1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang

102 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... đề Ảnh hưởng phân bón xỉ thép đến sinh trưởng suất đậu xanh Vigna radiata (L) R Wilczek hai vụ Đông Xuân Hè Thu Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang , thực báo cáo sinh viên Nguyễn Thanh Cường,... điều cần thiết Do đề tài: Ảnh hưởng phân bón xỉ thép đến sinh trưởng suất đậu xanh Vigna radiata (L) R Wilczek hai vụ Đông Xuân Hè Thu Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang thực 1.2 Mục tiêu nghiên... VÀ NĂNG SUẤT CÂY ĐẬU XANH VIGNA RADIATA (L) R WILCZEK Ở HAI VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU TẠI MỸ KHÁNH, TP LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Cán hƣớng dẫn: Ngô Thụy Diễm Trang Cần Thơ, 2013 PHÊ DUYỆT CỦA HỘI

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG

SUẤT CÂY ĐẬU XANH VIGNA RADIATA (L) R WILCZEK

Ở HAI VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU

TẠI MỸ KHÁNH, TP LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Cán bộ hướng dẫn: Ngô Thụy Diễm Trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

- -

NGUYỄN THANH CƯỜNG

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường

Cần Thơ, 2013

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG

SUẤT CÂY ĐẬU XANH VIGNA RADIATA (L) R WILCZEK

Ở HAI VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU

TẠI MỸ KHÁNH, TP LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Cán bộ hướng dẫn: Ngô Thụy Diễm Trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

- -

NGUYỄN THANH CƯỜNG

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường

Cần Thơ, 2013

Trang 3

i

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG

Luận văn kèm theo đây, với tự đề là “Ảnh hưởng của phân bón xỉ thép đến sinh

trưởng và năng suất đậu xanh Vigna radiata (L) R Wilczek ở hai vụ Đông Xuân

và Hè Thu tại Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang”, được thực hiện và báo

cáo bởi sinh viên Nguyễn Thanh Cường, lớp Khoa học môi trường khóa 36 đã được thông qua trước hội đồng

PGS.TS Nguyễn Hữu Chiếm PGS.TS Bùi Thị Nga

TS Ngô Thụy Diễm Trang

Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

ii

LỜI CẢM TẠ

Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ và dự án Sumitomo (dự

án hợp tác giữa công ty phân bón Sumitomo – Nhật và Trường Đại học Cần Thơ) đã

hỗ trợ kinh phí để thực hiện nghiên cứu này Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến

quý Thầy Cô Bộ môn Khoa học môi trường, phòng thí nghiệm độc học - Khoa Môi

Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, quý Thầy Cô Bộ môn Di truyền giống nông

nghiệp, phòng thí nghiệm Di truyền giống nông nghiệp - Khoa Nông Nghiệp và

Sinh Học Ứng Dụng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình làm

luận văn

Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Ngô Thụy Diễm Trang, thầy

Nguyễn Châu Thanh Tùng, đã tận tình hướng dẫn, động viên và cung cấp nhiều kiến

thức quý báo để em hoàn thành tốt luận văn này

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình cô Đào Thị Nốt (xã Mỹ Khánh,

TP Long Xuyên, An Giang) đã hỗ trợ và giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian làm

việc ngoài hiện trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn chung dự án Sumitomo:

Trần Văn Chiến, Nguyễn Văn Tèo, Nguyễn Minh Thiện, Lê Quốc Vinh, Trần

Thế Việt đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành biết ơn ông bà, cha mẹ và những người thân trong gia đình đã

luôn chia sẻ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương

trình đại học

Trân trọng!

Cần Thơ, ngày 19 tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thanh Cường

Trang 5

iii

TÓM TẮT

Đề tài “Ảnh hưởng của phân bón xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất đậu

xanh Vigna radiata (L) R Wilczek ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu tại Mỹ Khánh,

TP Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng

của loại phân này đến các đặc tính nông học, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cây đậu xanh Làm cơ sở cho những nhận định về tính khả thi cũng như hiệu quả của loại phân bón này Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại bao gồm: NT1 bón theo kinh nghiệm nông dân, NT2 và NT3 bón NPK + phân xỉ thép, NT4 là nghiệm thức đối chứng chỉ bón NPK, NT5 bón NPK + vôi Mỗi lô có diện tích 30 m2 và chọn ra mỗi nghiệm thức một ô ngẫu nhiên có diện tích 1m2 để tiến hành đo đạc, theo dõi các chỉ tiêu nông học và thu mẫu năng suất

Kết quả thí nghiệm cho thấy hầu hết các chỉ tiêu nông học thì không khác nhau giữa nghiệm thức bón phân xỉ thép với nghiệm thức đối chứng trong cùng một vụ (ngoại trừ chỉ tiêu chiều cao cây ở vụ Hè Thu) Các chỉ tiêu năng suất tương đồng nhau giữa năm nghiệm thức (ngoại trừ chỉ tiêu số hạt trên trái ở vụ Đông Xuân) Trong cùng một nghiệm thức đối với các chỉ tiêu như: chiều cao cây, chiều dài trái, tổng số trái đậu, số hạt trên trái có xu hướng tăng ở vụ Hè Thu so với vụ Đông Xuân, ngược lại tổng số nhánh, số nhánh mang trái, trọng lượng 100 hạt, năng suất lí thuyết và năng suất thực tế lại có chiều hướng giảm Còn lại các chỉ tiêu chiều dài trái, mật độ cây, số hạt trên trái thì giữ được sự ổn định

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài việc bón bổ sung phân xỉ thép chưa mang lại ảnh hưởng tích cực cho việc cải thiện các chỉ tiêu nông học cũng như năng suất câu đậu xanh

Từ khóa: chỉ tiêu nông học, năng suất, đậu xanh (Vigna radiata (L.) R Wilczek), phân xỉ

thép, N, P, K

Trang 6

iv

MỤC LỤC

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

TÀI LIỆU THAM KHẢO vii

DANH SÁCH HÌNH viii

DANH SÁCH BẢNG ix

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu 3

2.2 Sơ lược về cây đậu xanh 4

2.2.1 Nguồn gốc 4

2.2.2 Đặc tính thực vật cây đậu xanh 4

2.2.3 Nhu cầu sinh thái của cây đậu xanh 6

Trang 7

v

2.3 Lợi nhuận thu được từ cây đậu xanh 8

2.4 Các loại phân bón sử dụng cho thí nghiệm và đặc điểm của chúng đối với sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh 8

2.4.1 Thành phần các nguyên tố đa lượng có trong phân vô cơ 8

2.4.2 Phân trung lượng và vi lượng - thành phần các nguyên tố trung lượng và vi lượng có trong phân xỉ thép 12

2.5 Liều lượng phân bón và kĩ thuật trồng đậu xanh 16

2.5.1 Liều lượng phân bón 16

2.5.2 Thời vụ gieo trồng 17

2.5.3 Chuẩn bị đất và gieo hạt 17

2.5.4 Chăm sóc 18

2.6 Một số chỉ tiêu liên quan đến đặc điểm hình thái nông học và năng suất 18

2.6.1 Chiều cao cây 18

2.6.2 Số trái trên cây 18

2.6.3 Chiều dài trái 19

2.6.4 Trọng lượng 1000 hạt 19

2.6.5 Năng suất 19

2.6.6 Sâu bệnh 19

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Phương tiện và vật liệu nghiên cứu 21

Trang 8

vi

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 21

3.3.2 Công thức phân bón cho 5 nghiệm thức 23

3.3.3 Liều lượng phân bón cho 5 nghiệm thức 23

3.3.4 Thời điểm bón phân và cách bón phân cho 5 nghiệm thức 25

3.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.3.6 Phương pháp thu và phân tích mẫu 27

3.4 Phương pháp xử lí số liệu 28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 29

4.1 Ghi nhận tổng quát: 29

4.2 Các chỉ tiêu nông học 29

4.2.1 Chiều cao cây (cm) 29

4.2.2 Tổng số nhánh trên cây và số chồi mang trái 32

4.2.3 Chiều dài trái 34

4.2.4 Mật độ cây 35

4.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 36

4.3.1 Tổng số trái trên cây 36

4.3.2 Số hạt trên trái 37

4.3.3 Trọng lượng hạt chắc 37

4.3.4 Trọng lượng 100 hạt 38

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

viii

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chánh của thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 3

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí các nghiệm thức 22

Hình 4.1 Chiều cao cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 30

Hình 4.2 Tổng số nhánh trên cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 32

Hình 4.3 Số chồi mang trái trên cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 33

Hình 4.4 Mối tương quan giữa tổng số nhánh và số chồi mang trái ở vụ Đông Xuân 34

Hình 4.5 Chiều dài trái của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 35

Hình 4.6 Mật độ cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 35

Hình 4.7 Tổng số trái trên cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 36

Hình 4.8 Số hạt trên trái của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 37

Hình 4.9 Trọng lượng hạt chắc của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 38

Hình 4.10 Trọng lượng 100 hạt của các nghiệm thức ở vụ Đông Xuân và Hè Thu 39

Hình 4.11 Năng suất lý thuyết giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 40

Hình 4.12 Năng suất thực tế giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu 42

Trang 11

ix

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Lợi nhuận kinh tế thu được từ cây đ ậu xanh 8

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của phân xỉ thép 13

Bảng 2.3 So sánh hàm lượng (%) Mg giữa phân xỉ thép với các loại phân khác 13

Bảng 2.4 So sánh hàm lượng (%) S giữa phân xỉ thép với các loại phân khác 14

Bảng 2.5 So sánh hàm lượng (%) Ca giữa phân xỉ thép với các lo ại phân khác 15

Bảng 3.1 Công thức phân bón áp dụng cho 5 nghiệm thức ở hai vụ đậu 23

Bảng 3.2 Liều lượng phân bón lót cho 5 nghiệm thức 24

Bảng 3.3 Liều lượng phân bón thúc cho 5 nghiệm thức 25

Bảng 3.4 Hàm lượng dinh dưỡng của phân bón áp dụng cho 5 nghiệm thức 25

Bảng 3.5 Chỉ tiêu nông học, năng suất và năng suất thành phần 26

Bảng 4.1Lợi nhuận kinh tế (đồng/ha/vụ) của các nghiệm thức ở vụ Đông Xuân 43

Bảng 4.2 Lợi nhuận kinh tế (đồng/ha/vụ) của các nghiệm thức ở vụ Hè Thu 44

Trang 12

1

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Đậu xanh Vigna radiata (L) R Wilczek là loài cây họ Đậu (Leguminoseae),

thuộc loài hoa màu ngắn ngày (sinh trưởng 63 – 75 ngày), dễ trồng trong hệ thống luân canh tăng vụ trên đất lúa, đây là một loài cây trồng quen thuộc ở châu Á và ở Việt Nam

Đậu xanh cũng như nhiều loài cây trồng khác rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, muốn nâng cao năng suất ngoài việc nắm chắc các đặc điểm sinh trưởng của cây đậu cần phải có sự tác động của các biện pháp kĩ thuật canh tác thích hợp Trong đó bón phân đóng một vai trò quan trọng Nhưng bón phân gì? Liều lượng như thế nào? Ảnh hưởng của loại phân đó đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất cây đậu xanh ra sao? là vấn đề cần phải nghiên cứu

Đã có nhiều nghiên cứu về các loại phân khác nhau và liều lượng khác nhau lên năng suất đậu xanh: Tại Đại học Hồi giáo Azad, Shahre-rey, Tehran, Iran (2009), năng suất hạt đạt tối đa 224 g m-2

đạt được ở liều lượng 90 kg N ha-1 và

120 kg P2O5 ha-1 (Sadeghipour, et al., 2009) Tại Lakhaoti, Bulandshahr (U.P.)

(Ấn Độ) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón bổ sung phân lân và phân bón sinh học (phosphorus fertilization and bio-fertilizer) đối với năng suất đậu xanh (Singh

et al., 2013) Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiều mức tương tác bằng việc bón

phân ở các liều lượng khác nhau lên tăng trưởng và năng suất đậu xanh vụ hè thực hiện tại trường Đại học Nông nghiệp Sher-e-Bangla, Bangladesh (Md Salah

Uddin et al., 2009) Ở Việt Nam, nghiên cứu tuyển chọn chủng nấm Trichoderma

spp phân giải cellulose mạnh để sản xuất phân hữu cơ vi sinh và nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đối với sinh trưởng và năng suất đậu xanh thực hiện tại Huế

(Trần Thị Lệ và ctv., 2012)

Bên cạnh các nghiên cứu về phân bón vô cơ, phân bón sinh học cho cây đậu xanh thì thời gian gần đây đã có nhiều nghiên cứu về việc bón bổ sung các loại phân xỉ cho cây trồng như: xỉ kiềm để cải tạo đất phèn đã được thực hiện ở nhiều nước hay phosphogypsum có thể cải thiện tính chất của đất như pH, đất dẫn điện (EC), khả năng trao đổi cation (CEC), trao đổi Ca, Mg, và tăng năng suất cây

Trang 13

2

trồng (Alva & Sumner, 1990) Xỉ canxi silicat làm giảm độ acid và tăng tích lũy

P, Si và trao đổi Ca trong đất (Barbosa Filho et al., 2004) Tuy nhiên chưa có

nghiên cứu về ảnh hưởng của phân xỉ thép trên cây đậu xanh Theo MacNaeidhe

và O'Sullivan,(1999) bón phân xỉ thép lâu dài có chứa kim loại nặng có thể dẫn đến việc tích lũy độc tố trong đất theo thời

Đây là một sản phẩm rất mới mẻ với thị trường phân bón Việt Nam Không

có thông tin về ảnh hưởng của việc áp dụng phân bón này trên đặc điểm hóa lý của đất phù sa và năng suất, chất lượng cây trồng cũng như môi trường, đặc biệt

là ở ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long) Vì vậy, triển khai nghiên cứu về sự ảnh hưởng của việc áp dụng phân bón này lên môi trường đất cũng như chất

lượng sản phẩm nông nghiệp ở ĐBSCL là điều cần thiết Do đó đề tài: “Ảnh

hưởng của phân bón xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất đậu xanh Vigna radiata (L) R Wilczek ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu tại Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Khảo sát ảnh hưởng của phân bón xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất đậu xanh, đồng thời đánh giá lợi nhuận kinh tế của việc sử dụng phân xỉ thép trong việc sản xuất đậu xanh so với các loại phân hóa học khác

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Khảo sát đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của đậu xanh

- Đánh giá lợi nhuận kinh tế của các công thức phân bón

1.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Thu thập tài liệu về qui trình kĩ thuật và kinh nghiệm trồng đậu xanh của nông dân

- Tìm hiểu về tác dụng của phân bón đối với cây đậu xanh

- Bố trí thí nghiệm theo mục tiêu nghiên cứu

- Theo dõi, đo đếm và ghi nhận các thông số tăng trưởng của cây đậu ở thời điểm ra hoa, các thông số cấu thành năng suất hạt đậu xanh ở thời điểm thu hoạch

- Đánh giá lợi nhuận kinh tế các công thức phân bón

Trang 14

3

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu

Mỹ Khánh là một xã trực thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Tọa

độ địa lý: Thành phố Long Xuyên: 10°22′22″B 105°25′33″Đ Xã Mỹ Khánh: 10°22′54″B - 105°23′09″Đ Thành phố Long Xuyên nằm bên bờ sông Hậu cách thành phố Hồ Chí Minh 189 km về phía Tây Nam, cách biên giới Campuchia 45 km đường chim bay Tây bắc giáp huyện Châu Thành, đông bắc tiếp giáp với huyện Chợ Mới Tây giáp huyện Thoại Sơn với nam giáp quận Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ Long Xuyên là thành phố trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang

Hình 2.1 Bản đồ hành chánh của thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang

Ghi chú: Xã Mỹ Khánh, TPLong Xuyên, An Giang – k hu vực bố trí thí nghiệm

Trang 15

4

Đặc điểm nhóm đất: An Giang là một tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng ĐBSCL Tổng diện tích đất nông nghiệp là 246.821 ha , trong đó đất trồng lúa chiếm hơn 82% Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất

đa dạng Mỗi một vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau, với những thay đổi về chất đất, địa hình, hệ sinh thái và tập quán canh tác

Đất phù sa ở An Giang có nguồn gốc và môi trường trầm tích đa dạng Đặc tính chung của đất phù sa ở đây là chứa nhiều hữu cơ , pH thấp, ít bị bào mòn, xâm thực mà chủ yếu luôn được bồi đắp hàng năm với mức độ khác nhau trong những điều kiện trầm tích khác nhau Phân bố chủ yếu ven sông Tiền , sông Hậu

và một phần nhỏ trên sông Vàm Nao, gồm doi sông, cồn sông Đất do phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp , hàm lượng dinh dưỡng cao, không chứa ion gây độc cho cây trồng Diện tích khoảng 1.354 ha Ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng diện tích đất toàn tỉnh với khoảng 156.507 ha, chủ yếu phân

bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc

(angiang.gov.vn)

2.2 Sơ lƣợc về cây đậu xanh

2.2.1 Nguồn gốc

Cây đậu xanh tên tiếng Anh là Mungbean hay Green bean, tên khoa học là

Vigna radiata (L) R Wilczek

Cây đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, được phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trồng rộng rãi ở Ấn Độ và thung lũng sông Nin (Ai Cập)

2.2.2 Đặc tính thực vật cây đậu xanh

Đặc điểm hình thái của cây đậu xanh

Rễ đậu xanh cũng như các cây họ đậu khác là rễ cọc Tuy nhiên, đâu xanh có hệ

rễ bên rất phát triển Rễ cọc phát triển từ rễ mầm của phôi, rễ có thể ăn sâu tới

80-100 cm Thông thường, rễ phân bố chủ yếu ở lớp đất 0-30 cm (chiếm tới 85 - 90

% trọng lượng rễ) Nốt sần đậu xanh xuất hiện rất sớm (sau gieo 10 - 15 ngày) và

nhiều Nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm (N) Rhizobium sp Cường độ

Trang 16

100 cm tùy giống Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân từ ngày thứ 20 đến khi ra hoa, quả tương đối ổn định có thể đạt 1 - 1,5 cm/ngày Khi quả hình thành, tốc độ sinh trưởng thân giảm dần và sau khi thu hoạch lần 1, sinh trưởng thân hầu như đình lại (0 - 0,2 cm/ngày)

Cành:

Đậu xanh thường có 2 - 4 cành, tùy thuộc ở giống và điều kiện canh tác Cành mọc từ nách lá kép đầu tiên Các cành đầu tiên xuất hiện khi có 4 - 5 lá trên thân chính

Đậu xanh thường chỉ có cành cấp I Nếu trồng dày, số cành giảm rõ rệt thậm chí không phân cành

Lá đậu xanh là lá kép có 3 lá chét Khi đậu mọc, 2 lá mầm tách ra và đôi lá thật đầu tiên xuất hiện, đó là 2 lá đơn, mọc đối Tiếp sau đó mới xuất hiện các lá kép Lá kép mọc cách, lá thường to bản và cả 2 mặt lá đều có lông tơ Độ dày của lông tùy thuộc vào giống

Số lá trên thân chính thường 8 - 10 lá Chỉ số diện tích lá của đậu xanh thường chỉ đạt 2 - 3 do phiến lá to, lá thường nằm ngay nên tỷ lệ che khuất cao Diện tích lá đậu xanh đạt cao nhất khi bắt đầu thu hoạch và giảm nhanh trong thời gian thu hoạch

Lá trên cành cũng to và có màu sắc như lá trên thân chính

Hoa đậu xanh mọc thành chùm ở nách lá Cuống hoa tự tương đối dài, có thể đạt 5 - 10 cm Đối với các giống địa phương cũ cuống hoa chỉ đạt 5 - 10 cm vì vậy quả ra rải rác, khó thu hoạch Với những giống cải tiến, hoa vị trí thấp có

Trang 17

40 ngày tùy giống và điều kiện canh tác

Hoa đậu xanh là hoa lưỡng tính, cánh tràng màu xanh tím, cánh hoa vàng nhạt Sự thụ phấn được tiến hành trước khi hoa nở 3 - 5 giờ, vì vậy hoa chủ yếu tự thụ phấn, tỷ lệ giao phấn trong tự nhiên chỉ chiếm khoảng 2%

Tổng số hoa/cây biến động 30 - 120 hoa, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 150-200 hoa Nhưng tỷ lệ đậu quả của đậu xanh thường thấp, chỉ đạt 10 - 20%

Có lẽ đây cũng là yếu tố hạn chế năng suất đậu xanh

Quả và hạt đậu xanh:

Quả xuất hiện 1- 2 ngày sau khi hoa nở và đã có độ dài 1 - 1,5 cm

Quả lớn nhanh trong khoảng 5 - 7 ngày đầu và đạt kích thước tối đa vào khoảng 8 - 10 ngày sau khi hoa nở Quả dài 8 - 13 cm tùy từng giống

Quả non màu xanh, có lông Vỏ quả non có thể quang hợp được Khi hạt chín, vỏ quả khô dần và chuyển sang màu nâu tới đen Khi vở quả đen hoàn toàn

là khi hạt đã chín đẫy, có thể thu hoạch Một số giống khi chín vỏ quả màu tro xám

Trong điều kiện bình thường (nhiệt độ 28 - 35ºC) thời gian từ khi hoa nở đến khi quả chín chỉ khoảng 14 - 20 ngày

Hạt đính thành một hàng trong vỏ quả Số hạt/quả trong điều kiện bình thường khoảng 8 - 14 hạt

Trọng lượng hạt đậu xanh:

Trọng lượng hạt đậu xanh thay đổi nhiểu từ 35 - 80g/1000 hạt, trung bình

là 50g, cá biệt lên đến hơn 80g Các giống hiện trồng ở nước ta có trọng lượng

1000 hạt từ 40 - 72g Các nhà chọn giống cho rằng muốn nâng cao năng suất đậu xanh cần quan tâm đến yếu tố này vì họ có nhận xét là phần lớn các giống tốt có trọng lượng 1000 hạt trên 65g (Phạm Văn Thiều, 1999)

2.2.3 Nhu cầu sinh thái của cây đậu xanh

Đất:

Cây đậu xanh mọc được trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất thịt pha sét, tơi xốp, thoáng (không úng), màu mỡ, nhiều hữu cơ Đất cồn, phù sa ven sông rất thích hợp để trồng đậu xanh Đậu xanh chịu được đất hơi chua (pH = 4,5

Trang 18

ra

Ánh sáng:

Cây đậu xanh ưa sáng Thiếu nắng hoặc trồng xen với các loài cây khác sẽ làm cây đậu mảnh khảnh, dễ đổ ngã, hoa rụng nhiều và năng suất giảm Khi có đủ ánh sáng thì lá sẽ dày, có màu xanh đậm, hoa quả nhiều, dễ đạt năng suất cao thì năng suất kỉ lục của đậu xanh là 4 tấn/ha

Nước:

Cây cần cung cấp một lượng nước khoảng 300 - 600mm/vụ, mùa nắng cần cung cấp nước khi ẩm độ đạt dưới 50% nước hữu dụng (đất bở tơi, se không dính) Thiếu nước vào giai đoạn quả đang tạo hạt sẽ làm hạt đậu xanh dễ bị hiện tượng “ đậu đá” (Chu Thị Thơm, 2005)

Độ ẩm thường xuyên cho cây đậu xanh mọc tốt là 70 - 80%, khi ẩm độ xuống dưới 50% thì năng suất sẽ giảm Có hai thời kì không thể thiếu ẩm là lúc mọc và khi ra hoa, đậu quả Thời gian này độ ẩm của đất cần phải từ 80 - 90% (Phạm Văn Thiều, 1999)

Trang 19

8

2.3 Lợi nhuận thu được từ cây đậu xanh

Phỏng vấn nông hộ Đào Thị Nốt xã Mỹ Khánh, thành phố Long Xuyên, An Giang lợi nhuận kinh tế thu được từ cây đậu xanh ở vụ trước (Bảng 2.1)

Bảng 2.1 Lợi nhuận kinh tế thu được từ cây đậu xanh

2.4 Các loại phân bón sử dụng cho thí nghiệm và đặc điểm của chúng đối với sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh

Yêu cầu các chất dinh dưỡng của cây đậu xanh cũng giống như một số cây

họ đậu khác là cần có đủ các nguyên tố N, P, K, Ca, Mg, Mo, B, Mn, Cu, Zn,…Tuy là cây họ đậu nhưng vẫn cần được bón bổ sung một lượng đạm do vi khuẩn nốt sần cung cấp không đủ cho cây, cần chú ý nhiều vào giai đoạn đầu khi chưa có nốt sần

2.4.1 Thành phần các nguyên tố đa lượng có trong phân vô cơ

Phân đạm

Cây hút đạm chủ yếu ở dạng NH4+

và NO3- Các dạng đạm này phần lớn có trong phân đạm hóa học, một số rất ít từ phân hữu cơ

( Nguồn: Phỏng vấn nông hộ Đào Thị Nốt, xã Mỹ Khánh, thành phố Long Xuyên, An Giang.)

Chi phí sản xuất: bao gồm chi phí phân, thuốc trừ sâu, thuốc k ích thích tăng trưởng cho cây,đậu giống,… Chi phí công lao động: bao gồm tiền xăng bơm nước tưới, tiền thuê nhân công làm đất, tỉa đậu, thu hoạch…

Trang 20

9

Đạm là thành phần quan trọng trong các chất hữu cơ rất cơ bản và cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây như chất diệp lục, nguyên sinh chất, axit nucleic (AND và ARN), các loại men, các chất điều hòa sinh trưởng,…

Đạm là yếu tố chính, quyết định sự phát triển của các mô tế bào sống của cây Bón đủ đạm cây sinh trưởng nhanh, ra nhiều chồi, lá và cành, hoa quả nhiều

và lớn, tích lũy được nhiều chất nên cho năng suất cao chất lượng tốt Là yếu tố chính quyết định năng suất cây Thiếu đạm cây sẽ sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàn, ít hoa và quả, năng suất thấp Thừa đạm cũng không tốt, cây có thể phát triển mạnh nhưng mềm yếu, dễ ngã đỗ, dễ nhiễm sâu bệnh, hạt và quả có thể nhiều nhưng chất lượng kém (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2005)

Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, peptit, các axitamin, các enzim và nhiều loại vitamin trong cây Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều Lá cây có kích thước to, màu xanh Lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh (Đường Hồng Dật, 2002)

Đạm là chất cấu tạo nên protit, là cơ sở của sự sống Không có đạm vạn vật không sống được Thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, đẻ nhánh kém, ít phát triển mầm non, phân cành ra lá kém, lá nhỏ, quang hợp kém, từ đó ra hoa kết quả muộn, ít hoa, ít quả khả năng tích lũy chất có đạm – đường đều kém, dẫn tới năng suất giảm hoặc không có thu hoạch (Lê Văn Tri, 2001)

Phân Urê (CO(NH2) 2 )

Phân urê 44 – 48% N nguyên chất Loại phân này chiếm 59% tổng số các loại phân đạm được sản xuất trên thế giới Urê là loại phân có tỉ lệ N cao nhất Trên thị trường có bán 2 loại phân urê có chất lượng giống nhau:

- Loại tinh thể màu trắng hạt tròn, dễ tan trong nước, có nhược điểm là hút

ẩm mạnh

- Loại có dạng viên nhỏ như trứng cá Loại này có them chất chống ẩm nên

dễ bảo quản, dễ vận chuyển và được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp Phân urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau Phân này bón thích hợp trên đất chua phèn Phân urê dùng để bón thúc Có thể pha loãng theo nồng độ 0.5% - 1.5% để phun lên lá

Trang 21

10

Phân này cần được bảo quản kĩ trong túi polyêtylen và không được phơi ra nắng Bởi vì khi tiếp xúc với không khí và ánh nắng urê rất dễ phân hủy và bay hơi Các túi phân mà khi đã mở ra cần được dùng hết ngay trong thời gian ngắn Trong quá trình sản xuất, urê thường lên kết với nhau tạo thành biurat Đó là chất độc hại đối với cây trồng Vì vậy, trong phân urê không được có quá 3% biurat đối với cây trồng cạn và 5% đối với lúa nước (Đường Hồng Dật, 2002)

Phân lân:

Lân có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cây trồng lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây Lân tham gia vào thành phần các enzim, các protein, tham gia vòa quá trình tổng hợp các axit amin Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo them điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nẩy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều Lân làm tăng đặc tình chống chịu của cây đối với các yếu

tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một só loại bệnh hại… Ở một số loại đất trên đất nước ta, lân trở thành yếu tố hạn chế dối với năng suất cây trồng, đặc biệt là hầu hết các loại đất trồng lúa ở các tỉnh phía Nam Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm Hiệu suất của phân lân khá cao Bón quá nhiều phân lân

có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng Vì vậy, cần bón thêm phân

vi lượng, nhất là Zn (Đường Hồng Dật, 2002)

Cây hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat hóa trị (I) (H2PO4-) và hóa trị (II) (HPO42-) Ngoài ra cây cũng có thể hút được một số hợp chất lân hữu

cơ đơn giản

Các chất hữu cơ và các khoáng vật có trong đất đều chứa lân Phần lớn lân trong đất ở các dạng photphat canxi, apatit, các photphat sắt, phân khó hòa tan nên cây khó sử dụng Chỉ một phần rất nhỏ tan trong nước hoặc tan trong axit yếu cây mới sử dụng được gọi là lân dễ tiêu Phần lớn lân ở các dạng hữu cơ cũng phải qua quá trình chuyển thành dễ tiêu cây mới có thể sử dụng được (Lê Văn Tri, 2001)

Phân kali:

Nhóm phân bón cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây

Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lường trong quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng cho cây

Trang 22

11

Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không thuận lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn , chịu rét

Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả, làm chi màu sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường trong mía

Trên phương diện khối lượng, cây trồng cần nhiều K hơn N Nhưng vì trong đất có tương đối nhiều K hơn N và P, cho nên người ta ít chú ý đến việc bón K cho cây

Trong cây K được dự trữ nhiều ở thân lá, rơm rạ, cho nên sau khi thu hoạch

K được trả lại cho đất một lượng lớn

K có nhiều trong nước ngầm, nước tưới trong đất phù sa bồi hàng năm Vì vậy, việc bón phân K cho cây không được chú ý đến nhiều (Đường Hồng Dật, 2002)

Phân Kali clorua: (KCl)

Phân có dạng bột màu hồng như muối ớt Nông dân ở một số nơi gọi là phân muối ớt Cũng có dạng Kali clorua có màu xám đục hoặc xám trắng Phân được kết tinh thành hạt nhỏ

Nếu không lẫn với các muối khác thì có màu trắng xám chứa 50 - 60% K2O Nếu còn lẫn một phần muối ăn và magiê thì kali clorua có màu trắng lấm tấm hồng chứa 40% K2O và khoảng 24% NaCl, 6% CaSO4 (Lê Văn Tri, 2001)

KCl là loại phân chua sinh lý Phân này khi để khô có độ rời tốt, dễ bón Nhưng nếu để ẩm kết dính lại với nhau khó sử dụng

Hiện nay phân Kali clorua được sản xuât với khối lượng lớn trên thế giới và chiếm đến 93% tổng lượng phân kali

Kali clorua có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau.Có thể dùng phân này để bón lót hoặc bón thúc Bón lúc cây sắp ra hoa làm cho cây cứng cáp, tăng khả phẩm chất nông sản

Phân DAP:

DAP là viết tắt của cụm từ hóa học Đi amôn phốt phát có công thức (NH4)2HPO4 DAP được sản xuất từ quặng Apatit, Amoniac và a xít Đây là loại phân có 2 thành phần, 18% đạm và 46% lân Nếu chỉ xét về hàm lượng của lân dễ tiêu thì 1 kg DAP có giá trị bằng 2,8 kg supe lân hoặc lân nung chảy Điều đặc

Trang 23

12

biệt, DAP là loại phân trung tính và tất cả lân trong DAP đều tan nhanh trong nước nên cây rất dễ hấp thu, mang lại hiệu quả rõ rệt và có thể bón lót cũng như bón thúc cho tất cả các loại cây trồng trên tất cả các chân đất khác nhau

DAP trước đây chỉ được nông dân ĐBSCL ưa chuộng với nhu cầu khoảng 300.000 tấn/năm Theo nông dân trồng lúa, việc sử dụng DAP bón vào 2 giai đoạn 7 - 10 ngày sau sạ và 20 - 25 ngày sau sạ thì lúa đẻ nhánh tốt hơn, chồi mập hơn và mã lúa có màu xanh bền Hiệu quả của DAP đặc biệt rõ ở vụ hè thu, khi đất vừa thu hoạch xong đã xuống giống ngay không có thời gian nghỉ Nhờ các

ưu điểm trên mà thị trường DAP đã lan rộng ra cả nước với nhu cầu lên tới 750.000 - 900.000 tấn/năm Trước đây 100% phân DAP đều phải nhập khẩu với giá khá cao, nhưng từ đầu năm 2012 đến nay có thêm DAP Đình Vũ ở Hải Phòng

Tuy là loại phân có hàm lượng cao, dễ tiêu rất tốt cho cây nhưng DAP cũng như các loại phân lân khác là lượng cây hút được không cao Theo kết quả thực nghiệm tại Viện Lúa ĐBSCL, hiệu quả sử dụng phân lân của cây lúa thường chỉ đạt 20-30% do khi bón vào ruộng, nhất là trên ruộng bị nhiễm phèn, thì một lượng lớn lân bị biến thành dạng khó tiêu do các cation có trong đất như Al3+

Phân xỉ thép là phân có dạng bột, màu xám tro, khó tan trong nước Mỗi túi phân có trọng lượng là 25kg Được sản xuất bởi công ti Hóa chất Sumitomo – Nhật Bản (Bảng 2.2)

Trang 24

13

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của phân xỉ thép

Medium and micro

Phân magie (Mg):

Magie là thành phần của các chất diệp lục, nó giúp cho cây trồng có khả năng quang hợp tốt Magie gắn kết các khâu quá trình chuyển hóa hiđrat cacbon

và tổng hợp các axit nucleic, nó còn tham gia vào thúc đẩy quá trình chuyển hóa

và hấp thụ đường của cây Thiếu magiê cây có gân lá bị vàng úa

Bảng 2.3 So sánh hàm lượng (%) Mg giữa phân xỉ thép với các loại phân khác

Phân bón có chứa hàm lƣợng Mg Hàm lƣợng (%) Mg có trong phân

Phân lân Văn Điển 17 – 20% Mg(*)

Phân sunphat kali – magiê 5 – 7% Mg(*)

Phân borat magiê 19 % Mg.(*)

Phân xỉ thép 6,4% Mg

( ( *) Nguồn: Đường Hồng Dật, 2002)

Trang 25

14

Phân lưu huỳnh (S)

Nó là thành phần của axit amin, giúp cho quá trình trao đổi chất trong cây được thuận lợi, cấu trúc các protein vững chắc giúp cây tổng hợp tích lũy chất dầu Thiếu lưu huỳnh, lá cây chuyển sang màu vàng úa, gân lá biến sang màu vàng, các chồi cây sinh trưởng kém

Bảng 2.4 So sánh hàm lượng (%) S giữa phân xỉ thép với các loại phân khác

Phân bón có chứa hàm lượng S Hàm lượng (%) S có trong phân

Phân supe lân 12% S(*)

Phân sunphat kali 18% S(*)

Phân sunphat amôn (SA) 23% S(*)

Phân sunphat kali – magiê chứa 16 – 22% S(*)

Phân xỉ thép 0.07% S

( ( *) Nguồn: Đường Hồng Dật, 2002)

Phân canxi (Ca)

Canxi là thành phần của tế bào, trong tế bào canxi ở dưới dạng canxi Canxi đảm bảo cho quá trình phân chia tế bào được diễn ra bình thường Canxi đảm bảo sự bền vững của cấu trúc nhiếm sắc giúp màng tế bào vững chắc Canxi hoạt hóa các loại enzim, làm trung hòa các axit hữu cơ trong cây, nên nó có tác dụng giải độc cho cây

pectat-Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón vôi có tác động tốt trong việc cải tạo đất, giải độc, giảm chua cho đất Ngoài ra, còn cung cấp lượng canxi cần thiết cho cây

Trang 26

15

Bảng 2.5 So sánh hàm lượng (%) Ca giữa phân xỉ thép với các loại phân khác

Phân bón có chứa hàm lƣợng Ca Hàm lƣợng (%) Ca có trong phân

Phân NPK Văn Điển 13 – 14% Ca(*)

Phân supe lân 22 – 23% Ca(*)

vi lượng này, sẽ kém sinh trưởng và phát triển, các hoạt động trở nên rối loạn Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và vật nuôi khi sử dụng sản phẩm nông sản

Phân vi lượng có thể sử dụng để bón vào đất, trộn với các loại phân khác để bón Có thể bón phân lên lá cây, ngâm hạt giống, dùng để nhúng rễ, nhúng honm trước khi trồng

Phân bo (Bo)

Đây là chất đảm bảo cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn cây Bo thúc đẩy quá trình tổng hợp các protit, lignin Nó còn tham gia vào việc chuyển hóa các hydrat cacbon, thúc đẩy quá trình phân chia tế bào Bo tăng cường việc hút canxi của cây, đảm bảo cân đối tỉ lệ K:Ca trong cây Bón bo cho cây vào thời kỳ chuẩn bị ra hoa sẽ làm tăng tỉ lệ đậu hoa, quả

Nhìn chung cây bị thiếu B khả năng sinh trưởng kém, lá nhơ, có màu nhạt, cây đâm chồi lách nhiều, rễ phát triển kém,…

Trang 27

là super lân (18% P2O5) và kali clorua (KCl, 60% K2O) Theo công thức bón của Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc như trên thì lượng các loại phân khoáng cần cho 1 ha là 65 kg urê (30 kg N), 277 kg super lân (50 kg P2O5) và 83

kg KCl (50 kg K2O) (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Mạnh Cường, 2008)

Còn theo Chu Thị Thơm và ctv.,(2005) cho biết cây đậu xanh hấp thụ N và

P nhiều nhất lúc 30 - 50 ngày sau khi gieo, cần K nhất lúc 30 ngày sau khi gieo Phân hóa học nên chia làm nhiều lần bón:

Bón lót: từ 3 ngày trước khi gieo, chọn một trong hai công thức sau:

Công thức 1: 100 - 300 kg DAP/ha + 30 - 50 kg KCl/ha

Công thức 2: 40 - 50 kg Urê/ha + 250 - 300 kg Super lân + 30 - 50 kg KCl/ha

Phân bón lót nên rải đều trước khi bừa lần cuối Ở loại đất phù sa được bồi hàng năm có thể giảm hoặc không cần bón phân Kali cho ruộng đậu

Bón thúc lần 1: 40 - 45 kg Urê/ha lúc 20 ngày sau khi gieo để nuôi mầm hoa

Bón thúc lần 2: 40 - 45 kg Urê/ha lúc 40 ngày sau khi gieo để nuôi quả và hạt

Tóm lại, lượng phân bón hóa học cho đậu xanh mỗi hecta theo công thức: (50 - 60) N + (50 - 60) P2O5 + (30 - 40) K2O, với N chia đều ở 3 lần bón

Trang 28

17

2.5.2 Thời vụ gieo trồng

Người ta thường trồng đậu xanh vào các vụ sau:

Vụ đông xuân: gieo từ tháng 12 - 01 dương lịch và thu hoạch từ tháng 02 -

03 dương lịch Đây là thời vụ trồng chính, cây phát triển tốt và ít bị sâu bệnh, nhưng phải tốn chi phí tưới Thời vụ này thường canh tác đậu xanh trên chân ruộng lúa mùa, trung mùa Là thời vụ cho năng suất cao và ổn định

Vụ xuân hè: thường trồng sau tết âm lịch Đậu xanh được gieo vào tháng 2 –

3 dương lịch và thu hoạch vào tháng 4 - 5 dương lịch trồng trên chân ruộng lúa đông xuân Trái chín vào đầu mùa mưa nên phải hái lúc vừa chin để hạt không bị giảm phẩm chất

Vụ hè thu: gieo từ tháng 4 - 5 dương lịch và thu hoạch 7 - 8 dương lịch trên chân đất rẫy, đất cát Thời vụ này dễ bị sâu bệnh tấn công (sâu xanh, sâu đục quả, bệnh khảm vàng, đốm lá, …) nên làm năng suất kém ổn định Đề phòng bị úng lúc cây con và thu hoạch quả đúng lúc khi quả vừa chín

2.5.3 Chuẩn bị đất và gieo hạt

Việc chuẩn bị đất tùy thuộc vào thành phần của đất mà có các yêu cầu khác nhau, vì vậy cây đậu xanh ngoài rễ cọc còn có rất nhiều rễ chùm, có chức năng hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây

Đất nhiều cát: không cần cày xới, chỉ cần diệt cỏ, sau đó có thể tiến hành gieo hạt ngay

Đất thịt: đất cần được cuốc hoặc xới theo hàng trước khi gieo hạt Cần diệt sạch cỏ giữa các hàng xới (nếu có)

Đất sét nặng: cày cho đất tơi xốp nhưng không quá nhuyễn làm đất dễ bị đóng váng khi tưới

Việc chuẩn bị đất gồm hai công đoạn cơ bản : cày vỡ đất và làm lại đất trước khi gieo

Lượng hạt giống cần khoảng 3 - 4 kg/1000m2

Hạt cần độ nảy mầm trên 85%, đồng nhất về màu sắc, độ ẩm không quá 10%, không sâu bệnh Nên sử dụng giống của các công ti cung cấp hạt giống uy tín Đối với các giống mới trên nền đất tốt, mật độ 25 - 30 cây/m2 Đối với giống địa phương hay giống mới trên nền đất ít thâm canh mật độ dày hơn, khoảng 30 - 35 cây/m2

Hạt được gieo trên luống hay trên mặt ruộng Nên gieo hạt theo lối rạch hàng sâu khoảng 5cm hoặc dùng chày tỉa có khía cạnh để gieo hốc Phương pháp sạ ít tốn công, nhưng cho

Trang 29

18

năng suất kém vì khó chăm sóc Hạt sau khi gieo có thể phủ rơm để giúp đất giữ

ẩm, ít bị cỏ dại, bớt hiện tượng xì phèn nên cây đậu mọc tốt hơn Đậu gieo theo hàng với khoảng cách hàng cái 40 - 50cm, hàng con cách nhau 15 - 20cm, mỗi hốc để 2 cây (mật độ 20 - 30 cây/m2 là tốt nhất) Trồng quá dày làm cây dễ bị sâu bệnh và đỗ ngã

2.5.4 Chăm sóc

Dặm hạt và tỉa cây: sau khi gieo 3 - 5 ngày hầu hết cây đã mọc cần kiểm tra gieo dặm những chỗ hạt không mọc Sau khi gieo 10 - 15 ngày cây có 2 - 3 lá thật thì nhổ bỏ những cây xấu ở chỗ mọc dày, để lại cây tốt, phân bố đều để đảm bảo mật độ

Xới đất, vun gốc: xới đất vun gốc làm cho đất tơi xốp, tạo điều kiện cho bộ

rễ và vi sinh vật phát triển, hạn chế đỗ ngã và trừ cỏ Xới đất vun gốc 2 lần vào 15

và 30 ngày sau khi cây mọc, kết hợp các đợt bón phân thúc

Trừ cỏ: khi làm đất nên nhặt sạch cỏ Trước khi gieo hạt có thể phun thuốc trừ cỏ Xới đất vun gốc cũng là cách trừ cỏ tốt

Tưới nước: trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển có 3 giai đoạn cây đậu xanh cần đủ ẩm là giai đoạn nảy mầm, ra hoa và phát triển quả Tốt nhất là tưới bằng vòi phun hoặc thùng hoa sen Tưới tràn chỉ áp dụng khi cây lớn trên 30 ngày vì cây con chịu úng kém, không thể để nước ngập đất lâu quá 2 giờ

2.6 Một số chỉ tiêu liên quan đến đặc điểm hình thái nông học và năng suất 2.6.1 Chiều cao cây

Theo J.M Jobe và J.M Poeblman (1972) muốn có năng suất cao, đậu xanh cần có chiều cao tương đối khá Chiều cao là một thành phần kích thước của cây,

để đạt năng suất cao, cây cần đủ kích thước để tạo hoa và nuôi hạt

Chiều cao cây lúc trổ có tương quan thuận với năng suất theo Lâm Văn Hòa (1984; Nguyễn Bá Phú (1986); Hồ Thành Nhân (1996)

Theo AVRDC (Trung tâm nghiên cứu rau quả Châu Á) (1992) chiều cao cây không là tiềm năng suất nhưng lại có tương quan thuận với năng suất và trọng lượng 1000 hạt

2.6.2 Số trái trên cây

Đối với đậu xanh số trái trên cây và năng suất có tương quan rất chặt Qua

đó họ có thể dùng số trái trên cây như là một chỉ tiêu chọn lọc để đạt được năng suất cao (AVRDC, 1984)

Trang 30

19

Theo nghiên cứu của AVRDC (1980) (được trích dẫn bởi Trần Xuân Giang, 2012) thì trong mùa hè số trái trên cây tương quan thuận chặt chẽ với năng suất

Ở các vụ khác đều có kết quả biến động nhiều

Một số nghiên cứu tại trường Đại Học Cần Thơ cũng cho thấy rằng số trái trên cây và năng suất có tương quan thuận với nhau (Lâm Văn Hòa, 1984; Nguyễn Thị Xuân Loan, 1985; Đặng Hứa Thành, 1986; Nguyễn Bá Phú, 1986; Nguyễn Thị Mỹ Phụng, 1990) Tuy nhiên một số thí nghiệm khác lại thấy rằng giữa số trái trên cây và năng suất không có tương quan với nhau (Danh Phương, 1989; Hồ Thành Nhân, 1995)

2.6.3 Chiều dài trái

Đối với đậu xanh chiều dài trái càng dài thì số hạt trên trái càng nhiều (Nguyễn Bá Phú, 1986 và Lâm Văn Hòa, 1984)

Theo kết quả của AVRDC (1998), Huỳnh Hữu Phước (1987) thì chiều dài trái còn tương quan thuận với năng suất

2.6.6 Sâu bệnh

Dòi đục thân (Ophimyia phaseoli): thường xuất hiện khi cây còn non khoảng 10 – 12 ngày sau khi gieo Sâu đục trái (Etiella zinckenella): xuất hiện

Trang 31

20

khoảng 30 – 40 ngày sau khi gieo vào thời kì tăng trưởng chậm đến hết thời kỳ

tạo trái và hột Sâu xanh (Spodoptera exigua): xuất hiện suốt chu kỳ sinh trưởng

của cây

Bệnh khảm (cực vi khuẩn SMV): xuất hiện khoảng 30 – 70 ngày sau khi

gieo có thể nó xuất hiện từ giai đoạn tăng trưởng chậm đến cuối giai đoạn tạo trái

và hột Bệnh đốm lá (Cercospora canescens) và bệnh rỉ (Uromyces appendicuslatus): xuất hiện khoảng 50 – 60 ngày sau khi gieo vào giai đoạn phát triển của trái và hột

Trang 32

21

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013

- Thí nghiệm được bố trí và thực hiện tại đất của nông hộ Bà Đào Thị Nốt,

xã Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang

3.2 Phương tiện và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng áp dụng: đậu xanh Vigna Radiata (L.) R Wilczek, sử dụng

giống của Công ty giống cây trồng - Công ty TNHH TM Trang Nông

- Loại phân bón áp dụng cho các nghiệm thức: phân bón vô cơ dạng đơn bao gồm phân đạm (Urê), phân kali (KCl), phân DAP, phân super lân (P2O5), vôi (CaCO3), và phân xỉ thép

- Đất trồng đậu

- Cuốc, giá: dùng để làm đất Dao, búa, kéo, cọc cắm, dây chỉ, thước dây: dùng để chia lô nghiệm thức Bọc ni lông: để đựng mẫu, các bảng nghiệm thức, máy ảnh, viết, bút lông, cân đông hồ, sổ tay ghi chép…

- Cân đo trọng lượng của 100 hạt: model QT – 200, Adam Equipment, do

Úc sản xuất Máy đo độ ẩm: sử dụng máy đo độ ẩm chuyên dụng “Grain Moisture Tester Riceter f series” do Đài Loan sản xuất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Bố trí thí nghiệm

Sau khi thu mẫu đất đầu vụ, làm sạch cỏ, tạo mặt bằng tốt cho việc bố trí thí nghiệm, tiến hành chia lô và cắm bảng nghiệm thức Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại Diện tích cần thiết cho khu vực bố trí thí nghiệm: 30 m2/lô x 4 lần lặp lại x 5 công thức phân bón =

600 m2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày ở Hình 3.1

Mỗi một nghiệm thức chọn ra 5 cây ngẫu nhiên ở một khung ngẫu nhiên có diện tích 1m2 để tiến hành theo dõi các thông số tăng trưởng của đậu xanh ở thời điểm ra hoa và yếu tố cấu thành năng suất ở thời điểm thu hoạch đậu

Trang 34

23

3.3.2 Công thức phân bón cho 5 nghiệm thức

Phân vô cơ dạng đơn bao gồm: phân đạm (Urê), phân kali (K2O), phân super lân (P2O5), phân DAP (Diammonium phosphate (18% N + 46% P2O5); Urê: CO(NH2)2 (46%N); KCl (60% K2O)là loại phân bón chính và vôi (CaCO3)

Phân xỉ thép: dùng để bón bổ sung

Bảng 3.1 Công thức phân bón áp dụng cho 5 nghiệm thức ở hai vụ đậu

Nghiệm thức Công thức phân bón Nghiệm thức 1 FE

Nghiệm thức 2 RD + F Nghiệm thức 3 RD + 2F Nghiệm thức 4 RD Nghiệm thức 5 RD + CaCO3

Ghi chú:

FE: bón phân theo k inh nghiệm của người nông dân RD: Qui trình kĩ thuật bón phân vô cơ dạng phân đơn (áp dụng theo khuyến cáo của Trung tâm NCNN Hưng Lộc)

F: lượng phân xỉ thép bổ sung thêm (áp dụng theo hướng dẫn của Dự án Sumitomo) Nghiệm thức 4 chỉ bón phân vô cơ là nghiệm thức đối chứng

Nghiệm thức 2, 3 bón phân vô cơ k ết hợp bón bổ sung phân xỉ thép

Nghiệm thức 5 bón phân vô cơ k ết hợp bổ sung thêm vôi (CaCO 3 )

3.3.3 Liều lƣợng phân bón cho 5 nghiệm thức

Giai đoạn bón lót:

Tính toán lượng phân cần bón:

Nghiệm thức 1: người nông dân tự tính toán lượng phân dựa trên kinh

nghiệm của mình

Nghiệm thức 2, 3, 4, 5: tính toán liều lượng theo đúng với qui trình kĩ thuật

của trung tâm NCNN Hưng Lộc và hướng dẫn của Dự án Sumitomo

Tiến hành bón lót:

Lặp lại 1

Lặp lại 1

Trang 35

24

Bón lót ở tất cả các nghiệm thức

Bảng 3.2 Liều lượng phân bón lót cho 5 nghiệm thức

DAP: Diammonium phosphate (18% N + 46% P 2 O 5 ); Urê: CO(NH 2 ) 2 (46%N); KCl (60% K 2 O)

Giai đoạn bón thúc:

Tính toán lượng phân cần bón:

Nghiệm thức 1: người nông dân tự tính toán liều lượng cho phù hợp dựa trên kinh nghiệm của bản thân

Nghiệm thức 2, 3, 4, 5: tính toán liều lượng theo đúng với qui trình kĩ thuật

của trung tâm NCNN Hưng Lộc tiến hành cân chính xác theo lượng đã tính toán

Sử dụng cân điện tử với độ chính xác ba chữ số thập phân tại phòng thí nghiệm Độc học – Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên

Tiến hành bón thúc:

Giai đoạn bón thúc sẽ chia làm 2 lần bón Các nghiệm thức 2, 3, 4, 5 bón thúc cùng một thời điểm Riêng nghiệm thức 1 do bón phân theo kinh nghiệm của người nông dân nên thời điểm tiến hành bón thúc sẽ không giống với thời điểm bón thúc ở các nghiệm thức còn lại (có thể sớm hơn hoặc muộn hơn) tùy thuộc vào kinh nghiệm và nhận định của người nông dân

Nghiệm thức Liều lƣợng phân bón (kg/ha)

DAP Urê KCl Super lân CaCO3 Phân xỉ thép NT1 83,3 83,3

Trang 36

25

Bảng 3.3 Liều lượng phân bón thúc cho 5 nghiệm thức

Hàm lượng dinh dưỡng (kg/ha) của từng loại phân bón áp dụng cho 5

nghiệm thức trong một vụ đậu được trình bày ở Bảng 3.4

Bảng 3.4 Hàm lượng dinh dưỡng của phân bón áp dụng cho 5 nghiệm thức

Trang 37

26

Làm đất xong, 3 ngày trước khi tỉa đậu tiến hành bón lót Đối với các nghiệm thức bón lót tiến hành bón trực tiếp trên đất Sau đó tưới một lượng nước vừa đủ để giữ ẩm và giúp phân ngấm vào đất Đối với nghiệm thức 1 bón DAP và Urê tiến hành hòa vào nước tưới lên đất

Bón thúc:

Lần 1: tiến hành bón thúc đồng thời các nghiệm thức tất cả các nghiệm thức khi cây có 2 – 3 lá thật Cách bón: phân hòa vào nước và tưới vào gốc

Lần 2: tiến hành bón thúc lần 2 ở các nghiệm thức 2, 3, 4, 5 khi cây bắt đầu

ra hoa Riêng nghiệm thức 1 tùy thuộc vào kinh nghiệm của người nông dân mà thời gian bón sẽ khác với các nghiệm thức còn lại Cách bón: phân hòa vào nước

và tưới vào gốc

3.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi

Bảng 3.5 Chỉ tiêu nông học, năng suất và năng suất thành phần

Các chỉ tiêu nông học:

+ Chiều cao cây (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh

sinh trưởng của cây ( Trần Thị Ngọc Đồng,

2010)

+ 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi

+ Tổng số nhánh/cây + 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi + Số nhánh mang trái /cây + 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi

+ Chiều dài trái (cm)

+ 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi (thu ngẫu nhiên 10 quả/cây, đo lấy giá trị trung bình (Trần Thị Ngọc Đồng, 2010)) + Mật độ cây/m2 + 1 số liệu/lô x 20 lô = 20 số liệu

Năng suất và năng suất thành phần:

+ Số hạt/trái

+ 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi (lấy

số hạt trung bình của 10 trái/cây đã đo chiều dài (Trần Thị Ngọc Đồng, 2010))

Trang 38

27

+ Tổng số trái/cây

+ 5 cây/lô x 20 lô = 100 mẫu theo dõi

+ Trọng lượng hạt chắc/5 cây/m2 + 1 mẫu/lô x 20 lô = 20 mẫu theo dõi

+ Xác định trọng lượng 100 hạt

(đo độ ẩm và cân trọng lượng 100 hạt, sau đó

tính lại trọng lượng 100 hạt ở ẩm độ chuẩn

12%)

+ 1 mẫu/lô x 20 lô = 20 mẫu theo dõi

+ Năng suất lí thuyết (kg)

[(Trọng lượng hạt chắc của 5 cây/m2 x mật độ cây/m2) ]/5x 20 lô = 20 mẫu theo dõi

+ Năng suất thực tế (kg) Toàn bộ năng suất thực tế thu được ở một

nghiệm thức tính trên một mét vuông

3.3.6 Phương pháp thu và phân tích mẫu

Các chỉ tiêu về thông số tăng trưởng cây đậu xanh ở thời điểm ra hoa sẽ được theo dõi, đo đếm tại ruộng:

+ Chiều cao cây (cm): đo bằng thước dây, ghi nhận số liệu vào sổ tay ghi

chép

+ Tổng số nhánh của cây

+ Số nhánh mang trái của cây

+Số lượng trái đậu trên một cây

+ Mật độ cây/m2

Các chỉ tiêu về hạt đậu xanh sẽ được theo dõi và phân tích ở cuối vụ Mẫu được thu và đem về phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Di truyền Giống Nông nghiệp – Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ với các thông số sau:

+ Trọng lượng 100 hạt (g):

Phơi mẫu: đậu sau khi thu hoạch, thu tất cả số hạt chắc trên một mét vuông của mỗi nghiệm thức, phơi mẫu dưới ánh nắng mặt trời (tất cả các mẫu được phơi

đếm tay

Trang 39

+ Cân mẫu và đo độ ẩm:

Trọng lượng của 100 hạt được cân bằng cân điện tử với độ chính xác ở hai chữ số thập phân Cân ba lần lặp lại, lấy kết quả trung bình Độ ẩm được đo bằng máy chuyên dụng Mẫu sau khi cân tiến hành đo độ ẩm ngay Quá trình này được thực hiện tại phòng thí nghiệm Di truyền nông nghiệp bộ môn Di truyền giống Nông nghiệp – Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng - Trường Đại học Cần Thơ Tiến hành ba lặp lại và lấy kết quả trung bình

3.4 Phương pháp xử lí số liệu

- Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp, tính toán số liệu và vẽ biểu đồ

- Phân tích phương sai để tìm sự khác biệt giữa các nghiệm thức, so sánh trung bình giữa các nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định Tukey HSD ở mức ý nghĩa 5%, so sánh hai trung bình trong cùng một nghiệm thức ở hai vụ bằng phương pháp kiểm định T – test ở mức ý nghĩa 5% bằng phần mềm Statgraphics Centurion XV

Trang 40

29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

từ tháng 04/2013 đến tháng 06/2013 là thời điểm đầu mùa mưa, mưa nhiều, nhiệt

độ thấp, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển Xuất hiện một

số loại bệnh ở các lô nghiệm thức như: bệnh héo cây con, bệnh khảm, sâu đục trái, bệnh đốm lá,…Bên cạnh đó là sự xuất hiện của cỏ dại đã cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với cây đậu xanh Đây là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và trực tiếp làm suy giảm năng suất ở vụ đậu này

4.2 Các chỉ tiêu nông học

Đặc tính nông học của cây đậu xanh thay đổi nhiều bởi điều kiện môi trường

và kĩ thuật canh tác Các chỉ tiêu nông học theo dõi bao gồm: chiều cao cây (cm), tổng số nhánh/cây, số nhánh mang trái/cây, chiều dài trái (cm) và mật độ (cây/m2)

4.2.1 Chiều cao cây (cm)

Chiều cao cây liên quan đến đặc tính di truyền của giống, chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố môi trường và kĩ thuật canh tác (Trần Thị Ngọc Đồng,

Ngày đăng: 29/09/2015, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.1 Bản  đồ hành  chánh  của thành  phố Long  Xuyên  tỉnh  An  Giang - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 2.1 Bản đồ hành chánh của thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang (Trang 14)
Bảng 2.2 Thành  phần  dinh  dưỡng  của phân  xỉ  thép - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của phân xỉ thép (Trang 24)
Bảng 2.5 So sánh  hàm  lượng  (%) Ca giữa  phân  xỉ  thép với  các loại  phân  khác - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 2.5 So sánh hàm lượng (%) Ca giữa phân xỉ thép với các loại phân khác (Trang 26)
Bảng 3.1 Công thức  phân  bón áp dụng  cho 5 nghiệm  thức ở hai  vụ  đậu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 3.1 Công thức phân bón áp dụng cho 5 nghiệm thức ở hai vụ đậu (Trang 34)
Bảng 3.2 Liều  lượng  phân  bón lót  cho 5 nghiệm  thức - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 3.2 Liều lượng phân bón lót cho 5 nghiệm thức (Trang 35)
Hình  4.3  Số  chồi  mang  trái  trên  cây  của  các  nghiệm  thức  giữa  hai  vụ  Đông  Xuân    và  Hè  Thu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.3 Số chồi mang trái trên cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu (Trang 43)
Đáng kể giữa hai vụ  khi so sánh trong cùng một nghiệm thức (p>0,05; Hình  4.5). - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
ng kể giữa hai vụ khi so sánh trong cùng một nghiệm thức (p>0,05; Hình 4.5) (Trang 44)
Hình  4.7 Tổng  số trái  trên  cây của các nghiệm  thức giữa  hai  vụ  Đông  Xuân  và Hè Thu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.7 Tổng số trái trên cây của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu (Trang 46)
Hình  4.11 Năng suất  lý  thuyết  của các nghiệm  thức giữa  hai  vụ  Đông  Xuân  và  Hè Thu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.11 Năng suất lý thuyết của các nghiệm thức giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu (Trang 50)
Bảng 4.1 Lợi  nhuận  kinh  tế (đồng/ha/vụ)  của các nghiệm  thức ở vụ  Đông  Xuân - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 4.1 Lợi nhuận kinh tế (đồng/ha/vụ) của các nghiệm thức ở vụ Đông Xuân (Trang 53)
Bảng 4.2 Lợi  nhuận  kinh  tế (đồng/ha/vụ)  của các nghiệm  thức ở vụ  Hè Thu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
Bảng 4.2 Lợi nhuận kinh tế (đồng/ha/vụ) của các nghiệm thức ở vụ Hè Thu (Trang 54)
BẢNG KẾT QUẢ ĐO CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
BẢNG KẾT QUẢ ĐO CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT (Trang 61)
Hình  4.8 Cân đo trọng  lượng  của 100 hạt: - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.8 Cân đo trọng lượng của 100 hạt: (Trang 102)
Hình  4.5 Đo chiều  cao cây ngoài  ruộng  đậu - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.5 Đo chiều cao cây ngoài ruộng đậu (Trang 102)
Hình  4.6 Đo độ ẩm  hạt đậu  xanh  tại - ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất cây đậu xanh vigna radiata (l) r. wilczek ở hai vụ đông xuân và hè thu tại mỹ khánh, tp long xuyên tỉnh an giang
nh 4.6 Đo độ ẩm hạt đậu xanh tại (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm