... LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận Thành phần loài gây hại hoa phong lan có loài gây hại khác nhau, thuộc Thành phần loài gây hại thành phố Cần Thơ đa dạng thành phần loài gây hại hoa phong lại thành phố. .. Điều tra kỹ thuật canh tác thành phần loài côn trùng nhện hại hoa phong lan thành phố Cần Thơ thành phố Cao Lãnh - Mô tả đặc điểm gây hại đồng số loài côn trùng nhện hại quan trọng, bƣớc đầu nhận... điều tra để hoàn thành đề tài Nguyễn Văn Nhớ v Nguyễn Văn Nhớ, 2013 Khảo sát thành phần loài đặc điểm gây hại đồng côn trùng nhện hại hoa phong lan thành phố Cần Thơ thành phố Cao Lãnh Luận văn
Trang 1Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2013
Trang 2Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Lăng Cảnh Phú Nguyễn Văn Nhớ
MSSV: 3103648
Lớp: TT1073A1
Cần Thơ, 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài “Khảo sát thành phần
loài và đặc điểm gây hại ngoài đồng của côn trùng và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh”
Do sinh viên là Nguyễn Văn Nhớ thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
Ths Lăng Cảnh Phú
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
-O0O-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: “Khảo sát
thành phần loài và đặc điểm gây hại ngoài đồng của côn trùng và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh”.
Được thực hiện từ 4/2013 – 11/2013 do sinh viên Nguyễn Văn Nhớ thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày……tháng……năm 2013
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:
Duyệt khoa Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013 Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 5LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: NGUYỄN VĂN NHỚ
Ngày sinh: 6/11/1992 Nơi sinh: H Chợ Mới, tỉnh An Giang
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Lý Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kim Vân
Từ năm 1998 - 2003: học tại trường tiểu học “B” Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Nhớ
Trang 7Nguyễn Văn Nhớ
Trang 8Nguyễn Văn Nhớ, 2013 “Khảo sát thành phần loài và đặc điểm gây hại ngoài đồng của côn trùng và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh” Luận văn tốt nghiệp Đại hoc, ngành Bảo Vệ Thực Vật,
khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Thạc sĩ Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát thành phần loài và đặc điểm gây hại ngoài đồng của côn trùng
và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh” được thực hiện từ tháng 4/2013-11/2013 được kết quả như sau:
Tình hình canh tác hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh – Đồng Tháp
Kết quả điều tra nông dân tại Cần Thơ ghi nhận có 6 loài gây hại, trong đó nhện đỏ, rệp sáp, rệp vảy, muỗi đục hoa và ốc sên xuất hiện phổ biến, bù lạch được ghi nhận ít Tại Cao Lãnh, nhện đỏ, muỗi đục hoa và ốc sên xuất hiện phổ biến, rệp sáp xuất hiện ít và bù lạch, rệp vảy không ghi nhận được sự gây hại
Kết quả điều tra trên vườn hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ, thành phần
loài gây hại gồm 8 loài: nhện đỏ (Tenuipalpus pacificus Baker), bù lạch (Enchinothrips sp.), muỗi đục hoa (Contarinia maculipennis), rệp sáp (Pseudococcus sp., Planococcus sp., Parlatoria sp., Diaspis boisduvalli) và ốc,
sên; tại thành phố Cao Lãnh ghi nhận được 4 loài gây hại bao gồm nhện đỏ
(Tenuipalpus pacificus Baker), bù lạch (Enchinothrips sp.), muỗi đục hoa (Contarinia maculipennis) và ốc, sên
Đặc điểm gây hại ngoài đồng của bù lạch (Enchinothrips sp.), muỗi đục hoa (Contarinia maculipennis), rệp sáp (Pseudococcus sp., Planococcus sp.) và ốc,
sên
Trang 9CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
Trang 102.1.3 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm 16
2.2.2 Mô tả đặc điểm nhận dạng và gây hại ngoài đồng của một số
sâu hại chính trên hoa phong lan
