leo lên mái nhà lúc có mưa giông, sấm chớp Chỉ leo lên khi thấy các trận mưa lâm râm nhỏ và không có sấm chớp

- Khi hứng nước mưa, phải có màng lọc (màng lọc có thể dùng vải mùng, lưới muỗi để làm) để hạn chế các bụi, cặn, cành cây, lá cây, lông chim, … theo mưa vào thùng chứa Vật chứa nước phải kỳ rửa cho sạch, phơi nắng để diệt

vi khuẩn và rong rêu trước khi thu nước mưa

- Phải che chắn, đậy kín các lu nước, thùng phuy, xô chậu, … để hạn chế muỗi

đẻ trứng và phát triển thành lăng quăng (bọ gậy) Muỗi là tác nhân gây bệnh sốt xuất huyết, sốt rét ở những vùng nông thôn Các bể chứa nước lớn có thể thả một số cá bảy màu để ăn trứng muỗi, lăng quăng

- Dù nước mưa có sạch đến đâu cũng không nên uống trực tiếp mà cần phải đun sôi, để nguội trong các chai sạch, có nắp đậy để uống dần Trường hợp gặp khó khăn về nhiên liệu, củi đốt, thì có thể đựng nước trong các chai trong suốt (thủy tinh, nhựa trong, …) đem phơi nắng liên tục ít nhất là 6 giờ

Bể bơi/bồn tắm, nước dùng để ăn/uống Cần thiết phải lọc kỹ nước mưa vì

người sử dụng uống trực tiếp hoặc gián tiếp

(Cục bảo vệ môi trường, 2003)

Trang 19

2.4 Một số thông số lý, hóa, vi sinh để đánh giá chất lượng nước mưa

2.4.1 Các chỉ tiêu về chất lượng nước cấp ở một số nước trên thế giới

Theo các quy định về chất lượng nước cấp của một số nước trên thế giới thì các chỉ tiêu nước sử dụng để đo đạc chất lượng nước bao gồm: pH, mùi, độ đục, tổng cặn hòa tan, ammoniac, sắt toàn phần, canxi, magie, độ cứng, nhôm, acsen,

cadimi, đồng, oxy hòa tan, nitrat, nitrit, vi khuẩn E coli, coliform…Trong đó các

chỉ tiêu chính thường được quan tâm là: pH, độ đục, chất rắn lơ lửng, tổng chất rắn hòa tan, tổng coliform

2.4.2 Các quy định về chất lượng nước ăn uống tại Việt Nam

Hiện nay các chỉ tiêu đo lường về chất lượng nước ăn uống tại Việt Nam được tuân theo quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT quy định về chất lượng nước ăn uống

Việc kiểm tra đánh giá chất lượng nguồn nước về mặt vệ sinh là công tác vô cùng cần thiết Hiện nay, có nhiều phương pháp tổng hợp để xác định và đánh giá nguồn nước

Nước ăn uống là nước phục vụ cho mục đích ăn uống của con người Loại nước này đi vào cơ thể con người qua đường ăn uống và có tác dụng trực tiếp đến sức khỏe của con người Sau đây là một số chỉ tiêu phân tích chất lượng nước phục

vụ cho mục đích ăn uống

có thể dẫn tới những thay đổi về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, hoặc thúc đẩy hay ngăn chặn phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước

Giá trị pH là một trong những nhân tố quan trọng nhất để xác định chất lượng nước về mặt hóa học Việc xử lý nước kể cả nước sạch và nước thải, luôn luôn dựa vào giá trị pH để làm trung hòa và làm mềm nước

Giá trị độ pH cho phép của Quy chuẩn trong nước phục vụ cho ăn uống là từ 6,5-8,5

Trang 20

Những hạt vật chất gây ra độ đục trong nước thường hấp thụ những kim loại nặng và các vi sinh vật gây bệnh trên bề mặt Do đó quá trình tiệt trùng trở nên ít hiệu quả và có thể gây ô nhiễm vi khuẩn trong nước Bên cạnh đó, độ đục lớn làm giảm khả năng xuyên sâu của ánh sáng chiếu qua

Độ đục là một chỉ tiêu quan trọng trong cấp nước sinh hoạt do 3 nguyên nhân chủ yếu:

- Mỹ quan: độ đục càng lớn giá trị thẩm mỹ càng giảm

- Khă năng lọc: độ đục lớn làm tăng chi phí lọc

- Quá trình khử trùng: độ đục làm tăng khả năng diệt trùng của các hóa chất

Chất rắn lơ lửng (SS)

Chất rắn lơ lửng là các hạt chất vô cơ hoặc hữu cơ lơ lửng trong nước có kích thước từ 10-1

đến 10-2 m như khoáng sét, bụi, than, mùn,…Sự có mặt của chất rắn

lơ lửng trong nước gây cho nước đục, thay đổi màu sắc và các tính chất khác Để xác định hàm lượng chất rắn lơ lửng, người ta thường lắng sau đó lọc chuẩn Whatman GF/C tách ra phần chất lắng, sấy khô và cân (Lê Văn Khoa và Hoàng Xuân Cơ, 2001)

Tổng chất rắn hòa tan (TDS)

TDS là đại lượng đo tổng chất rắn hòa tan có trong nước, hay còn gọi là tổng chất khoáng TDS thường được lấy làm cơ sở ban đầu để xác định mức độ sạch , tinh khiết của nguồn nước (Lê Văn Khoa và Hoàng Xuân Cơ, 2001)

Giới hạn tối đa cho phép của Quy chuẩn về chất lượng nước ăn uống quy định TDS nhỏ hơn 1.000 mg/L

Trang 21

Tính chất sinh hóa đặc trưng của nhóm này được thể hiện qua thử nghiệm IMViC: Indol (I), Methyl red (M), Voges-Proskauer (V) và Citrate (iC) (Trần Linh Thước, 2002)

Tiêu chuẩn quy định coliform tổng số trong nước sạch được cho phép 50 vi khuẩn/100 mL

2.5 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí tượng và thủy văn tỉnh Hậu Giang 2.5.1 Vị trí địa lý

Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long Tọa độ địa lý: Từ

9º30'35'' đến 10 º 19'17'' vĩ độ Bắc và từ 105 º 14'03'' đến 106 º

17'57'' kinh độ Đông Diện tích tự nhiên là 160.058,69 ha, chiếm khoảng 4% diện tích vùng ĐBSCL và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích tự nhiên nước Việt Nam Địa giới hành chính tiếp giáp 5 tỉnh: thành phố Vị Thanh trung tâm tỉnh lị cách thành phố Hồ Chí Minh

240 km về phía Tây Nam; phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ; phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng; phía Đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu

2.5.2 Khí hậu

Tỉnh Hậu Giang nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo;

có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa có gió Tây Nam

từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm

Nhiệt độ trung bình hàng năm ở tỉnh Hậu Giang là 26 - 27°C Năm 2009, nhiệt độ trung bình năm là 27,3°C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,8°C là tháng IV và tháng có nhiệt độ thấp nhất vào tháng I (24,3°C) Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng và mát nhất là 4,5°C Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và

Trang 22

đêm dao động từ 8 - 14°C Tổng số giờ nắng hàng năm cả tỉnh Hậu Giang trung bình là 2.190 – 2.550 giờ Số giờ nắng đạt cao nhất là giai đoạn gần cuối mùa khô

Số giờ nắng trung bình các tháng không thay đổi nhiều so với các năm trước Năm

2009, tháng có số giờ nắng cao nhất (280,2 giờ) là tháng III và thấp nhất (131,6 giờ) vào tháng IX

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92 - 97% lượng mưa

cả năm Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, bình quân hàng năm là 1.526,5 mm/năm (Bảng 2.3) Diễn biến lượng mưa giảm từ 2005 đến 2009 vào tháng VI, IX, X (mùa mưa) Trong khi đó, lượng mưa trong tháng I (mùa khô) có xu hướng tăng từ năm 2006 đến năm 2009

Độ ẩm trung bình trong năm phân hoá theo mùa một cách rõ rệt, chênh lệch

độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung bình trong năm

Trang 23

Do điều kiện địa lý của vùng, chế độ thuỷ văn của tỉnh Hậu Giang vừa chịu ảnh hưởng của chế độ nguồn nước sông Hậu, vừa chịu ảnh hưởng chế độ triều biển Đông, biển Tây và chế độ mưa nội tỉnh

2.5.4 Lượng mưa của tỉnh Hậu Giang từ tháng 07 – 11/2013

Theo số liệu từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn, lượng mưa trong thời gian thực hiện thu mẫu của đề tài như sau:

Bảng 2.4: Lượng mưa của tỉnh Hậu Giang (trạm Vị Thanh) từ tháng 07 – 10/2013

Tháng

7

Lượng mưa

Tháng

8

Lượng mưa

Tháng

9

Lượng mưa

Tháng

10

Lượng mưa

Trang 24

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài: nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 08/2013 đến tháng 11/2013

