1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc tính lý hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân thới lai ô môn và vị đông vị thủy hậu giang

64 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 726,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... TÂM, 2013 “ĐẶC TÍNH HÓA - LÝ ĐẤT CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA MÀU TẠI HAI XÃ THỚI TÂN – THỚI LAI - Ô MÔN VÀ VỊ ĐÔNG – Vị THỦY – HẬU GIANG Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp... NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT Tên đề tài: ĐẶC TÍNH LÝ - HÓA ĐẤT CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA MÀU TẠI HAI XÃ THỚI TÂN - THỚI LAI - Ô MÔN VÀ VỊ ĐÔNG - VỊ THỦY... cho luân canh họ đậu có khả cố định đạm gớp phần làm tăng độ phì nhiêu đất Đề tài Đặc tính lý hóa đất mô hình luân canh lúa màu hai xã Thới Tân - Thới Lai - Ô Môn Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Lớp: Khoa Học Đất Khóa 36

Cần Thơ, 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

***

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài “Đặc tính hóa - lý đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã Thới Tân - Thới Lai - Ô Môn và Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang”

Sinh viên thực hiện: Trần Hoài Tâm MSSV: 3103916 Lớp Khoa Học Đất Khóa

36

Nhận xét của Giáo viên hướng dẫn:

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua

Cần Thơ, ngày……… tháng………năm 2013

Giáo viên hướng dẫn

Tất Anh Thư Châu Minh Khôi

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

***

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp ngành Khoa Học Đất đã chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài “Đặc tính hóa - lý đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã Thới Tân - Thới Lai - Ô Môn và Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang”

Do sinh viên thực hiện: Trần Hoài Tâm MSSV: 3103916 Lớp Khoa Học Đất Khóa 36 báo cáo trước Hội Đồng

Ngày………tháng………năm 2013

Luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá ở mức:

Nhận xét của Hội đồng:

Cần Thơ, ngày……… tháng………năm 2013

Chủ tịch Hội đồng

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

***

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Đề tài “Đặc tính hóa - lý đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã Thới Tân

- Thới Lai - Ô Môn và Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang”

Do sinh viên: Trần Hoài Tâm MSSV: 3103916 Lớp Khoa Học Đất Khóa 36 thực hiện

Ý kiến đánh giá của Giáo viên phản biện:

Cần Thơ, ngày……… tháng………năm 2013

Giáo viên phản biện

Trang 6

TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Trần Hoài Tâm

Ngày sinh: 26/06/1989

Nơi sinh: Tân Phú – Long Mỹ - Hậu Giang

Quê quán: Tân Phú – Long Mỹ - Hậu Giang

Họ và tên cha: Trần Văn Hỷ

Họ và tên mẹ: Khưu Thị Thanh Thúy

Quá trình học tập:

Năm 1995-2000, học tiểu học tại trường tiểu học Long Phú 4

Năm 2000-2004, học trung học cơ sở tại trường THCS Long Phú 2

Năm 2004-2007, học trung học phổ thông tại trường THPT Long Mỹ

Năm 2010, trúng tuyển vào trường Đại Học Cần Thơ, chuyên ngành Khoa Học Đất khóa 36 (2010-2014), thuộc khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Thành kính biết ơn Cô Tất Anh Thư và Thầy Châu Minh Khôi đã tận tình hướng dẫn, quan tâm sâu sắc, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cám ơn tất cả quý Thầy Cô và các anh chị trong phòng phân tích đất của

Bộ môn Khoa Học Đất đã chỉ bảo trong suốt thời gian làm việc tại phòng

Cám ơn chương trình Clues đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn này

Cám ơn sâu sắc đến Cha Mẹ đã là người động viên và giúp đỡ con về mọi mặt trong suốt quá trình học tập

Chân thành cảm ơn sự nhiệt tình và giúp đỡ của các bạn lớp Khoa Học Đất K36 trong suốt quá trình học tập tại trường

Luận văn này tuy đã hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, rất mong sự chỉ dạy của các Thầy Cô và sự đóng gớp chân thành của tất cả bạn bè

Trân trọng cảm ơn và kính chào!

Cần Thơ, ngày ………tháng………năm 2013

Trần Hoài Tâm

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực

Tác giả luận văn

Trần Hoài Tâm

Trang 9

TRẦN HOÀI TÂM, 2013 “ĐẶC TÍNH HÓA - LÝ ĐẤT CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH LÚA MÀU TẠI HAI XÃ THỚI TÂN – THỚI LAI - Ô MÔN

VÀ VỊ ĐÔNG – Vị THỦY – HẬU GIANG” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Giáo viên hướng dẫn: TS TẤT ANH THƯ VÀ TS CHÂU MINH KHÔI

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện nhằm mục đích khảo sát sự thay đổi một số chỉ tiêu hóa - lý đất trên hai mô hình luân canh lúa màu tại hai xã Thới Tân - Thới Lai -

Ô Môn và Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang Mỗi điểm nghiên cứu, đất được thu

từ 4 hộ nông dân có mô hình canh tác 2 lúa - 1 màu Tại Thới Tân mẫu được thu

ở 3 độ sâu 0 - 25 cm, 25 - 70 cm và 70 – 110 cm Tại Vị Đông mẫu được thu ở 4

độ sâu 0 – 30 cm, 30 – 50 cm, 50 – 110 cm và 110 - 150 cm

Kết quả phân tích nhận thấy:

Đất ở hai điểm nghiên cứu có thành phần cơ giới là sét, với phần trăm cấp hạt sét rất cao (60,06 – 65,25%) Đất ít bị nét dẽ, có dung trọng dao động từ 0,70 – 1,28 g/cm3 và tỷ trọng có giá trị không khác biệt giữa các tầng theo từng vị trí nghiên cứu, dao động từ 2,18 đến 2,61 g/cm3 Giá trị pHH2O đất dao động từ 3,5 đến 6,3 thuộc dạng thấp đến trung bình và EC trong khoãng 0,26 đến 0,79 mS/cm Hàm lượng chất hưu cơ ở Vị Đông và Thới Tân dao động từ 1,15 đến 6,53 CEC dao động 10,5 đến 18,4 meq/100g, tại tầng mặt CEC được đánh giá là trung bình do đó sẽ không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng Tổng hàm lượng đạm hữu dụng tại Thới Tân (5,03 – 44,46 mg/kg) và Vị Đông (2,79 – 54,53 mg/kg) Tương tự lân dễ tiêu tại Thới Tân (5,67– 58,8 mg P/kg) và Vị Đông (6,56 – 47,67 mg P/kg) được đánh giá ở mức cao tại tầng canh tác

Trang 10

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG iii

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN iv

TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁ NHÂN v

LỜI CẢM TẠ vi

LỜI CAM ĐOAN vii

TÓM LƯỢC viii

DANH SÁCH BẢNG xi

DANH SÁCH HÌNH xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Định nghĩa và phân loại độ phì nhiêu đất 2

1.1.1 Khái niệm độ phì nhiêu đất (soil fertility) 2

1.1.2 Các loại độ phì nhiêu đất 3

1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu đất 4

1.2.1 Đặc tính lý học 4

1.2.2 Đặc tính hóa học 10

1.3 Sơ lược về mô hình luân canh lúa màu 17

1.3.1 Mô hình luân canh 17

1.3.2 Lợi ích của mô hình luân canh lúa – màu 18

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Địa điểm và phương tiện nghiên cứu 20

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20

2.1.2 Thời gian thực hiện 20

2.1.3 Phương tiện nghiên cứu 20

2.2 Phương tiện nghiên cứu 21

2.2.1 Phương pháp lấy mẫu và xử lý mẫu 21

Trang 11

2.2.2 Phương pháp phân tích 22

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 24

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 25

3.1 Đặc tính vật lý 25

3.1.1 Thành phần cơ giới 25

3.1.2 Dung trọng 26

3.1.3 Tỷ trọng 28

3.2 Đặc tính hóa học 29

3.2.1 Độ chua hiện tại pH H2O 29

3.2.2 Độ chua tiềm tàng pHKCl 31

3.2.3 Độ mặn đất EC 32

3.2.4 Chất hữu cơ 33

3.2.5 Dung tích hấp phụ cation (CEC – cation exchange capacity) 34

3.2.6 Ðộ no bazơ của đất 36

3.2.7 Đạm hữu dụng 37

3.2.8 Lân dễ tiêu 38

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 41

4.1 Kết luận 41

4.2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ CHƯƠNG 49

Trang 12

3.1 Thành phần cơ giới đất tại hai điểm nghiên cứu 26

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Một số dụng cụ dùng trong phân tích hóa lý đất 213.1 Đồ thị dung trọng giữa các tầng tại các vị trí nghiên cứu 273.2 Đồ thị tỷ trọng giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu 293.3 Đồ thị pHH2O giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu 303.4 Đồ thị pHKCl giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu 313.5 Đồ thị EC giữa các tầng đất tại các vị trí vị nghiên cứu 333.6 Đồ thị hàm lượng chất hữu cơ tại các vị trí nghiên cứu 34

3.9 Đồ thị hàm lượng đạm hữu dụng tại hai vị trí nghiên cứu 383.10 Đồ thị hàm lượng lân dễ tiêu tại các vị trí nghiên cứu 39

Trang 14

MỞ ĐẦU

Đất là một thực thể sống hình thành trong nhiều thiên niên kỷ và là một trong những thành phần quan trọng nhất của môi trường Hàng năm có khoảng 5 – 7 triệu ha đất trên hành tinh chuyển sang không sản xuất được và tốc độ này sẽ gia tăng đến hơn 10 triệu ha trong thế kỷ 21 nếu như không có những nghiên cứu khoa học để duy trì độ phì tự nhiên của tài nguyên đất và những hoạt động sản xuất, quản lý đất phù hợp được áp dụng (Lê Văn Khoa, 2003)

Để có được năng suất và chất lượng cao, nhiều vùng đất đã áp dụng nhiều biện pháp canh tác như: thâm canh tăng vụ, sử dụng giống cao sản, ngắn ngày,

sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu không hợp lý,… Với những cách quản lý đất đai ngày này, cùng với các tiến trình tự nhiên của đất có thể làm cho đất suy thoái về mặt lý hóa và sinh học trong đất Khi đất bị suy thoái, sẽ mất độ màu

mở tự nhiên, quan trọng nhất là chất hữu cơ và các khoáng đa vi lượng (Lê Văn Khoa, 1999)

Để khắc phục tình trạng này, hiện nay người ta bắt đầu chú ý đến đa dạng hóa sinh học và cây trồng nhất là các kiểu sử dụng đất đai Điển hình như luân canh lúa nước với một số cây trồng cạn, để có thời gian đất được phơi khô và phân hủy các chất hữu cơ trong đất, cũng như tạo điều kiện tốt cho các vi sinh

vật háo khí trong đất hoạt động Bên cạnh đó, (Đỗ Thị Thanh Ren và ctv., 1999)

cho rằng luân canh cây họ đậu còn có khả năng cố định đạm gớp phần làm tăng

độ phì nhiêu đất

Đề tài “Đặc tính lý hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã Thới Tân - Thới Lai - Ô Môn và Vị Đông – Vị Thủy – Hậu Giang” thực hiện nhầm mục đích xác định: (i) Một số yếu tố vật lý, (ii) khả năng trao đổi cation trong đất, (iii) hàm lượng chất hữu cơ, (iv) khả năng cung cấp đạm hữu dụng, lân dễ tiêu trong hệ thống luân canh lúa – màu Nhầm duy trì độ phì nhiêu đất và hướng đến một nền nông nghiệp bền vững cần phải có một chế độ canh tác phù hợp

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa và phân loại độ phì nhiêu đất

1.1.1 Khái niệm độ phì nhiêu đất (soil fertility)

Độ phì nhiêu đất đai là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu của cây trồng về các chất dinh dưỡng với số lượng, dạng và tỷ lệ thích hợp để cho cây sinh trưởng, phát triển và tạo ra sinh khối lớn nhất (Võ Thị Gương, 2004)

Độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp cho cây về nước, thức ăn khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ ) để cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường (Lê Văn Khoa, 2003)

Theo Henry (1997) độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp những nguyên tố cần thiết cho cây trồng phát triển, không có mặt của các độc chất Đánh giá độ phì nhiêu đất là đánh giá những thiếu hụt dinh dưỡng của cây trồng, phân tích trạng thái của cây và phân tích đất

Theo Đỗ Ánh (2000) thuật ngữ độ phì nhiêu chỉ ra khả năng vốn có của đất cung cấp cho cây trồng đầy đủ có tỷ lệ thích hợp Độ phì nhiêu đất là cơ sở của tiềm năng sản xuất và chủ yếu được quan tâm nghiên cứu vì độ phì nhiêu đất là yếu tố quyết định năng suất cây trồng

Bên cạnh đó, theo Vũ Hữu Yên và ctv (1998) độ phì nhiêu của đất là khả

năng của đất đảm bảo được những điều kiện thuận lợi thích hợp cho cây trồng đạt năng suất cao, ổn định và những quần xã sống trên đất, trong đất phát triển hài hòa, bền vững

Ngoài ra, theo Trần Thành Lập (1999) đất phì nhiêu là đất có khả năng cho nhiều sản lượng cây trồng trong điều kiện canh tác tương đối thích hợp với mức đầu tư không quá lớn và ngược lại Như vậy độ phì nhiêu đất đai trên thực

tế đã có trước khi việc nghiên cứu đất trở thành khoa học thực thụ

Theo Petecbuagsky (1957) độ phì nhiêu đất hiểu một cách vắn tắt là khả năng của đất cung cấp cho cây trồng, trong quá trình sinh trưởng, một số lượng

Trang 16

nước và chất dinh dưỡng cần thiết Đất phì nhiêu không chứa chất có hại cho cây trồng như H2S, CH4 ở đất trũng; sắt, nhôm ở đất phèn, Clo ở đất mặn

kỳ một loại đất nào Độ phì tự nhiên gồm 2 loại:

 Độ phì tiềm tàng: Là một phần của độ phì tự nhiên mà cây trồng tạm

thời chưa sử dụng được để sinh trưởng phát triển và tạo ra năng suất

 Độ phì hiệu lực (hữu hiệu): Là một phần của độ phì tự nhiên đã biến

thành hiện thực cung cấp nước, thức ăn và những điều kiện sống khác cho cây trồng tạo ra năng suất và được đánh giá bằng năng suất cây trồng Độ phì hiệu lực cao hay thấp phụ thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu của đất đối với cây Ở đất trồng trọt, độ phì nhiêu hiệu lực phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật canh tác, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và chế độ xã hội, là tổng biểu hiện của độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo

1.1.2.2 Độ phì nhân tạo

Là độ phì được hình thành do canh tác, bón phân, cải tạo đất, áp dụng kỹ thuật nông nghiệp, luân canh, xen canh, của con người Độ phì nhân tạo cao hay thấp còn phụ thuộc vào lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật và chế độ chính trị xã hội

Trong thực tế trên cùng một mảnh đất khó có thể phân biệt đâu là độ phì

tự nhiên và đâu là độ phì nhân tạo, mà có thể nói thời gian canh tác đất càng lâu,

Trang 17

kỹ thuật canh tác càng hoàn thiện thì tính chất ban đầu của độ phì tự nhiên càng giảm và tính chất độ phì nhân tạo tăng lên

1.1.2.3 Độ phì kinh tế

Nếu độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo được đánh giá bằng năng suất cây trồng, thì độ phì kinh tế được đánh giá bằng năng suất lao động, bằng hiệu quả kinh tế cao hay thấp khi canh tác trên mảnh đất ấy

Độ phì kinh tế phụ thuộc vào điều kiên tự nhiên và xã hội nhất định, phụ thuộc vào trình độ quản lý kinh tế, mức độ phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học kỹ thuật và quan hệ sản xuất xã hội

1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu đất

1.2.1 Đặc tính lý học

 Thành phần cơ giới đất

Theo Lê Thanh Bồn (2009), quá trình phong hóa đá đã tạo ra những hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau, gọi là các phần tử cơ giới đất Các phần tử cơ giới đất là những hạt độc lập riêng rẽ Trong đất các phần tử cơ giới chủ yếu là các hạt vô cơ

Tỷ lệ các cấp hạt giữa các phần tử cơ giới có kích thước khác nhau trong đất được biểu thị theo phần trăm trọng lượng được gọi là thành phần cơ giới

(Nguyễn Thế Đặng và ctv., 1999)

Thành phần cơ giới còn được hiểu là tỷ lệ giữa các cấp hạt cát, thịt, sét

trong đất (Henry và ctv., 1990)

Thành phần cơ giới của đất là hàm lượng phần trăm của những nguyên tố

cơ học có kích thước khác nhau khi đoàn lạp đất ở trong trạng thái bị phá huỷ (Trần Kông Tấu, 2006)

Các hạt có kích thước khác nhau trong thể rắn của đất gọi là phần tử cơ giới Các phần tử cơ giới hình thành chủ yếu do quá trình phong hoá đá mà ra

Trang 18

Tỷ lệ phần trăm các cấp hạt có kích thước khác nhau trong đất gọi là thành phần

cơ giới (Dương Minh Viễn, 2004)

Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005) đất là vật thể bao gồm các kích

thước hạt có kích thước khác nhau Chính các cấp hạt này gọi là thành phần cơ giới Tuỳ theo tỷ lệ các cấp hạt mà đất có tính chất khác nhau Ba cấp hạt: cát (Sand), thịt (Silt), sét (Clay) sẽ tạo nên kết cấu của đất Tỷ lệ các cấp hạt khác nhau dẫn đến sự khác nhau về đặc điểm tính chất như: tỷ trọng, dung trọng, khả năng giữ nước, tính bền của đất Thành phần cơ giới là chỉ tiêu quan trọng nhất

để đánh giá độ phì của đất (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv., 2005) Đất Đồng bằng

sông Cửu Long đa số là đất phù sa màu mỡ, có thành phần cơ giới nặng nên khả năng giữ nước và hấp phụ chất dinh dưỡng tốt chính vì thế phục vụ rất tốt cho việc sản xuất nông nghiệp

Thành phần cơ giới đất là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến đặc tính của đất như sự thấm nước, sự kiềm giữ nước, sự phát triển của rễ cây Trong nông nghiệp, thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu phát sinh đất, loại đất và các quá trình thổ nhưỡng của đất Nhiều tính chất hoá học, vật lý như khả năng giữ ẩm, khả năng giữ nhiệt và động thái nhiệt, chế độ khí và động thái khí, CEC và khả năng điều tiết chất dinh dưỡng đều liên quan đến thành phần cơ giới (Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998)

Trang 19

Hình 1.1: Tam giác sa cấu theo USDA

(Nguồn: Soil information for enviromental modeling and ecosystem management)

Dung trọng của đất phụ thuộc vào 3 yếu tố như: tỷ trọng, kết cấu và độ xốp của đất Các loại đất tơi xốp thường có dung trọng nhỏ và ngược lại những đất bí chặt, kém tơi xốp thì dung trọng lớn Các tầng đất càng xuống sâu thì dung trọng tăng dần

Dung trọng của đất được sử dụng trong việc tính độ xốp của đất, xác định trữ lượng các chất dinh dưỡng, lượng vôi cần bón cho đất hay trữ lượng nước có trong đất… ( Trần Văn Chính, 2006)

Dung trọng của đất phụ thuộc vào cấp hạt cơ giới, độ chặt và kết cấu của đất Các loại đất tơi xốp, giàu chất hữu cơ và mùn thường có dung trọng nhỏ và

Trang 20

ngược lại những loại đất chặt, bí, kém tơi xốp và nghèo chất hữu cơ thường có dung trọng lớn Trong phẫu diện đất của phần lớn các loại đất, dung trọng có chiều hướng tăng dần khi xuống tầng đất dưới sâu, vì càng xuống sâu hàm lượng mùn của đất càng giảm, mặt khác do quá trình tích tụ sét và các vật liệu mịn bị rửa trôi từ trên xuống lấp đầy các khe hở và bị nén đã làm cho đất bị chặt hơn các tầng trên (Trần Văn Chính, 2006)

Nghiên cứu dung trọng đất cho phép ta sơ bộ đánh giá được chất lượng của đất, đặt biệt là đất cho cây trồng cạn Các loại đất có dung trọng thấp thường là những loại đất có kết cấu tốt, hàm lượng mùn cao (Nguyễn Thế Đặng, 1999) Dung trọng và tỷ trọng có thể dùng để đánh giá, ước lượng sự nén dẽ của một loại đất nào đó Giá trị dung trọng bình quân của đất thịt có tầng canh tác biến động trong khoảng 1,1 – 1,4 g/cm3 Để cho sự phát triển của cây trồng tốt hơn, dung trọng nên giới hạn trong các giá trị sau: đất sét nên nhỏ hơn 1,4 g/cm3

và với đất cát nên nhỏ hơn 1,6 g/cm3 (Lê Văn Khoa, 2000) Đất phù sa có dung trọng trong khoảng 0,79 – 1,40 g/cm3 Nếu dung trọng lớn hơn 1,2 g/cm3 thì việc canh tác rất khó khăn, năng suất cây trồng thường thấp do đất quá nhiều sét, ít hữu cơ, làm ngăn cản sự phát triển của bộ rể Đất có dung trọng thích hợp nhất cho cây là 1,0 – 1,1 g/cm3 (Trần Thành Lập, 1999)

 Tỷ trọng

Tỷ trọng của đất là tỉ số giữa trọng lượng thể rắn đất (đất không có các khoảng hổng) của một thể tích nhất định với dung trọng nước cùng một thể tích Hay tỉ trọng là trọng lượng đất tính bằng gam của một đơn vị thể tích đất (cm3), đất ở trạng thái khô kiệt và xếp sít vào nhau (Lê Văn Khoa, 2000)

Theo Nguyễn Thế Đặng (1999) đất được hình thành trên các loại đá mẹ có thành phần khoáng khác nhau, có tỷ trọng khác nhau Các loại đất khác nhau có

tỷ trọng rất khác nhau (Bảng 1.1)

Trang 21

Bảng 1.1: Tỷ trọng của một số loại khoáng điển hình

Loại khoáng

Tỷ trọng (g/cm3)

Thạch anh 2,65 Phenpat 2,54 – 2,57 Micaden 2,70 – 3,10

Limonit 3,5 – 3,95 Kaolinit 2,6 – 2,65 Monmorilonit 2,0 – 2,2 Mica trắng 2,76 – 3,0

Tỷ trọng đất lớn hay nhỏ còn phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng chất hữu

cơ trong đất Bởi vì tỷ trọng của chất hữu cơ rất nhỏ chỉ khoảng 1,2 – 1,4 g/cm3cho nên các loại đất giàu mùn có tỷ trọng nhỏ hơn đất nghèo mùn Vì thế tỷ trọng của lớp đất mặt nhỏ hơn tỷ trọng của các lớp đất dưới (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Theo Trần Văn Chính (2006) các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau

có tỷ trọng khác nhau (Bảng 1.2)

Trang 22

Thông qua tỷ trọng đất người ta cũng có thể đưa ra được những nhận xét

sơ bộ về hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét hay tỷ lệ sắt, nhôm của một loại đất cụ thể nào đó (Trần Văn Chính, 2006) (Bảng 1.3)

Bảng 1.3: Mức đánh giá chung khi xác định tỷ trọng của đất trồng theo Katrimski

Loại đất

Tỷ trọng

(g/cm3)

Đất có lượng mùn cao < 2, 5 Đất có lượng mùn trung bình 2,5 - 2,66 Đất giàu sắt Fe2O3 > 2,7

Trang 23

1.2.2 Đặc tính hóa học

 Độ chua hiện tại(pH H20 )

Độ chua hiện tại là độ chua tạo nên bởi ion H+ tự do trong dung dịch đất

Độ chua hiện tại chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

- Mức độ phân ly thành ion của các chất axit và bazơ có trong đất Cùng một lượng axit nhưng axit vô cơ phân ly thành ion nhiều hơn axit hữu cơ, nên pHH2O của dung dịch đất chứa nhiều axit vô cơ thấp hơn Đối với bazơ cũng vậy, bazơ nào phân ly mạnh sẽ cho nhiều ion OH- thì làm giảm độ chua hoạt tính tức là tăng pHH2O

- Nếu đã có một độ chua tiềm tàng mà bón nhiều phân vô cơ thì sẽ xảy

ra sự trao đổi cation làm đẩy H+ và Al3+ vào dung dịch, làm cho độ chua hoạt tính tăng lên

Vì độ chua này gây ảnh hưởng trực tiếp cho cây và vi sinh vật, nên mỗi loại cây và vi sinh vật chỉ thích hợp sống ở một khoảng pHH2O nhất định Vì thế người ta căn cứ vào pHH2O để bố trí cây trồng cho phù hợp với từng loại đất cụ thể

 Độ chua tiềm tàng (pH KCl )

Độ chua tiềm tàng là độ chua biểu hiện nồng độ ion H+ và nồng độ ion Al3+ bị hấp phụ trên bề mặt keo đất, bình thường thì chưa gây chua, nhưng vì một lý do nào đó chúng bị đẩy ra khỏi keo đất đi vào dung dịch, lúc đó gây ra một độ chua

Độ chua tiềm tàng được tính bằng ion H+ tự do và hấp thu trên bề mặt keo đất Thông thường độ chua này lớn hơn độ chua hiện tại và biểu thị khả

năng gây chua tiềm tàng của đất (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Người ta dùng các loại muối khác nhau tác động vào đất thì sẽ đẩy được các ion H+ và Al3+ ra khỏi keo đất một lượng khác nhau Cùng một muối

mà thời gian tác động khác nhau cũng đẩy được một lượng khác nhau

Trang 24

 Ảnh hưởng của pH đến cây trồng

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan

trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất

pH đất ảnh hưởng đến độ hữu dụng của dinh dưỡng cây trồng, độc chất trong đất, đến hoạt động của vi sinh vật đất (Tất Anh Thư, 2006) Theo Trần Thành Lập (1999) đất Đồng bằng sông Cửu Long thường có pH thấp, đất phù sa không phèn thường có pH = 4,0 - 5,5 Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng pH có thể <3,0, ở trị số pH này cây chịu phèn mới sống nổi Đất bị nhiễm mặn thường có pH từ 7 trở lên Một lọai đất rất acid có pH thấp, đất này thiếu Ca và Mg trao đổi, các chất Al, Fe, Mn và Bo hòa tan rất nhiều, chất Mo ít hòa tan, độ hữu dụng của N và P rất thấp Một loại đất kiềm có pH cao đất này nhiều Ca, Mg và Mo, có ít Al, độ hữu dụng đạm cao (Trần Thành Lập, 1999) Trên đất mặn pH từ 6,0-7,5 và tỷ lệ với độ mặn (Nguyễn Văn Luật, 2003) Nếu đất có pH quá cao, đất sẽ thiếu Fe, Mn, Cu, Zn và nhất là thiếu P và Bo Ngoài

ra vi khuẩn hoạt động tích cực ở các pH trung bình sẽ hoạt động kém Tổng quát

mà nói thì đất có pH = 6 - 7 là tốt nhất vì ở mức pH này có sự hữu dụng tối đa

của chất dinh dưỡng (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004) Theo H.Eswaran (1985),

đất lúa nước thường có pH trong khoảng 4,5 và 6 pH tốt nhất cho cây lúa phát triển là pH=5,5 -7,5 Đất có pH thấp hơn 5,2 hay lớn hơn 8,2 đều ảnh hưởng đến

sự phát triển của cây lúa

 Độ dẫn điện dung dịch đất (EC)

EC (Electric Conductivity) là một đại lượng để đo độ dẫn điện, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hòa tan Đất mặn có nồng độ muối cao sẽ biểu thị giá trị EC cao Một loại đất được xem là mặn nếu EC của dịch trích bảo hòa lớn hơn 4 mS cm-1 ở 250C Các ion chính của các muối hòa tan là Na, Ca, Mg; các anion là SO4 và Cl Trong đó muối NaCl chiếm ưu thế Một lượng nhỏ khác như K, HCO3, CO3, và NO3 cũng có thể hiện diện (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

Trang 25

Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất phèn

sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Theo H Eswaran (1985) cây lúa rất nhạy cảm với độ mặn, cây lúa sẽ không phát triển được nếu trên đất lúa nước có EC > 6 mmhos/cm EC = 4 – 6 mmhos/cm thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, nếu EC < 2 mmhos/cm thì cây lúa phát triển bình thường

Theo Abrol et al (1998) nồng độ muối cao trong đất là nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng Ảnh hưởng rỏ nhất là nước kém hữu dụng ở vùng

rễ Điều này do áp suất thẩm thấu của dung dịch đất gia tăng khi nồng độ muối gia tăng Ngoài ra, nồng độ đậm đặc của những ion muối có thể gây độc đối với cây trồng hoặc có thể ngăn cản sự hấp thụ của những dưỡng chất cần thiết khác đối với cây Khi nồng độ muối gia tăng, sự sinh trưởng của cây trồng giảm cho đến khi cây trồng vàng và chết Mỗi loại cây trồng khác nhau về khả năng chịu mặn trong đất Mức độ chịu mặn của cây được đánh giá dựa trên năng suất giảm khi so sánh với năng suất ở đất không mặn

Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng, giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc của đất (Tất Anh Thư, 2006)

 Chất hữu cơ trong đất

Chất hữu cơ là phần quý nhất của đất, nó không chỉ là kho dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có thể điều tiết nhiều tính chất đất theo hướng tốt, ảnh hưởng lớn đến việc làm đất và sức sản xuất của đất

Chất hữu cơ góp phần cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất và cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng (Prihar et al, 1985)

Theo Thái Công Tụng (1971) sự ảnh hưởng của chất hữu cơ đến tính chất đất đai

- Ảnh hưởng của màu sắc đất đai: nâu đến đen

Trang 26

- Ảnh hưởng đến tính chất hóa học của đất như: khả năng giữ nước, độ dẻo dính

- Ảnh hưởng đến khả năng trao đổi base như: làm cho đất đai hấp thụ được nhiều chất base hơn, 30 - 90% ngoại hấp là do chất hữu cơ

- Cung cấp và tăng độ hữu dụng của chất dinh dưỡng

Theo Trần Thành Lập (1999) đất ĐBSCL thường có hàm lượng chất hữu cơ vào độ trung bình Đất xám bạc màu có hàm lượng hữu cơ rất thấp 0,3 - 1,2% Đất giàu hữu cơ nhất ĐBSCL là đất than bùn, có hàm lượng hữu cơ đến 25%, đất phèn cũng giàu chất hữu cơ ở tầng mặt

Theo Lê Văn Khoa và ctv (2000) chất hữu cơ là chỉ tiêu số một về độ phì,

nó ảnh hưởng đến nhiều tính chất đất như khả năng cung cấp dinh dưỡng, khả năng hấp phụ, giữ nhiệt và kích thích sinh trưởng cây trồng Chất hữu cơ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng chính trong hệ sinh thái đất

Để nông nghiệp phát triển bền vững nhất thiết phải giảm sự mất mát chất

hữu cơ đất, nhất là việc sử dụng đất vùng nhiệt đới (Lê Văn Khoa và ctv., 2000)

Trong quá trình khoáng hoá chất hữu cơ tạo ra nhiều dinh dưỡng cung cấp cho

cây trồng, chất hữu cơ làm giảm sự cố định K, P trong đất (Nguyễn Tử Siêm và

ctv., 1999)

 Dung tích hấp phụ cation (CEC)

Dung tích hấp phụ của đất là tổng số cation được keo đất hấp phụ Dung tích hấp phụ cation hay còn gọi là khả năng trao đổi cation của đất càng cao chứng tỏ đất có khả năng giữ và trao đổi các dưỡng chất tốt Đất ĐBSCL thường chứa nhiều sét và ít hữu cơ nên dung tích hấp phụ thuộc loại trung bình đến khá

(Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Khả năng trao đổi cation của đất được tạo ra do sự hấp phụ các cation trên

bề mặt của các phần tử đất mang điện tích âm Do đó nguồn gốc điện tích âm trong đất cũng chính là nguồn gốc CEC (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

Trang 27

CEC của đất được xác định bằng tổng số tương đối của các keo đất khác nhau trong đất đó và bởi CEC của mỗi keo (Nyle C.Brady, 1999) Vì vậy, đất cát có CEC thấp hơn đất sét vỉ đất có sa cấu thô thường có hàm lượng sét thấp,

do đó số lượng keo sét trong đất cũng thấp hơn đất sét

CEC của chất hữu cơ rất cao, trong khoảng từ 100-400 cmol/kg đất, phụ thuộc vào mức độ phân hủy chất hữu cơ (Herry D Foth, 1990) Đặc biệt trong những đất bị phong hóa trung bình phát triển thành đất phong hóa mạnh thì CEC

do khoáng sét tạo ra sẽ giảm trong khi đó CEC của chất hữu cơ gần như không thay đổi (Herry D Foth và Boyd G Ellis, 1997) Do đó, CEC lớn ở lớp đất mặt

và nhỏ dần theo độ sâu của đất song song với việc giảm CHC từ lớp mặt xuống lớp đất sâu (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

CEC của đất liên quan đến khả năng chứa đựng và điều hòa dinh dưỡng và

có liên quan đến phương pháp bón phân hợp lý Nếu đất chứa Al chiếm 60% CEC thì gây độc cho cây trồng Dung tích hấp phụ trong các loại đất Việt Nam trong khoảng 5 - 30 meq/100g đất Nhìn chung giá trị dung tích hấp phụ càng cao thì đất càng phì nhiêu Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất còn phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ các cation trong dung tích hấp phụ đó (Nguyễn Vy, 2003)

 Ðộ no bazơ (%BS) của đất

Ðộ no bazơ của đất là tỷ lệ phần trăm các cation kiềm, kiềm thổ chiếm trong tổng số cation hấp phụ, ký hiệu là BS (Base saturation) BS có giá trị càng lớn thì đất càng bão hoà bazơ (Bảng 1.4)

Bảng 1.4: Đánh giá độ no bazơ của đất

BS < 50% đất đói bazơ 50%<BS< 75% đất có độ no bazơ trung

bình

BS > 75% đất no bazơ

Trang 28

Ở nước ta, phần lớn đất đồi núi và một số đất phù sa chua do bị rửa trôi các chất kiềm, kiềm thổ mạnh nên thường có BS < 50% Vì vậy việc bón vôi kết hợp với bón phân cho những đất này là cần thiết

 Đạm (N)

Theo Mengenl và Kirkby (1987) đạm là dinh dưỡng chính, là thành phần quan trọng của nhiều hợp chất cần thiết của cây trồng Đạm là thành phần chính của tất cả các amino acid tạo thành protein, enzyme mà các hợp chất này kiểm soát toàn bộ tiến trình phát triển của thực vật

Trên hầu hết các loại đất, bón phân N giúp gia tăng sự tăng trưởng của cây đặc biệt là sự phát triển thân lá Cây được cung cấp N đầy đủ, thân lá và chồi phát triển tốt, bộ rễ phát triển cân đối hơn so với cây thiếu N (Ken, 2001) Tùy thuộc vào loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây mà hàm lượng N cần thiết khác nhau, thay đổi từ 2-5% trọng lượng khô Khi cung cấp dưới mức tối hảo thì sinh trưởng của cây bị chậm lại N là nguyên tố đa lượng di động trong lá trưởng thành và chuyển vị tới vùng sinh trưởng mới Do đạm là nguyên tố di động nên khi thiếu N thể hiện ở lá già Năng suất hạt có mối quan

hệ chặt chẽ với N tích lũy trong cây (Cassman và ctv., 1996)

Trong đất, các hợp chất đạm mà cây trồng có thể hấp thu được chủ yếu là N-NH4+ và N-NO3- Một phần đạm khác có thể được thủy phân từ các chất hữu

cơ chứa đạm dưới tác động của vi sinh vật đất cũng tạo thành N-NH4+ và

N-NO3- N-NH4+ chủ yếu được keo đất hấp thu và sẽ phóng thích NH4+ vào dung dịch đất khi có nguồn ion trao đổi NH4+ hiện diện nhiều trong đất ngập nước

NO3- lại thường gặp trong môi trường thoáng khí và khô Ion NO3- ít bị keo đất hấp thu và dễ dàng bị rữa trôi khỏi đất Các dạng N-NH4+ và N-NO3-dễ dàng chuyển biến qua lại và động thái của chúng trong đất khá phức tạp Hàm lượng của chúng cho biết lượng đạm hữu dụng cho cây trồng (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

Trang 29

 Lân (P)

Lân là một trong số những nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng P xuất hiện trong đất ở dạng vô cơ và hữu cơ, tổng lượng P trong đất bao gồm hai dạng này và được gọi là P tổng số, và nó không phản ánh lượng hữu dụng đối với cây trồng Cây trồng chỉ hút thu được P ờ dạng các ion vô cơ như H2PO4-, HPO42-, trong đó dạng H2PO4- chiếm ưu thế ở đất acid và dạng HPO42- chiếm ưu thế ở đất kiềm (Mengel 1991, Schiling 2000) các dạng này được gọi là P hữu dụng (còn gọi là P dễ tiêu) Hầu hết P ở dạng liên kết với thành phần ít hòa tan của đất (Marschner 1995), hàm lượng P hữu dụng trong đất thong thường trong khoảng 10-100 mg P kg-1

Lân tổng số là tổng số các loại lân trong đất, thể hiện bằng hàm lượng tổng

số P2O5 (Lê Văn Căn, 1985) Các loại cây trồng khác nhau thì có khả năng sủ dụng lân khác nhau Các loại đất có hàm lượng lân tổng số khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam hàm lượng lân tổng số rất thấp Nhưng xét về phì nhiêu thực tế thì lân tổng số không có ý nghĩa nhiều, vì đại bộ phận lân tổng số ở dạng khó tiêu đối

với thực vật (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Lân hữu dụng là phần hợp chất vô cơ chứa lân trong đất, có khả năng hòa tan trong nước hoặc các dung môi yếu như các acid vô cơ có nồng độ thấp các muối kiềm như cacbonat… phần lân đó cây trồng có thể hút thu được dễ dàng Các dạng của lân dễ tiêu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ hòa tan của chúng trong nước và mức độ hữu dụng của chúng với cây trồng Hàm lượng lân

dễ tiêu trong dung dịch đất và trong cây thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất đất, nhiệt độ môi trường, hàm lượng lân tổng số, quá trình hình thành và phát sinh của đất cũng như loại cây trồng trong đó (Ngô Ngọc Hưng, 2009)

Lân dễ tiêu trong đất rất dễ bị kết tủa: ở đất kiềm nó bị kết tủa dưới dạng phosphate canxi, ở đất chua bị kết tủa dưới dạng phosphate sắt, nhôm Vì vậy lượng phosphate hòa tan khi ta bón vào đất không bao lâu sẽ chuyển thành những dạng khó hòa tan hơn, và càng ít hòa tan thì càng chậm tiêu, khó được cây hút Nồng độ lân hòa tan rất thấp thường là 0,2-0,5 mg P2O5 L-1 Các loại đất

Trang 30

giàu lân có thể chứa 1mg L-1, các loại đất nghèo lân là 0,1 mg kg-1 Cây có thể hút được lân từ những nồng độ rất loãng trong dung dịch đất (Lê Văn Căn, 1985)

1.3 Sơ lược về mô hình luân canh lúa màu

1.3.1 Mô hình luân canh

1.3.1.1 Khái niệm

Luân canh là trồng liên tiếp nhiều loài cây trồng khác nhau trên cùng một khoảnh đất (Hồ Ngọc Đức, 2004)

1.3.1.2 Tình hình luân canh lúa – màu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Hiện nay, mô hình 2 vụ lúa - 1 vụ màu hoặc 2 vụ màu – 1 vụ lúa đã được nông dân các địa bàn thuần nông trước đây của các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang áp dụng rất thành công Nhiều hộ trúng mùa và trúng giá đã đạt lợi nhuận hàng trăm triệu đồng/ha/năm Huyện Chợ Mới (An Giang) nông dân chuyển 21.000 ha đất trồng trọt sang mô hình lúa – màu, bình quân giá trị sản xuất đạt trên 90 triệu đồng/ha/năm Tỉnh Vĩnh Long cũng đã chuyển 13.500 ha đất trồng lúa độc canh mỗi năm 3 vụ sang luân canh 2 lúa – 1 màu trong đó 1.600 ha màu chuyên canh, cho lợi nhuận 50 triệu đồng/ha/năm Tỉnh Tiền Giang nhiều năm nay đã hình thành vùng trồng rau màu tập trung lên đến gần 30.000 ha, bình quân năng suất đạt 16 – 18 tấn/ha và sản lượng thu hoạch mỗi năm gần 490.000 tấn Đặc biệt, tỉnh Tiền Giang đã chuyển trên 11.000 ha độc canh cây lúa sang luân canh 2 lúa – 1 màu

Theo kết quả nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế (IRRI) thì việc thay đổi một vụ lúa một vụ màu đã làm cho năng suất lúa tăng 12% nhờ sau vụ trồng màu kết cấu đất được phụ hồi (Trần Văn Chính, 2006) Tùy theo vùng sinh thái, năng suất lúa trong các mô hình luân canh tăng so với độc canh lúa từ 7 -20% là một trong những điểm nổi trội của mô hình luân canh lúa màu so với độc canh

lúa cả ở trong và ngoài vùng đê bao lũ (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2006)

Trang 31

1.3.2 Lợi ích của mô hình luân canh lúa – màu

1.3.2.1 Gia tăng năng suất cây lúa và cải tạo đất

Nhiều nghiên cứu công bố cho thấy rằng năng suất lúa nhận được thấp nhất trong lô trồng độc canh lúa Năng suất lúa cao nhất trong các lô luân canh lúa – cây họ đậu Ngoài ra việc luân canh này còn giúp cải tạo được lý tính và hóa tính của đất do chuyển từ chế độ đất ngập nước liên tục sang chế độ cây trồng cạn, đất có thời gian nghĩ ngơi Việc này giúp cho cả hai loại cây trồng lúa

và cây trồng cạn trong việc sinh trưởng và phát triển Đồng thời cây họ đậu còn giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất do sự cố định đạm của nhiều vi khuẩn nốt sần

từ bộ rễ của cây họ đậu Theo Nguyễn Mỹ Hoa (2007) luân canh giữa lúa và cây trồng cạn giúp cho đất có thời gian phơi đất giữa 2 vụ canh tác chất hữu cơ được khoáng hóa tốt theo hướng có lợi cho cây trồng sử dụng và làm tăng lượng đạm trong đất

1.3.2.2 Cải tạo các đặc tính sinh hóa của đất trong hệ thống luân canh

Tính chất xốp của đất càng gia tăng sau 3 năm luân canh cây trồng cạn với lúa so với 1 – 2 năm Vật chất hữu cơ trong đất giảm dần dần với sự khoáng hóa dễ dàng vật chất hữu cơ trong điều kiện đất cạn - lúa nước Hàm lượng lân

dễ hấp thu giảm từ từ trong điều kiện canh tác lúa liên tiếp, nhưng lại gia tăng trong điều kiện luân canh cây trồng cạn Lân được phóng thích trong điều kiện thiếu không khí và cố định trong điều kiện kỵ khí Sự gia tăng chất lân trong đất trồng đậu nành kết quả từ việc cố định lân do điều kiện thiếu không khí Luân canh đậu nành gia tăng canxi trong hệ thống trồng đậu 2 vụ và luân canh với lúa Đối với Kali trao đổi, giảm một ít trong đất độc canh lúa, nhưng gia tăng trong đất luân canh với cây trồng cạn (Nguyễn Công Thành, 2008)

1.3.2.3 Giảm sự cạnh tranh của cỏ dai cho cả cây lúa và cây trồng cạn

Điều này rất dẽ hiểu vì các loại cỏ thường phát triển trong một môi trường nhất định Nhiều loài cỏ thủy sinh gây hại lúa sẽ bị tiêu diệt hoặc giảm lượng lây lan đáng kể cho vụ sau nếu chuyển sang chế độ luân canh cây trồng cạn Đồng

Trang 32

thời cây trồng cạn trồng trong điều kiện luân canh lúa sẽ ít bị cỏ cạnh tranh hơn

so với trồng độc canh nhiều vụ

1.3.2.4 Cắt đứt nguồn lây lan của dịch rầy nâu

Liên tiếp những vụ lúa sản xuất gần đây đã bùng phát dịch rầy nâu trầm trọng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, và một số tỉnh khác trong nước gây nên sự thiệt hại về kinh tế rất lớn và ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều nông dân Do đó việc trồng cây màu khác lúa là rất thiết thực và có hiệu quả

Từ các kết quả nghiên cứu đó, các Nhà khoa học đi đến kết luận rằng có

sự khác nhau lớn trong điều kiện đồng ruộng giữa cây trồng cạn với lúa, chủ yếu

do các điều kiện hảo khí và yếm khí và tưới tiêu nước bề mặt và mao dẫn của nước ngầm Vì vậy, nhằm ổn định về năng suất và môi trường đất, việc luân canh lúa - cây trồng cạn hàng năm đã được khuyến cáo nên áp dụng

Ngày đăng: 29/09/2015, 21:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên Bảng  Trang - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
ng Tên Bảng Trang (Trang 12)
Hình  Tên Hình  Trang - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
nh Tên Hình Trang (Trang 13)
Hình 1.1: Tam giác sa cấu theo USDA - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 1.1 Tam giác sa cấu theo USDA (Trang 19)
Hình 2.1:  Một số dụng cụ dùng trong phân tích hóa lý đất - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 2.1 Một số dụng cụ dùng trong phân tích hóa lý đất (Trang 34)
Bảng 3.1: Thành phần cơ giới đất tại hai điểm nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Bảng 3.1 Thành phần cơ giới đất tại hai điểm nghiên cứu (Trang 39)
Hình 3.1: Đồ thị dung trọng giữa các tầng tại các vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.1 Đồ thị dung trọng giữa các tầng tại các vị trí nghiên cứu (Trang 40)
Hình 3.2: Đồ thị tỷ trọng giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.2 Đồ thị tỷ trọng giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu (Trang 42)
Hình 3.3: Đồ thị pH H2O  giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.3 Đồ thị pH H2O giữa các tầng đất tại các vị trí nghiên cứu (Trang 43)
Hình 3.4 cho thấy pH KCl  tại Thới Tân ở tầng 0-25 cm và 25-70 cm lần lược - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.4 cho thấy pH KCl tại Thới Tân ở tầng 0-25 cm và 25-70 cm lần lược (Trang 44)
Hình 3.5: Đồ thị EC giữa các tầng đất tại các vị trí vị nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.5 Đồ thị EC giữa các tầng đất tại các vị trí vị nghiên cứu (Trang 46)
Hình 3.6: Đồ thị hàm lượng chất hữu cơ tại các vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.6 Đồ thị hàm lượng chất hữu cơ tại các vị trí nghiên cứu (Trang 47)
Hình 3.7: Đồ thị CEC của các vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.7 Đồ thị CEC của các vị trí nghiên cứu (Trang 48)
Hình 3.8: Đồ thị %BS của hai vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.8 Đồ thị %BS của hai vị trí nghiên cứu (Trang 50)
Hình 3.9: Đồ thị hàm lượng đạm hữu dụng tại hai vị trí nghiên cứu - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.9 Đồ thị hàm lượng đạm hữu dụng tại hai vị trí nghiên cứu (Trang 51)
Hình 3.10 cho thấy  hàm lượng lân dễ tiêu trong đất tại Thới Tân dao động - đặc tính lý  hóa đất của mô hình luân canh lúa màu tại hai xã thới tân  thới lai  ô môn và vị đông  vị thủy  hậu giang
Hình 3.10 cho thấy hàm lượng lân dễ tiêu trong đất tại Thới Tân dao động (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w