17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1.1 Tình hình canh tác hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và
thành phố Cao Lãnh – Đồng Tháp
18
3.1.2 Hiểu biết của nông dân về thành phần côn trùng và nhện hại
trên hoa phong lan và biện pháp quản lý
20
PHỔ BIẾN TRÊN HOA PHONG LAN
23
3.3.1 Bù lạch Echinothrips sp ( Thripidae – Thysanoptera) 23
3.3.2 Muỗi đục hoa Contarinia maculipennis (Cecidomyiidae –
Trang 111.1 Thành phần loài và mức độ phổ biến của côn trùng và nhện hại
trên cây hoa phong lan (Lê Thị Tuyết Nhung, 2008)
7
3.4 Thành phần loài gây hại trên cây hoa phong qua kết quả điều tra
nông dân tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh
21
3.5 Thành phần loài và mức độ phổ biến của côn trùng và nhện hại
trên cây phong lan tại TP Cần Thơ
22
3.6 Thành phần loài và mức độ phổ biến của côn trùng và nhện hại
trên cây phong lan tại TP Cao Lãnh
22
Trang 121.6 Thành trùng và ấu trùng của muỗi đục bông (Contarinia
maculipennis)
14
3.3 Triệu chứng hoa phong lan bị bù lạch Echinothrips sp gây hại 23
3.5 Triệu chứng gây hại của muỗi đục hoa Contarinia maculipennis 25
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoa phong lan là một trong những loài hoa đẹp, với đặc điểm lâu tàn, màu sắc đa dạng và mang nhiều thông điệp tốt đẹp nên được nhiều người ưa chuộng Trong điều kiện kinh tế phát triển hiện nay, nhu cầu về văn hóa tinh thần ngày càng trở nên thiết yếu, chính vì thế hoa kiểng nói chung và hoa phong lan nói riêng đã và đang được tiêu thụ ngày càng nhiều Ngày nay, xuất nhập khẩu phong lan đã trở thành một ngành thương mại mang lợi nhuận cho rất nhiều nước trên thế giới (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) Với nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiều nông dân đã đẩy mạnh đầu tư, nhiều vườn hoa phong lan xuất hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt Thành phố Cần Thơ có sự đầu tư và phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, nông dân trồng phong lan chủ yếu xuất phát từ những người chơi phong lan, kiến thức về kỹ thuật trồng phong lan chủ yếu là từ kinh nghiệm nhiều năm trồng, tự thu thập và trao đổi giữa các nông dân mà không qua trường lớp đào tạo, những lớp tập huấn kỹ thuật
Hoa phong lan là cây tương đối dễ trồng, đạt hiệu quả kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập ổn đinh cho nhiều hộ nông dân trồng hoa phong lan, tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình dịch bệnh gây hại trên hoa phong lan ngày càng nghiêm trọng Đặc biệt là sự gây hại của nhiều loài côn trùng và nhện hại, việc phòng trị ngày càng khó khăn do nông dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, biện pháp quản lý chưa khoa học, dẫn đến tình trạng dịch hại ngày càng nghiêm trọng và
sự xuất hiện của nhiều loài gây hại mới, gây tổn thất nặng nề cho nhà vườn Chính
vì vậy, đề tài “Khảo sát thành phần loài và đặc điểm gây hại ngoài đồng của côn
trùng và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh” được thực hiện nhằm:
- Điều tra kỹ thuật canh tác và thành phần loài côn trùng và nhện hại trên hoa phong lan tại thành phố Cần Thơ và thành phố Cao Lãnh
- Mô tả đặc điểm gây hại ngoài đồng của một số loài côn trùng và nhện hại quan trọng, bước đầu nhận dạng và xác định đúng được tác nhân gây hại trên hoa phong lan, để có thể áp dụng biện pháp quản lý dịch hại có hiệu quả tốt nhất
- Bước đầu nghiên cứu, đặc nền tảng cho những nghiên cứu sâu sau này, để xây dựng quy trình quản lý dịch hại trên hoa phong lan có hiệu quả tốt nhất
Trang 14CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY HOA PHONG LAN
1.1.1 Những nét về lịch sử
Những ghi chép về loài hoa phong lan xuất hiện trong bảng viết tay của người Trung Quốc và Nhật Bản, họ chính là người phát triển giống lan
Dendrobium, Cymbidium, Neofinetas và các giống lan tự nhiên khác Đến thời
Trung Cổ, các giống lan Châu Âu được đem sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau
và công dụng của chúng được mô tả trong các quyển sách nghiên cứu về thảo mộc Tuy nhiên, người ta vẫn không biết cách phân loại cho đến khi một nhà thực vật học người Thụy Điển tên Linnaeus phát minh ra phương thức phân loại cho tất cả các giống cây và động vật vào thế kỷ thứ 8, đó là sử dụng tiếng Latinh, ngày nay vẫn còn được sử dụng (Brian & Sara Brittershausen, 2012)
Hệ thực vật họ Phong lan Việt Nam cũng nằm trong khu vực phân bố khá phong phú Số lượng các chi, loài Phong lan đang được phát hiện ngày càng nhiều, theo thống kê sơ bộ, họ Phong lan Việt Nam có khoảng 137 - 140 chi và khoảng
800 loài, trong đó có nhiều chi loài hoàn toàn mới trong hệ thực vật toàn cầu Lẽ dĩ nhiên, con số này còn xa với số thực tế Nét đặc trưng của hoa lan Việt Nam là các loài cây đặc hữu Đó là do địa hình nước ta khá phức tạp Vùng đồi núi và bao quanh bởi các rừng già chiếm đại bộ phận diện tích cả nước, đồng bằng chiếm 1/5 diện tích Địa hình vừa dài vừa hẹp qua nhiều vĩ độ, lại bị chia cắt bởi cái dãy núi cao đồ sộ, vách đứng, nhiều thung lũng sâu và bồn địa rộng (địa hình bị chia cắt mạnh) làm cho việc tồn trữ các loại Phong lan đặc hữu cổ xưa mang sắc thái địa phương hẹp rất rõ rệt, từ đó sản sinh ra cá loại đặc hữu độc đáo, có khu phân bố hạn hẹp (Trần Hợp, 1998)
1.1.2 Phân loại thực vật Họ Phong lan (Orchidaceae)
Vì lan là họ lớn nhất trong quần thể thực vật, nên việc phân chia rất phức tạp Trước hết chúng ta có cái tên hoa lan, tên gọi chung cho tất cả các loài trong họ hoa lan Tuy nhiên, họ hoa lan lại được chia ra nhiều nhóm nhỏ, chẳng hạn như
Oncidinae Các nhóm nhỏ này lại được chia thành nhiều giống khác nhau, được
biểu hiện bởi tên gọi đầu tiên trong số hai tên Latinh đặt chung cho tất cả các loài
thực vật, chẳng hạn Cymbidium Và rồi những giống này lại tiếp tục phân chia ra
nhiều loài khác nhau, được biểu hiển bởi tên gọi thứ hai trong số hai trong tên
Latinh của thực vật Chẳng hạn như, Floribundum là loài đặt theo giống
Cymbidium Floribundum Tuy vậy, nếu loài này có một số biểu hiện biến đổi tự nhiên thì chúng được chia thành nhiều loài nữa Đối với tất cả những loài thực vật
có hoa, sự phân loại này chủ yếu dựa vào sự khác biệt về hình dáng của hoa, không
Trang 15nhất thiết là màu sắc hay cách phát triển của cây (Trần Hợp, 1998; Brian & Sara Brittershausen, 2012)
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOA PHONG LAN
1.2.1 Đặc tính thực vật
1.2.1.1 Rễ
Hầu hết nhóm phong lan sống biểu sinh (sống phụ, bám), rễ làm nhiệm vụ hút
ẩm trong không khí và khoáng chất cần thiết từ các giá thể như xơ dừa, than gỗ mục, dớn… Rễ được bao bởi lớp mô hút dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí nên có màu xám bạc Với lớp mô xốp đó, rễ có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây hoặc lấy hơi nước trong không khí (Nguyễn Ngọc, 2013)
1.2.1.2 Thân
Căn cứ cấu trúc lan được chia thành hai nhóm chính là đơn thân (ví dụ như
Vanda, Phalaenopis…) và đa thân (ví dụ như Cattleya, Dendrobium,…), ở nhiều
loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành), nhưng giả hành chỉ xuất hiện ở nhóm lan đa thân (Nguyễn Công Nghiệp, 2000)
Giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số
củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp, là một
bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lan, giả hành chứa diệp lục tố, trong đó chứa nhiều chất dinh dưỡng, nước Giả hành phát triển có giới hạn, sau một thời gian phát triển đầy đủ sẽ không tạo thêm lá Khi lá già, bị rụng rồi sau đó chết, giả hành mới sẽ mọc ra từ giả hành cũ Các giả hành mới nối tiếp nhau
từ gốc giả hành cũ, cái sau sẽ cao hơn cái trước Thời gian phát triển giả hành không quá 3 tháng (Nguyễn Công Nghiệp, 2000; trích dẫn Nguyễn Ngọc, 2013)
Hoa lan cấu tạo gồm lá đài, cánh hoa và trụ mang hoa Mỗi hoa lan có 3 lá đài,
là bộ phận ngoài nhất của hoa lan, đa phần người ta không chú ý đến lá đài, nhưng
với 1 số loài thì nó quyết định đến chất lượng của hoa ví dụ như Vanda lá đài là đẹp
nhất Bên cạnh đó, hoa lan cũng có 3 cánh hoa, nó là bộ phận quyết định đến sự đa dạng và thẫm mỹ của hoa lan, trong 3 cánh hoa thì có 2 cánh giống nhau về hình dạng và màu sắc, còn lại là cánh môi hay cánh lưỡi - nó đặc trưng cho từng loài hoa Trụ là bộ phận mang hoa và là cơ quan sinh sản hữu tính, có đồng thời bộ phận sinh
Trang 16dục đực và bộ phận sinh dục cái của hoa (Nguyễn Công Nghiệp, 2000; Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
1.2.1.5 Quả và hạt
Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc Quả có dạng củ dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc, chứa vài ngàn đến vài triệu hạt lan, hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí, hạt trưởng thành sau 2 - 18 tháng Ngoài tự nhiên phần lớn hạt bị chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nẩy mầm (Nguyễn Xuân Linh, 2000; Trung tâm nghiên cứu Khoa học kỹ thuật và Khuyến nông TP Hồ Chí Minh, 2006)
1.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh
1.2.2.1 Ánh sáng
Ánh sáng cần thiết cho cây hoa phong lan tổng hợp được chất dinh dưỡng Khi thiếu ánh sáng, cây sinh trưởng và phát triển kém Nếu quá nhiều ánh nắng (khi cây lan tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng trực xạ vào giữa trưa) sẽ làm cho cây bị cháy
lá hoặc chết cây con; vì vậy, khi trồng lan cần phải làm giàn che để giảm bớt cường
độ ánh sáng (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
Tùy theo loại hoa phong lan mà cần lượng ánh sáng khác nhau, tùy theo giống mà chúng ta cần có cách che mát khác nhau, để cây có điều kiện tốt nhất, ví
dụ như loại lan Dendrobium và Vanda lá nhỏ thích 70% sáng, còn Cattleya thì chịu
ở 50% ánh sáng,…(Huỳnh Văn Thới, 1996; Trần Hợp, 1998)
1.2.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của phong lan, tùy vào loài hoa phong lan mà có nhu cầu nhiệt độ khác nhau, khi lập vườn hoa phong lan cần chú ý tới nhiệt độ của vùng, mà chọn loại lan thích hợp Ví dụ như
Dendrobium thích hợp với nhiệt độ ban dêm vào khoảng 10 - 16oC (50 - 60oF) và ban ngày vào 21 - 23oC (70 - 90oF) (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005; Huỳnh Văn Thới, 1996)
1.2.2.3 Ẩm độ
Độ ẩm không khí 70% là thích hợp nhất cho vườn hoa phong lan nhưng trung bình cây cần độ ẩm khoảng từ 40 - 60% vào ban ngày và từ 60 - 90% vào ban đêm, nhưng độ ẩm không khí sẽ thay đổi theo thời gian trong ngày và thay đổi theo mùa chính vì vậy việc chọn vị trí, hướng cho vườn lan là điều đặc biệt quan trọng, cần chọn nơi có độ ẩm ổn định là lý tưởng nhất, nếu không có đất hoặc không có địa điểm lý tưởng thì có thể điều chỉnh bằng việc tưới nước cho vườn (Huỳnh Văn Thới, 1996; Ngô Long, 2007)
1.2.3 Kỹ thuật canh tác
1.2.3.1 Thiết kế vườn hoa phong lan
Giàn, che mát, vị trí là những điều cần chú ý khi thiết kế vườn hoa phong
Trang 17lan Giàn cần được làm chắc chắn, cột chống đỡ cho giàn hoa phong lan thường bằng trụ xi măng hoặc trụ sắt hoặc cây (tuỳ theo điều kiện kinh tế hộ) Chiều cao của cột: 3 - 3,5m, chiều rộng tuỳ theo kích thước vườn Nóc có thể làm theo kiểu nhà một mái hoặc hai mái che mát thích hợp cho từng giống phong lan Vị trí trồng rất quan trọng - là tiểu khí hậu, quyết định nhiều đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa phong lan, cần chọn nơi có chất lượng nước tốt, không bị ô nhiễm, chọn nơi thông thoáng, gần bờ sông hoặc có nhiều ao hồ để môi trường ẩm và mát mẻ (Huỳnh Văn Thới, 1996;Theo Trung tâm nghiên cứu Khoa học kỹ thuật và Khuyến nông TP Hồ Chí Minh, 2006)
1.2.3.2 Vật liệu trồng
Hoa phong lan thường được trồng trong chậu đất hay nhựa, tùy theo giống và tuổi cây mà chọn kích cỡ chậu phù hợp, nếu là chậu cũ thì phải được tẩy bằng bàn chải và xà phòng, phơi nắng để diệt rêu sau đó chậu được ngâm vào dung dịch thuốc hóa học để phòng bệnh
Chất trồng thường là than, xơ dừa, dớn,…tùy theo đặc điểm của từng giống lan mà chọn chất trồng phù hợp, nhưng trước khi trồng cần giặt sạch phơi khô, sát trùng trước khi trồng Nên lưu ý hoa phong lan cần phải thông thoáng, các chất trồng cần sắp xếp sao cho tơi xốp có nhiều kẽ hở, thông thoáng (Nguyễn Công Nghiệp, 2000; Huỳnh Văn Thới, 1996)
1.2.3.3 Tưới nước
Tưới nước là công việc đơn giản nhưng tưới nước như thế nào để cây sinh trưởng, phát triển tốt là rất khó Tưới thiếu nước lan sẽ khô héo dần rồi chết, tưới thừa nước lại làm cho bộ rễ ẩm ướt, thiếu ô-xy, cây khó hấp thu dưỡng chất, bộ rễ thối và chết Các loài phong lan khác nhau thì nhu cầu nước cũng khác nhau Hoa phong lan có nhiều lá, lá to dễ mất nước, do đó cần lượng nước tưới nhiều hơn Cây phong lan lớn, cành mập, lá dày thì chịu hạn khá hơn nên số lần tưới ít hơn Thời kỳ cây ra hoa, ra rễ, đâm chồi cây cần nhiều nước hơn nên cần tưới nhiều hơn bình thường Thời kỳ cây nghỉ, cây cần lượng nước ít hơn nhưng cũng cần phải giữ ẩm xung quanh vườn lan Cách tưới tốt nhất là tưới phun cho giọt nước rơi nhẹ nhàng, không làm chấn thương cây Có thể trang bị hệ thống tưới phun, tưới bằng vòi hoặc bằng bình xịt Không phải tưới xói xả mà tưới phun sương và tưới đi tưới lại nhiều lần Thông thường tưới vào buổi sáng và chiều mát Nếu trời nóng quá thì tăng số lần tưới và tăng lượng nước tưới, tránh tưới nước quá ít sẽ làm hơi nước bốc lên nóng cây Vào buổi trưa, nắng gắt, không nên tưới trực tiếp vào cây, nên tưới vào môi trường trồng (tăng độ ẩm cho vườn) (theo Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP HCM, 2006)
1.2.3.4 Bón phân
Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với cây phong lan, nhất là đối với việc trồng qui mô lớn, khai thác hàng hoá Khi cây phong lan đầy đủ dinh dưỡng,
Trang 18cây sinh trưởng và phát triển tốt, cây ra nhiều hoa, hoa to, bền Khi cây thiếu dinh dưỡng thì còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa Tùy theo giai đoạn phát triển của cây mà cần cung cấp phân bón theo công thức thích hợp, nhưng nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thành, lá phát triển mạnh nên cần hàm lượng đạm cao; hàm lượng lân và kali thấp Trước khi cây ra hoa cần hạm lượng lân
và kali cao, đạm thấp; trong khi cây nở hoa cần kali cao, đạm và lân thấp (Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP HCM, 2006)
1.2.3.5 Thu hoạch và đóng gói
Đối với trường hợp lan cắt cành: chuẩn bị chậu (hoặc thau) nước với kích thước vừa phải, khi cành hoa còn khoảng 2 búp nữa mới nở (trường hợp cành có khoảng 7 - 9 bông) thì ta tiến hành cắt cành, cắt xong cả luống bông đó thì ngâm vào chậu nước đã chuẩn bị trước nhằm bảo quản để cành hoa không héo tàn Khi vận chuyển đi xa (trên 3 giờ) cần dùng mốp để giữ nước cho cành hoa bằng cách: khoảng 10 cành được buộc 1 miếng mốp thấm nước sẵn bó ở phía gốc của cành, xếp các bó bông đã bó sẵn vào trong thùng giấy đã có lót trước miếng nhựa phin (thùng giấy được đục các lỗ trống xung quanh thùng), sau đó dùng băng keo dán lại Lưu ý là không nén chặt các bó bông với nhau Trong trường hợp, bảo quản hoa bằng các phòng lạnh vẫn tốt hơn (nhiệt độ phòng từ 14 - 170C) để kéo dài thời gian hoa tươi lâu hơn (Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP HCM, 2006)
1.3 CÔN TRÙNG VÀ NHỆN HẠI TRÊN HOA PHONG LAN
Theo ghi nhận của hiệp hội hoa phong lan Mỹ (AOS - American Orchid Society) thì có khoảng 9 loài gây hại được phát hiện trên hoa phong lan, chúng bao gồm nhện nhỏ, rầy mềm, bù lạch, các loại sâu bướm, ốc, các loài rệp
(http://www.aos.org/Default.aspx?id=117)
Trên hoa phong lan khoảng 10 loài gây hại, trong đó các loài như nhện đỏ - kích thước nhỏ, nằm mặt dưới lá, các loài ốc và sên - ăn lá non, rễ và cả hoa, loài ruồi đục bông…là nhưng loài gây hại nghiêm trọng lên sự phát triển và phẩm chất của hoa phong lan, bên cạnh đó cũng các loài khác cũng gây khó khăn như bù lạch - làm mất màu, sau đó dẫn đến khô hoa, rệp các loài làm chậm sự phát triển và hư hại
lá, rễ (Catharine Mannion, 2008)
Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) côn trùng gây hại trên hoa lan ở Việt Nam gồm 5 loài thuộc 4 bộ khác nhau Trong đó kiến không gây hại mà là loài trung gian giúp phát tán các loài rệp sáp, một số loài trên lá; gián ít khi tấn công cây sống, đôi khi chúng ăn phần mềm như rễ non, lá non hay một vài loài hoa mềm có
mùi thơm như Cattleya; bù lạch gây hại tương đối quan trọng, đối tượng còn lại là
ruồi
Có nhiều loài côn trùng gây hại trên hoa phong lan: rệp sáp, rầy trắng rất thích hút nhựa cây phong lan kể cả cây nhỏ đến cây lớn, làm cho cây khô, héo dần;
Trang 19ấu trùng của các loài bướm và ngài cũng phá hoại lá phong lan khá mạnh; Gián: cắn phá rễ phong lan rất nhanh, chúng thường ở ngay trong chậu phong lan và lẫn trốn trong các khe than gạch, hoặc di chuyển từ nơi cống rãnh, chân cột giàn lên Chúng rất thích ăn phần đầu rễ non làm cây bị tổn thương nặng, yếu đuối, tăng trưởng chậm và dễ nhiễm bệnh; các loại bù lạch, rệp vảy, rệp bột cũng được phát hiện trên vườn hoa phong lan Ngoài ra, vườn phong lan còn có thể bị nhiều loại động vật khác phá hoại như ốc sên, ong, châu chấu, chuột, chim , do đó phải làm vệ sinh
Pseudococcidae Pseudococcus Pseudococcus sp ++
5 bộ khác nhau Trong đó, các đối tượng nhện gây hại (Tenuipalpus pacificus B;
Brevipalpus califomicus; Dolichotetranychus vandegooti; Tetranychus sp.) được
đánh giá là quan trọng và khó phòng trị nhất Các loài còn lại thuộc nhóm gây hại
tương đối quan trọng gồm: Bù lạch (Thrips palmi, Dichiromothrips corbetti); sâu xanh da láng và sâu ăn tạp (Spodoptera exigua; Spodoptera litura); bọ cánh cứng hại hoa (Temapeetoralis); rệp vảy và rầy mềm (Aphis gossypii Glover)
1.3.1 Nhện đỏ (Họ Tenuipalpidae - Acari)
Kết quả nghiên cứu của Baker và Brambara (1994) về nhóm nhện đỏ gây hại thuộc họ Tenuipalpidae (Acari) ghi nhận có 10 loài khác nhau gây hại trên nhiều đối tượng cây trồng như cây cảnh, cây ăn trái, rau cải,…Tuy nhiên đa số chúng gây hại trên họ phong lan, những loài gây hại quan trọng được ghi nhận ở Mỹ gồm có:
Trang 20Tenuipalpus orchidarum, T.pacificus, T.orchidofilo, Brevipalpus onciidi Họ
Tenuipalpidae (Acari) nó được phát hiện gây hại ở khắp vùng Bắc Mỹ, một phần Châu Âu, Đông Nam Á và Australia (trích dẫn Lê Thị Tuyết Nhung, 2008)
Theo Denmark (2006) thì nhện đỏ T.pacificus Baker (Tenuipalpidae) đã gây
hại phổ biến trên cây hoa phong lan được trồng trong điều kiện nhà kính ở Floria Được biết loài này cũng hiện diện gây hại ở Australia, Brazil, Anh, Đức, Hà Lan, Philippin, Panama,… Tập tính sống của loài này rất đặc biệt ở chỗ chúng không giăng tơ như các loài nhện gây hại khác
Sinh học và tập quán gây hại của nhóm nhện đỏ
Theo Johnson (2008) thì nhện gồm các giai đoạn: trứng, ấu trùng tuổi 1, 2,
ấu trùng tuổi 3 (hoặc nhộng) và trưởng thành Ấu trùng có 6 chân, nhộng và thành trùng thì có 8 chân Thời gian sống phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của nhện là 30 - 32°C, với nhiệt độ này thì nhện thuộc họ Tenuipalpidae mất 6 - 9 tuần để hoàn thành vòng đời
Theo Squire (2005) vết cạp và chích hút của nhện làm cho lá có những chấm
li ti vàng, bắt đầu từ bên dưới mặt lá sau đó lan dần lên cả lá Nếu bị nặng lá sẽ ngã vàng sau đó héo đi và có thể rụng
Trên hoa, nhện chích hút nhựa hoa làm cho hoa có những chấm màu nâu và
mau tàn Đối với hoa của giống lan Dendrobium trong giai đoạn ra hoa, nhện rất
thích bám sau cuống hoa thành các chấm màu đỏ thẫm hoặc màu nâu làm cho hoa giảm giá trị và mau tàn mặc dù cành đài và hoa to (Phan Thúc Huân, 2002)
Ở giống lan Phalaenopsis nhện chui rút trong bẹ lá nằm kín từ gốc lá, làm cho lá héo và rụng Với giống Oncidium thì các tế bào lá hoặc thân, những nơi nhện
tập trung nhiều sẽ thành khoanh màu vàng sau đó chuyển sang màu nâu gần giống với triệu chứng bệnh đốm vàng do virus gây ra nên rất dễ nhầm lẫn (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Phòng trừ nhện đỏ
Việc sử dụng thuốc trừ sâu rầy thường xuyên sẽ làm cho nhện phát triển nhiều hơn do thuốc đã tiêu diệt luôn cả những loài thiên địch, bên cạnh đó là do khả năng kháng thuốc mạnh mẽ của các loài nhện đỏ gây hại Vì vậy, nhóm nhện luôn được xác định là loài gây hại quan trọng, khó kiểm soát Tiêu diệt chúng thì cần sử dụng thuốc phòng trị được cả con trưởng thành, ấu trùng và cả trứng Đồng thời, phải luân phiên các loại thuốc sử dụng để mang lại hiệu quả cao Biện pháp phun sương trên lá với nước sạch có thể tránh được sự gây hại của nhện đỏ Tuy nhiên, khi đã xuất hiện chúng rất khó bị tiêu diệt tận gốc (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Theo Johnson (2008) có thể sử dụng cồn, xà phòng, dầu khoáng…trong việc phòng trừ nhện đỏ trên hoa lan Bên cạnh đó nhện phát triển mạnh trong điều kiện
Trang 21khô ráo, vì vậy có thể tưới ướt, kỹ cho lan trong mùa nắng để giảm thiệt hại do nhện gây ra
1.3.2 Rệp sáp
1.3.2.1 Rệp sáp Pseudococcus sp (Họ Pseudococcidae-Homoptera)
Theo Johson 2008, thì trong tổng số 300 loài rệp sáp gây hại được ghi nhận ở
Canada và Hoa Kỳ thì chỉ có loài Pseudococcus sp (Họ Pseudococcidae) gây hại
nghiêm trọng trên hoa phong lan Chúng gây hại trên tất cả các bộ phận của cây nhưng thường gây hại ở rễ, thân, mặt dưới lá, khe nứt của giả hành
Rệp sáp có hình bầu dục xung quanh thì có những tua ngắn, có từ 2 - 4 tua dài ở đầu sau của cơ thể Rệp sáp gồm 3 giai đoan trứng, ấu trùng và thành trùng Thành trùng đực cơ thể nhỏ hơn con cái, chỉ làm nhiệm vụ giao phối sau đó chết
Hình 1.1: Rệp sáp Pseudococcus sp gây hại trên hoa phong lan
(nguồn http://www.aos.org/Default.aspx?id=511)
1.3.2.2 Rệp sáp Planococcus citri (Họ Pseudococcidae-Homoptera)
William và Watson (1998) cho rằng giống Planococcus có hơn 20 loài và
Planococcus citri là 1 trong những loài ăn tạp được biết ở tất cả các vùng địa lý và
có thể trở thành đối tượng gây hại quan trọng đối với nghề làm vườn Kết quả khảo sát của Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000 về thành phần rệp sáp gây hại trên cam, chanh,
quýt ở đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận sự hiện diện gây hại của Planococcus
citri, Planococcus cicacinus…
Theo Johnson (2008) rệp sáp tấn công trên cây hoa lan ở Mỹ là Planococcus
citri Chúng đặc biệt ảnh hưởng đến 2 giống lan Phalaenopsis và Dendrobium Rệp
gây hại cả trên những lá giả và vỏ bao ngoài thân cây Chúng gây hại bằng cách chích hút dịch cây trồng Kết quả khảo sát của Nguyễn Hữu Thọ, 2007 cho thấy mật
số Planococcus sp trong điều kiện ở đồng bằng sông Cửu Long cao nhất vào tháng
12 năm trước đến tháng 5 năm sau
Trang 22Rệp cái có màu vàng hung, mép màu trắng hoặc trắng xám, da mỏng trong suốt Rệp đực màu hồng nhạt, vỏ màu đen Thân rệp trưởng thành hình bầu dục, ngực sau rộng hơn ngực giữa, râu đầu có 1 gai dài Cơ thể có 2 - 5 tuyến lỗ thở, mép
có gai tuyến (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001)
1.3.2.4 Rệp sáp Diaspis boisduvalli (Coccidae-Homoptera)
Lan thuộc tất cả các giống Phalaenopsis, Cattleya, Vandan và
Dendrobium,…luôn bị gây hại bởi loài rệp này Rệp này gây hại trên thân, lá, giả
hành nhưng lá là chính Chúng hiện diện mật số cao, hút nhựa làm cho lá vàng rụng
và cây có thể chết
Cơ thể có vỏ cứng màu nâu và gồ lên cao hình mái vòm Một trong các loài
thuộc nhóm này là Diaspis boisduvali, thân dài khoảng 3 mm, con đực nhỏ hơn con
cái và rất ít phát hiện Ấu trùng tuổi 1 có chân và di chuyển, sau khi lột xác sang tuổi 2 thì chân mất đi và từ ấu trùng tuổi 2 không di chuyển nữa (Johnson, 2007)
Trang 23
Hình 1.3: Rệp sáp Diaspis boisduvali và triệu chứng trên lá lan
(Nguồn http://entnemdept.ufl.edu/creatures/orn/scales/boisduval_scale.htm)
1.3.3 Bù lạch (Echinothrips sp.)
Echinothrips sp được ghi nhận xuất hiện ở miền đông Hoa Kỳ Nó đã được
báo cáo là một dịch hại vườn ươm và cây cảnh ở phần phía nam Theo thí nghiệm
của Georgia, cũng ghi nhận sự hiện diện và gây hại của Echinothrips sp trên hoa
cúc
Thành trùng cái Echinothrips sp dài khoảng 1,6 mm và đực dài khoảng 1,3
mm Cơ thể có màu nâu sẫm đến đen với màu đỏ giữa các đốt bụng Đốt 1 và 2 của râu đầu là màu nâu sẫm, đốt 3 và 4 nhạt màu Trứng thì được đẻ trong mô thực vật, dài và có màu trắng.Ngay sau khi nở ấu trùng màu trắng và sau đó chuyển dần sang màu vàng nhạt hoặc sau khi ăn Ấu trùng tuổi 2 trở thành màu vàng kem trước khi lột xác thành tiền nhộng Nhộng được tìm thấy trên các mô lá và chỉ di chuyển khi
bị tác động Nhộng có màu trắng với miếng cánh dài và uốn cong râu trở lại trên cơ thể
Thành trùng cái đẻ trứng trong khe hở trong mô lá Thời gian phát triển phụ thuộc vào nhiệt độ, ở 150C giai đoạn trứng kéo dài trung bình 15,5 ngày và chưa trưởng thành mất 18,4 ngày với tổng số 33,9 ngày Trong điều kiện ấm hơn phát triển nhanh hơn, ở 300C trong giai đoạn trứng mất 5,8 ngày và chưa trưởng thành chỉ có 5,6 ngày với tổng số 11,4 ngày từ trứng đến trưởng thành Thời gian phát triển đa dạng với các loài vật chủ khác nhau Bù lạch phát triển quanh năm, ấu trùng
và trưởng thành đã không hoạt động tích cực và sẽ ở lại trong cùng một khu vực của một lá nếu không bị tác động
Bù lạch ăn phần mô lá và thiệt hại là tương tự như thiệt hại điển hình của nhện đỏ với những đốm sáng trên lá Với mật số cao, gây hại nặng làm teo tóp lá lại, lá chuyển màu Nó cũng sẽ ăn các bộ phận của hoa
(http://www.entomology.umn.edu/cues/inter/inmine/Thripf.html)
Trang 24Hình 1.4: Thành trùng và ấu trùng bù lạch Echinothrips sp
(nguồn http://www.entomology.umn.edu/cues/inter/inmine/Thripf.html)
1.3.4 Rầy mềm
Theo Johnson (2007) thì trên hoa lan xuất hiện vài loài rầy mềm trong tổng
số 24 loài gây hại trên thực vật thuộc Aphididae, trong đó 2 loài đáng chú ý nhất là
Myzus persicae và Aphis gossypii Trên toàn thế giới, Blackman và Eastop (2000)
ghi nhận bảy loài rệp từ hoa lan: Aulacorthum solani, A dendrobii, A
circumflexum, Sitobion ansellia, S indicum, S luteum, và Cerataphis orchidearum
Họ Aphididae dễ bị hấp dẫn bởi mùi hương của hoa lan giống Cymbidium
Rầy mềm được xem là vectơ truyền nhiều bệnh virus nguy hiểm trên cây phong lan Tuy nhiên, trong số 27 virus gây bệnh trên cây phong lan đã được báo cáo thì chỉ có 6 loài có vectơ là rầy mềm (Lawson, 2002)
Rầy mềm thông thường có 6 giai đoạn phát triển: trứng hoặc phôi thai, ấu trùng 4 tuổi, nhộng, và thành trùng Tùy thuộc vào loài và điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ, có thể có là 15-40 thế hệ mỗi năm Rầy mềm có 2 hình thức sinh sản: sinh sản hữu tính và hình thức trinh sản - sinh sản không cần con đực (Johnson, 2007)
Trên hoa lan rầy mềm được tìm thấy trên nụ và hoa, nhưng cũng được thấy trên những phần mọng nước khác như mô lá, vỏ, cuống, lá đài và cánh hoa của chùm hoa Rầy mềm hút nhựa của cây, làm cho mô chết và biến dạng Chích hút lá
và thân gây tổn thương, lá thân chuyển sang màu vàng Tấn công nụ hoa, khi hoa nở làm hoa méo mó và nhanh rụng (Johnson, 2007)
Trang 25Hình 1.5: rầy mềm trên hoa lan (nguồn http://www.aos.org/Default.aspx?id=118)
Biện pháp phòng trị
Trong tự nhiên rầy mềm có nhiều loài thiên địch nhƣ ong bắp cày (Aphelinus
abdominalis), rệp muỗi (Aphidoletes aphidomyza),…Nếu mật số rầy mềm lên cao,
cân bằng tự nhiên không kiểm soát đƣợc có thể sử dụng một số loại thuốc hóa học
ví dụ nhƣ các loại thuốc có chứa các gốc Abamectin, Azadirachtin,…hoặc có thể sử dụng dầu khoáng, xà phòng cũng mang lại hiệu quả cao (Johnson, 2007)
1.3.5 Muỗi đục hoa
Theo ghi nhận của Hara và Niino - Duponte (2002) loài muỗi đục hoa
(Contarinia maculipennis, Diptera: Cecidomyiidae) có nguồn gốc từ Châu Á và đƣợc báo cáo trên tại Flodia, Hoa Kỳ (1992) vì sự gây hại trên hoa phong lan