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

Phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm Khoa môi trường và TNTN, trường Đại học Cần Thơ, và Trung tâm kỹ thuật và ứng dụng công nghệ (45 đường 3/2, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ)

3.2 Phương tiện nghiên cứu

3.2.1 Phương tiện thực hiện thu mẫu nước mưa

- Thùng thu mẫu

- Thước

- Chai thủy tinh 1 lít

- Độ tuổi mái lá (<1 năm tuổi, 1 – 3 năm tuổi, >3 năm tuổi)

- Máng xối để thu nước mưa

- Mô hình thu mẫu nước mưa

Mô hình được thiết kế: chọn 1 m2

mái nhà lá và lắp đặt hệ thống cho chảy vào gồm gồm 5 chai thu mẫu, mỗi chai đặt cách nhau 12,5 cm, nước mưa được chảy

từ máng xối vào phễu hứng nước (trong phễu có lắp đặt lưới lọc rác 4x4 mm) của

mô hình sau đó chảy lần lượt vào các chai Mô hình được đặt nghiêng 20o so với mặt đất để đảm bảo nước chảy đầy chai thứ I trước khi chảy vào chai thứ II Khi chai thứ I đầy nước, nhờ vào trái banh hơi tại miệng chai ngăn không cho nước chảy thêm vào làm xáo trộn mẫu nước trong chai

Trang 25

Hình 3.1 Mô hình thu mẫu nước mưa

3.2.2 Phương tiện thực hiện phân tích chất lượng nước mưa

- Môi trường Lauryl sulfat

- Máy đo TDS (RADIOMETER

- ANALYTICAL, Franch, Pionneer 30)

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra phỏng vấn

Phỏng vấn khảo sát tình hình sử dụng nước mưa của 30 hộ dân sống tại

huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

3.3.2 Khảo sát thực địa và chọn địa điểm triển khai thí nghiệm

Qua kết quả điều tra phỏng vấn chọn 3 địa điểm đại diện cho 3 độ tuổi của mái nhà lá để tiến hành triển khai thí nghiệm

Thùng xả bỏ Van xả

Trang 26

3.3.3 Một số chỉ tiêu chất lượng nước cần phân tích

Tiến hành thu mẫu nước mưa không thông qua mái nhà (nước mưa ngoài trời) và nước mưa trọng dụng cụ trữ của người dân Để khảo sát một số chỉ tiêu pH,

độ đục, TDS, SS, E coli, tổng Coliform, kim loại nặng (Cu, Zn, Fe, Cd, Al) Từ kết

quả (Phụ lục 3) cho thấy nước mưa tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang hàm lượng kim loại nặng đều thấp hơn so với QCVN 01/BYT:2009 về chất lượng nước ăn

uống Do đó, đề tài quyết định phân tích các chỉ tiêu pH, độ đục, TDS, SS, E coli

và tổng Coliform

3.3.4 Chuẩn bị thu mẫu và phân tích mẫu

- Khảo sát địa điểm thu mẫu

- Gia công, lắp đặt mô hình, lắp đặt máng xối, kết nối vào mô hình thu mẫu

- Tiệt trùng các chai thu mẫu để lắp đặt vào mô hình

- Chuẩn bị các hóa chất và môi trường để phân tích mẫu vi sinh và thủy hóa

mái nhà lá

- Mỗi trận mưa thu 3 mô hình/độ tuổi mái nhà lá; tương tự thực hiện như thế cho từng trận mưa lần lượt với từng độ tuổi mái nhà Việc thu mẫu nước mưa được thực hiện thu 2 đợt/độ tuổi má nhà

Ngoài ra, đề tài cũng thực hiện thu mẫu nước mưa trực tiếp không thông qua mái nhà (mẫu đối chứng) trong cùng thời gian mỗi trận mưa, để thực hiện so sánh chất lượng nước mưa thu từ mái lá với chất lượng nước mưa không thông qua mái nhà

3.3.6 Phương pháp thu và bảo quản mẫu

Phương pháp thu mẫu: thu ở 3 địa điểm đã chọn, mỗi điểm lắp ráp 3 mô hình thu mẫu, thu từ lúc bắt đầu trận mưa cho đến khi kết thúc trận mưa Trước khi bố trí thí nghiệm tiến hành thu mẫu khảo sát ở từng độ tuổi mái nhà; (i) Đối với mái nhà

lá 1 – 3 năm có chất lượng nước mưa qua 5 chai thu mẫu chưa tốt vì thế tiến hành

xả bỏ 5 lít nước mưa đầu trận bằng cách mở van xả cho nước mưa chảy vào thùng nhựa 5 lít sau đó đóng van xả và cho chảy từ chai thu mẫu I đến chai thứ V; (ii) Mái nhà lá trên 3 năm xả bỏ 5 lít, tuy nhiên chất lượng nước mưa thu gom chưa tốt nên

đề tài tiến hành xả bỏ 8 lít nước mưa đầu trận, sau đó thu mẫu từ chai thứ I đến chai

V (tiến hành xả bỏ tương tự như mái nhà 1-3 năm)

Trang 27

Mẫu nước mưa đối chứng được thu như sau: Dùng giá đỡ trải và kẹp tấm nylon để thu mẫu đối chứng, thu nước mưa trực tiếp ngoài trời không thông qua mái nhà, mẫu được thu từ lúc bắt đầu mưa cho đến khi kết thúc trận mưa

Bảo quản mẫu:

- Sau khi kết thúc trận mưa thì các chai được tháo ra khỏi hệ thống, vận chuyển về phòng thí nghiệm và tiến hành phân tích mẫu hoặc trữ mẫu trong tủ lạnh ở nhiệt

độ 4oC (không được trữ mẫu quá 7 ngày)

- Đối với mẫu đối chứng sau khi kết thúc trận mưa tiến hành lấy 1 lít nước mưa từ tấm bạt thu mẫu cho vào chai thủy tinh đã tiệt trùng và mang về phòng thí nghiệm phân tích

3.3.7 Phương pháp phân tích mẫu

Bảng 3.1: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý, hóa, vi sinh trong nước mưa

Độ đục NTU Máy đo độ đục (LOVIBOND, Germany,

PC 38759)

ANALYTICAL, Franch, Pionneer 30)

Tổng coliform CFU/ml Phương pháp đếm khuẩn lạc

3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu

Tổng hợp số liệu đã phỏng vấn và tính toán trên phần mềm MS Excel

Trang 28

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả phỏng vấn, khảo sát các hộ sử dụng nước mưa tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

4.1.1 Thông tin đợt phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn khảo sát 30 hộ dân sử dụng nước mưa thông qua mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Trong đó có 7 hộ dân sống ở ấp 6, xã Vị Thủy; 10 hộ dân ở ấp 8 xã Vị Thủy, 11 hộ dân ở ấp 1 xã Vĩnh Thuận Tây và 2 hộ dân ở ấp 5 xã Vị Thủy

Nội dung của đợt phỏng vấn khảo sát tập trung vào các vấn đề như độ tuổi mái nhà lá, cách thu hứng nước mưa, mục đích sử dụng nước mưa, cách trữ nước mưa và tình hình vệ sinh của người dân trong quá trình sử dụng nước mưa Qua nội dung của việc phỏng vấn cho thấy được tình hình sử dụng cũng như tập quán trữ nước mưa để sử dụng của người dân ở huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

4.1.2 Kết quả đợt phỏng vấn

a Độ tuổi mái nhà lá

Hình 4.1 Độ tuổi mái nhà lá tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

Qua kết quả phỏng vấn (Hình 4.1) khảo sát cho thấy, số hộ dân có mái nhà lá với độ tuổi dưới 1 năm chiếm 31% và số hộ dân có mái nhà lá với độ tuổi từ 1-3 năm chiếm tỉ lệ cao nhất (52%), trong khi đó tỉ lệ hộ dân sử dụng mái nhà lá trên 3 năm chiếm tỉ lệ thấp (khoảng 17%)

Trang 29

Trong quá trình phỏng vấn khảo sát, mái nhà lá được sử dụng tốt nhất từ lúc lợp đến 3 năm, do tại khu vực nghiên cứu đa số hộ dân sử dụng lá dừa nước để lợp mái nhà

Theo lời của người dân tại khu vực nghiên cứu, lá dừa nước được sử dụng để lợp mái nhà vì giá thành rẻ và mang lại cảm giác mát trong nhà Nhà lợp lá có ưu điểm mùa nắng mát mẻ, không khí trong nhà lúc nào cũng thoáng đãng Thời gian mục của lá dừa nước (còn gọi là “xác lá”) có thể kéo dài hơn 3 năm Nhà lá hầu hết đều được lợp bằng cách chặt lấy phiến lá, bỏ bẹ lá ở giữa để chằm lá Tuy nhiên độ tuổi sử dụng không bền Hầu hết mái nhà lá khi đã 3 năm tuổi người dân sẽ thay lá mới trừ những hộ nghèo

b Cách thu hứng nước mưa

Từ kết quả phỏng vấn khảo sát (Hình 4.2) nhận thấy có 21% hộ dân hứng nước mưa từ đầu trận mưa, 36% hứng nước mưa sau khi trận mưa bắt đầu 10 phút, 25% hộ dân hứng nước mưa sau khi trận mưa bắt đầu 15 phút và số hộ hứng nước mưa sau khi trận mưa bắt đầu 30 phút chiếm tỉ lệ thấp nhất 18%

Việc hứng và trữ nước mưa để sử dụng là thói quen lâu đời của người dân, đặc biệt là vùng nông thôn – nơi mà nguồn nước mưa là nguồn nước chủ yếu sử dụng cho mục đích ăn uống Phần lớn người dân thu gom nước mưa khi mưa lớn và

bỏ các trận mưa đầu mùa

Hình 4.2 Hình thức thu gom nước mưa của người dân

Qua kết quả phỏng vấn nhận thấy trong những tháng mùa khô thì mái nhà lá rất dơ do bụi, rác, lá nhà,…nếu thu ngay trận mưa đầu tiên thì nước mưa sẽ bẩn, có màu vàng, không được trong, gây ảnh hưởngđến sức khỏe trong quá trình sử dụng Nước mưa đầu mùa sau khi được thu gom qua các mái nhà lá thường có màu vàng

và màu vàng của nước mưa sẽ đậm hơn khi được thu gom từ các mái nhà lá lâu năm

Sau trận mưa 15 phút

Trang 30

Theo hình 4.2, có 21% hộ dân hứng nước mưa từ những trận đầu tiên, đa số các hộ này có điều kiện khó khăn,chưa có để khoang giếng nước sử dụng, họ thu gom nước mưa ngay từ đầu trận để đủ lượng nước sử dụng cho hầu hết mục đích sinh hoạt của gia đình

Các trận mưa đầu mùa ngoài nguồn ô nhiễm từ mái nhà còn do trong quá trình rơi từ trên cao xuống nước mưa sẽ tiếp xúc và hòa tan các hợp chất trong không khí Vì vậy trong nước mưa có chứa nhiều bụi, vi khuẩn, các tạp chất hóa học vô cơ và hữu cơ Tuy nhiên, nếu mưa càng lớn, càng lâu thì các vi khuẩn và tạp chất trong nước mưa càng ít, do đó nên hạn chế thu gom nước mưa từ các trận mưa đầu mùa

c Mục đích sử dụng nước mưa

Theo kết quả phỏng vấn, nước mưa được người dân sử dụng cho hai mục đích chính là ăn uống và sinh hoạt Trong đó sử dụng nước mưa cho mục đích ăn uống chiếm tỉ lệ cao nhất (72%), tỉ lệ hộ sử dụng nước mưa cho cả mục đích ăn uống và sinh hoạt chiếm 23% và chỉ có 5% số hộ sử dụng nước mưa cho mục đích sinh hoạt (Hình 4.3)

Hình 4.3 Tỷ lệ mục đích sử dụng nước mưa của người dân

Các hộ dân được phỏng vấn ở huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang là những hộ sinh sống ở vùng nông thôn, nước mưa của vùng này tương đối sạch, chưa bị ảnh hưởng bởi các hoạt động công nghiệp, giao thông và các công trình xây dựng… Bên cạnh đó, đa số các gia đình đều khoan cây nước để khai thác nước ngầm sử dụng cho mục đích sinh hoạt Nhìn chung, người dân thường thu nước mưa để sử dụng cho mục đích ăn uống là chủ yếu; riêng các tháng mùa mưa với lượng mưa nhiều, nước mưa được sử dụng thêm cho mục đích sinh hoạt vì theo lời người dân nước mưa rất sạch và không có mùi hôi

Trang 31

d Cách trữ nước mưa

Theo Lê Anh Tuấn (2002) nói rằng ở một mặt nào đó, người ta có đánh giá

sự khác biệt giàu nghèo của người dân vùng nông thôn qua khả năng trữ nước mưa trong gia đình của họ Gia đình càng khá giả, lượng nước mưa trữ càng nhiều và ngược lại Ở các gia đình trung nông trở lên, sự hiện diện một bể chứa nước hoặc một hàng lu hay kiệu xếp hàng dài bên hông nhà là hình ảnh khá tiêu biểu

Tùy vào điều kiện kinh tế và số lượng người trong gia đình, các hộ dân thường tìm cách trữ nước mưa theo các cách khác nhau Các dụng cụ thường được

sử dụng để chứa nước mưa như: lu, kiệu, thùng nhựa, bồn chứa…Trong 30 hộ phỏng vấn thì có 52% hộ trữ nước mưa bằng kiệu, 39% hộ trữ nước mưa bằng lu và 9% hộ trữ nước mưa bằng thùng nhựa (Hình 4.4)

Từ kết quả phỏng vấn cho thấy phần lớn các gia đình trữ nước mưa theo truyền thống trong các dụng cụ chứa quen thuộc như kiệu, lu … với số lượng tùy thuộc vào điều kiện tài chính và số người trong gia đình Những hộ gia đình khá giả, đông nhân khẩu có nhiều dụng cụ chứa Mặt khác, theo thông tin phỏng vấn, được

sự quan tâm của nhà nước và chính quyền địa phương Những hộ nghèo, không có đất canh tác được hỗ trợ 1 thùng nhựa hoặc 1 lu xi-măng lớn để trữ nước mưa sử dụng

Hình 4.4 Tỷ lệ dụng cụ trữ nước mưa của người dân

e Tình hình vệ sinh trong quá trình trữ nước mưa

Qua kết quả phỏng vấn khảo sát cho thấy, người dân có ý thức cao trong việc trữ nước mưa để sử dụng có đến 93% hộ với dụng cụ trữ có nắp đậy và 7% hộ không có nắp đậy (Hình 4.5)

Trong các dụng cụ chứa nước mưa như trong kiệu, lu … rất dể xuất hiện lăng quăng Vì thế, dụng cụ chứa có nắp đậy rất cần thiết để bảo đảm an toàn cho sức khỏe của hộ dân và cộng đồng Tuy nhiên, vẫn còn một vài hộ sử dụng dụng cụ

52%

39%

9%

Kiệu Lu Thùng nhựa

Ngày đăng: 29/09/2015, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1  Mƣa địa hình - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 2.1 Mƣa địa hình (Trang 12)
Hình  2.3 Mƣa frông - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
nh 2.3 Mƣa frông (Trang 13)
Bảng 2.1 Lƣợng mƣa (mm) trung bình của một số vùng ĐBSCL - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Bảng 2.1 Lƣợng mƣa (mm) trung bình của một số vùng ĐBSCL (Trang 15)
Hình 2.4 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho xối rửa - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 2.4 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho xối rửa (Trang 16)
Hình 2.5 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 2.5 Qui trình thu gom, xử lý nước mưa sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống (Trang 17)
Bảng 2.4: Lƣợng mƣa của tỉnh Hậu Giang (trạm Vị Thanh) từ tháng 07 – 10/2013 - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Bảng 2.4 Lƣợng mƣa của tỉnh Hậu Giang (trạm Vị Thanh) từ tháng 07 – 10/2013 (Trang 23)
Hình 3.1 Mô hình thu mẫu nước mưa - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 3.1 Mô hình thu mẫu nước mưa (Trang 25)
Bảng 3.1: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý, hóa, vi sinh trong nước mưa - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Bảng 3.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý, hóa, vi sinh trong nước mưa (Trang 27)
Hình 4.5 Tỷ lệ các kiểu trữ nước mưa của người dân - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.5 Tỷ lệ các kiểu trữ nước mưa của người dân (Trang 32)
Hình 4.7 Giá trị pH của nước mưa thu được  theo thời gian sử dụng của mái nhà lá - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.7 Giá trị pH của nước mưa thu được theo thời gian sử dụng của mái nhà lá (Trang 37)
Hình 4.8 Giá trị độ đục của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.8 Giá trị độ đục của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá (Trang 38)
Hình 4.9 Hàm lượng TDS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.9 Hàm lượng TDS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá (Trang 39)
Hình 4.10 Hàm lượng SS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.10 Hàm lượng SS của nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá (Trang 40)
Hình 4.11 Số lượng tổng Coliform nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Hình 4.11 Số lượng tổng Coliform nước mưa theo thời gian sử dụng của mái nhà lá (Trang 41)
Bảng giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước dùng cho mục đích sinh hoạt - nghiên cứu chất lượng nước mưa thu gom từ mái nhà lá tại huyện vị thủy, tỉnh hậu giang
Bảng gi ới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước dùng cho mục đích sinh hoạt (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm