1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown

57 699 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... KHẢO SÁT ẢNH HƢỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRONG CHUỒNG NUÔI KÍN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG THƢƠNG PHẨM GIỐNG HISEX BROWN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI... & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ TUYẾT HẰNG KHẢO SÁT ẢNH HƢỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRONG CHUỒNG NUÔI KÍN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG THƢƠNG PHẨM GIỐNG HISEX BROWN. .. mức độ tiêu tốn thức ăn tỉ lệ đẻ gà bị yếu tố nhiệt độ, ẩm độ chi phối Do tiến hành thực đề tài: Khảo sát ảnh hƣởng nhiệt độ ẩm độ chuồng nuôi kín lên suất sinh sản tiêu tốn thức ăn gà đẻ trứng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ TUYẾT HẰNG

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT

ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRONG CHUỒNG NUÔI KÍN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN

THỨC ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG

THƯƠNG PHẨM GIỐNG HISEX BROWN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

CẦN THƠ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ TUYẾT HẰNG

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT

ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRONG CHUỒNG NUÔI KÍN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN

THỨC ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG

THƯƠNG PHẨM GIỐNG HISEX BROWN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs Ts NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG Ths LÊ THANH PHƯƠNG

CẦN THƠ, 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT

ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRONG CHUỒNG NUÔI KÍN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ TIÊU TỐN

THỨC ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG

THƯƠNG PHẨM GIỐNG HISEX BROWN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

Cần Thơ, Ngày Tháng Năm Cần Thơ, Ngày Tháng Năm

Cán bộ hướng dẫn: DUYỆT BỘ MÔN

Ths Lê Thanh Phương

Cần Thơ, Ngày Tháng … Năm …

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

………

Trang 4

Thầy cố vấn Trương Chí Sơn đã hết lòng lo lắng, dạy dỗ tôi trong những năm qua

Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, trao dồi kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành đề tài

Quý thầy cô bộ môn Chăn Nuôi – Thú Y đã truyền đạt cho tôi thật nhiều kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học

Thạc sĩ Lê Thanh Phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài

Cô Nguyễn Thị Oanh đã tạo điều kiện để tôi có một môi trường tiến hành thí nghiệm tốt nhất

Chị Nguyễn Thị Trúc Linh, anh Nguyễn Xuân Anh, anh Nguyễn Hữu Hoan đã hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình tiến hành thí nghiệm Chị Ngô Thị Minh Sương đã quan tâm và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian tôi hoàn thành luận văn

Tập thể lớp Chăn nuôi khóa 36 đã cùng tôi học tập trong suốt thời gian qua và đặc biệt là các bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc tại trại

Một lần nữa xin chân thành gửi lời cảm ơn!

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm ……

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Tuyết Hằng

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống Hisex Brown” đươ ̣c thực hiện tại trại nuôi gia công gà mái đẻ của công

ty TNHH Emivest Việt Nam ở huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi ở 5 vị trí khác nhau của một dãy chuồng (5 ngăn chuồng) lên sinh trưởng, năng suất sinh sản, tiêu tốn thức

ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn của gà đẻ Thí nghiệm được thực hiện trên 1.200

gà đẻ trứng thương phẩm giống Hisex Brown Kết quả được ghi nhận như sau: Nhiệt độ trung bình chuồng nuôi ở 5 ngăn chuồng tăng dần từ ngăn 1 là 25,9 0 C đến ngăn 2 là 26,0 0

C, ở ngăn 3 là 26,6 0 C, cao nhất ở ngăn 4 là 27,4 0 C

là 60,99g và thấp nhất ở ngăn 5 là 60,57 g Hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các ngăn chuồng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) Hệ số chuyển hóa thức ăn lớn nhất là ở ngăn 2 (2,06), kế tiếp là ngăn 4 và ngăn 5 (2,01), hệ

số chuyển hóa thức ăn ở ngăn 3 (1,99) và thấp nhất là ở ngăn 1 (1,95) Giữa các ngăn chuồng thì ngăn 1 (ngăn chuồng ở đầu dãy, gần dàn làm mát) có lợi nhuận cao nhất 5.769.639 đồng nhờ tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng cao Kết quả nghiên cứu trên cho thấy nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi có ảnh hưởng lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống Hisex Brown

Trang 6

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Tuyết Hằng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ 0

TÓM TẮT ii

LỜI CAM KẾT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH vii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Sơ lược về giống gà Hisex Brown 2

2.1.1 Nguồn gốc của giống 2

2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình 2

2.1.3 Quy luật của sự đẻ trứng 7

2.1.4 Chọn lọc gà đẻ trứng thương phẩm 7

2.1.5 Một số yếu tố làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng trứng 8

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ 9

2.2.1 Nhu cầu năng lượng 9

2.2.2 Nhu cầu protein 11

2.2.3 Nhu cầu vitamine và muối khoáng 13

2.3 Điều kiện tiểu khí hậu 15

2.3.1 Nhiệt độ 16

2.3.2 Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi 17

2.3.3 Thời gian chiếu sáng 18

2.3.4 Thông thoáng 19

2.3.5 Mật độ nuôi 20

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Phương tiện thí nghiệm 21

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 21

3.1.2 Động vật thí nghiệm 21

Trang 8

3.1.3 Chuồng trại 22

3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 23

3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 24

3.2 Phương pháp thí nghiệm 24

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 24

3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 26

3.2.3 Quy trình phòng bệnh ở trại 27

3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.2.4.1 Chỉ tiêu tiểu khí hậu 28

