1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp biện pháp tách câu trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ

62 782 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 121,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... BIỆN PHÁP TÁCH CÂU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 3.1 Tách câu có vai trò khắc họa thực sống 3.1.1 Tách câu dùng đế khắc họa rõ nét hình tượng nhân vật Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng biện pháp. .. tài Biện pháp tách câu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Hi vọng đưa kết thống kê, phân loại, nhận xét bước đầu mức độ sử dụng hiệu nghệ thu t trường hợp tách câu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ. .. trần thu t truyện ngắn nhà văn nữ đương đại: Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư - Chu Thu Hiền - Khoa Ngữ Văn - Ngôn từ nghệ thu t truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Nguyễn Thị

Trang 1

PHẠM THỊ LƯỢNG

BIỆN PHÁP TÁCH CÂU TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ họcNgười hướng dẫn khoa họcThS - GVC LÊ

KIM NHUNG

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo Lê Kim Nhung

- giảng viên tô Ngôn ngữ, người đã tận tình giúp đờ, hướng dẫn em hoàn thành khóaluận này

Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong tổ Ngôn ngữ cùng toàn thể các thầy côtrong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho

em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hù Nội, ngày 5 thảng 5 năm 2015 Sinh viên

Trang 3

K37A - Ngữ văn SV: Phạm Thị Lượng

Phạm Thị Lượng

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả

nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS - GVC Lê Kim Nhung.

Đe tài này không trùng với kết quả của tác giả khác

Hà Nội, ngày 5 thảng 5 năm 2015 Sinh viên

Phạm Thị Lưọng

MỤC LỤC

Trang 4

MỚ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún 11

4 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cún 12

6 Đóng góp của đề tài 13

7 Bố cục của đề tài 14

NỘI DUNG 15

CHƯƠNG 1 Cơ SỚ LÝ LUẬN 15

1.1 Một số vấn đề khái quát về câu 15 1.1.1 Định nghĩa về câu 15

1.1.2 Tiêu chỉ phân loại câu 16

1.2 Biệ n pháp tách câu 17

1.2.1 Biện pháp tách cấu 17

1.2.2 Cơ sở nhận diện tách câu 19

1.2.3 Phân ỉoạỉ tách câu 23

1.2.4 Phãn biệt câu tách biệt với các kiêu câu khác 26

1.3 Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ 27 1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp 27

1.3.2 Đặc điếm sử dụng ngôn ngữ 28

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ VÀ NHẶN XÉT 30

2.1Kết quả thống kê 30

2.1.1 Bảng thống kê 30

Trang 5

K37A - Ngữ văn SV: Phạm Thị Lượng

2.1.2 Nhận xét kết quả thong kê 30

Trang 6

2.2 Miêu tả kết quả thống kê biện pháp tách câu 31

2.2.1 Tách câu trong câu đơn 31

2.2.2 Tách vé của câu ghép 43

CHƯƠNG 3 HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA BIỆN PHÁP TÁCH CÂƯ_TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THƯ HUỆ 46

3.1 Tách câu có vai trò khắc họa hiện thực cuộc sống 46

3.1.1 Tách câu được dùng đê khắc họa rỗ nét hình tượng nhân vật 46

3.1.2 Tảch câu được dùng đê khắc họa hoàn cảnh, điều kiện chi tiết của biến cố được nói tới 50

3.2 Tách câu thê hiện phong cách của nhà văn 54

3.2.1 Tách câu tạo ra nhịp điệu củ pháp cho câu văn 54

3.2.2 Tách câu với việc thê hiện giọng điệu riêng của nhà văn 55

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỜ ĐÂU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Có nhiều cách dẫn đến sự rung cảm trong tâm hồn của người đọc Neú các

tác phâm điêu khắc rung động người đọc bằng những hình khối chân thực, những tác phẩm hội họa rung động lòng người đọc bằng màu sắc và đường nét thì tác phâm văn học lại đem đến những xúc cảm cho người đọc bằng nghệ thuật của ngôn từ

Gorki cho rằng: “ Yeu to đầu tiên của văn học là ngôn từ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sông là chất liệu của văn học”.

Đó chính là lí do tại sao mà bất cứ người nghệ sĩ nào khi đặt bút cũng phải chú trọng đến việc sáng tạo ngôn từ sao cho đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy khi tiếp nhận tác phấm người đọc cần phải chú ý khai thác các yếu tố từ ngữ Và cái làm nên sự thành công của các phương diện ngôn ngữ chính là các biện pháp tu từ Neu không có các biện pháp tu từ thì tác phấm văn học chỉ là sự sắp xếp theo trật tự thông thường của

Trang 7

1.2 Trong các nhà văn Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút

được nhận xét là có khả năng làm “nóng bầu không khí văn chương” nước nhà Nhiềuđộc giả biết đến chị bởi phong cách riêng độc đáo và cuốn hút mà cây bút trẻ này đãtạo dựng được ở tác phấm của mình Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ đã được rấtnhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm Tuy nhiên tiếp cận tác phâm của chị họ mớichỉ dừng lại ở góc độ bài nghiên cứu ngắn không quá mười trang Tìm hiểu truyệnngắn của Thu Huệ từ góc độ ngôn ngữ đang được quan tâm vì ở mặt này Nguyễn ThịThu Huệ trong một chừng mực nào đó tiêu biếu cho xu hướng có sự sáng tạo trongcách viết Trong đó đáng chú ý là việc sử dụng biện pháp tách câu Vì vậy, chúng tôi

chọn đề tài: “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” để góp phần hiếu

rõ hơn phong cách truyện ngắn của nhà văn nữ này Đồng thời việc tìm hiểu về biệnpháp tách biệt trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có ý nghĩa góp thêm tư liệu đisâu vào giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam sau 1975

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Biện pháp tách câu

2.1.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp

Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp Tiếng Việt” - tập 2 Nxb GD

2007 có bàn hiện tượng câu dưới bậc Tác giả nêu định nghĩa “Caw dưới bấc là biến thê của câu có ngữ điệu kết thúc tự lập, nhưng không tự lập vê cẩu tạo ngữ pháp và về ngừ nghĩa ”

Trang 8

[1, tr 192] Tác giả viêt: “Tat cả những câu dùng trong đời sông của con người cũng như của một cộng đông ngôn ngữ, đêu là những câu - lời nổi, câu biến thê; đêu là những biến thê hiện thực của câu — ngôn ngữ; câu - mô hình” [1, tr 192] Xét trong phạm vi câu đơn, ngoài

những câu - lời nói phù hợp với những kiêu câu rời, đã được xem xét (câu đơn haithành phần và câu đơn đặc biệt), chúng ta còn gặp những cấu tạo ngôn ngữ được dùngvới tư cách những “câu” nhưng không phù hợp hoàn toàn với định nghĩa về câu như đànêu trên và có tổ chức khác thường (ở đây không đề cập đến những chuỗi từ bất thường

về nghĩa!) Các sách ngữ pháp trước đây thường gọi những “câu” như vậy là câu đơn

có thành phần tỉnh lược Trong nhà trường chúng thường bị coi là “câu què”, “câucụt”

Ví dụ:

“Của đảng mười Nhu chỉ bản được năm Có khi chăng lây được đông tiên nào là khác nữa” (Nam Cao)

Trang 9

SV: Phạm Thị Lượng 9 K37A - Ngữ vãn

Theo tác giả: Đứng bên trong “câu” mà nhìn thì có thê gọi là những câu có thànhphần tỉnh lược, thậm chí là những câu “què quặt” Có thể thấy, những kiêu này không cóđời sống tự lập, chúng chỉ xuất hiện được nhờ bám vào những câu lân cận hữu quan Vìvậy phải đứng trong tổ chức lớn hơn câu mà nhìn nhận chúng Ớ góc nhìn này, rõ ràngphân lớn chúng là bộ phận bô sung cho câu hữu quan Bởi vậy, phục hồi bộ phận đă được

“tỉnh lược” nhìn chung, cũng tức là lặp thừa phần tương ứng nầm ở câu lân cận hữu quan,nhất là đối với những câu “tỉnh lược” cả chủ ngừ lẫn vị ngữ

Những “câu” được nhấn mạnh trong ví dụ trên (và những câu tương tự chúng) lànhừng biến thể của câu nhưng không mang đầy đủ các đặc trưng cần yếu trong câu Mặtkhác, chúng cũng không thuộc về những đơn vị bậc thấp trong câu, chúng là những biếnthể dưới bậc của câu, gọi tắt là “câu dưới bậc” Câu dưới bậc chứa vị ngữ thì tự nó đã cótính vị ngữ, ta sẽ gọi nó là câu dưới bậc có tính vị ngữ tự thân Câu dưới bậc không chứa

vị ngừ thì tính vị ngừ của nó sẽ có tính lâm thời, tức là chỉ có được trong trường hợp sửdụng cụ thê, đó là câu có tính vị ngừ lâm thời

Câu dưới bậc có tính vị ngữ lâm thời chính là hiện tượng tách câu mà chúng tađang xét Đó là những câu dưới bậc vốn tương đương với chủ ngữ, hoặc chỉ tương đươngvới thành phân phụ của câu hay thành phân phụ của từ trong câu lân cạn hữu quan, nếu tasát nhập vào câu lân cận đó Căn cứ vào khả năng này chúng ta có ba kiêu nhỏ chủ yêusau đây

- Câu dưới bậc tương đương với chủ ngữ

Trang 10

“Tỏi nghĩ đến sức mạnh của thơ Chức năng và vinh dự của thơ”.

(Phạm Hổ)Như chúng ta thấy, trong giáo trình này tác giả đã đưa ra khái niệm và những tiêuchí phân loại của câu dưới bậc nhưng chưa phân biệt rõ hiện tượng tách câu với câu tỉnhlược và cũng mới chỉ ở giới hạn miêu tả, phân loại

Cũng trong giáo trình này, tác giả Diệp Quang Ban đã phân tích khả năng tách vếcủa câu ghép ra thành câu riêng (về cấu tạo, vẫn còn giữ lại các dấu hiệu cho thấy nó vốn

là một vế của câu ghép được tách ra), khả năng sử dụng một câu riêng có cấu tạo (dấuhiệu hình thức) tương tự một vế của câu ghép, nhưng không tìm thấy được một cách hiênnhiên vế kia (vế có quan hệ trực tiếp với nó) Tác giả nêu khả năng tách vế của câu ghépđẳng lập, câu ghép chuồi, câu ghép chính phụ và câu ghép qua lại

Như vậy, tác giả đã nêu những dấu hiệu (về hình thức và nội dung) đê nhận diệntách câu, miêu tả và phân loại tách câu theo cấu tạo ngữ pháp

2.1.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học

2.1.2.1 Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” - Nxb ĐHQG HN, 1997, tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Tách biệt là biện pháp tu từ đặc trưng của củ pháp biêu cảm, cụ thê là tách riêng một cách có dụng ỷ từ câu trúc củ pháp thông nhât ra một hay nhiêu bộ phận biệt lập vê mặt ngữ điệu, tách xa nhau băng một chỏ ngắt (trên chữ viết thì bằng dâu chẩm hoặc một dâu tương đương)” [3, tr 263].

Trong tách biệt, câu được hiện thực hóa đầy đủ về cấu trúc nhưng bị tách ta haihay nhiều bộ phận: bộ phận tách biệt được cấu tạo nên bởi một thành phần câu đã đượctách ra khỏi nòng cốt, hoặc bởi các phần nòng cốt đà bị tách ra; bộ phận còn là bộ phậnxuất phát hay bộ phận trung tâm

Ví dụ:

“Nói xong, anh ta vùng đứng lên, giơ tay chào mọi người rồi đi ra cửa Mọi người nhìn theo anh ta Im lặng”.

(Nguyễn Ngọc Tư)Tác giả nêu hiệu quả và cách sử dụng biện pháp này như sau:

- Cụ thê hóa nội dung của bộ phận trung tâm

Trang 11

S V: Phạm Thị Lượng 11 K37A - Ngữ vãn

- Đặc tả trạng thái tâm lí - cảm xúc của chủ thê

- Mô tả hoàn cảnh, điều kiện, chi tiết của những biến cố được nói đến

- Chuyến hóa thông báo một cách tự nhiên và sinh động, gắn kết các mảnh đoạncủa văn bản, tạo mảnh đoạn mới

- Hoàn thành chức năng tạo nhịp điệu cú pháp, nâng cao tính tình thái cho câuvăn; tạo nên những điểm dừng, điểm nhấn, làm nối bật đặc điểm kết cấu của lời văn

Tác giả cũng khăng định: “Cớ thê nói, tách biệt xuât hiện khả nhiêu trong thơ và đem lại một tác dụng biêu cảm - cảm xúc khả lớn”.[3, tr 264]

2.1.2.2 Cùng quan điểm nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiêng Việt” đã nhận xét: “Tách các thành phần câu, nâng các thành phần đó thành những câu, ngữ trực thuộc và câu dưới bậc là một biện pháp tu từ quan trọng” [3, tr 243]

Mặc dù cả hai tác giả trong cuốn sách đã nêu lên một số tác dụng của biện pháptách câu, khăng định hiệu quả tách câu, nhưng mới chỉ dừng lại là những gợi ý, nhữngnhận định cơ bản nhất và cũng chỉ dừng lại ở việc lấy ví dụ tách vị ngữ, chưa đưa ra bảngphân loại cụ thê của các trường hợp tách câu

2.1.2.3 Tác giả Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” - NXB Giáo dục, 1997 ở phần “Rên luyện kĩ năng đặt câu” đã nêu định nghĩa về tách câu như sau:

“Tách câu có nghĩa là tách một bộ phận của câu thành câu riêng”.[7, tr 214]

Tác giả có nêu một số trường hợp tách các bộ phận của câu thành câu riêng

Trang 12

(Nguyễn Thị Thu Huệ)

“Bác dư sức trở thành nhà vãn lớn của Châu Âu hay mộtnhà thơ thiên tài

Châu Ả Neu như không có những cái khác lớn hơn Bác”.

(Chế Lan Viên)Tác giả còn nêu tác dụng của việc tách một bộ phận của câu thành câu riêng biệt,

đó là:

- Làm nổi thông tin ở nòng cốt câu

- Làm nổi rõ thông tin trong bộ phận câu được tách riêng ra

- Tạo điều kiện đê chuyển sang một chủ đề khác

- Thể hiện những ý nghĩa nhất định trong miêu tả sự vật, sự việc, tâm trạng.Như vậy, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đà nêu được định nghĩa tách câu,

phân loại câu và một số hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu Tuy nhiên, cũng mới chỉdừng lại ở mức độ giới thiệu chứ chưa đi sâu phân tích

2.1.2.4 Cuốn “Tiếng Việt thực hành” của tác giả Hoàng Kim Ngọc - Nxb Văn hóa Thông tin 4/2007, trong phần nói về các cách biến đôi câu, nêu định nghĩa: “Tách câu có nghĩa là một bộ phận của câu thành một câu độc lập nhằm mục đích làm nôi rõ một thông tin nào đó” [6, tr 162]

Tác giả có đưa ra các trường hợp phân loại tách câu thành: Tách trạng ngừ, tách vịngừ, tách định ngữ, tách bố ngừ, và tách một về của câu ghép Khi phân loại tách câu nhưvậy tác giả đã đưa ra ví dụ minh họa cho từng loại

Trang 13

S V: Phạm Thị Lượng 13 K37A - Ngữ vãn

Ở cuốn sách tác giả còn nêu điều kiện đế nhận biết biện pháp tu từ tách câu đó là:

“Câu bị tách ra bao giờ cũng phải năm sau một câu trọn vẹn nào đó” [6, tr 163]

Có thé nói, việc xem xét và phân tích biện pháp tách câu từ góc độ phong cách học

đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập tới về cơ bản, các tác giả đà thốngnhất ở một định nghĩa, các cách phân loại và hiệu quả của biện pháp tách câu Tuy nhiên,trong một số trường hợp cụ thê chưa có sự thống nhất về cách nhận diện và miêu tả.2.1.2.5 Nghiên cứu biện pháp tách câu trong các đề tài, khóa luận tốt nghiệp:Qua tìm hiêu chúng tôi thống kê được các khóa luận tốt nghiệp sau:

- Đỗ Thị Thảo - K31C - Khoa Ngữ Văn, Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp táchcâu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

- Nguyễn Hà Phương - K32A - Khoa Ngữ Văn, Hiệu quả của các trường hợp táchcâu trong văn xuôi Nguyễn Tuân

- Trần Minh Phượng - K34C - Khoa Ngữ Văn, Hiệu quả nghệ thuật của biện pháptách câu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Như vậy, dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau có những đánh giá riêng theocách của mỗi người nhưng cuối cùng các tác giả mới chỉ đi vào giới thiệu khái quát líthuyết chứ chưa đi sâu vào phân tích, trên cơ sở những gợi ý trên chúng tôi đi sâu vào tìmhiêu biện pháp tách câu và hiệu quả của nó trong truyện ngăn Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2 Nghiên cứu về tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2.1 Nghiên cứu từ góc độ văn học, lí luận văn học

2.2.1.1 Các bài viết, bài nghiên cứu ở góc độ văn học, lí luận văn học trongtruyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ bắt đầu được độc giả yêu mến từ khi có tác phâm “Hậu thiênđường” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 9 năm 1993 Tuy rằng trước đó ThuHuệ đã được giải song chưa đê lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả Đen cuộc thi truyệnngắn của Tạp chí Quân đội 1992-1994, Nguyễn Thị Thu Huệ mới nổi lên như một ngôisao sáng trên văn đàn Mặc dù số lượng tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ không nhiềunhưng đóng góp của nhà văn không phải là nhỏ Nhừng sáng tác của Thu Huệ đă đế lại

Trang 14

những giá trị đáng kế khắng định vị trí của chị trong lòng bạn đọc Cho tới hiện tại,Nguyễn Thị Thu Huệ đã có 4 tập truyện ngắn và một số tác phâm in chung.

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy cho đến nay có một số bài viết của các nhànghiên cứu có uy tín quan tâm tới sáng tác của nhà văn ở một số khía cạnh khác nhau,tiêu biếu trong đó là một số bài viết:

Tác giả Bùi Việt Thắng, người chuyên nghiên cứu về truyện ngắn, đã nhận xét rất

chí lí về truyện của Thu Huệ Hai bài viết tiêu biêu là Năm truyện ngắn dự thi của một cây bút trẻ (1994) và phác thảo về Thu Huệ qua Tứ tử trình làng (2002) Tác giả đã nhận xét:

“Truyện ngắn Thu Huệ hấp dẫn rộng răi người đọc trước hết vì giàu chất đời” và “Nhữngtruyện ngắn hay của Thu Huệ là nhờ người viết biết bứt lên trên cái có thực đến tận cùng

đế tìm tòi cái gì đó cao hơn con người, đó là đời sống tâm hồn vốn không rõ ràng, rànhmạch, vốn bí ân khó giải thích bằng lý trí” Tác giả còn nhận xét về các phương diện

khác như đề tài, chủ đề trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Thu Huệ quan tâm đến gia đình trong xã hội hiện đại đang tồn tại và tan rã như thê nào, bởi những nguyên nhân nào”, tình huống “tuy hẹp nhưng đặc sắc”.

Nhà nghiên cứu Đoàn Hương nhận xét về sự lôi cuốn trong lối viết của Thu Huệ:

“Huệ lại có lối viết văn như bị “lên đồng” Trong truyện ngắn của mình không phải là cô

“kê” cho chúng ta nghe mà là cô “lôi” chúng ta đi theo nhân vật Đó là phong cách độc

đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ” Nhà nghiên cứu còn khăng định: “ Những truyện ngăn của Huệ được viết, được kê lại băng chính ngôn ngữ nhân vật: nhẹ nhàng và thanh thản trong những tình huống, những cảnh ngộ lại không yên tĩnh chút nào Cũng như những nhân vật của cô, cô không hê lên án một ai dù là một bà mẹ ích kỉ trong Hậu thiên đường, một người đàn ông tầm thường, nhạt nhẽo và giả dôi trong Cát đợi, hoặc những ông bổ, người mẹ quái gở trong Phù thủy Nhưng đọc truyện ngắn của Thu Huệ ta thấy những trang vỉêt không bình lặng Những nhân vật của cô làm cho ta đau đớn, âm thâm trách móc ta và thức tỉnh ta” Đây là những nhận xét tinh tế về cách xây dựng nhân vật

và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ.

Trang 15

S V: Phạm Thị Lượng 15 K37A - Ngữ vãn

Nhà văn Hồ Phương lại lưu ý đến vốn sống và sự trải nghiệm trong truyện ngắncủa Thu Huệ khi nhận xét: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây bút hết sức sắc sảo.Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại lọc lõi thế Nó như con mụ phùthủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biếtcả”

2.2.1.2 Khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 2 tìmhiếu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ văn học, lí luận văn học

- Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị ThuHuệ

2.2.2 Nghiên cứu ở góc độ ngôn ngừ

2.2.2.1 Các bài viết nghiên cứu ở góc độ ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn ThịThu Huệ

Trang 16

Trong bài viết “Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” đăng trên

Vanvn.net (nguồn Văn nghệ trẻ), tác giả Lộc Hoàng Lê Na đã khắng định: “Truyện ngắncủa Nguyễn Thị Thu Huệ thường biêu thị cá tính mạnh mẽ, dám nhìn thăng và nói thăng,thông qua lời kê của nhân vật xưng “tôi” Tác giả Lộc Hoàng Lê na đă phân lập và bìnhluận về yếu tố “độc thoại” đan cài hay tách biệt với dòng trần thuật trong các truyện ngắncủa Nguyễn Thị Thu Huệ Từ đó tác giả đã khắng định: Ngôn ngừ độc thoại nội tâmtrong các tác phấm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ góp phần tạo nên một giọngđiệu mới trong giai đoạn văn chương hiện đại sau 1975 với những sự nhìn nhận đánh giá

về một thế giới đa cực của hiện đại

Luận án tiến sĩ “Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắnNguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ” của Lê Thị Sao Chi thựchiện tại Trường Đại học Vinh (bảo vệ tháng 3 năm 2011) có nghiên cứu về ngôn ngữ độcthoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn của Thu Huệ Khi bàn về điều này, tác giảluận án nhận định: ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong truyện ngắn của Nguyễn Thị ThuHuệ thường đặt vào nhân vật nữ Đó thường là những khoảnh khắc suy tư về tình yêu,

hạnh phúc gia đình, chuyện ghen tuông, bất hạnh : “ Truyện ngăn của Nguyên Thị Thu Huệ chuyên nói vê cuộc sông gia đình và một trong những nội dung cơ bản là phản ảnh bi kịch vê sự bê tăc, không tìm ra cách giải quyết cho các vẩn đê trong cuộc sông Đời sông nội tâm các nhân vật trong Cát đợi; Người đi tìm giâc mơ; Tình yêu ơi, ở đâu?; Hậu thiên đường; Phủ thủy; Giai nhân; Thiêu phụ chưa chông luôn giăng xé trong những câu chuyện gia đình, hôn nhân, hạnh phúc, tình yêu ”

Tác giả Kim Dung khi nghiên cứu về đặc điểm văn phong của Nguyễn Thị Thu

Huệ, đã cho rằng: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt - vừa “bụi bặm” trong tả chân, vừa “trữ tình đằm thắm ”, văn của chị vừa “tảo bạo vừa thanh khiết” Một cái

gì đó không thuần nhất, không đơn giản thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong vănNguyễn Thị Thu Huệ”

Thông qua các bài nghiên cứu, phê bình, bài viết, giới nghiên cứu đã chỉ ra nhữnggiá trị độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ nhưng chưa có công trình nào đi

Trang 17

SV: Phạm Thị Lượng 17 K37A - Ngữ văn

sâu vào tìm hiêu hiệu quả của việc sử dụng câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.Các bài viết chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát

2.22.2 Khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 2 tìm

hiếu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ ngôn ngữ

- Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại: NguyễnThị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư - Chu Thu Hiền - Khoa Ngữ Văn

- Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Nguyễn Thị HuyềnTrang - Khoa Ngừ Văn

- Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Thiều Thị Hạnh

- Khoa Ngữ Văn

Như vậy, việc nghiên cứu về Nguyễn Thị Thu Huệ là một vấn đề cần thiết và cónhiều hướng tiếp cận khác nhau Trên cơ sở các bài nghiên cứu của các tác giả đi trước,

chúng tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” Hi

vọng sẽ đưa ra được kết quả thống kê, phân loại, nhận xét bước đầu về mức độ sử dụng

và hiệu quả nghệ thuật của các trường hợp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị ThuHuệ từ góc độ tu từ học ngữ pháp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài này góp phần củng cố và khắng định một vấn đề lý luận củaphong cách học đó là miêu tả phân loại và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháptách câu

- Góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp về mặt nghệ thuật của nhà văn

- Chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc học tập và giảng dạy môn Ngữ văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đê đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải thực hiện một số nhiệm vụ

- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài, lựa chọn cách hiêu thốngnhất và đầy đủ về phép tách câu

Trang 18

- Khảo sát, thống kê phân loại việc sử dụng tách câu trong một số tác phâm thuộcphạm vi nghiên cứu của khóa luận (Các tác phâm trong 4 tập truyện ngắn và một số tácphấm in chung của Nguyễn Thị Thu Huệ).

- Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu trong một số trường họp tiêubiếu Từ đó rút ra nhận xét về tác dụng của biện pháp tách câu

4 Đối tưọ'ng và giới hạn phạm vi nghiên cửu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tìm hiêu “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”.

4.2 Giới hạn phạm vỉ nghiên cứu

4.2.1 Giới hạn nội dung

- Dựa vào khái niệm và kiến thức lí thuyết về tách câu đe nhận diện các trườnghợp tách câu trong các trường hợp cụ thê của các tác phâm thuộc

- Xác định hiệu quả tu từ của phép tách câu trong các truyện ngắn của Nguyễn ThịThu Huệ

4.2.2 Giới hạn thống kê

Đê thực hiện khóa luận, tác giả khóa luận đã tiến hành thống kê phép tách câu

trong các tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ ở các tập truyện “Cữ/ đợi” (NXB Hà Nội, 1992), “Hậu thiên đường” (NXB Hội nhà văn, 1995), “Phù thủy” (NXB Văn học, 1997),

“27 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” ( NXB Hội nhà văn,

2001) , và một số tác phâm in chung trong các tập truyện chọn lọc như: “Hocing hôn màu cỏ ủa’ trong “Truyện ngăn các tác giả nừ tuyên chọn 1945-1995” (NXB Văn học, 1995), “Mùa thu vàng rực rỡ” trong “Truyện ngắn 2001” (NXB Hội nhà văn,

2002) , “Rượu cúc” trong “Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam ]975-2007” (NXB Phụ nữ, 2007).

5 Phương pháp nghiên cứu

Đe thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thong kê

Phương pháp này được sử dụng đê xác định và tập hợp các trường hợp tách câutrong văn bản thuộc đối tượng khảo sát

Trang 19

SV: Phạm Thị Lượng 19 K37A - Ngữ văn

5.2 Phương pháp phân loại

Phương pháp phân loại được sử dụng đế phân chia ngữ liệu đăthống kêthành các tiêu loại cụ thê dựa trên những tiêu chí đã được xác định

5.3 Phương pháp phân tích

Phương pháp này được dùng trong các trường hợp:

- Xem xét đặc điêm câu trúc cú pháp của câu, của đoạn văn bản - nhữngđơn

vị cú pháp được tạo ra từ phép tách câu

- Xem xét chức năng biếu đạt nội dung thông báo, nội dung cảm thụ của nhữngđơn vị cú pháp được tách biệt nhằm mục đích tu từ

- Đóng góp về mặt lí thuyết: Khắng định một vấn đề lí thuyết của Phong cách học

là hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tách câu trong các tác phấm của Nguyễn Thị ThuHuệ

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Khảo sát, thống kê góp phần làm phong phú vốnngừ liệu đe khẳng định biện pháp tách câu là biện pháp tu từ có giá trị nghệ thuật cao Đềtài còn là tư liệu cần thiết cho việc giảng dạy môn Ngừ Văn

Trang 20

7 Bố cục của đề tài

Đe tài gồm ba phần đó là:

Mở đàu Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Ket quả thống kê và nhận xét

Chương 3: Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tách câu trong truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu HuệKet luận

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số vấn đề khái quát về câu

1.1 L Định nghĩa về câu

Từ trước đến nay có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tài liệu đưa ra những định nghĩakhác nhau về câu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi quan tâm đến một số địnhnghĩa về câu sau:

Hoàng Trọng Phiến trong “Ngữ pháp tiếng Việt” - 1978 định nghĩa: “ Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thông các đơn vị ngôn ngữ, câu là một ngữ tuyên được hoàn thành

vê ngữ pháp và vê ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo quy tăc của một ngôn ngữ nhất định, là phương diện đê biêu đạt tư tưởng, thải độ của người nói với hiện thực”.

Đinh Trọng Lạc cho răng: “Câu là lời nói diên đạt một ỷ tương đổi trọn vẹn” (Sổ tay

tiếng Việt THPT- NXB Hà Nội, 1994)

Đe có thể đưa ra một khái niệm về câu một cách hoàn chỉnh và hợp lý, tác giảDiệp Quang Ban đã nhận xét về câu trên hai phương diện:

- về mặt ngữ pháp, khi so sánh câu với văn bản, câu là đơn vị cấu trúc ngừ phápmang nghĩa, văn bản là đơn vị nghĩa có cấu trúc khác nhau

- Vê mặt tô chức nội bộ của câu, câu là một khúc đoạn ngôn ngừ tập trung xungquanh một vị ngữ (yếu tố trung tâm của câu về ngữ pháp và ngữ nghĩa), và được dùng đediễn đạt một sự việc

Trang 21

SV: Phạm Thị Lượng 21 K37A - Ngữ văn

Từ hai mặt xem xét trên, tác giả đưa ra định nghĩa về câu như sau:

“Câu (cảu đơn) là đơn vị lớn nhất của mặt câu trúc trong tô chức ngữ pháp của một ngôn ngừ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngừ tập trung xung quanh một vị ngừ (vị tô), và được dùng đê diên đạt một sự thê (hay một sự việc)” [1, tr 7].

Định nghĩa trên có tính khái quát cao, không phân biệt ngôn ngữ nói và viết,không phân biệt ngôn ngừ thuộc các loại hình khác nhau, chỉ kiêu nghĩa rõ nhất và tươngđối ổn định trong một câu là nghĩa chỉ sự việc, chưa tính các kiêu câu khác

Trong giáo trình “Ngừ pháp tiếng Việt”, 2002 Đỗ Thị Kim Liên đã định nghĩa:

“Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quả trình suy nghĩ được gắn với ngữ cảnh nhất định nhăm mục đích thông báo hay thê hiện thải độ đảnh giả Câu cỏ câu tạo ngữ pháp độc lập và cỏ ngữ điệu kêt thúc”.

1.1.2 Tiêu chỉ phân loại câu

1.1.2.1 Tiêu chỉ phân loại

Có nhiều cách phân loại câu, tùy theo tiêu chí của mỗi tác giả nghiên cứu mà câuđược phân loại thành nhiều loại khác nhau Ớ đây chúng tôi theo cách phân loại câu của

GS - TS Diệp Quang Ban để có được tính hệ thống và nhất quán khi nghiên cứu về vấn

đề tách câu trong trường hợp câu được phân loại

Sự phân loại của tác giả Diệp Quang Ban gồm:

- Mặt cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu

- Mặt tác dụng giao tiếp cơ bản hay mục đích nói của câu

- Mặt cấu tạo dạng phủ định của câu

ơ đây, chúng ta chỉ bàn đên cách phân loại vê mặt ngữ nghĩa, tức là sự phân loạidựa đồng thời vào hình thức biêu hiện và nội dung khái quát được biếu hiện Sự phân loạinày, mặt khác cúng là căn cứ trước hết vào câu ở vị trí cô lập, không đặt nó vào tô chứclớn hơn, không tính vào yếu tố bên ngoài của bản thân

Như vậy, câu sẽ được phân loại thành: câu đơn và câu ghép Và trong mỗi loại câulại được chia nhỏ thành nhiều loại câu khác nữa

1.1.2.2 Kêt quả phân loại

• Câu đơn

Trang 22

- Khái niệm: Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị (câu đơn hai thành phần) vàcụm chủ vị này đồng thời cũng là nòng cốt câu.

Ví dụ: Cô ây là y tả.

CN; Cô ấy

VN: là y tá

- Phân loại câu đơn

+ Câu đơn hai thành phần

+ Câu đơn đặc biệt

+ Câu đơn mở rộng nòng cốt câu: thành phần phụ của câu

+ Câu đơn mở rộng thành phần câu: thành phần phụ của từ

+ Câu dưới bậc

• Câu ghép

- Khái niệm: Câu ghép là câu có từ hai kết cấu c - V trở lên Các kết cấu c - V ấykhông bao nhau song chúng lại có ý nghĩa quan hệ chặt chẽ về mặt ngữ pháp

Ví dụ 1: Vợ anh không kêu mà bà trùm cũng không giục rặn nữa.

(Nguyễn Công Hoan)CN1: Vợ anh VN1: không

kêu CN2: bà trùm VN2:

không giục rặn nữa

- Phân loại câu ghép:

Trang 23

SV: Phạm Thị Lượng 23 K37A - Ngữ văn

một hay nhiều bộ phận biệt lập về mặt ngữ điệu, tách xa nhau bằng một chồ ngắt (trênchữ viết thì bằng dấu chấm hoặc một dấu tương đương)”

Tách biệt có thế tác động qua lại với những phương tiện biêu cảm khác của cúpháp như: lặp, sóng đôi đế tăng cường chúng

Trong tách câu, câu được hiện thực hóa đầy đủ về cấu trúc nhưng bị tách ra haihay nhiều bộ phận: bộ phận tách biệt được tạo nên bởi một thành phần câu đã

được tách ra khỏi nòng cốt, hoặc bởi các phần nòng cốt đã bịtách ra; bộ

phận cònlại là bộ phận xuất phát hay bộ phận trung tâm

Ví dụ:

“Nói xong, anh ta vùng đứng lên, giơ tay chào mọi người rồi đi ra cửa Mọi người

nhìn theo anh ta Im lặng”.

1.2.1.2 Hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu

• Tách câu được dùng đê khăc họa rõ nét hình tượng nhân vật

Trang 24

(Nguyễn Thị Ngọc Tú)

• Tách câu có thê thấy chức năng chuyển hóa thông báo một cách tự nhiên vàsinh động, có giá trị như một sự đánh dấu các đoạn văn bản liên đới với nhau, gắn kết cácđoạn văn bản, tạo đoạn văn bản mới

• Tách câu hoàn thành chức năng tạo nhịp điệu cú pháp, nâng cao tính tình tháicho câu văn Trong chuồi ngừ lưu, tách câu tạo nên những điểm dừng, điểm nhấn

Ví dụ:

“Huống hồ giá nào cho xứng cái mà cuốn sách chứa đựng, gợi mở Một tư tưởng khai sảng Một kiến thức nền tảng Một cách gọi tên sự vật Một dung cảm thần tiên Một phút giây suy tưởng Một mơ mộng Một bâng khuâng, một bắng lăng, một khoải cảm được biêu hiện năng lực người của mình”.

(Ma Văn Kháng)

Ớ ví dụ này, chúng ta thấy được nhịp điệu cảm xúc của hiện thực đã chi phối cấutrúc cú pháp Một tình cảm mạnh mẽ, một nỗi bức xúc ngột ngạt đã chi phối mạch văn

Từ đó nâng cao tính tình thái của đoạn văn

Tách câu không chỉ xuất hiện trong cú pháp nghệ thuật, nó còn có mặt ở hầu hếtcác phong cách chức năng như phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính luận,phong cách khoa học, phong cách hành chính - công vụ Tuy nhiên chỉ trong ngôn ngữnghệ thuật, tách câu mới thực sự trở thành một biện pháp tu từ có giá trị thâm mĩ: tăngthông tin bô sung, xây dựng câu trúc lời nói nghệ thuật, gây hiệu quả thâm mĩ Trong lờinói hội thoại, tách câu có giá trị biêu cảm: thu hút được sự chú ỷ của người đối thoại, thêhiện tình cảm trực tiếp của người nói Còn trong lời nói nghị luận và lời nói hành chính

nó chỉ có giá trị thông tin: đảm bảo hiệu quả thông báo

1.2.2 Cơ sở nhận diện tách câu

1.2.2.1 Dựa vào câu tạo ngữ pháp

Trang 25

SV: Phạm Thị Lượng 25 K37A - Ngữ văn

Câu được tách ra là một bộ phận của câu đi trước hoặc đi sau nó Các quan hệ từ,các liên từ, phụ từ hô ứng giữa câu được tách và câu trung tâm chính là dấu hiệu đếchúng xem xét, nhận diện tách câu

Ví dụ:

“Người tôi thoắt lạnh, thoắt nóng Rồi bắt đầu run”.

(Nguyễn Thị Thu Huệ)Dựa vào chức năng ngữ pháp thì bộ phận được tách ra đồng chức năng với bộphận câu trước nó

Theo tác giả Hoàng Kim Ngọc trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” - Nxb Văn hóa Thông

tin - 2007 thì “Câu bị tách bao giò' cũng phải năm sau một câu trọn vẹn nào đó” và có thê kiêm tra băng cách “nêu bỏ dâu châm, nó sẽ trở thành một bộ phận của câu trước”.

Ví dụ:

“Bầu trời bồng tối sầm lại như mực Đen thui”.

Hoặc là bộ phận tách cùng có thê là một vế của câu ghép

Ví dụ:

“Em hay mua sắm cho tôi Bởi tôi nghèo”.

(Nguyễn Thị Thu Huệ)Những câu được tách ra như trong ví dụ trên nếu đứng một mình hay xét từ bêntrong thì chúng là những câu không đầy đủ, câu què câu cụt (câu sai cú pháp) Nhưngnếu nhìn chúng từ bên ngoài, trong mối quan hệ với những câu khác (đi trước hoặc đi sauchúng) thì chúng là những câu bô sung thêm hoặc chuấn bị cho những câu mà chúng cóliên hệ về ngữ pháp và ngữ nghĩa

1.2.2.2 Dựa vào hiệu quả tu từ

Tách câu là một biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tách câu luôn được sử dụngvới mục đích và dụng ý của người viết Vì thế sử dụng phép tách câu mang lại một hiệuquả nhất định Nhận diện tách câu dựa vào hiệu quả nghệ thuật của nó, tức là phải xemcâu được tách ra với dụng ỷ gì và hiệu quả nghệ thuật của câu tách ra đó là gì

Ví dụ:

Trang 26

“Dung là cô gái bà béo chủ nhà Chăng đẹp gì nhưng cũng mũm mĩm và trắng trẻo.

Mà lại là con một Mà lại diện Cô diện nhất vùng này”.

(Nam Cao)

ơ ví dụ này, tách câu được dùng đê cụ thê hóa nội dung của bộ phận trung

tâm

1.2.2.3 Dựa vào tỉnh liên kêt giữa các câu

Như đà nói ở trên, câu được tách ra nếu đứng một mình chúng sẽ không có ýnghĩa (cả về ngừ pháp và ngữ nghĩa) Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngừ pháp

Tiếng Việt” - tập 2, Nxb Giáo dục 1997 cũng viết: “Câu dưới bậc tự thân nó là không có

tính tự lập về ngữ pháp và ngữ nghĩa Vì vậy, một đặc trưng cần yếu trong sự tồn tại của

nó là sự liên kết giữa câu lân cận hữu quan” Tính chất gắn bó của câu này với câu khácnói chung trong một tô chức ngôn ngữ lớn hơn câu được gọi là tính liên kết Tính liên kếtgiữa các câu có thê được biểu hiện tường minh, nghĩa là chỉ được thực hiện qua nội dung

ý nghĩa và trật tự sắp xếp của câu Nhìn trên đại thể trong một tô hợp nhiều câu, thườngtồn tại ba kiêu liên kết chính sau đây:

- Liên kết hướng tới (dự báo) là mối liên hệ ý của câu trước với ý của câu sau nó,thuận theo hướng của dòng âm thanh khi nói, hướng về tương lai

Ví dụ:

u về việc riêng - suốt đời tôi phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân Nay dù phải từ

biệt thế giới này tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục

vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa

Trang 27

SV: Phạm Thị Lượng 27 K37A - Ngữ văn

Ví dụ:

“Bác chắt chiu đê dành được hai trăm Đông Dương, định về tô chức cho nó cướicái Soan xong Bác hãy về hậu phương mà tăng gia sản xuất, nộp thuế nông nghiệp nuôiđồng đội

về hậu phương

Cấp trên cho bác về mấy lượt, bác còn chần chừ”

(Lê Khâm)

1.2.2.4 Dựa vào ngữ nghĩa

Câu được tách ra có quan hệ chặt chẽ với câu đi trước hoặc câu đi sau nó về mặtngữ nghĩa Câu được tách ra có cùng nội dung ngừ nghĩa, bồ sung, chi tiết hóa câu đitrước hoặc câu đi sau nó, bởi câu tách được người viết sử dụng nhằm làm rõ nội dung ýnghĩa nào đó cho câu trung tâm Vì vậy nếu đứng một mình thì câu tách ra không cónghĩa

Ví dụ:

“Hắn không còn kinh rượu nừa nhưng cố uống cho thật ít Đe cho khỏi tốn tiền.

Nhưng nhất là đế tỉnh táo mà yêu nhau”

(Nam Cao)

“Đê cho khỏi ton tiền” vốn là bố ngữ chỉ mục đích nhưng được tách ra thành câu

riêng đế nhấn mạnh sự thay đổi, thức tỉnh nhận thức của Chí Phèo

Dựa vào những căn cứ đế nhận diện biện pháp tách câu như trên (dựa vào ngừnghĩa, dựa vào cấu tạo ngữ pháp, dựa vào hiệu quả tu từ và dựa vào tính liên kết giừa cáccâu), những trường hợp bộ phận câu được tách ra đứng trước nòng cốt câu hoặc có thểkhông có thành phần đồng chức năng cũng được xác định là biện pháp tách câu:

Ví dụ:

“Đêm đỏ Là đêm trắng

(Nguyễn Thị Thu Huệ)

Có thê lí giải như sau:

Trang 28

- Xét về mặt cấu tạo, những trường hợp này nếu bỏ dấu chấm, lập tức nó là bộphận của phần câu đứng trước hoặc sau nó.

- Xét về mặt liên kết, các câu này đa số liên kết với nhau theo kiểu liên kết hướngtới (dự báo): tức là mối liên hệ ý của câu đứng trước với câu đứng sau nó, thuận theohướng của dòng âm thanh khi nói, hướng về tương lai

- Xét về nội dung, nếu chúng ta đứng trong “câu” mà nhìn nhận thì chúng lànhững câu không hoàn chỉnh (câu què, câu cụt) Những câu kiểu này không có đời sống

tự lập, chúng chỉ có ý nghĩa nhờ bám vào những câu lân cận hữu quan Nhưng nếu chúngđứng trong tô chức lơn hơn câu mà nhìn nhận thì chúng đóng vai trò là thành phân bôsung cho câu hữu quan Vì vậy đê hiêu được ý nghĩa của những câu này dựa vào nhữngcâu lân cận hừu quan

- Xét về hiệu quả, những trường hợp tách câu này cũng không nằm ngoài mụcđích đó Hiệu quả tu từ của nghệ thuật tách câu trong những trương hợp này có thê là cụthê hóa nội dung của bộ phận trung tâm hay đặc tả trạng thái tâm lí, cảm xúc của chủthế tùy thuộc vào dụng ỷ của người viết

Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng những căn cứ trên đê nhận diện và phânloại biện pháp tách câu

1.2.3 Phân loại tách câu

Có thể chia làm hai loại:

- Tách câu trong câu đơn

- Tách câu trong câu ghép

1.2.3.1 Tách câu trong câu đơn

Câu đơn là câu được cấu tạo nên bởi một kết cấu chủ ngừ - vị ngữ nòng cốt Ngoài

ra câu đơn còn có các cụm từ bồ sung cho nòng cốt câu như bố ngữ và định ngữ Dựa vàođịnh nghĩa ta có thê phân loại tách câu trong câu đơn thành những loại sau:

• Tách trong phạm vi câu

- Tách vị ngừ

Ví dụ:

Trang 29

SV: Phạm Thị Lượng 29 K37A - Ngữ văn

“Nó lùi lại Chùi nước mắt Đi ra đứng giữa hai hàng ghế”.

(Nguyễn Thị Thu Huệ)

“Tình lại khẽ nâng một cành ôi Còn nguyên cả lá và lúc lỉu đến năm sáu quả”.

1.2.3.2 Tách câu trong câu ghép

Câu ghép là câu có từ hai kết câu chủ - vị trở lên, trong đó mỗi kết cấu chủ - vị làm thành một vế câu, không có kết cấu chủ - vị nào bị bao bên trong kết cấu chủ

- vị khác

Kiểu câu ghép mà mồi vế là một cụm chủ - vị và có kết từ nối các vế, thườngđược coi là kiểu tiêu biểu của câu ghép Dựa vào quan hệ ngữ pháp vàmối liên hệ ýnghĩa giữa các vế của câu ghép tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngừ pháp TiếngViệt” - tập 2, Nxb Giáo dục, 2007 đã chia câu ghép có từ thành hai loại:

Trang 30

+ Câu ghép đẳng lập cóquan hệ nối tiếp.

+ Câu ghép đắng lập cóquan hệ lựa chọn

+ Câu ghép có quan hệ đối chiếu

- Câu ghép chính phụ:

+ Câu ghép có quan hệ nguyên nhân - kết quả

+ Câu ghép có quan hệ điều kiện - hệ quả

+ Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến

+ Câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện

Tương ứng với các loại câu ghép này, chúng ta có kiêu tách câu trong câu ghép như sau:

• Tách vế của câu ghép đắng lập

Câu ghép đắng lập là câu ghép trong đó các vế có vai trò ngang nhau về ngữ pháp,các vế trong câu ghép này được liên kết với nhau bằng quan hệ từ bình đăng với nhữngsắc thái ý nghĩa rất tinh tế

Một số quan hệ từ bình đang thường dùng đê nối các vế trong câu ghép đang lập

đó là:

- Và, rồi (chỉ quan hệ liệt kê đồng thời hoặc nối tiếp)

- Còn, thì, mà, nhưng mang mội dung ý nghĩa đối chiếu

Khi tách vế câu ghép đẳng lập thì các quan hệ từ nêu trên sẽ đứng ở đầu câu đượctách Căn cứ vào các kết từ và ý nghĩa của chúng, người ta chia câu ghép đắng lập thànhbốn loại Và tương ứng với nó, chúng ta có các kiểu tách câu trong câu ghép đẳng lập nhưsau:

+ Tách vế trong câu ghép đẳng lập có quan hệ liệt kê, nối tiếp, giữa các vế códùng quan hệ từ: Và, rồi

Ví dụ:

“Những chiếc lồng chim ri trên nền rơm vàng và tiếng lúc lắc mõ của trâu đang

mùa thong thả Và từng bầy chim chao cảnh trong nắng, líu ríu đậu trĩu cả những ngọn giang”.

(Dương Bình Nguyên)

Trang 31

SV: Phạm Thị Lượng 31 K37A - Ngữ văn

+ Tách vế trong các câu ghép có quan hệ đối chiếu, giữa các vế có dùng quan hệtừ: nhưng, song, còn

Câu ghép chính phụ là câu ghép trong đó có vế phụ và vế chính về quan hệ ngữ

pháp, vế phụ bao giờ cũng được đánh dấu bằng quan hệ từ phụ thuộc ở đầu vế chính có

thê có quan hệ từ tương ứng nhưng không băt buộc

Ví dụ:

“Có cảm giác Nếu tôi siết mạnh hơn tí nữa Ông sẽ gãy xương”.

(Nam Cao)

1.2.4 Phân biệt câu tách biệt với các kiêu câu khác

1.2.4.1 Phân biệt vâu tách biệt với câu tỉnh lược

• Khái niệm câu tỉnh lược

Câu tỉnh lược là kết quả của sự bớt thành phần ngữ pháp nào đó ở câu bìnhthường

Ví dụ:

(1) Chiều lên thư viện không?

(2) Không (3) Phải đi học

- Khác nhau: Neu như câu tỉnh lược khôi phục bằng cách khôi phục lại thành

Ngày đăng: 29/09/2015, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w