1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay

75 649 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 854,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... SỰ KẾT HỢP PHƢƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƢƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm. .. MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm phƣơng pháp nêu vấn đề dạy học môn giáo dục công dân trƣờng trung học phổ thông “Phƣơng pháp ... pháp nêu vấn đề dạy học môn giáo dục công dân trƣờng trung học phổ thông 1.2 Cơ sở thực tiễn việc kết hợp phƣơng pháp thảo luận nhóm phƣơng pháp nêu vấn đề dạy học môn giáo dục công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=======***=======

PHAN THỊ TRUNG

SỰ KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC TA HIỆN NAY (KHẢO SÁT Ở TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ,

TỈNH BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=======***=======

PHAN THỊ TRUNG

SỰ KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC TA HIỆN NAY (KHẢO SÁT Ở TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ,

TỈNH BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT

Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Quang Thuận

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Quang Thuận, người đã bỏ ra nhiều tâm huyết, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, các em học sinh trường THPT Ngô Gia Tự, tỉnh Bắc Ninh, quý bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và khóa luận của mình

Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015

Tác giả khóa luận

PHAN THỊ TRUNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - ThS Nguyễn Quang Thuận, tôi xin cam đoan rằng: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kì chương trình nghiên cứu nào của các tác giả khác

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015

Tác giả khóa luận

PHAN THỊ TRUNG

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 Cơ sở lý luận của sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 7

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 18

Chương 2 QUY TRÌNH KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC TA HIỆN NAY 24

2.1 Quy trình chuẩn bị bài giảng 24

2.3 Quy trình kiểm tra đánh giá 29

2.4 Điều kiện thực hiện tốt quy trình kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 31

Chương 3 THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGÔ GIA TỰ, BẮC NINH 33

3.1 Kế hoạch thực nghiệm 33

3.2 Tiến hành thực nghiệm 35

3.3 Kết quả thực nghiệm 50

Trang 7

3.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 56 KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn bước cho lịch sử nhân loại bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của thông tin, tri thức Và ngày nay, chìa khóa vàng để mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, đến với kho tàng của tri thức chính là giáo dục

Giáo dục cần đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mới của xã hội Nguồn nhân lực đó phải là những con người có tri thức, có phẩm chất đạo đức, năng động, sáng tạo, tự lực, có khả năng hợp tác, năng lực hành động cũng như năng lực làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh trong công việc và trong cuộc sống

Để đáp ứng những đòi hỏi đó, Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục - Đào tạo đã đưa ra nhiều chủ trương, phương hướng đổi mới giáo dục một cách toàn diện trong đó đổi mới phương pháp dạy học được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược

Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”

Song song với việc xây dựng Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo , Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nghiên cứu để đổi mới chương

trình và sách giáo khoa sau năm 2015 Mục tiêu giáo dục mới tiếp tục những định hướng đúng đắn nhưng sẽ điều chỉnh, khắc phục hạn chế “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”, đảm bảo phát triển toàn diện và phát huy tối đa tiềm

Trang 9

năng của mỗi học sinh Chương trình tăng cường lồng ghép kỹ năng sống, đạo đức nhằm giúp học sinh phát triển hài hòa con người cá nhân và con người xã hội, coi trọng giáo dục phẩm chất và năng lực của người học

Khoản 2 - Điều 5, Luật Giáo dục đã ghi: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Ở cấp học phổ thông, môn GDCD là một trong những môn học cơ bản góp phần tạo nên nội dung dạy học, giáo dục toàn diện Việc hình thành và giáo dục thế giới quan, phương pháp luận khoa học, đạo đức cho HS do tất cả các môn học, các hình thức giáo dục của nhà trường thực hiện, song chỉ có môn GDCD mới trực tiếp giáo dục cho HS những tri thức theo một hệ thống xác định toàn diện về thế giới quan và nhân sinh quan, mới cho HS hiểu được những quy luật phát triển tất yếu khách quan của xã hội loài người, giúp HS nhận thức đúng đắn: sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có ý thức trách nhiệm cao đối với tổ quốc, đối với nhân dân, đối với gia đình và đối với chính bản thân mình, đồng thời đây cũng là môn học kích thích mạnh mẽ sự phát triển năng lực trí tuệ chung như tư duy trừu tượng, lôgic, biện chứng…và rèn luyện thao tác tư duy như: phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát…cũng như những phẩm chất của tư duy: linh hoạt, độc lập, sáng tạo…

Thảo luận nhóm và nêu vấn đề là những phương pháp có thể phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong học tập Hai phương pháp này chẳng những giúp người học tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức mà còn tạo môi trường thuận lợi cho người học tham gia thực hành

xã hội

Trong thực tiễn dạy học ở trường THPT Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Ninh, việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục được nhà trường hết sức quan tâm Nhiều cuộc hội thảo, hội giảng đã được tổ chức nhằm nâng cao nhận

Trang 10

thức về cách dạy, cách học cho GV, HS và từng bước nâng cao chất lượng dạy

và học trong nhà trường Tuy nhiên, việc vận dụng kết hợp các PPDH trong đó

có sự kết hợp giữa PPTLN và PPNVĐ vào dạy học của nhiều GV còn lúng túng, chưa xác định được những hoạt động cụ thể cần tiến hành Do đó, tìm hiểu việc vận dụng kết hợp PPTLN và PPNVĐ vào dạy học nói chung, dạy GDCD nói riêng như thế nào cho có hiệu quả đang là vấn đề cần thiết

Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Sự kết hợp

phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay (Khảo sát ở trường THPT Ngô Gia Tự, tỉnh Bắc Ninh)” làm đề tài nghiên

cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích khẳng định tính khả thi, tính đúng đắn trong việc kết hợp giữa PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay Từ đó đề xuất quy trình và điều kiện kết hợp PPTLN

và PPNVĐ để vận dụng vào việc giảng dạy nhằm đạt kết quả cao hơn trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT sau này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục địch trên, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Một là, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề kết hợp PPTLN và

PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay

Hai là, xác lập quy trình và những điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu

quả vận dụng PPTLN và PPNVĐ theo hướng tích cực trong dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay

Ba là, thực nghiệm so sánh việc thực hiện PPDH theo kiểu truyền thống

với việc kết hợp PPTLN và PPNVĐ theo hướng tích cực trong dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay

Trang 11

Bốn là, đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc kết

hợp PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT hiện nay

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu PPDH hiện nay có nhiều khuynh hướng khác nhau Có các tác giả thì đi sâu tìm hiểu về mặt lý luận của việc thực hiện đổi mới phương pháp nói chung; cũng có tác giả lại đi sâu nghiên cứu về thực tiễn thực hiện các phương pháp, đổi mới phương pháp ở các môn học cụ thể Tuy mức độ và khía cạnh tìm hiểu có khác nhau nhưng nhìn chung là các tác giả đều hướng đến tư tưởng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Vương Tất Đạt (1994), Phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân

(dùng cho phổ thông), trường Đại học Sư phạm I Hà Nội

Một khuynh hướng nữa trong nghiên cứu PPDH hiện nay đó là sự kết hợp giữa các phương pháp Khuynh hướng này cũng có rất nhiều các tác giả

quan tâm Cụ thể như TS Nguyễn Lương Bằng trong bài viết “Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường đại học hiện nay”,

ở Tạp chí Lý luận chính trị, số 7 - 2002 Tác giả đã chỉ ra rằng: Mỗi phương

Trang 12

pháp giảng dạy đều có giới hạn của mình, ngoài giới hạn ấy phải áp dụng phương pháp khác, phải tìm cách sử dụng mọi phương pháp cho đúng chỗ Các phương pháp có tính độc lập tương đối, chúng liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau và chỉ trong sự thống nhất với nhau chúng mới tìm thấy “sức mạnh”

của mình… hoặc tác giả Trịnh Hoàng Quyên “Kết hợp phương pháp trực quan và phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Chính trị ở Trường Trung cấp Thủy sản Thanh Hóa”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh; tác giả Nguyễn Thị Hồng Thơ, “Kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD lớp 11”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2009…

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy đây là những công trình rất sâu sắc Từ những góc độ khác nhau các tác giả đã đề cập, đã phân tích thực trạng dạy học, sự cần thiết phải đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa Tuy nhiên, đó

là cái chung, trên bình diện rộng, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu sự kết hợp PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Vì vậy, chúng tôi chọn nội dung này làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào lý luận và thực tiễn về việc kết hợp PPTLN và PPNVĐ trong quá trình đổi mới PPDH bộ môn GDCD ở trường THPT hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu PPTLN, PPNVĐ và sự kết hợp giữa PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT ở nước ta hiện nay (khảo sát ở trường THPT Ngô Gia Tự, Bắc Ninh)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tôi chỉ giới hạn nghiên cứu sự kết hợp PPTLN với PPNVĐ và khảo sát thực trạng tiến hành thực nghiệm so sánh kết hợp hai phương pháp trên trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Ngô Gia Tự, Bắc Ninh

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống,… Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp như điều tra xã hội học, thực nghiệm sư phạm, lấy ý kiến, thống kê toán học,…

6 Đóng góp mới của tác giả

Về mặt lý luận: Xây dựng quy trình vận dụng việc kết hợp PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Đề tài khẳng định con đường đổi mới PPDH trong nhà trường theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Về mặt thực tiễn: Giúp HS ngày càng thích thú học tập hơn và nhận thấy được tầm quan trọng của việc học tập môn GDCD ở trường THPT Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD ở trường THPT

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, lời cảm ơn, lời cam đoan, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm

3 chương 10 tiết

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP

THẢO LUẬN NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lý luận của sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

“Phương pháp” - Một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Methodos” nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “cách thức nhận thức”, nguyên văn là con đường đi tới một cái gì đó; có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích

PPDH được hiểu là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa GV và

HS nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học

PPDH GDCD là một khoa học, thuộc chuyên ngành khoa học giáo dục, một bộ phận của lí luận dạy học

1.1.1 Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD

1.1.1.1 Quan niệm về phương pháp thảo luận nhóm

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó

PPTLN có nguồn gốc từ những năm 70 của thế kỷ XX, ở trường đại học

sư phạm của một số nước tiên tiến, bắt đầu từ môn học “Năng động tập thể” (Group dynanies) - Một môn học dạy cho sinh viên kỹ năng làm việc theo nhóm, từ đó hình thành nên PPTLN trong dạy học ở tất cả các cấp học Ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong dạy học từ những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI

Trang 15

Thảo luận nhóm là phương pháp dùng để trao đổi ý kiến với người khác

về một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra mọi khía cạnh của vấn đề với mục đích cuối cùng là cả nhóm đạt được một cách hiểu thống nhất về vấn đề đó PPTLN là sự phát triển của phương pháp thảo luận trên lớp (xemina) Hiện nay phương pháp này được sử dụng khá phổ biến ở tất cả các môn học trong trường THPT, trong đó có môn GDCD

PPTLN giúp cho HS có cơ hội làm việc và thể hiện khả năng của mình một cách tối đa, được chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học

Thảo luận nhóm là PPDH hợp quy luật tâm lý con người Mọi người từ nhỏ đến lớn đều có xu hướng thích sinh hoạt, quan hệ và làm việc trong các nhóm nhỏ Ở đó mỗi người không những được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, có cảm giác an toàn mà còn xuất hiện những hứng khởi làm tăng hiệu xuất làm việc do có sự tương tác mặt đối mặt giữa các thành viên, có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực và trách nhiệm phải giải thích vấn đề thuộc về từng cá nhân trong nhóm và kĩ năng xử lý tình huống trong nhóm

1.1.1.2 Các hình thức thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm có nhiều hình thức khác nhau, hiệu quả của chúng tùy thuộc vào ý đồ và tính chất sử dụng của GV Dưới đây là một số hình thức thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

- Nhóm nhỏ thông thường: GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ (từ 5 -

7 HS) để thảo luận một vấn đề cụ thể và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể

về vấn đề đó Hình thức này thường được sử dụng kết hợp với các PPDH khác trong một bài học, một tiết học, nội dung thảo luận của nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít (từ 10 - 15 phút)

- Nhóm nhỏ rì rầm: GV chia lớp thành các nhóm “cực nhỏ” từ 2 - 3 HS

để trao đổi (rì rầm) và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề,

Trang 16

nêu một ý tưởng, một thái độ… Để nhóm rì rầm có hiệu quả, GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ kiện, gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với các câu trả lời để các thành viên tập trung vào giải quyết

- Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm, sau khi thảo luận theo cặp (nhóm rì rầm) các cặp (nhóm rì rầm) kết hợp thành một nhóm để hoàn thiện một vấn đề chung Nếu cần thiết có thể kết hợp nhóm này thành nhóm lớn hơn (từ 8 - 16 HS)

- Nhóm đồng tâm: GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm thảo luận và nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau) Nhóm thảo luận là nhóm nhỏ (6 -

12 HS) có nhiệm vụ thảo luận, trình bày vấn đề được giao, còn lại các thành viên khác trong lớp đóng vai trò là quan sát và phản biện Hình thức nhóm này rất có hiệu quả đối với việc dạy học các nội dung tri thức có tính khái quát, trừu tượng của môn GDCD, nó làm tăng ý thức trách nhiệm của cá nhân

HS trước tập thể và tạo động cơ cho những HS ngại trình bày ý tưởng của mình trước tập thể

1.1.1.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm

 Ưu điểm của phương pháp thảo luận nhóm

Các nghiên cứu về PPTLN trong dạy học môn GDCD đã chứng minh, phương pháp thảo luận nhóm có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, giúp cho kiến thức của HS giảm bớt tính chủ quan, phiến diện,

làm tăng tính khách quan khoa học Từ đó làm cho kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu học hỏi giữa các thành viên trong nhóm HS được rèn luyện kĩ năng diễn đạt, phương pháp tư duy

Thứ hai, thảo luận nhóm tạo ra không khí sôi nổi, cởi mở giúp HS thoải

mái, tự tin hơn trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của các thành viên khác Từ đó, tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm với nhau, nhất là trong những chủ đề có tính sáng tạo cao

Trang 17

Thứ ba, tạo điều kiện cho GV nhận được nhiều thông tin phản hồi từ HS,

thu được những tri thức kinh nghiệm qua các ý kiến phát biểu có suy nghĩ và sáng tạo của HS

Thứ tư, PPTLN giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn,

kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới bằng cách nói

ra điều mình nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV Thành công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia nhiệt tình của các thành viên Vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia

Như vậy, PPTLN được thực hiện tốt sẽ tăng cường tính tích cực, chủ động của HS, giúp HS tập trung vào bài học, phát triển được kĩ năng tư duy,

kĩ năng giao tiếp xã hội quan trọng khác

 Hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm

Thứ nhất, các nhóm và cá nhân trong nhóm dễ bị chệch hướng với các

chủ đề mà GV đưa ra Với các chủ đề thảo luận nội dung phong phú, hấp dẫn, phát biểu của HS dễ tản mạn, thiếu tập trung do mải theo đuổi ý tưởng riêng

Thứ hai, thảo luận nhóm là phương pháp tốn nhiều thời gian đặc biệt với

những tri thức khoa học có lôgic tường minh hoặc những tri thức có tính xác định cao

Thứ ba, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc nhiều vào tinh thần

tham gia của các thành viên trong nhóm Nếu chỉ có vài HS tham gia nhiệt tình

và số còn lại chỉ ngồi nghe, để mặc cho người khác dẫn dắt và quyết định

Thứ tư, đây là phương pháp dễ gây hứng thú cho HS nhưng cũng dễ tạo

ra trạng thái mệt mỏi, trì trệ

Thứ năm, phương pháp này đòi hỏi không gian rộng nhưng trên thực tế

thì ở các trường THPT hiện nay, việc sử dụng phương pháp này thì mới có kết

Trang 18

quả Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất cho đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới

Thứ sáu, GV gặp khó khăn trong việc tuân thủ thời gian khi kết quả thảo

luận của các nhóm đi xa trọng tâm

Thứ bảy, nếu lớp đông mà chia thành nhiều nhóm thì người dạy sẽ rất

vất vả trong việc bao quát toàn bộ lớp học

1.1.1.4 Cách tiến hành phương pháp thảo luận nhóm

 Làm việc chung cả lớp

GV nêu chủ đề thảo luận, xác định nhiệm vụ nhận thức

Tổ chức các nhóm (chia nhóm), giao nhiệm vụ (giao chủ đề thảo luận) Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm (nêu yêu cầu thảo luận, quy định thời gian, vị trí thảo luận)

 Làm việc theo nhóm

Phân công trong nhóm (cử nhóm trưởng, thư ký, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm)

Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm (sản phẩm của hoạt động nhóm có thể hiện trên các văn bản, bảng tư liệu, bản thiết

Trang 19

1.1.2 Phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD

1.1.2.1 Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD

PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó GV tạo ra các tình huống mâu thuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lí tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn, khích

lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái

độ học tập

Đây không phải là một PPDH cụ thể đơn thuần mà là một tập hợp nhiều PPDH liên kết chặt chẽ và tương tác với nhau trong đó phần nêu vấn đề (xây dựng bài toán nhận thức) giữ vai trò trung tâm chủ đạo PPDH nêu vấn đề là PPDH trong đó HS được lôi cuốn tham gia vào một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề (bài toán nhận thức), đòi hỏi người học tìm tòi phát hiện vấn đề và cách giải quyết vấn đề

GV cần cố gắng suy nghĩ, tạo điều kiện để HS tham gia giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV

Trang 20

Tìm tòi bộ phận: trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục lại bao gồm nhiều mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một bài giảng Vì thế hình thức tìm tòi bộ phận của PPNVĐ được sử dụng để truyền thụ tri thức trong mỗi bộ phận đó Như vậy, hình thức tìm tòi bộ phận được dùng để giải quyết từng phần của bài giảng Sau khi đưa HS vào tình huống có vấn đề, GV hướng dẫn HS tìm ra phương pháp tốt nhất để HS tự giải quyết vấn đề khái quát hóa tri thức đã giải quyết Cuối cùng GV tổng hợp chúng, hệ thống hóa lại giúp HS hiểu được những kiến thức cơ bản, trọng tâm của phần đó

Nêu vấn đề toàn bộ: đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH nêu vấn đề Ở hình thức này, dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của GV HS

tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu ra trong bài giảng Hình thức này được thực hiện sau khi được GV suy xét kĩ càng về nội dung kiến thức của bài giảng, về khả năng và trình độ tư duy, về kiến thức đã có của HS, của điều kiệu cho phép HS tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề Đương nhiên HS có thể giải quyết toàn bộ vấn đề nêu ra, bản thân GV đã phải suy nghĩ đến tiến trình

HS sẽ phải tiến hành, mỗi liên hệ giữa các phần, giữa giải quyết đề bộ phận với giải quyết vấn đề toàn bộ hướng vào trọng tâm, trọng điểm của bài, nếu

GV có phương pháp sư phạm tốt, có nghệ thuật sư phạm thì thông qua việc giảng dạy nêu vấn đề toàn bộ sẽ giúp cho HS có phương pháp tư duy khoa học, phương pháp nhận thức và phần nào có là phương pháp nghiên cứu khoa học Chính ở đây từng bước hình thành phương pháp học tập bộ môn của HS

và góp phần vào việc hình thành phương pháp tư duy và hành động khoa học cho HS

Giảng dạy và học tập bao giờ cũng là nhằm mục đích truyền thụ và lĩnh hội tri thức mới, củng cố tri thức đã có, nâng cao trình độ nhận thức trên cơ sở của những kiến thức đã tích lũy được Vì thế, nếu GV biết liên hệ những tri thức đã

Trang 21

tiếp thu được của HS với tri thức mới thì việc giảng dạy nêu vấn đề toàn bộ là có thể thực hiện được, ngay cả những tri thức được coi là hoàn toàn mới

Việc xem xét các mức độ của PPNVĐ trong dạy học môn GDCD là cần thiết Nhưng khi sử dụng chúng lại tùy thuộc vào khả năng và trình độ sư phạm của GV Nhiều khi việc sử dụng chúng lại được kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn trong một bài giảng

1.1.2.3 Ưu điểm và hạn chế của PPDH nêu vấn đề

 Ưu điểm của PPDH nêu vấn đề

Cung cấp môi trường sư phạm lí tưởng cho HS tổ chức các hoạt động học tập của mình Trong môi trường đó, dưới sự dưới sự hướng dẫn của GV

HS được trực tiếp làm việc với đối tượng học tập (tri thức khoa học), tự mình nghiên cứu, bóc tách nội dung học tập thông qua các tình huống

HS tiếp nhận nội dung bài học gắn với những tình huống cụ thể, điển hình theo nguyên tắc: tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôi nhớ và tôi làm thì tôi hiểu nhanh

Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của người khác vào việc giải quyết các vấn đề trong học tập và trong các lĩnh vực khác cho HS Phát triển cho HS

kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau Nâng cao lòng tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng như trong đời sống hiên thực Tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác để giải quyết tình huống

 Hạn chế của PPDH nêu vấn đề

Xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học là việc khó, không phải

GV nào cũng làm được Vì vậy đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm chuyên môn,

có trình độ sâu rộng và am hiểu những vấn đề thực tế liên quan đến bộ môn

Trang 22

Nếu GV tổ chức lớp học không tốt sẽ mất rất nhiều thời gian, lãng phí thời gian học tập vì HS tốn nhiều thời gian để giải quyết tình huống và rút ra các tri thức cần thiết

HS dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết tình huống, dễ nản chí khi gặp tình huống khó hoặc không nhiệt tình tham gia khi tình huống thiếu đi tính hấp dẫn Chưa kể đến những tình huống khó thực hiện do tốn kém kinh phí

1.1.2.4 Cách thức tiến hành phương pháp nêu vấn đề

- Xây dựng tình huống có vấn đề:

+ Tạo tình huống có vấn đề

+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết

- Giải quyết vấn đề đặt ra:

+ Đề xuất cách giải quyết

+ Lập kế hoạch (các bước) giải quyết

+ Thực hiện kế hoạch giải quyết

- Kết luận:

+ Thảo luận kết quả và đánh giá

+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

+ Phát biểu kết luận

+ Đề xuất vấn đề mới

Trong dạy học nêu vấn đề có thể phân biệt bốn mức trình độ:

Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải

quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc của HS

Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm cách giải quyết vấn đề HS thực

hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá

Trang 23

Mức 3: GV cung cấp thông tin có vấn đề HS phát hiện và xác định vấn

đề nảy sinh, tự đề xuất cách giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiện cách giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá

Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình

hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc

Lập kế hoạch

Giải quyết vấn đề

Kết luận, đánh giá

Có thể khẳng định hệ thống các phương pháp giảng dạy môn GDCD rất

đa dạng và phong phú Mỗi phương pháp có thế mạnh và những hạn chế nhất định Tùy theo nội dung tri thức mà người GV khéo léo lựa chọn và sử dụng các phương pháp sao cho hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất Muốn vậy bản thân mỗi nhà giáo phải có sự nhận thức, hiểu biết đầy đủ về các phương pháp đó

PPTLN và PPNVĐ cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định nên việc kết hợp hai phương pháp này với nhau sẽ khắc phục được những hạn chế của phương pháp kia, từ đó tạo ra hiệu quả cao hơn trong việc giảng dạy môn GDCD

Trang 24

Thảo luận nhóm là một PPDH có nhiều ưu điểm Nếu như phương pháp đàm thoại, nêu vấn đề có tác động tích cực tới sự động não của từng cá nhân riêng lẻ nhưng lại không có sự phối hợp giữa các thành viên trong tập thể thì trái lại, PPTLN lại phát huy được ưu và khắc phục nhược điểm của các phương pháp trên

Thảo luận nhóm tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ sự hiểu biết của mình, giúp HS phát triển khả năng tư duy và diễn đạt Tạo cơ hội cho mọi thành viên trong nhóm học hỏi lẫn nhau, tập lắng nghe ý kiến của người khác một cách kiên nhẫn, lịch sự, tập đánh giá ý kiến của người khác một cách độc lập

PPTLN giúp giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, tăng tính khách quan khoa học trong kiến thức của HS

Hình thành thói quen tương tác trong học tập, tăng năng lực hợp tác và không khí hiểu biết, đoàn kết, tin cậy lẫn nhau Kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm

PPTLN cải thiện mối quan hệ thầy – trò, trò – trò, GV có thông tin phản hồi

từ HS để điều chỉnh việc dạy của thầy, việc học của trò đồng thời tăng cường mối giao cảm thầy trò, khiến cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn

Bên cạnh đó PPNVĐ cũng có nhiều ưu điểm như cung cấp môi trường

sư phạm lí tưởng cho HS tổ chức các hoạt động học tập của mình Trong môi trường đó, dưới sự dưới sự hướng dẫn của GV HS được trực tiếp làm việc với đối tượng học tập (tri thức khoa học), tự mình nghiên cứu, bóc tách nội dung học tập thông qua các tình huống

HS tiếp nhận nội dung bài học gắn với những tình huống cụ thể, điển hình theo nguyên tắc: Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôi nhớ và tôi làm thì tôi hiểu nhanh

Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của người khác vào việc giải quyết

Trang 25

các vấn đề trong học tập và trong các lĩnh vực khác cho HS Phát triển cho HS

kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau Nâng cao lòng tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng như trong đời sống hiên thực Tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác để giải quyết tình huống

Từ đó, chúng ta có thể thấy được rằng, việc kết hợp tốt PPTLN và PPNVĐ trong dạy học môn GDCD sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, giúp HS tập trung vào bài học, phát triển được kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp của các em, giúp các em chủ động lĩnh hội được kiến thức bài học một cách dễ dàng

Như vậy, việc đổi mới PPDH hiện nay hết sức cần thiết và cần có sự quan tâm của toàn xã hội, vấn đề đặt ra lúc này là đổi mới theo hướng nào, đổi mới như thế nào mà thôi Đây là vấn đề quan trọng và cần phải được nhận thức kỹ càng không được nóng vội vì việc đổi mới mà không đúng đắn, chính xác và phù hợp thì không đem lại hiệu quả cao được Do vậy, trong quá trình thực hiện cần có sự tổng kết khảo nghiệm về kết quả của việc đổi mới, để từng bước bổ sung hoàn thiện, làm cho việc đổi mới đi đến thành công

Tóm lại, có thể từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn GDCD ở trường THPT thì công việc cần phải làm là việc đổi mới phương pháp dạy và học bộ môn cho phù hợp và đem lại hiểu quả nâng cao chất lượng giáo dục môn GDCD ở trường THPT

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

1.2.1 Đặc điểm nội dung môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay

Môn GDCD là một môn khoa học xã hội, có vị trí đặc biệt quan trọng trong trường THPT Điều này có được từ chính đặc thù về tri thức của môn

Trang 26

GDCD đem lại Có thể nêu lên một vài điểm riêng biệt về hệ thống tri thức của nó như sau:

Một là, nội dung tri thức môn GDCD bao gồm phạm vi kiến thức rộng

lớn, bao quát toàn bộ đời sống xã hội, những tri thức này được khái quát từ những vấn đề rất gần gũi, thiết thực trong đời sống thường nhật của cá nhân công dân, gia đình và xã hội đến những vấn đề lớn hơn của quốc gia, dân tộc, nhân loại Đây là những kiến thức thể hiện tên gọi của một môn học, dạy và học để làm người công dân Để trở thành người công dân đúng chuẩn mực xác định của người công dân Việt Nam trong thời đại mới - khỏe mạnh, tự trọng, có kiến thức, kĩ năng, có động lực học tập suốt đời, biết quan tâm tới người khác và có trách nhiệm với xã hội

Hai là, các tri thức môn GDCD mang tính khái quát cao, tính trừu tượng,

tính quy luật, tính lôgic chặt chẽ Đây là những tri thức mang tính định hướng chính trị sâu sắc, nó trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, tư tưởng của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp xác lập, củng cố định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa cho HS Toàn bộ nội dung từ lớp 10 đến lớp 12 tập trung vào việc xây dựng cho HS thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp luận đúng đắn với những biện pháp và hình thức khác nhau Những kiến thức triết học - nền tảng của thế giới quan, phương pháp luận khoa học đã trực tiếp giúp cho HS có được định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, biết cách giải quyết các mối quan hệ của bản thân với cộng đồng trên các lĩnh vực và ở những phạm vi khác nhau Những kiến thức về kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật, đạo đức… trực tiếp giúp cho HS bước đầu biết tìm hiểu, phân tích, đánh giá và tự rút ra kết luận đúng đắn về những vấn đề nóng bỏng của đất nước về thế giới Trên cơ sở những kiến thức được trang bị, HS có thể tự trả lời một cách khoa học, đúng đắn câu hỏi: Sống để làm gì? Sống như thế nào cho xứng đáng là người công

Trang 27

dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học

và giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS Song lợi thế hơn các môn khác, môn GDCD thực hiện nhiệm vụ này một cách trực tiếp Đây là đặc điểm nói lên khả năng to lớn và trách nhiệm nặng nề của môn GDCD trong trường THPT

Ba là, tri thức của môn GDCD mang tính tích hợp, có quan hệ chặt chẽ

với nhiều môn khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học khác Phân tích chương trình môn GDCD ta thấy môn học này chứa đựng nhiều loại kiến thức của các môn học khác nhau và ở một mức độ nhất định nào đó chứa đựng cả kiến thức của các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội Ví dụ: nguyên lý về sự phát triển trong triết học có liên quan đến toán học, hóa học, lí học, sinh học Khái niệm tồn tại xã hội trong triết học có liên quan tới địa lí, dân số Tính tích hợp đòi hỏi môn GDCD không chỉ xác lập phương pháp đặc thù cho cả môn học

mà còn phải xác lập phương pháp riêng cho từng phân môn

Bốn là, tri thức môn GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một

cách sinh động đời sống hiện thực, nếu việc dạy học tri thức môn GDCD tách khỏi thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì sẽ mất hết ý nghĩa và tác dụng Bởi lẽ, dạy học GDCD là dạy HS trở thành người công dân có tinh thần trách nhiệm của một thành viên hữu ích cho đất nước,

có những kiến thức và kĩ năng cần thiết để tham gia vào một thế giới đang thay đổi nhanh chóng Do đó, quá trình dạy học bộ môn phải trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện và tu dỡng của mỗi HS

Như vậy, môn GDCD ở trường THPT là một hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước Việt Nam Chính vì thế mà nội dung kiến thức môn GDCD rất trừu tượng, khó hiểu nên để giảng dạy tốt môn

Trang 28

GDCD cho HS THPT GV cần phải biết kết hợp các PPDH với nhau để làm cho bài giảng tốt hơn Trong đó việc kết hợp PPTLN với PPNVĐ là rất cần thiết để tạo ra một giờ học sôi nổi, giúp HS lĩnh hội được kiến thức một cách

dễ dàng hơn, tạo cho các em có hứng thú học môn này

1.2.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn giáo dục công dân

Từ trước đến nay HS dường như không mấy mặn mà với môn GDCD, hầu hết HS đều quan niệm môn học này là môn phụ Hơn nữa, môn học này không có mặt trong các kỳ thi quan trọng như thi tốt nghiệp hay thi đại học nên HS thường học chỉ để có đủ điểm, bỏ qua vấn đề suy ngẫm, tìm hiểu thêm kiến thức đằng sau mỗi bài học Chính vì vậy, việc học môn GDCD rơi vào tình trạng bị động và đối phó

Bên cạnh đó, thời lượng dành cho môn GDCD chỉ có 1 tiết/ tuần mà kiến thức thì nhiều nên HS càng cảm thấy ngại học Không những thế, GV không

có nhiều thời gian giảng dạy cặn kẽ cho HS một nội dung, vấn đề nào đó mà

HS có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn Thời gian không nhiều, thời lượng chương trình trong sách giáo khoa phải đảm bảo nên việc dạy học mang nặng tính

“cưỡi ngựa xem hoa”, làm sao để trả bài đầy đủ

Hiện nay, cả người quản lý và người dạy đều chưa nhận thức hết tầm quan trọng của bộ môn đã góp phần quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách của HS Môn GDCD chưa được xem như một công cụ để hỗ trợ cho HS, đem kiến thức học được trong nhà trường vận dụng, giải quyết những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống

Tình trạng thiếu GV giảng dạy đạt chất lượng cao, số GV kiêm nhiệm vẫn có và chất lượng thì không đồng đều, chất lượng giảng dạy bị giảm sút,

sự đầu tư về chất lượng cho bài giảng là chưa cao

Trang 29

Qua điều tra chúng tôi nhận thấy các PPDH tích cực hiện nay như: PPTLN, PPNVĐ, phương pháp động não,… các GV rất ít sử dụng Ngược lại nhóm PPDH truyền thống như: thuyết trình, diễn giải thì GV lại sử dụng thường xuyên Do nhận thức môn GDCD là môn phụ nên nhiều GV cũng không chú trọng đến việc giảng dạy, chính vì thế mà việc kết hợp các PPDH nói chung và việc kết hợp PPTLN với PPNVĐ không được GV chú trọng

Đi sâu tìm hiểu chúng tôi thấy rằng cái yếu của GV chính là ở PPDH, thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, khi lựa chọn PPDH, GV chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kĩ

nội dung để từ đó lựa chọn PPDH cho phù hợp

Thứ hai, nhận thức của GV về PPDH, những ưu điểm, nhược điểm của

PPDH và đặc biệt là PPDH tích cực còn rất mơ hồ

Thứ ba, về cấu trúc giờ học đa số các GV đều làm theo khuôn mẫu

không tạo được điểm nhấn cho tiết học chính vì thế mà dễ gây ra tình trạng nhàm chán cho bài giảng, các em HS không tìm thấy điều gì mới lạ nên không chú tâm thậm chí thờ ơ với bài giảng của GV

Những điểm hạn chế nói trên đã làm ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của HS và do đó làm giảm chất lượng học tập bộ môn

Các GV đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học: Tích cực đọc thêm tài liệu, học hỏi, trao đổi thêm với đồng nghiệp Tuy vậy, trên thực tế, chất lượng giảng dạy bộ môn này vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học Nhiều GV và HS cho rằng việc dạy và học bộ môn GDCD có sự kết hợp PPTLN và PPNVĐ có nhiều ưu điểm, nhưng việc áp dụng còn nhiều khó khăn

Trong nhà trường THPT, môn GDCD là môn khoa học xã hội có vị trí quan trọng trong việc giáo dục trực tiếp HS về thế giới quan và phương pháp luận, về đạo đức và lối sống Mặt khác, tri thức môn học này lại mang tính khái quát hóa rất cao, vì vậy đối với HS, việc lựa chọn và vận dụng PPDH

Trang 30

tích cực vào giảng dạy nhằm mang lại mục đích giáo dục cao nhất là điều vô cùng cần thiết Vận dụng PPDH tích cực vào bài giảng GDCD phải đạt được những yêu cầu cơ bản như: phát triển năng lực tư duy, rèn luyện quá trình nắm vững kĩ năng, kĩ xảo; phối hợp hài hòa giữa các PPDH tích cực; HS học tập một cách tích cực, chủ động và sáng tạo…

Thực tiễn dạy học môn GDCD ở trường THPT Ngô Gia Tự cho thấy, đa

số GV giảng dạy bộ môn đều sử dụng các phương pháp truyền thống, vì vậy, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Vấn đề đặt ra là cần nhanh chóng vận dụng các PPDH tích cực vào dạy học bộ môn

để nâng cao chất lượng học tập môn GDCD, góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện, giáo dục con người lao động mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Từ những lí do thiết thực trên tôi nhận thấy trong dạy học môn GDCD ở trường THPT tất yếu phải kết hợp PPTLN và PPNVĐ một cách linh hoạt, sáng tạo; ngoài ra cần có sự kết hợp với các PPDH khác để đảm bảo cho tiến trình dạy học mang lại hiệu quả cao

Trang 31

Chương 2 QUY TRÌNH KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN

NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY

HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 Quy trình chuẩn bị bài giảng

Để thực hiện một bài lên lớp, công việc quan trọng đầu tiên của GV là phải tiến hành thiết kế bài dạy học

Việc thiết kế phương án dạy học từng đơn vị kiến thức cụ thể (từng bài học) phải tuân theo một quy trình nhất định Quy trình đó giúp người GV xác định được những hoạt động của thầy và những hoạt động của trò, cũng như

dự kiến và hình dung được sự diễn tiến của quá trình dạy học Quy trình đó bao gồm các bước sau đây:

 Xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu là cái đích cần phải đạt tới sau mỗi bài học, do chính GV đề ra

và phải thực hiện để đạt được Để đạt được mục tiêu dạy học chúng ta cần phải thiết kế phương án dạy học thích hợp cho từng nội dung cụ thể Phương

án đó phải thể hiện rõ vai trò của thầy giáo trong việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của HS và vai trò của HS trong việc tích cực, tự lực, chủ động

và sáng tạo tìm kiếm và thu nhận tri thức Vì vậy, muốn thiết kế được phương

án dạy học cho từng bài học cụ thể trước hết thầy giáo cần xác định rõ mục tiêu của tiết học

GV cần xác định được những mục tiêu cơ bản của kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS phải nắm được sau các bài học trong dạy học môn GDCD Xác định mục tiêu bài học sẽ giúp GV thiết kế được các hoạt động dạy và học, xác định được phương pháp, phương tiện để thực hiện mục tiêu bài học Nếu GV

Trang 32

xác định đúng mục đích, yêu cầu, trọng tâm bài học thì việc tổ chức cho HS học tập theo cách kết hợp PPTLN và PPNVĐ mới tiến hành đúng hướng, đạt kết quả tốt Đối với HS, xác định được nội dung nào là trọng tâm, cần nắm vững sẽ giúp các em chủ động, tích cực hơn trong quá trình học tập, chiếm lĩnh tri thức

 Xác định nội dung trọng tâm

Nội dung trọng tâm là nội dung chính, cơ bản, mấu chốt của bài học, không thể bỏ qua hay tìm hiểu một cách sơ sài Việc xác định được nội dung trọng tâm của bài học một cách đúng đắn sẽ giúp người dạy sử dụng PPDH một cách phù hợp PPDH được vận dụng ở đây là kết hợp PPTLN và PPNVĐ Tùy vào từng nội dung, kiến thức cụ thể ở mỗi bài trong dạy học môn GDCD trong trường THPT để áp dụng PPTLN và PPNVĐ như thế nào cho phù hợp

 Xác định hình thức tổ chức dạy học

Hình thức tổ chức dạy học là hình thức bên ngoài của hoạt động phối hợp giữa GV và HS, được thiết lập theo những cấu trúc và trình tự xác định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Thông qua những hình thức tổ chức dạy học, GV vừa có thể truyền thụ, củng cố tri thức cho HS, vừa rèn luyện cho HS thói quen vận dụng tri thức vào cuộc sống, phát triển tư duy lôgic, khả năng độc lập sáng tạo trong học tập của HS Trong một hình thức tổ chức dạy học có thể sử dụng nhiều PPDH cụ thể với nhiều phương thức phối hợp khác nhau trong quá trình tương tác giữa GV và HS Như vậy, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức, sắp xếp các giờ học cho phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng bài, phù hợp với điều kiện và môi trường học tập nhằm làm cho quá trình dạy học đạt được kết quả tốt nhất Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có vị trí, vai trò nhất định, chúng có tác động qua lại, ảnh hưởng và

bổ sung lẫn nhau nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong việc hình thành, củng cố và phát triển nhân cách của HS

Trang 33

 Xác định phương pháp dạy học

Trong thiết kế bài dạy học, việc lựa chọn PPDH có tính quyết định đến việc thực hiện mục tiêu và chất lượng bài dạy học Để lựa chọn PPDH thích hợp đối với bài dạy học, GV cần dựa vào những cơ sở như: mục tiêu bài học, nội dung bài học, căn cứ vào các giai đoạn của quá trình nhận thức, căn cứ vào đối tượng học sinh, vào điều kiện vật chất của việc dạy học và căn cứ vào năng lực, tay nghề của GV Việc lựa chọn PPDH cần phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm hứng thú học tập cho HS

 Xác định phương tiện và tài liệu

Phương tiện dạy học là công cụ hỗ trợ GV và HS, giữ vai trò trung gian

để GV tác động vào đối tượng dạy học làm quá trình dạy - học thực hiện được tốt hơn Để có thể khai thác tốt hiệu quả của các phương tiện dạy học, chúng

ta cần phải lựa chọn và sử dụng các phương tiện trong dạy học Muốn vậy, để lựa chọn và sử dụng hợp lí các phương tiện dạy học cần phải căn cứ vào mục tiêu bài học, nội dung cụ thể của từng bài cũng như các PPDH mà GV sẽ sử dụng Phương tiện dạy học chủ yếu là các mô hình, sơ đồ, bảng biểu, số liệu thống kê… Có nội dung kiến thức thì cần ít, có nội dung kiến thức thì cần nhiều Nếu không có phương tiện dạy học thì không thể tiến hành quá trình dạy học, nếu có nhưng thiếu thì kết quả dạy - học bị hạn chế Như vậy, phương tiện dạy học có vai trò vô cùng quan trọng, nó quyết định sự tác động của GV đến đối tượng dạy học là như thế nào Học môn GDCD với những nội dung kiến thức phong phú và đa dạng, vừa mang tính lý luận, khái quát vừa thực tế gần gũi vì thế sử dụng phương tiện dạy học như máy chiếu, mô hình,

sơ đồ… sẽ giúp GV và HS làm sáng tỏ vấn đề một cách dễ dàng, hiệu quả Sách giáo khoa là tài liệu chủ yếu và bắt buộc phải có vì kiến thức trong sách

Trang 34

giáo khoa là kiến thức được biên soạn chuẩn Việc soạn và giảng của GV dù

có biến tấu linh hoạt như thế nào đi chăng nữa thì vẫn phải bán sát chương trình sách giáo khoa Ngoài ra còn có các loại tài liệu phục vụ nghiên cứu chuyên môn, sách, báo, chuẩn kiến thức, kỹ năng…

 Soạn nội dung chính của bài học

Đây chính là một phần, một bước trong quá trình soạn giáo án sau khi đã xác định được mục tiêu bài học, nội dung trọng tâm cũng như phương pháp

và phương tiện dạy học cho quá trình dạy học Đó là dự tính những hoạt động

sẽ diễn ra trong tiết học, tương ứng với mỗi phân khúc nội dung bài học sẽ có những mục tiêu nhỏ và để đạt được mục tiêu đó, GV sẽ tổ chức cho HS làm

gì Khi kết hợp PPTLN với PPNVĐ trong dạy học môn GDCD dự tính những hành động sẽ diễn ra trong tiết học ứng với mỗi nội dung cũng có nghĩa là dự tính những tình huống có thể xảy ra trong quá trình thảo luận Bởi vì trong quá trình thảo luận sẽ có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau được đưa ra Nếu không dự tính trước thì sẽ không thể giải quyết được vấn đề một cách trôi chảy, khéo léo và hợp lý Như vậy, soạn nội dung chính của bài học sẽ giúp cho người GV đảm bảo trật tự khoa học của thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ, đi đúng trình tự nội dung cần truyền đạt đồng thời giúp HS hiểu và nhớ lâu hơn nội dung bài học

2.2 Quy trình thực hiện bài giảng trên lớp sử dụng kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề

Bước 1: Ổn định tổ chức lớp

Đây là thủ tục đầu tiên khi bắt đầu tiết dạy, mục đích là để kiểm tra tình hình sĩ số của lớp, nắm được lí do HS vắng mặt đồng thời quan sát và nhận xét lớp

Bước 2: Kiểm tra bài cũ

Đây là một hoạt động rất quan trọng, cần được thực hiện một cách thường xuyên vào đầu giờ học để hình thành thói quen học bài cũ trước khi

Trang 35

đến lớp của HS, đồng thời nhằm đánh giá kết quả học bài cũ, nắm bắt thông tin phản hồi, chuẩn bị tư thế chủ động cho HS bắt đầu học bài mới Hoạt động này chỉ nên tiến hành trong khoảng 5 - 7 phút Để thu được hiệu quả cao nhất,

GV nên sử dụng nhiều hình thức khác nhau chứ không nên chỉ bằng một hình thức “trả bài” sẽ rất đơn điệu, nhàm chán

Bước 3: Giới thiệu bài mới

Hoạt động này rất cần thiết vì nó thu hút sự tập trung, chú ý của HS vào chủ đề của bài học Không có sự giới thiệu, dẫn dắt bài mới hoặc sự giới thiệu, dẫn dắt không khéo léo, lôi cuốn HS sẽ không thể xác định bài học này tìm hiểu về vấn đề gì, từ đó các em rất khó định hướng tư duy trong học tập

Vì thế, giới thiệu bài mới cần phải kết nối bài cũ và liên hệ với các sự kiện hiện tượng diễn ra trong cuộc sống để bài học mới trở nên thực tế và gần gũi giúp HS tiếp cận bài học một cách nhẹ nhàng, không nặng nề, áp lực

Bước 4: Dạy bài mới

Đây là quá trình GV vận dụng các PPDH tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức Kết hợp PPTLN với PPNVĐ, GV sẽ nêu ra một vấn đề cụ thể đồng thời

tổ chức cho HS thảo luận, trao đổi, phát biểu ý kiến, sau đó đúc rút lại kiến thức cần đạt của bài học Môn GDCD ở trường THPT kiến thức thường mang tính lý luận, trừu tượng rất khó đối với HS nên GV cần dành nhiều thời gian

để giảng giải kỹ lưỡng cho HS nắm đúng bản chất vấn đề sau đó đưa ra vấn

đề để HS thảo luận, cùng trao đổi mở rộng và khắc sâu hơn kiến thức bài học Đồng thời GV cần lựa chọn và đưa ra các tình huống hấp dẫn ngay từ đầu để các em tự tìm tòi, sáng tạo chứ không nên diễn giảng nhiều bởi điều đó sẽ làm cho các em cảm thấy nhàm chán

Trong quá trình sử dụng kết hợp hai phương pháp GV cần kết hợp một cách khéo léo tùy từng nội dung bài học, trình độ, đặc điểm của HS mỗi lớp Bên cánh đó cần phân bố hợp lý thời gian cho từng phần, từng mục để tránh trường hợp lên lớp bị “trống” hoặc “cháy” giáo án

Trang 36

Bước 5: Củng cố, luyện tập

Sau mỗi tiết học cần thực hiện bước củng cố, luyện tập bài học vì nó sẽ giúp cho HS khái quát lại được nội dung bài học, đồng thời vận dụng kiến thức để rèn luyện kỹ năng thông qua các tình huống, câu hỏi, bài tập Thực hiện bước này cũng là để GV hướng dẫn HS giải quyết các bài tập khó về nhà, yêu cầu HS chuẩn bị những nội dung công việc cụ thể để học bài mới có hiệu quả Mục tiêu của dạy học môn GDCD là thông qua các bài dạy hình thành, rèn luyện cho các em những kỹ năng cần thiết, biết vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Vì vậy, phần luyện tập, củng cố GV nên sử dụng các phiếu bài tập, các bài tập tình huống hoặc các trò chơi nhỏ… Bởi vì các hình thức này không chỉ tăng thêm hứng thú cho HS mà còn có thể đánh giá ngay được mức độ liên hệ thực tiễn của bản thân mỗi HS là như thế nào, thông qua đó giúp các em biết được cái đúng, cái sai, cái nên tránh, cái nên làm để hoàn thiện nhận thức và nhân cách bản thân

2.3 Quy trình kiểm tra đánh giá

Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Trong dạy học, đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, làm rõ những tác động, nguyên nhân của tình hình đó để GV có cơ sở điều chỉnh hoạt động dạy và học đạt kết quả cao hơn Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình giáo dục

Bên cạch việc đổi mới PPDH, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS hiện nay cũng cần được đổi mới Cùng với việc đổi mới, cần phải có

Trang 37

sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của

HS, khuyến khích HS vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào tình huống thực tế Khi đánh giá cần phải xuất phát từ mục tiêu dạy học; công

cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định, đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai… Hệ thống câu hỏi cần thể hiện sự phân hóa, có đầy đủ các cấp độ: hiểu, biết, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Tuy nhiên cần đảm bảo 70% câu hỏi, bài tập đo được mức

độ đạt trình độ chuẩn mặt bằng về nội dung và học vấn, 30% phản ánh mức

độ nâng cao dành cho HS có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn

Từ đó có thể kết luận rằng: kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cần được tiến hành theo những quy trình nhất định là:

Một là, căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định

mục tiêu đánh giá (Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ… nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá và các phương pháp đánh giá thích hợp)

Hai là, xây dựng hệ thống câu hỏi dựa trên mục tiêu đề ra và nội dung

cần đánh giá đồng thời đề ra đáp án

Ba là, tiến hành kiểm tra (phải tuân thủ đúng quy chế, nghiêm túc)

Bốn là, tiến hành chấm bài theo quy định

Năm là, tập hợp kết quả, phân tích số liệu, rút kinh nghiệm sau khi kiểm tra

Như vậy, kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng Kết quả của điều tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy và học Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

Ngày đăng: 29/09/2015, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bảy (2010), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Vũ Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
2. TS. Nguyễn Đăng Bằng (2002), Góp phần dạy tốt, học tốt môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần dạy tốt, học tốt môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
Tác giả: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
3. Nguyễn Thanh Bình (2005), Lý luận giáo dục học Việt Nam, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận giáo dục học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
4. Phùng Văn Bộ (1999), Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT
Tác giả: Phùng Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Sách giáo viên GDCD lớp 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên GDCD lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Sách giáo khoa GDCD lớp 11, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa GDCD lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. PGS.TS. Nguyễn Văn Cƣ (2007), Phương pháp dạy học chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Cƣ
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
8. Nguyễn Văn Cường (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
9. Hồ Thanh Diện (2007), Thiết kế bài giảng GDCD 11, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng GDCD 11
Tác giả: Hồ Thanh Diện
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
10. Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh (2008), Bài tập tình huống Giáo dục công dân 11, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tình huống Giáo dục công dân 11
Tác giả: Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
11. Vương Tất Đạt (1994), Phương pháp giảng dạy giáo dục công dân, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy giáo dục công dân
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 1994
12. Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga (2009), Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT
Tác giả: Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2009
13. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy và học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
14. Lê Đức Ngọc (2005), Giáo dục đại học - phương pháp dạy và học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học - phương pháp dạy và học
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
15. TS. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Lý luận dạy học, Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
16. Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
17. Phạm Viết Vƣợng (1996), Giáo dục học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Phạm Viết Vƣợng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Điểm trung bình môn GDCD học kỳ I năm học 2014 - 2015 - Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay
Bảng 1 Điểm trung bình môn GDCD học kỳ I năm học 2014 - 2015 (Trang 42)
Bảng  sau  đó  nhận  xét,  kết  luận,  kết - Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay
ng sau đó nhận xét, kết luận, kết (Trang 48)
Hình máy chiếu. - Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay
Hình m áy chiếu (Trang 49)
Bảng 2: So sánh, đối chứng kết quả học tập của HS qua bài kiểm tra 15 phút - Sự kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay
Bảng 2 So sánh, đối chứng kết quả học tập của HS qua bài kiểm tra 15 phút (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w