3.2.4.2 Chỉ tiêu kỹ thuật 28

3.2.5 Phân tích thành phần hóa học của thức ăn 29

3.2.6 Hiệu quả kinh tế 30

3.2.7 Xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Nhận xét tổng quát 31

4.2 Sự biến động của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi 31

4.2.1 Nhiệt độ 31

4.2.2 Ẩm độ 34

4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi lên tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng và tiêu tốn thức ăn 37

4.4 Hiệu quả kinh tế của các ngăn chuồng 39

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Đề xuất 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

PHỤ LỤC 44

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Lượng thức ăn ăn vào, trọng lượng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối

với gà Hisex Brown 3

Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown 4

Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng của gà đẻ Hisex Brown 5

Bảng 2.4 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu 8

Bảng 2.5 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém 8

Bảng 2.6 Chỉ tiêu vệ sinh nướ c uống cho gà 15

Bảng 3.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 23

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm 26

Bảng 3.3 Quy trình tiêm phòng trên gà 27

Bảng 4.1 Nhiệt độ (0C) trung bình qua các thời điểm trong ngày của thí nghiệm 32

Bảng 4.2 Sự biến động nhiệt độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm 34

Bảng 4.3 Ẩm độ (%) trung bình qua các thời điểm trong ngày của thí nghiệm 35

Bảng 4.4 Sự biến động ẩm độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm 36

Bảng 4.5 Sự biến động của tỷ lệ đẻ, trọng lượng trứng, tiêu tốn thức ăn 37

Bảng 4.6 Số lượng dưỡng chất và năng lượng ăn vào 39

Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của các ngăn chuồng trong thí nghiệm 40

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown 2

Hình 3.1 Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm 21

Hình 3.2 Bên ngoài chuồng trại thí nghiệm 22

Hình 3.3 Hệ thống làm mát và quạt hút 23

Hình 3.4 Sơ đồ bố trí các ngăn chuồng thí nghiệm 25

Hình 3.5 Máy đo nhiệt độ và ẩm độ 28

Hình 4.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình trong ngày của kỳ thí nghiệm 32

Hình 4.2 Biểu đồ sự biến động nhiệt độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm 34

Hình 4.3 Biểu đồ sự biến động ẩm độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm 35

Hình 4.4 Sự biến động ẩm độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm 37

Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ lên khối lượng trứng và tỷ lệ đẻ trong chuồng nuôi 38

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm ở nướ c ta đã ngày càng phát triển vượt bậc đặc biệt là ngành nuôi gà theo lối công nghiệp đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi cũng như cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm hàng ngày cho con người Thịt và trứng là hai sản phẩm chính trong chăn nuôi gia cầm trong đó trứng là một loại thực phẩm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng và sử dụng hàng ngày nên ngành chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm đang rất đươ ̣c chú ý Một trong những hình thức chăn nuôi gà đẻ hiệu quả hiện nay là nuôi trong chuồng lạnh Tuy chi phí ban đầu khá cao nhưng lại đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực như hạn chế các tác nhân bất lợi từ môi trường, không gây ô nhiễm môi trường, thuận tiện chăm sóc và quản lý, kiểm soát được d ịch bệnh…và đặc biệt là điều chỉnh đươ ̣c tiểu khí hậu trong chuồng nuôi

Tuy nhiên nhiệt độ, ẩm độ trong chuồng lạnh không được phân bố đồng đều vì chuồng đươ ̣c làm mát nước v ới hệ thống làm lạnh đặt ở đầu dãy và làm mát bằng quạt hút đặt ở cuối dãy nên mức độ tiêu tốn thức ăn và tỉ lệ đẻ của gà cũng bị yếu tố nhiệt độ, ẩm độ chi phối

Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống Hisex Brown”

Với mục tiêu:

- Theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu: nhiệt độ, ẩm độ

- Theo dõi năng suất sinh sản của và trọng lượng trứng của gà

- Tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về giống gà Hisex Brown

2.1.1 Nguồn gốc của giống

Gà Hisex Brown được nhập vào Việt Nam 1997, có nguồn gốc ở Hà Lan được công ty Emivest nhập giống gà bố mẹ về nuôi và nhân giống Gà Hisex Brown bố mẹ được công ty nuôi để sản xuất gà hậu bị đẻ lấy trứng thương phẩm Gà con sản xuất ra dùng để thả nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị trường

2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình

Theo Nguyễn Thị Mai et al (2009) cho rằng thì đây là giống gà chuyên

trứng màu nâu có nguồn gốc từ hãng Euribreed – Hà Lan (Hình 2.1)

Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown

(Nguồn: A Hendrix Genetic Company, 2012)

Gà giống bố mẹ có khối lượng cơ thể đến 17 tuần là 1.400 g, tỷ lệ nuôi sống 97% Lượng thức ăn tiêu thụ từ 18 – 20 tuần 5,5 kg/con Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 50% ở 152 ngày Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi 315 quả/mái, khối lượng trứng 63 g Lượng thức ăn tiêu thụ từ 140 ngày tuổi là 116 g/con/ngày Tiêu

Trang 13

tốn thức ăn cho 1 kg trứng là 2,36 kg và cho 10 quả trứng là 1,49 kg Khối lượng cơ thể vào cuối thời kỳ đẻ là 2.150 g/mái

Gà mái đẻ thương phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở 20 tuần tuổi, đỉnh cao tỷ lệ đẻ khoảng 92% Thời gian đạt tỷ lệ đẻ cao trên 90% kéo dài khoảng 10 tuần Khối lượng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho đến khi kết thúc là

67 g Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi là 307 quả/mái Tỷ lệ chết trong thời kỳ

đẻ trứng là 5,8% Khối lượng gà mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15 kg/con Lượng thức ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con

Bảng 2.1 Lượng thức ăn ăn vào, trọng lượng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối với gà Hisex Brown

Thời gian chiếu sáng Chuồng kín Chuồng hở

13

14 14,5

15 15,5

15 15,5

Trang 14

Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dƣỡng gà đẻ Hisex Brown

Trang 15

Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng của gà đẻ Hisex Brown

Trang 16

Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng của gà đẻ Hisex Brown

Trang 17

2.1.3 Quy luật của sự đẻ trứng

Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) cho rằng gà đẻ trứng thương phẩm thường loại thải sau 1 năm đẻ (500 – 550 ngày tuổi), từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái trải qua các biến đổi về sinh lý, sinh hoá có liên quan đến sức

đẻ trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn Ở gia cầm tơ hay gà mái đẻ trứng năm đầu quy luật đẻ trứng diễn ra theo ba pha: Pha 1: Thường là từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến hết ba tháng đẻ trứng Trong pha này sản lượng trứng đẻ tăng từ ngày đẻ đầu tiên đến khoảng 2 – 3 tháng đẻ Đồng thời với tăng sản lượng trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể gà mái tăng lên Pha đầu tiên của sự đẻ trứng thường kết thúc lúc 42 tuần tuổi

Pha 2: Sau khi sản lượng trứng đạt đỉnh cao thì pha 2 của sự đẻ trứng bắt đầu Lúc này sản lượng trứng giảm từ từ nhưng khối lượng trứng và khối lượng cơ thể gà không giảm, giai đoạn cuối gà mái có biểu hiện tích luỹ mỡ Pha 2 kéo dài đến khoảng 62 tuần tuổi, khi sức đẻ trứng giảm xuống còn

65 % so với tổng số gà mái đẻ trong ngày

Pha 3: Pha 3 tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông Trong pha này sản lượng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn Khối lượng trứng giảm nhẹ hoặc ổn định, nhưng chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng lên

2.1.4 Chọn lọc gà đẻ trứng thương phẩm

Theo Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng nuôi dưỡng gà đẻ nhằm mục tiêu để lấy trứng ăn hoặc ấp Chúng ta càng làm kéo dài thời gian khai thác trứng thì càng có lợi Muốn đạt được mục tiêu thì không có cách nào hơn là phải đảm bảo sức khỏe và đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất trứng của gà mái Thiếu hụt chất dinh dưỡng tất nhiên là có hại, song chúng ta cung cấp quá dư thừa thì cũng không tốt vì chất dinh dưỡng không qua trứng được sẽ tích lũy trong cơ thể dưới dạng mỡ, làm cho gà mái mập quá sẽ lười biếng hoặc không

đẻ được, dẫn đến rút ngắn thời gian sản xuất trứng và gây thiệt hại về kinh tế Trước khi đẻ khoảng 20 – 22 tuần tuổi phải chọn những con quá nhỏ so với trọng lượng bình quân để loại bỏ (trọng lượng bình quân 1,65 – 1,7kg/con) Ngoài ra những con dị tật thần kinh, mào teo và trắng bệch thì cũng phải loại thải (Nguyễn Xuân Bình, 2000)

Trang 18

Bảng 2.4 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu

Mào và tích tai Phát triển tốt, có nhiều mao

mạch

Nhỏ, nhợt nhạt

cuối xương lườn và xương háng rộng

Nhỏ, không mềm, khoảng cách giữa cuối xương lườn

và xương háng hẹp

ngắn

Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn

(Nguồn: http://www.cucchannuoi.gov.vn)

Bảng 2.5 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém

Các bộ phận cơ thể Gà mái đẻ tốt Gà mái đẻ kém

Khoảng cách giữa xương

háng

Rộng, đặt lọt 3 – 4 ngón tay

Hẹp, chỉ đặt lọt 1 – 2 ngón tay

Khoảng cách giữa mỏm

xương lưỡi hái và xương

háng

Rộng, mềm, đặt lọt 3 ngón tay

Hẹp, chỉ để lọt 1 – 2 ngón tay

nhạt

Khô, bé, ít cử động, màu đậm

2.1.5 Một số yếu tố làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng trứng

Canxi trong thức ăn: canxi được hấp thụ vào những giờ buổi sáng, sau đó tăng lên trong suốt 4 giờ trước khi mặt trời lặn Gà đẻ rộ vào 10 – 11 giờ sáng

Sự hình thành vỏ trứng vào 4 – 5 giờ sáng Nếu thiếu canxi gà sẽ ăn nhiều thức ăn để bù vào sự thiếu đó Nếu canxi ở dạng bột hoàn toàn sẽ làm giảm tiêu thụ thức ăn dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng làm giảm năng suất và vỏ

Trang 19

trứng mỏng Nên cho ăn canxi ở dạng mảnh, cục (sỏi hoặc vỏ sò) (Bùi ĐứcLũng và Lê Hồng Mận, 1999)

Theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2004) cho rằng đối với gà đẻ trứng có khả năng chịu được khí hậu lạnh 150C và nóng 38 – 400C Tuy vậy, vào thời kỳ đẻ trứng nếu nhiệt độ môi trường dưới 150C hoặc trên 300C ảnh hưởng lớn đến sức đẻ trứng và khối lượng trứng, tỷ lệ hao hụt tăng

Ngoài ra, theo Nguyễn Xuân Bình (2000) cho rằng có nhiều nguyên nhân làm giảm tỷ lệ đẻ trứng: khẩu phần thức ăn thiếu đạm, thiếu Ca, P, vitamin D, stress nhiệt, …

Hàm lượng béo trong lòng đỏ trứng cũng có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn (Trương Thúy Hường, 2005)

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ

2.2.1 Nhu cầu năng lượng

2.2.1.1Nhu cầu năng lượng duy trì

Theo Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng thì nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nữa số năng lượng này

Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền

Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy,

Trang 20

một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp Chăn nuôi gà hoặc gà tây thịt đạt đến độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiệu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn

Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự

do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lương của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần

có chứa các mức năng lượng khác nhau

2.2.1.2 Nhu cầu năng lượng sinh trưởng

Tốc độ tăng trưởng tốt có thể đạt được với một biên độ của các mức năng lượng Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 Kcal ME/kg

Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trưởng tối đa là yêu cầu cần thiết để đạt trọng lượng bán trong thời gian ngắn hơn Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm gà hậu bị thay thế từ 2750 đến 2970 kcal/kg, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi từ 3080 đến 3410 kcal/kg (Bùi Xuân Mến, 2007)

2.2.1.3 Nhu cầu năng lượng sản xuất trứng

Theo Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dưới mức 2640 Kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức

độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất

Theo Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng trong thực tế khi được cho ăn

tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn vào với nhu cầu của chúng Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ 10 – 12 MJ/kg (11,5 – 13,5 MJ/kg chất khô) Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng hay giảm tương ứng lượng ăn

Trang 21

khoảng 0,5% Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn 10 MJ/kg sẽ dẫn đến giảm sản xuất trứng, khẩu phần chứa nhiều hơn 12 MJ/kg thức ăn có thể làm tăng tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù trọng lượng trứng có thể tăng)

2.2.2 Nhu cầu protein

Protein cần thiết cho gia cầm được cung cấp dưới dạng các acid amin có trong thức ăn Các acid amin cấu tạo nên hệ thống đệm giữ pH, ổn định hệ thống vận chuyển dịch gian bào Cấu tạo nên các chất kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu Nếu các acid amin thiết yếu được cân đối tốt với nhau và giữa chúng với mức năng lượng thức ăn thì nhu cầu protein thô trong thức ăn sẽ thấp, việc sử dụng protein của giacầm có hiệu quả hơn Một khẩu phần thiếu protein sẽ làm cho cơ thể chống đỡ bệnh tật kém, đáp ứng sau khi chủng ngừa yếu (Dương Thanh Liêm, 2003)

2.2.2.1 Nhu cầu duy trì

Theo Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích của sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải được cung cấp đủ lượng và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao

và ở dạng thích hợp để cho phép tổng lượng acid amin không thiết yếu

Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số lượng có thể đánh giá được Thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không kinh tế nếu nuôi động vật quá mức protein

Vì lý do này mà mức protein trong khẩu phần cho vật nuôi luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dưỡng khác

2.2.2.2 Nhu cầu sinh trưởng

Theo Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng sự thiếu hụt của protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protein Những protein không hoàn chỉnh sẽ không bao giờ được tạo thành Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay được dự trữ dưới dạng

mô mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các

Trang 22

acid amin thường chứa nhiều mỡ hơn những vật được ăn khẩu phần đủ và cân đối protein

Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid amin là lượng thức ăn tiêu thụ Một lượng ổn định protein tổng số và acid amin thiết yếu trong thức ăn được yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trưởng mô

cơ thể có thành phần không thay đổi Tuy nhiên khi nhu cầu protein được biểu thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc vào sự tiêu thụ thức ăn Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào Vì lý do này mà các nhu cầu được biểu diễn như phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến mức năng lượng của khẩu phần đó

2.2.2.3 Nhu cầu đẻ trứng

Theo Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng mặc dù gà mái không đẻ thường xuyên hàng ngày nhưng protein cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu protein hàng ngày cho những mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như cho gà thịt đang sinh trưởng nhanh

Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng Sau đó nhu cầu protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên

Trong thời gian đẻ trứng cần phải cung cấp cho gia cầm đầy đủ protein

để giữ cho cơ thể luôn luôn có sự trao đổi chất cao đồng thời bảo đảm cho hoạt động nội tiết bình thường (như tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến ở buồng trứng…) Vì những tuyến này ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất của gia cầm Ngoài ra protein còn cần để tạo trứng

Nhu cầu protein trong khẩu phần cho gà đẻ trứng tùy thuộc sản lượng trứng, sản phẩm chất protein trong thức ăn, giá trị dinh dưỡng của thức ăn và điều kiện chăm sóc Ngoài ra còn tùy thuộc trọng lượng trứng và trọng lượng

cơ thể của gà

Sản lượng trứng thường giảm theo độ tuổi, nên mức độ protein cao hơn được đòi hỏi trong thời gian đầu của sự sản xuất khi mà tỷ lệ đẻ trứng cao Nhu cầu về acid amin của gà đẻ cao, vì protein trứng có giá trị sinh học được xếp hàng đầu của tất cả các protein về thành phần acid amin

Với mỗi quả trứng được đ ẻ, một gà mái phải sản sinh ra khoảng 6,7 g protein Lượng protein tương ứng với lượng protein tích lũy hàng ngày của một gà thịt đang sinh trưởng có mức tăng trọng 37 g/ngày (Bùi Xuân Mến, 2007)

Trang 23

Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm giảm sút khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số Việc xác định nhu cầu các acid amin riêng rẽ cho gà mái có khó khăn hơn cho gà thịt Vì thế những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào thành phần các acid amin của protein trong trứng Tỷ lệ của các acid amin thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin được tạo thành trong trứng (Bùi Xuân Mến, 2007)

2.2.3 Nhu cầu vitamine và muối khoáng

Ngày nay, hầu hết nhu cầu của gia cầm về vitamin và muối khoáng đã đươ ̣c bi ết chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng chất biết chắc chắn là bị thiếu trong khẩu phần sản xuất

Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn đươ ̣c cung cấp vượt qua mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần Vì vậy, nhu cầu vitamin và khoáng vi lượng thường không đươ ̣c ch ỉ dẫn theo tỉ lệ thức ăn tiêu thụ hoặc mức năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ luôn trên mức nhu cầu tối thiểu được tính trong các khẩu phần cho gia cầm

Chất dinh dưỡng cần thiết chủ yếu trong khẩu phần của gia cầm mái đang đẻ là canxi Cho mỗi quả trứng lớn gà mái đẻ ra cần 2 g canxi để thành lập vỏ trứng Một gà mái đẻ 250 trứng một năm cầm tích 500 g canxi, chủ yếu

ở dạng carbonate canxi (tương đương với 1300 g) Canxi không đươ ̣c sử dụng hiệu quả đối với gà mái đẻ, có thể chỉ khoảng 50 – 60% lượng canxi ăn vào đươ ̣c giữ lại và chuyển vào trứng Như vậy, để đảm bảo sản xuất ra vỏ trứng theo yêu cầu thì gà mái này cần tiêu thụ 2600g carbonate canxi trong một năm

đẻ Đây là lượng khoáng vượt quá cả thể trọng của gà mái Qua sự đánh giá này cho thấy tầm quan trọng của sự trao đổi canxi phải diễn ra liên tục trong một gà mái đang đẻ và quá trình trao đổi này cũng lớn hơn bất kỳ loài vật nào khác

Nhu cầu canxi đối với gia cầm mái đang đẻ khó xác định được chính xác, bởi vì duy trì ở một tỷ lệ đẻ cao thí mức canxi trong thức ăn lại thấp hơn yêu cầu đẻ tạo ra một vỏ trứng vừa ý Thị trường hiện đại và những điều kiện quản

lý trứng yêu cầu vỏ trứng bền, không bị nứt bể dễ dàng trong buôn bán Khi gà mái đi vào kỳ cuối của năm đẻ thường cho những trứng có vỏ mỏng và chất lượng kém hơn trong thời kỷ đẻ đầu Thời tiết nóng cũng làm cho gà đẻ trứng

có vỏ mỏng hơn Chất lượng vỏ trứng cũng có thể bị ảnh hưởng bới bệnh hô hấp, vì có thể bệnh nảy đã làm ảnh hưởng đến ống dẫn trứng nên gà đẻ ra trứng có vỏ không bình thường Thực tế không phải tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vỏ trứng nêu trên có thể đươ ̣c sửa chữa bằng cách cho

Trang 24

thêm canxi vào thức ăn Sự tiêu thụ thức ăn cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nhu cầu canxi khi được tính toán như phần trăm trong khẩu phần (giống như cho nhu cầu của protein) Đối với những gà mái trong thời kỳ đẻ đầu, muốn cho gà sử dụng tốt canxi thức ăn để tạo ra vỏ trứng vừa ý thì mức canxi trong khẩu phần chỉ ở mức dưới 3% Nhưng ở những điều kiện khác , ví

dụ như thức ăn cho gà mái già trong thời tiết nóng thì mức canxi trong thức ăn

gà đẻ phải tăng lên đến mức trên 4% đẻ cố gắng cải thiện chất lượng vỏ trứng (Bùi Xuân Mến, 2007)

sẽ giảm đi đáng kể (Vũ Duy Giảng et al., 1997)

Nước là thành phần cơ bản của sự sống, chiếm khoảng 60 –70% khối lượng cơ thể gia súc và gia cầm Nước làm dung môi hòa tan và vận chuyển các chất dinh dưỡng cho cơ thể hấp thu và thải cặn bả ra ngoài Các phản ứng sinh hóa của cơ thể đều được thực hiện trong môi trường nước Nước có vai trò trong điều hòa, ổn đinh thân nhiệt, tham gia các phản ứng hóa học trong trao đổi chất của cơ thể, làm giảm sự thối rửa thức ăn trong các bộ phận tiêu hóa Nước giữ thể hình cho cơ thể động vật, tăng tính đàn hồi, giảm ma sát giữa các bộ phận

Thiếu nướ c gia c ầm sẽ chết nhanh hơn chết đói Thiếu thức ăn gia cầm sống được hơn 12 ngày, không có nước gà s ẽ chết sau 3 – 4 ngày Gia cầm càng non cơ thể càng chứa nhiều nước Như vậy nước tỉ lệ với khối lượng của

cơ thể (Melkhin và Gridin, 1997)

Theo Lê Văn Năm (2004) cho rằng nguyên tắc bất di bất dịch trong chăn nuôi gà là phải có nguồn nướ c dồi gào, ổn định và càng sạch càng tốt

Nhu cầu nước của gà: Khi nhiệt độ chuồng nuôi khoảng 220C gà cần lượng nước gấp 1,5 – 2 lần lượng thức ăn, ở 350

C gà cần lượng nước lên đến 4,7 – 7 lần lượng thức ăn Gà mái không đẻ uống 140g nước/ngày, gà mái đẻ uống 250 g nước/ngày, bình thường gà đẻ uống lượng nước bằng 3 lần lượng thức ăn (Võ Bá Thọ, 1996)

Nước uống cho gà phải sạch, không mang mầm bệnh Tiêu chuẩn nước uống của gà có thể áp dụng tiêu chuẩn nước uống dành cho người (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2007)

Trang 25

Bảng 2.6 Chỉ tiêu vệ sinh nướ c uống cho gà

Nước phẩm chất kém

2.3 Điều kiện tiểu khí hậu

Nhìn chung nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do

sự chênh lệch về vĩ độ và có những đặc điểm khác nhau về địa lý nên từng vùng có những đặc trưng riêng Hơn nữa do đặc điểm của nền kinh tế chưa phát triển tới mức có thể hạn chế được những điều kiện khắc nghiệt của khí hậu nên ở nhiều vùng, nhất là các vùng ở miền núi ngành chăn nuôi chỉ là một ngành rất phụ Ở nước ta hầu hết các giống gia cầm đều được tạo ra từ lâu từ những vùng có khí hậu tương đối ổn định như vùng đồng bằng hoặc ở những vúng thấp ở trung du (Đào Đức Long, 2004)

Môi trường sống ảnh hưởng lớn đến sự sinh tồn và phát triển của vật nuôi Trong điều kiện hoang dã động vật tự thích nghi với môi trường xung quanh để tồn tại, những cá thể không thích nghi, không chịu đựng được sẽ không tồn tại và tử số khá cao Tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhốt, người ta phải hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại do môi trường phù hợp cho vật nuôi là cần thiết

Các yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vật nuôi:

Trang 26

2.3.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ của chuồng nuôi là điều kiện tiểu khí hậu quan trọng nhất Ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của đàn gà Nhiệt độ nóng hay lạnh điều liên quan trực tiếp đến cơ thể gà và khả năng hấp thu dưỡng chất (Võ Bá Thọ, 1996) Nhiệt độ môi trường ảnh trực tiếp đến hoạt động sống của cơ thể sinh vật Nếu sự thay đổi ít, diễn biến từ từ thường không gây tác hại mà có khi còn có tác dụng như một kích thích có lợi Trường hợp nhiệt độ biến đổi đột ngột, biên độ dao động lớn, vượt xa giới hạn bình thường sẽ gây tác hại trực tiếp và gián tiếp đến gà Ở gà lớn, khi nhiệt độ môi trường nóng sẽ có biểu hiện rối loạn chức năng sinh lý, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều,…Ảnh hưởng đến tăng trọng, giảm đẻ, chất lượng trứng kém, có thể gây chết hàng loạt (Võ Bá Thọ, 1996)

Gà thích nghi rất tốt với môi trường lạnh, gà trưởng thành có thể sống trong nhiệt độ thấp đến mức -140C trong vòng 1 giờ, lông được dựng thẳng lên

để bảo vệ duy trì thân nhiệt hoặc rùng mình để phản ứng với lạnh làm tăng tốc

độ trao đổi của cơ thể để sinh thêm nhiệt (Bùi Xuân Mến, 2007)

Ở gà sinh sản, nhiệt độ chuồng nuôi tốt nhất là 18 – 200C, không quá

250C Nếu nhiệt độ nuôi dưới 150C hoặc cao hơn 300C ảnh hưởng lớn đến sức

đẻ trứng và khối lượng trứng, tỷ lệ gà chết tăng lên (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Theo Smith và Anthony (1990) cho rằng nhiệt độ cao hơn 290C đã làm ảnh hưởng đến độ dày vỏ trên 30%

Nhiệt độ 29 – 300C làm giảm khối lượng trứng, sự hấp thu canxi kém, khi đó mắc bệnh mổ cắn nhau

Những giống gà nhập nội nhẹ cân như Lerghorn, Hisex Brown,… chịu lạnh kém hơn những giống gà nội nặng cân hướng thịt Khả năng chịu nóng còn phụ thuộc vào giới tính, con trống chịu nhiệt độ cao tốt hơn con mái Gà chưa đẻ chịu nhiệt độ tốt hơn gà đang đẻ trứng Nhiệt độ cao trên 300C khối lượng trứng giảm, vỏ trứng mỏng (Đào Đức Long, 2004)

Sự chênh lệch nhiệt độ môi trường ảnh hưởng rất lớn đến năng suất gà

Sự chệnh lệch nhiệt độ kết hợp với khối lượng gà ban đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức tăng trọng, mức ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn ở gà qua các giai đoạn Cụ thể: khối lượng gà xuất chuồng giảm 20,5 – 25,3%, tiêu tốn thức

ăn toàn kỳ giảm 21,84 – 24,91% và hệ số chuyển hóa thức ăn tăng 1,14 – 11,37% (Nguyễn Thị Thanh Giang, 2010)

Theo Vũ Đình Vượng et al (2007) cho rằng động vật có thể tỏa nhiệt

trên khắp bề mặt của cơ thể ra ngoài môi trường tự nhiên Nếu có thêm gió đối

Trang 27

lưu hoặc khi gia súc chạy, vận động, sự toả nhiệt sẽ tăng lên Ngoài ra, thông qua quá trình hô hấp, ăn uống, tiêu hoá, bài tiết, hoạt động giao phối, tiết sữa cơ thể gia súc cũng bị tiêu hao nhiệt lượng đáng kể

Theo Đỗ Ngọc Hòe et al (2005) cho rằng nhiệt độ không khí nhất định,

cơ thể sản sinh nhiệt lượng nhỏ nhất (trao đổi vật chất thấp nhất), toả nhiệt ít nhất (tiêu hao nhiệt lượng ít nhất) nhưng vẫn giữ được sự thăng bằng nhiệt (S = 0) Phạm vi nhiệt độ không khí như vậy gọi là khu nhiệt điều hoà Trong khu nhiệt điều hoà, động vật cảm thấy dễ chịu, khoẻ mạnh, sự sinh trưởng, phát triển, nhịp điệu sống và khả năng sản xuất đều đạt ở mức cao nhất

Nói chung, động vật có thể sống trong nhiệt độ thích hợp nhất ở gia súc trưởng thành chỉ trong khoảng từ 21 - 260

C Trong nhiệt độ cực đoan động vật phải tăng cường hoạt động sinh lý và hành vi bảo vệ để sinh tồn Vượt ra ngoài phạm vi của giới hạn nóng (> +600C) và lạnh (< - 600C), động vật sẽ bị tiêu diệt (Lê Viết Ly, 1995)

2.3.2 Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi

Khả năng chứa nước của không khí phụ thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ càng cao không khí càng hút ẩm và ngược lại Không khí trong chuồng nuôi thường bão hòa hơi nước do gà thải ra ngoài trong khi thở, nước bóc hơi từ phân, từ bề mặt của thiết bị cung cấp nước, từ mặt nước rơi vãi và hơi nước từ ngoài vào do thông khí kém Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thải hơi nước đặc biệt là nhiệt độ của không khí, sức đẻ trứng, thành phần thức ăn, phương pháp thu dọn phân, sự cách ly của tường và nền chuồng,…do đó cần có hệ thống thông khí Độ ẩm tốt nhất trong chuồng nuôi từ 65 – 70%, độ ẩm không khí cao ảnh hưởng đến sự cân bằng nhiệt, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gà Độ ẩm thấp có hại cho gà vì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm da khô gây ngứa, đây là một trong những nguyên nhân gây mổ nhau, ăn lông Ẩm độ chuồng thích hợp để nuôi gà sinh sản là 60 – 70% (Nguyễn Đức Hưng, 2006)

Ẩm độ cao cũng là một trong những yếu tố bất lợi cho sự phát triển của

gà (Adil, 2009) Độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn phát triển, lớp độn chuồng dễ bị nấm mốc gây mủn nát, các thiết bị dụng cụ nhà nuôi dễ hỏng hoặc phải lau chùi, cọ rửa nhiều, các bệnh dễ lây lan hơn Sự kết hợp của ẩm độ và nhiệt độ cao làm giảm sức đề kháng của gà, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật trong chuồng nuôi phát triển, đặc biệt là

sự phát triển của E.coli, kèm theo triệu chứng hô hấp Nhiệt độ và ẩm độ cao

hơn so với điều kiện chuẩn thì có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỷ lệ

Trang 28

tiêu chảy (tỷ lệ tiêu chảy cao từ 32,5 – 37,8%), tỷ lệ hô hấp (22,4 – 40%) và tỷ

lệ chết (4,45 – 7,84%) ở gà (Nguyễn Thị Thanh Giang, 2010)

Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu thông khí của chuồng nuôi Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở, ngạt, dễ bị các bệnh đường hô hấp

Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại, phát triển của các loài mầm bệnh như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm móc (Võ

Bá Thọ, 1996)

Ẩm độ thấp từ 40 đến 50% sẽ gây hại cho gà Chuồng nuôi dễ bụi gây bẩn không khí, gà dễ bị bệnh hô hấp Vào mùa khô hanh ở nước ta có những ngày kèm theo lạnh nên sự bốc hơi từ phổi tăng nhanh dễ gây cho cơ thể bị mất nhiệt và lạnh (Đào Đức Long, 2004)

Khi ẩm độ khô thì nhu cầu uống nước của gà tăng lên đồng thời nhu cầu

về thức ăn giảm xuống, gà dễ bị mất nước, da khô, chuồng bụi,…Giữa nhiệt

độ và ẩm độ tương đối có mối tương quan nghịch với nhau Bình thường ẩm

độ tốt nhất đối với gà là từ 65 – 75% (Dương Thanh Liêm, 2003)

2.3.3 Thời gian chiếu sáng

Ánh sáng là yếu tố môi trường quan trọng tác động mạnh mẽ đến quá trình sinh lý, nó không thể thiếu cho chức năng thị giác và nhận biết của gia cầm Ánh sáng cho phép gia cầm thành lập các hoạt động đồng bộ hóa thiết yếu như điều chỉnh nhiệt cơ thể và các bước chuyển hóa khác nhau tạo điều kiện cho sự thu nhận thức ăn và tiêu hóa Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và phát dục của chúng Thông qua hệ thống nội tiết, ánh sáng kích thích sự phát triển của buồng trứng, kích thích sự rụng trứng và sự chín các bao noãn

Thời gian chiếu sáng phải phù hợp với từng giống gà, từng lứa tuổi và được chú trọng đặc biệt là vào thời kì đẻ, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của trứng Trong giai đoạn đẻ trứng, thời gian chiếu sáng thích hợp cho các giống gà là 16 giờ/ngày đêm, với công suất 4 W/m2 và cường độ là 20 lux Có nhiều cách tăng cường độ chiếu sáng ở cuối giai đoạn hậu bị Cách chiếu sáng phổ biến là tăng từ từ trong 2 tuần, mỗi ngày 30 phút hoặc có thể tăng đột ngột từ 8 giờ/ngày lên 24 giờ/ngày để tạo kích thích mạnh trong 2 ngày, sau đó giảm xuống 14 giờ, rồi tăng từ từ 30 phút mỗi ngày cho tới khi đủ 16 giờ/ngày đêm (Võ Bá Thọ, 1996)

Ngày đăng: 29/09/2015, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown (Trang 12)
Bảng  2.1  Lƣợng  thức  ăn  ăn  vào,  trọng  lƣợng  chuẩn  và  thời  gian  chiếu  sáng đối với gà Hisex Brown - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
ng 2.1 Lƣợng thức ăn ăn vào, trọng lƣợng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối với gà Hisex Brown (Trang 13)
Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dƣỡng gà đẻ Hisex Brown - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dƣỡng gà đẻ Hisex Brown (Trang 14)
Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng của  gà đẻ Hisex Brown - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng của gà đẻ Hisex Brown (Trang 15)
Bảng 2.4 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Bảng 2.4 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu (Trang 18)
Hình 3.1 Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 3.1 Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm (Trang 31)
Hình 3.2 Bên ngoài chuồng trại thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 3.2 Bên ngoài chuồng trại thí nghiệm (Trang 32)
Hình 3.3 Hệ thống làm mát và quạt hút - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 3.3 Hệ thống làm mát và quạt hút (Trang 33)
Hình 4.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình trong ngày của kỳ thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 4.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình trong ngày của kỳ thí nghiệm (Trang 42)
Hình 4.2 Biểu đồ sự biến động nhiệt độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 4.2 Biểu đồ sự biến động nhiệt độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm (Trang 44)
Hình 4.4 Sự biến động ẩm độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 4.4 Sự biến động ẩm độ giữa các ngăn chuồng thí nghiệm (Trang 47)
Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ lên khối lượng trứng và tỷ lệ - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ lên khối lượng trứng và tỷ lệ (Trang 48)
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của các ngăn chuồng trong thí nghiệm - khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi kín lên năng suất sinh sản và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ trứng thương phẩm giống hisex brown
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của các ngăn chuồng trong thí nghiệm (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm