... ứng tạo mô sẹo từ đốt thân non hoa Cúc nhật CN01 - Cảm ứng tạo mô sẹo từ non hoa Cúc nhật CN01 - Tạo dòng huyền phù tế bào cụm tế bào hoa Cúc nhật CN01 - Tái sinh chồi từ dung dịch huyền phù tế. .. ứng tạo mô sẹo từ non hoa Cúc nhật CN01 3.2 TẠO DÒNG TẾ BÀO HUYỀN PHÙ CÂY HOA CÚC NHẬT CN01 Nhằm mục tiêu chủ động nhân nhanh sinh khối tế bào, nhu cầu nuôi cấy mô sẹo nhƣ dịch huyền phù hoa Cúc. .. mô sẹo từ mẫu đốt thân non hoa Cúc nhật CN01 29 3.2 TẠO DÒNG TẾ BÀO HUYỀN PHÙ CÂY HOA CÚC NHẬT CN01 36 3.3 TÁI SINH CHỒI TỪ DUNG DỊCH HUYỀN PHÙ CHỨA TẾ BÀO VÀ CỤM TẾ BÀO 38 KẾT LUẬN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học
ThS PHẠM THỊ KIM DUNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS
TS Lê Văn Sơn - Viện Công nghệ Sinh học đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành khóa luận này
Trong thời gian thực hiện đề tài tôi cũng nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy La Việt Hồng - Phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, cô Mai Thị Hồng
- Phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, thầy Ong Xuân Phong - Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành khóa luận, nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ, Phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, Phòng thí nghiệm Thực vật - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi về thiết bị, phương tiện để tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian em học tập cũng như hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài: “Tạo dòng tế bào huyền
phù cây hoa Cúc nhật CN01” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi do PGS
TS Lê Văn Sơn hướng dẫn và không trùng lặp với kết quả của tác giả khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Linh
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các công thức thí nghiệm xác định ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu đốt thân non cây hoa Cúc nhật CN01 23 Bảng 2.2 Các công thức thí nghiệm xác định ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu lá non cây hoa Cúc nhật CN01 25 Bảng 2.3 Các công thức thí nghiệm xác định ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến việc tạo dòng tế bào huyền phù cây hoa Cúc nhật CN01 27 Bảng 2.4: Các công thức thí nghiệm xác định ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tái sinh chồi từ dung dịch huyền phù (tế bào, cụm tế bào) 28 Bảng 3.1 Ảnh hưởng của sự kết hợp một số chất điều hòa sinh trưởng lên hiệu quả tạo mô sẹo từ mẫu thân non cây hoa Cúc nhật CN01 sau 3 tuần nuôi cấy 31 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của sự kết hợp của một số chất điều hòa sinh trưởng lên hiệu quả tạo mô sẹo từ mẫu lá non cây hoa Cúc nhật CN01 sau 5 tuần nuôi cấy 33 Bảng 3.3 Sự phát sinh hình thái của tế bào, cụm tế bào sau 3 tuần nuôi cấy trên các môi trường khác nhau 39
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng lên khả năng cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu đốt thân non cây hoa Cúc nhật CN01 sau 3 tuần nuôi cấy 30 Hình 3.2 Một số hình ảnh mô sẹo được tạo thành ở môi trường BAP 0,7 + NAA 0,1 sau 5 tuần nuôi cấy 32 Hình 3.3 Mô sẹo hóa nâu sau 6 tuần nuôi cấy trên môi trường BAP 0,7 + NAA 0,1 32 Hình 3.4 Một số hình ảnh trong quá trình cảm ứng tạo mô sẹo từ lá non cây hoa Cúc nhật CN01 36 Hình 3.5 Một số hình ảnh trong quá trình nuôi cấy huyền phù tế bào cây hoa Cúc nhật CN01 38 Hình 3.6 Các giai đoạn phát sinh phôi của cây hoa Cúc nhật CN01 41 Hình 3.7 Chồi non dần được hình thành từ phôi trưởng thành 42
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 NGUỒN GỐC, VỊ TRÍ, PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA HOA CÚC 3
1.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY HOA CÚC 7
1.2.1 Đặc điểm thực vật học 7
1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Cúc 8
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, PHÁT TRIỂN HOA CÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 9
1.3.1 Tình hình sản xuất, phát triển hoa Cúc trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình sản xuất, phát triển hoa Cúc ở Việt Nam 10
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HOA CÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 10
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trên thế giới 10
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc ở Việt Nam 11
1.5 NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT VÀ ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT 12
1.5.1 Nuôi cấy mô tế bào thực vật (Nuôi cấy in vitro) 12
1.5.1.1 Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật 12
Trang 91.5.1.2 Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô và tế bào thực vật 13
1.5.1.3 Điều kiện cần thiết của nuôi cấy in vitro 13
1.5.1.4 Các nguyên tắc kỹ thuật về nhân giống in vitro 14
1.5.2 Ứng dụng của nuôi cấy in vitro trong sản xuất 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 20
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21
2.3 DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM 21
2.3.1 Dụng cụ thí nghiệm 21
2.3.2 Thiết bị 22
2.4 Môi trường nuôi cấy 22
2.5 ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY 22
2.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
* Thí nghiệm 1 Cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu đốt thân non và mẫu lá non cây hoa Cúc CN01 23
* Thí nghiệm 2: Tạo dòng tế bào huyền phù cây hoa Cúc nhật CN01…… 26
* Thí nghiệm 3: Tái sinh chồi từ dung dịch huyền phù (tế bào, cụm tế bào) 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 CẢM ỨNG TẠO MÔ SẸO TỪ MẪU ĐỐT THÂN NON VÀ MẪU LÁ NON CÂY HOA CÚC NHẬT CN01 29
3.1.1 Cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu đốt thân non cây hoa Cúc nhật CN01 29
3.2 TẠO DÒNG TẾ BÀO HUYỀN PHÙ CÂY HOA CÚC NHẬT CN01 36
3.3 TÁI SINH CHỒI TỪ DUNG DỊCH HUYỀN PHÙ CHỨA TẾ BÀO VÀ CỤM TẾ BÀO 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, từ rất lâu rồi, các loài hoa với đủ hương thơm màu sắc, tạo nên cuộc sống muôn màu và đầy hấp dẫn Nét đẹp của các loài hoa hẳn không ai trong chúng ta có thể phủ nhận về màu sắc kết, cấu hoa, hương thơm độ bền và cái hồn của hoa Cái đẹp của hoa hấp dẫn tâm hồn người chơi hoa và cái giá trị kinh tế của hoa đã thu hút những người trồng hoa phải say mê tới nó Và trồng hoa đã trở thành một lĩnh vực trong nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao, bởi khi cuộc sống vật chất được thoả mãn thì nhu cầu về hoa lại càng cao hơn bao giờ hết
Trên thế giới thì thị trường tiêu thụ hoa hết sức rộng lớn nhưng tập trung chủ yếu ở những nước công nghiệp phát triển như: Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Thụy Điển, Ý, Nhật Ở Việt Nam, với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ
mô hình trồng lúa sang trồng hoa đã đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm gần đây, ngành trồng hoa mới thực khởi sắc, dành được sự quan tâm đầu tư của nhiều công ty lớn trong cũng như ngoài nước Ngành sản xuất
và kinh doanh hoa được đặc biệt quan tâm, hoa không chỉ dùng vào các dịp lễ tết mà còn thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân đặc biệt là ở các thành phố lớn Hiện nay, có nhiều loại hoa được trồng nhưng hoa Cúc là một trong những loại hoa được nhiều người ưa chuộng và trồng phổ biến nhất ở Việt Nam
Khi nói đến hoa, người Việt Nam không chỉ nói đến hoa Cúc
(Chrysanthemum sp.)vì hoa Cúc được đánh giá là loài hoa có giá trị kinh tế
cao, nhu cầu lớn bởi chúng không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng về màu sắc, hình dáng và mùi thơm kín đáo mà còn thu hút các nhà sản xuất kinh doanh bởi đặc trưng rất bền, có thể vận chuyển đi xa phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Giống cúc CN01 do Viện Di truyền Nông nghiệp nhập nội
Trang 11từ Nhật Bản, khảo nghiệm và sản xuất thử trong 5 năm qua tại các tỉnh phía Bắc đáp ứng được các tiêu chí đó Với các ưu thế trên, hoa cúc đang được các nhà trồng hoa chú trọng đầu tư và phát triển
Có nhiều phương pháp nhân giống: Gieo hạt, tách cây con từ rễ, giâm ngọn, nuôi cấy mô Trong đó, phương pháp nuôi cấy mô tỏ ra ưu việt hơn hẳn bởi: Tạo cây con sạch bệnh, cung cấp một lượng cây con lớn trong một thời gian ngắn
Kỹ thuật nhân giống thông qua tạo dòng huyền phù tế bào đáp ứng được các yêu cầu số lượng và chất lượng cây con giống Do đó, tôi đã lựa
chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tạo dòng tế bào huyền phù cây hoa
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cảm ứng tạo mô sẹo từ đốt thân non cây hoa Cúc nhật CN01
- Cảm ứng tạo mô sẹo từ lá non cây hoa Cúc nhật CN01
- Tạo dòng huyền phù tế bào và cụm tế bào cây hoa Cúc nhật CN01
- Tái sinh chồi từ dung dịch huyền phù tế bào và cụm tế bào cây hoa Cúc nhật CN01
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC, VỊ TRÍ, PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA HOA CÚC
Cây hoa Cúc có tên khoa học là (Chrysanthemum sp.) được định nghĩa
từ Chrysos (vàng) và Anthemom (hoa) bởi Linneaus năm 1953, có nguồn gốc
từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Chen (1985) đã chứng minh rằng Cúc đã được trồng ở Trung Quốc từ 500 năm trước công nguyên [13]
Lịch sử phát triển nghề trồng Cúc ở Châu Âu muộn hơn so với Trung Quốc Năm 1843, nhà thực vật học Fortune (người Anh) đến Trung Quốc để
khảo sát và mang về Anh Quốc giống hoa Cúc Chusan Daisy Giống này
chính là giống bố mẹ của giống hoa Cúc hình Cầu và hình Tán xạ ngày nay Năm 1789, nước Pháp nhập từ Trung Quốc về 3 giống hoa Cúc đại đóa về trồng và đến năm 1827, Bernet đã thành công trong việc tạo ra một số giống Cúc mới bằng phương pháp lai Từ đó dẫn đến sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống Cúc ở Châu Âu [11]
Ngày nay, Cúc đã được trồng hầu khắp các nước trên thế giới như: Hà Lan, Ý, Đức, Pháp, Nhật Bản Ở Việt Nam, hoa Cúc đã được trồng từ lâu đời, người Việt Nam coi hoa Cúc là biểu tượng của sự thanh cao, là một trong bốn loại thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý "Tùng-Cúc-Trúc-Mai" hoặc "Mai-Lan-Cúc-Trúc"
Trong hệ thống phân loại thực vật, Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
(1978) [2],đã xếp hoa Cúc vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), phân lớp Cúc
(Asterydae), bộ Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa Cúc (Asteroidae), chi Cúc (Chrysanthemum)
Trang 13Họ Cúc Asteraceae là một trong những họ lớn nhất của Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), thực vật hạt kín (Angniospermatophyta) [23] Qua hai hội thảo quốc tế về họ Asteraceae năm 1967 và 1994 mang tên "Sinh học và
hóa học của họ Cúc" đã có sự thống nhất tương đối về hệ thống học của họ
Asteraceae Họ Cúc trên thế giới được xếp trong 2 phân họ, 13 tông [17],Việt
Nam có 2 phân họ và 12 tông, nhưng hiện tại chia làm 17 tông Họ Cúc có khoảng 1550 với 23000 loài [1], [10], [23]
Tuy nhiên, có tài liệu khác nhau về số liệu loài hoa Cúc Theo tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn thì họ cúc có 2500 loài và có 1100 chi [10].Theo Trần Lan Hương và cộng sự, hoa Cúc có hơn 3000 loài với kích thước và màu sắc khác nhau[4] Nghiên cứu của Anderson (1987), Langton (1989) cho biết trên thế giới có hơn 7000 giống Cúc đã được đưa vào sử dụng với sự đa dạng về chủng loại, phong phú về màu sắc [12], [20]
Năm 1984, khi nghiên cứu phân loại họ Cúc cho thấy chỉ riêng chi
Chrysanthemum L (Đại Cúc) ở Việt Nam đã có 5 loài và toàn bộ những
giống Cúc trồng ra hoa làm cảnh đều nhập từ nước ngoài vào Nếu muốn làm cảnh hoặc mang sắc thái riêng của Việt Nam thì nên đưa những loài Cúc
hoang dại có hoa đẹp về trồng, có thể thuần hóa hai loài C.cirsium japonicum (Đại kế), với cụm hoa to, rất bền, màu hồng tươi và C.plucheapolygonata(Lúc
râm), cây cao, đường kính bông lớn, cánh hoa và vòi nhụy đều có màu hồng rất đẹp [1]
Năm 1993, Trần Hợp đã phân loại cây hoa Cúc thuộc nhóm cây thân thảo, có hoa làm cảnh và cũng đưa ra một số cây Cúc trồng ở Việt Nam như
cây Tần ô (Rau Cúc - C.coronariu Linn), cây Cúc trắng (C.molifolium), cây Cúc vàng (Kim Cúc - C.indicum Linn) và Cúc Trừ trùng (C.cinerariaefolium
vis) [3]
Trang 14Cúc có rất nhiều giống, nhưng đến nay việc phân loại vẫn chưa thống nhất Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [6], đã dựa vào 3 cách sau để phân loại Cúc:
1 Dựa vào hình dáng hoa để phân loại Cúc đơn hay kép:
+ Cúc đơn: hoa thường nhỏ từ 2-5cm,chỉ có từ 1-3 hàng cánh ở vòng ngoài cùng, còn những vòng trong là những cánh hoa rất nhỏ thường được gọi
là cồi hoa như chi Thơm vàng, chi Đà Lạt
+ Cúc kép: hoa thường to, đường kính có thể hơn 10 cm, cũng có thể nhỏ hơn 5 cm nhưng hoa có rất nhiều vòng cánh sếp xít nhau Cánh hoa cũng rất phong phú, có loại cánh dài, cong như Cúc đại đóa, cũng có loại cánh ngắn đều như các giống CN01, CN93, CN98, cũng có loại cánh nhọn, dài, xếp chặt như Tua vàng
2 Dựa vào hình thức nhân giống: bao gồm nhân giống bằng phương pháp vô tính như tỉa chồi, giâm cành và nhân giống bằng phương pháp hữu tính đó là hình thức sử dụng hạt để gieo
3 Dựa vào thời vụ trồng: sử dụng thời vụ trồng để phân loại thực chất
là sử dụng phản ứng của cây đối với điều kiện nhiệt độ, đặc biệt là điều kiện chiếu sáng đến khả năng ra hoa của cây để phân loại
+ Cúc trồng vụ Hè - Thu hoặc Xuân - Hè: là những giống có khả năng chịu được nhiệt độ tương đối cao, sinh trưởng phát triển tốt và cho hoa trong điều kiện ngày dài như giống CN01, CN93, CN98
+ Cúc trồng vụ Thu - Đông và Đông - Xuân: là những giống có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, cây chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn Đa phần các giống Cúc hiện trồng có khả năng sinh trưởng phát triển và ra hoa trong điều kiện vụ Thu - Đông và Đông - Xuân
Nghiên cứu về thị trường hoa trên thế giới, Woolman (1989) [25],đã cho thấy Cúc là một trong những loài hoa trồng phổ biến nhất và được sử
Trang 15dụng rất đa dạng, vừa là hoa cắt vừa là hoa chậu, vừa trồng trong nhà kính, vừa trồng cả ngoài vườn, dùng để trang trí và một vài công dụng khác như là thực phẩm (rau ăn), là nguồn sản xuất dược liệu hoặc thuốc trừ sâu
Cúc còn được sử dụng để chiết tinh dầu thơm, pha chè ngâm rượu như: Cúc chi, dùng làm thuốc trừ sâu như: Cúc trừ trùng Đối với ngành y dược một số loài như: Kim cúc, Bạch Cúc còn có tác dụng chữa bệnh đau đầu, hoa mắt
Ngoài việc phục vụ cho các nhu cầu giải trí thưởng thức cái đẹp của con người, hoa Cúc đồng thời là nguồn lợi kinh tế quan trọng Thực tế cho thấy việc sản xuất kinh doanh hoa Cúc cho phép người trồng hoa thu được nhiều lợi nhuận trên mỗi đồng vốn đầu tư Trên một sào đất trồng hoa Cúc với mật độ trung bình 40 -45 cây/m2 có thể thu nhập 4,0-5,0 triệu đồng (mức giá trung bình trên thị trường từ 500 - 700 đồng/bông) kể cả chi phí cho làm đất, chăm sóc, vật tư ban đầu chỉ mất từ 2,0 - 3,0 triệu đồng tiền vốn Với lợi ích kinh tế như vậy nên hiện nay cùng với hoa Hồng, Đồng tiền, Lily thì Cúc là loài hoa cắt chủ lực được trồng rộng rãi khắp tất cả các vùng trong cả nước, đặc biệt là các vùng sản xuất hoa như Đà Lạt, Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh
Trang 161.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY HOA CÚC
1.2.1 Đặc điểm thực vật học
- Rễ: Thuộc loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang phân bố
ở tầng đất mặt từ 5-20cm, số lượng rễ lớn nên có khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh
- Thân: Cúc là cây thân thảo có nhiều đốt giòn, dễ gãy nên khi cây lớn
phải làm giàn để đỡ cây khỏi đổ
- Lá: Thường là lá đơn, mỗi giống Cúc có đặc điểm khác nhau: hình
dạng lá xẻ thùy nông hay sâu, phiến lá dày hay mỏng và màu sắc là khác nhau
- Hoa: Hoa Cúc chủ yếu có 2 dạng:
+ Hoa lưỡng tính (có cả nhị đực và nhị cái)
+ Hoa đơn tính (chỉ có nhị đực hoặc nhị cái)
Hoa Cúc chính gồm nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa Tùy theo mục đích sử dụng mà có thể để một bông hay nhiều bông trên cành
Tùy theo cách sắp xếp cánh hoa mà người ta phân ra thành nhóm hoa kép (có nhiều vòng hoa sắp xếp/bông) và hoa đơn (chỉ có một vòng hoa/bông) Hiện nay người ta sử dụng loại hoa kép là chủ yếu Hoa kép nhiều hơn hoa đơn và thường mọc nhiều hoa trên một cành phát sinh từ nách lá
Hoa có nhiều màu sắc khác nhau (trắng, vàng, đỏ, tím, xanh…) Những cánh hoa ở phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn xếp thành nhiều tầng, sẽ chặt hay lỏng tùy theo từng giống Cánh có nhiều hình dáng khác nhau, cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn đều, có loại dài, cuốn ra ngoài hay cuốn vào trong
Đường kính bông hoa phụ thuộc vào giống:
+ Giống hoa to: Đường kính 10-12cm (Pha lê, Đại Đóa…)
Trang 17+ Giống hoa trung bình: Đường kính 5-7cm (Thọ đỏ, Đỏ nhung…) + Giống hoa nhỏ: Đường kính 1 -2 cm (Chi trắng, Chi vàng…)
1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây hoa Cúc
+ Thời kỳ cây con: Khi mới ra rễ cây cần ít ánh sáng vì lúc này cây non còn sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ
+ Thời kỳ chuẩn bị phân cành: Cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp tạo các chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây
Cúc được xếp vào loại cây ngày ngắn: thời kỳ để phân hóa mầm hoa tốt nhất là 10 giờ chiếu sáng trên ngày với nhiệt độ là 20-250
C
Thời gian chiếu sáng kéo dài thì thời gian sinh trưởng của cây hoa Cúc dài hơn, thân cao, lá to, chất lượng hoa tăng Thời gian chiếu sáng ngắn thì sẽ kích thích phân hóa mầm hoa sớm: cây ngắn, chất lượng hoa kém
- Ẩm độ
Độ ẩm thích hợp nhất cho cây sinh trưởng phát triển là độ ẩm đất 70%, độ ẩm không khí 60-65% Nếu độ ẩm trên dưới 80% cây sinh trưởng mạnh nhưng dễ phát sinh sâu bệnh làm ảnh hưởng năng suất, chất lượng hoa
60 Các chất dinh dưỡng
Các yếu tố N, P, K và vi lượng như Ca, Mg, Mn có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển, năng suất phẩm chất các loài hoa
Trang 18+ Đạm (N): Có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng của Cúc và ảnh hưởng đến thời kỳ phát triển Thiếu đạm cây cằn cỗi, lá úa vàng, hoa nhỏ xấu Nếu thừa đạm cây sinh trưởng mạnh, thân mập, lá xoăn dày, giòn, cành nhánh nhiều có thể không ra hoa được Cây Cúc cần nhiều đạm trong ra đoạn phát triển sinh trưởng sinh dưỡng
+ Lân (P): Có tác dụng làm cho bộ rễ phát triển mạnh, thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp, nhanh ra hoa, giúp cây hút nhiều đạm và tăng khả năng chống rét cho cây Thiếu lân, bộ rễ phát triển kém, cành nhánh ít, hoa chóng tàn, màu nhợt nhạt, hoa ra muộn
+ Kali (K): Giúp cho cây tổng hợp, vận chuyển các chất đường bột trong cây, giúp cây chịu hạn, chịu rét, chống chịu sâu bệnh Thiếu K màu sắc hoa không tươi thắm, mau tàn Cúc cần K nhiều nhất vào thời kỳ phân hóa mầm hoa
Các nguyên tố vi lượng: Cây cần ít nhưng không thể thiếu và không thể
dư như: Ca, Mg, B, Mn… Thiếu các nguyên tố vi lượng này thì lá sẽ bị vàng làm ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, màu sắc hoa sẽ bị nhợt nhạt…
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, PHÁT TRIỂN HOA CÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.3.1.Tình hình sản xuất, phát triển hoa Cúc trên thế giới
Hoa Cúc ngày nay là một trong những loại hoa thời vụ phổ biến nhất trên thế giới và được ưa chuộng bởi sự đa dạng, phong phú về màu sắc, hình dáng hoa và hơn thế nữa người ta có thể chủ động điều khiển của cây để tạo nên nguồn sản phẩm hàng hóa liên tục và ổn định quanh năm
Theo Yahel và Tsukamoyo (1985) [26], bốn nhà sản xuất chính là Hà Lan 800 triệu cành Cúc mỗi năm, Colombia 600 triệu cành, tiếp theo là Ý là
500 triệu cành và liên bang Mỹ 300 triệu cành Quốc gia dẫn đầu là Hà Lan phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm 80 nước trên thế giới Có thể nói
Trang 19Hà Lan là một trong những nước sản xuất hoa Cúc lớn nhất trên thề giới và nhân tố góp phần tạo nên thành công này là đã sử dụng công nghệ nhân giống
in vitro để sản xuất cây con giống khỏe, sạch bệnh vàhoàn toàn đồng nhất về
mặt di truyền
1.3.2 Tình hình sản xuất, phát triển hoa Cúc ở Việt Nam
Hoa Cúc là một trong năm loại hoa chính được trồng ở Việt Nam Hoa Cúc có mặt ở mọi nơi, từ vùng cao đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn Tuy nhiên vùng sản xuất chính tập trung ở các thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, TP Hồ Chí Minh và Lâm Đồng Trong đó Đà Lạt là nơi lý tưởng cho việc sinh trưởng và phát triển của hầu hết các loại Cúc, diện tích trồng cúc chiếm khoảng 30% diện tích trồng vùng này Đặc biệt tại đây có công ty hoa Hasfarm của Hà Lan là nơi sản xuất hoa chất lượng cao nhằm xuất khẩu
Rõ ràng hoa Cúc đang là một trong những cây trồng có ý nghĩa quan trọng đối với nghề trồng hoa, đã và đang trở thành đối tượng được các nhà nghiên cứu và sản xuất trong và ngoài nước rất quan tâm
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HOA CÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc trên thế giới
Một trong những nhân tố tạo nên sự thành công cho ngành sản xuất hoa
Cúc của một số nước trên thế giới là đã sử dụng công nghệ nhân giống in
vitro để sản xuất cây con giống Ngoài chồi đỉnh các nhà nghiên cứ đã sử
dụng các bộ phận khác của cây hoa Cúc để nuôi cấy như đoạn thân, mẫu lá, cánh hoa Năm 1952, lần đầu tiên tại Pháp, Morell và Martin đã tạo được hoa Cúc sạch bệnh nhờ nuôi cấy mô phân sinh đỉnh, cũng theo phương pháp này Mori (1971), Asatani (1972) và Paludan (1974)đã thu được những giống sạch
Trang 20Việc sử dụng đỉnh sinh trưởng để nuôi cấy in vitro cũng được thực hiện
thành công bởi Sussex (1989) [22], kết quả thí nghiệm cho thấy, phương pháp tối ưu để mẫu có tỷ lệ sống sót và tỷ lệ tái sinh chồi cao nhất là bảo quản chồi đỉnh Cúc trước nuôi cấy 2 ngày trong điều kiện lạnh dần từ 0,20C đến 40
C với 10% Dimethyl sulfoxide và 3% Glucose, có nhiều giống đã đạt các tỷ lệ này tới 100%
Năm 1990, Kenneth và Torres [18], đã nuôi cấy thành công từ giai đoạn thân và lá của giống hoa Cúc màu tím trên môi trường MS Tỷ lệ hình thành chồi đạt 100% và trung bình các cây được nuôi cấy mô này sau 3-4 tháng là ra hoa
Để hoàn thiện quy trình Nuôi cấy mô hoa Cúc, việc nghiên cứu giai
đoạn cuối cùng là đưa cây in vitro ra ngoài đất cũng rất quan trọng Năm
1990, Robert và Smith [21], đã nghiên cứu bảo vệ rễ bằng chất đệm Cellulose sorbarods trong môi trường nuôi cấy dạng lỏng đã làm giảm bớt thiệt hại trong quá trình đưa cây ra ngoài và cho vào 1 lít môi trường ra rễ dạng lỏng 0,5 - 4 mg Paclobutrazol thì sẽ giảm được độ héo của cây khi ra ngoài sản xuất làm thân ngắn hơn, rễ to nhiều và tăng diệp lục trên 1 đơn vị diện tích lá
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa Cúc ở Việt Nam
Cây hoa Cúc đã được nhập nội vào nước ta từ lâu nhưng phải đến sau những năm 1990, tức là sau kinh tế bao cấp đổi mới sang kinh tế thị trường thì nghề trồng hoa nói chung và nghề trồng hoa Cúc nôi riêng mới bắt đầu có những bước phát triển đáng kể Chính vì vậy, các nghiên cứu về cây hoa Cúc
ở Việt Nam còn ít Cây hoa Cúc ở Việt Nam chủ yếu tập trung nghiên cứu về lĩnh vực phân loại, thu thập và đánh giá nguồn gen, các biện pháp kỹ thuật sử dụng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trong sản xuất hoa Cúc
Nghiên cứu cơ bản về cây hoa Cúc đã được tiến hành ở Việt Nam từ trước những năm 1975 Theo kết quả điều tra phân loại cây cỏ ở Việt Nam đã
Trang 21kết luận, họ Cúc ở Việt Nam rất phong phú, có nhiều chi Ở Việt Nam có khoảng 75 chi với 199 loài (trong khi đó có nhiều giống được nhập trồng nhưng chưa được mô tả), trong khi đó trên thế giới có khoảng 1000 chi và có trên 20.000 loài [2].
Năm 1988, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (1988) [9], đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình nhân giống bằng nuôi cấy mô cho một số giống Cúc đang được trồng phổ biến ở miền Bắc nước ta như Cúc CN93, vàng Đài Loan,
đỏ Hà Lan
Theo Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (1988) [9], để nâng cao tỷ lệ sống và ra rễ của cành giâm trong nhân giống vô tính có thể sử dụng IBA hoặc NAA với nồng độ 1000 ppm bằng cách nhúng phần gốc của cành khoảng 0,5 - 1 cm và dung dịch thuốc từ 3 - 5 giây rồi cắm vào đất hoặc cát
Công nghệ nhân giống in vitro trong thời gian gần đây đã phát triển khá
mạnh Bắt đầu từ năm 1992 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa - Cây cảnh, Viện Di truyền Nông nghiệp kết hợp với Bộ môn Nuôi cấy mô tế bào của Viện đã tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây hoa Cúc
bằng phương pháp nuôi cấy in vitro Đến nay đã có khá nhiều công trình nuôi cấy mô tế bào thực vật in vitro được công bố và một số đã được đưa vào ứng
dụng trong thực tiễn trên nhữngđối tượng như: hoa Đồng tiền, hoa Ly ly, Trinh nữ hoàng cung,
1.5 NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO THỰC VẬT VÀ ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT
1.5.1 Nuôi cấy mô tế bào thực vật (Nuôi cấy in vitro)
1.5.1.1 Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật
Có rất nhiều tác giả định nghĩa về nuôi cấy mô tế bào thực vật Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự [8], đã định nghĩa về nuôi cấy mô tế bào thực vật
Trang 22Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một lĩnh vực của công nghệ sinh học thực vật
Dựa trên tính toàn năng của tế bào và khả năng phân hóa và phản phân hóa của chúng mà người ta có thể tái sinh cây từ một tế bào hay một mô nào đấy
1.5.1.2 Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô và tế bào thực vật
* Tính toàn năng của tế bào thực vật
Năm 1902, Haberlandt (Đức) [15], là người đầu tiên đề xướng học
thuyết về tính toàn năng của tế bào trong cuốn sách "Thực nghiệm về nuôi cấy
mô tế bào tách rời" Theo ông: "Mỗi tế bào của một cơ thể đa bào đều mang
trong mình đầy đủ các thông tin di truyền để kiến tạo nên một cơ thể hoàn chỉnh Vì vậy, khi đặt tế bào vào trong điều kiện thuận lợi, nó có thể phát triển thành một cơ thể" Tính toàn năng của một tế bào cho phép từ những cơ quan
bộ phận của cơ thể tái sinh thành cây hoàn chỉnh đồng nhất về mặt di truyền với cây mẹ
* Sự phân hóa và phản phân hóa của tế bào
Sự phân hóa là sự chuyển các tế bào từ dạng phôi sinh sang tế bào chuyên hóa để đảm nhận chức năng sinh lý, sinh hóa khác nhau
Sự phản phân hóa là sự chuyển từ tế bào chuyên hóa sang tế bào phôi sinh để thực hiện chức năng phân chia
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy mô tế bào thực vật là kết quả của quá trình phân hóa và phản phân hóa tế bào dựa trên tính toàn năng của tế bào thực vật
1.5.1.3 Điều kiện cần thiết của nuôi cấy in vitro
- Điều kiện trước tiên là vô trùng Tất cả các khâu nuôi cấy đều được thanh trùng: Dụng cụ nuôi cấy, mẫu nuôi cấy, môi trường (giá thể) và các
Trang 23thao tác nuôi cấy, Sự thành công hay thất bại của việc nuôi cấy mô là phụ thuộc vào việc vô trùng Nếu có một khâu nào đó không vô trùng thì ngay lập tức mẫu nuôi cấy bị nhiễm và sẽ chết.
- Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô là phòng thí nghiệm chuyên hóa cao với các thiết bị chuyên dụng Nó bao gồm một phòng để mẫu, phòng cấy mẫu, phòng nuôi cấy và nhà lưới để đưa cây ra đất Tùy theo quy mô và mục đích
mà diện tích các bộ phận khác nhau Các thiết bị quan trọng nhất của phòng nuôi cấy mô gồm có: nồi hấp khử trùng để vô trùng dụng cụ và môi trường nuôi cấy, buồng cấy vô trùng để thao tác cấy mẫu, phòng nuôi có đủ ánh sáng nhân tạo và điều hoà nhiệt độ, để nuôi cây
- Môi trường nuôi cấy là giá thể có đầy đủ chất dinh dưỡng, các hoạt chất như các nguyên tố đa lượng, nguyên tố vi lượng, vitamin, chất điều hòa sinh trưởng Tùy theo từng loại cây và cơ quan nuôi cấy mà người ta đã có các môi trường riêng cho chúng Ví dụ: Môi trường cơ bản nhất là môi trường
MS cho nhiều đối tượng cây trồng, môi trường Anderson cho cây thân gỗ nhỏ, môi trường Gamborg cho nuôi cấy tế bào trần, môi trường CHU cho nuôi cấy bao phấn
1.5.1.4 Các nguyên tắc kỹ thuật về nhân giống in vitro
Đây là giai đoạn rất quan trọng, thậm chí quyết định toàn bộ quy trình
nhân giống in vitro Mục đích của giai đoạn này là tạo ra được nguyên liệu thực vật vô trùng để đưa vào nuôi cấy in vitro Khử trùng mô thực vật, người
ta thường dùng một số chất hoá học như: HgCl2, Ca(OCl)2, NaOCl, H2O2 Tùy thuộc vào từng loại mô thực vật mà lựa chọn nồng độ và thời gian xử lý hoá chất thích hợp
Trang 24Toàn bộ quá trình nhân giống in vitro xét cho cùng là nhằm mục đích
tạo ra hệ số nhân cao nhất Chính vì vậy giai đoạn này được xem là giai đoạn then chốt của quá trình
Để tăng hệ số nhân người ta thường phải đưa thêm vào môi trường dinh dưỡng nhân tạo các chất điều hòa sinh trưởng (auxin,xytokynin, gibberellin, ) Các chất bổ sung khác như nước dừa, nước chiết nấm men, dịch thủy phân casein,… kết hợp với các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng thích hợp Tùy thuộc vào từng đối tượng nuôi cấy người ta có thể nhân nhanh bằng kích thích sự hình thành các cụm chồi (nhân cụm chồi), hay kích thích sự phát triển của chồi nách (vi giâm cành) hoặc thông qua việc tạo cây từ phôi vô tính
Khi đạt kích thước nhất định các chồi được chuyển từ môi trường ở giai đoạn 2 sang môi trường tạo rễ Thường sau từ 1 - 2 tuần, từ những chồi riêng
lẻ này sẽ xuất hiện rễ và trở thành cây hoàn chỉnh Ở giai đoạn này, người ta thường bổ sung vào môi trường nuôi cấy các auxin vì auxin là hoocmon thực vật quan trọng có chức năng tạo rễ phụ từ mô nuôi cấy Trong nhóm này, các chất IAA, IBA, NAA và 2,4 - D được sử dụng, nghiên cứu nhiều nhất
Giai đoạn đưa cây hoàn chỉnh (có đủ thân, rễ, lá) từ ống nghiệm ra đất
là bước cuối cùng của quá trình nhân giống in vitro và là bước quyết định khả
năng ứng dụng quá trình này trong thực tiễn sản xuất Cây lấy ra từ ống nghiệm phải được rửa sạch agar bám trên bề lặt rễ để tránh sự xâm nhập của côn trùng và nấm mốc
Đây là giai đoạn chuyển cây con từ trạng thái sống dị dưỡng sang sống hoàn toàn tự dưỡng Do đó, để đảm bảo cho cây có tỷ lệ sống cao thì cần phải đưa cây ra vườn ươm, ươm trên các giá thể thích hợp từ 10 - 15 ngày Lúc
Trang 25này, rễ mới được sinh ra, lá non bắt đầu hình thành Sau đó, chuyển cây ra đất với chế độ chăm sóc bình thường
* Các giai đoạn phát sinh phôi soma:
- Giai đoạn phôi hình cầu:
Sau lần phân chia đầu tiên của hợp tử, tế bào ở đỉnh trải qua một loạt phân chia có thứ tự, hình thành một thể phôi hình cầu gồm 8 tế bào, tế bào phía dưới cũng trải qua một số lần nguyên phân để tạo thành cuống phôi, giúp đính phôi trong túi phôi và giúp hấp thụ dinh dưỡng cho phôi từ môi trường xung quanh Trong giai đoạn này, sự phân chia tế bào xảy ra ở tất cả các tế bào.Nguyên bì sẽ trở thành biểu bì trong phôi trưởng thành Cuống phôi giúp đính phôi trong túi phôi
- Giai đoạn phôi hình tim:
Giai đoạn này được hình thành bởi sự phân chia nhanh của các tế bào ở hai vùng đỉnh của khối cầu Hai vùng này sinh trưởng nhanh tạo thành hai lá mầm, kết quả phôi có hình đối xứng hai bên
- Giai đoạn phôi hình “cá đuối”:
Giai đoạn này là kết quả của các tế bào kéo dài khắp trục phôi và phát triển của lá mầm sau này Trục chồi - rễ (trục phôi) xuất hiện rõ rệt, mô phân sinh đỉnh bắt đầu hoạt động tạo thành mô mạch sơ cấp (mạch gỗ và mạch rây)
- Giai đoạn phôi trưởng thành:
Là giai đoạn kết thúc quá trình phát sinh phôi, phôi gồm 3 vùng:
+ Vùng đỉnh: Hình thành các lá mầm và mô phân sinh đỉnh chồi
+ Vùng trung gian (giữa): Tạo thành trụ dưới lá mầm, rễ, và gần như
mô phân sinh rễ
+ Vùng cuống phôi: Tạo thành phần còn lại của mô phân sinh rễ
Trang 261.5.2 Ứng dụng của nuôi cấy in vitro trong sản xuất
Nuôi cấy mô tế bào thực vật có thể phục vụ rất nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Tạo ra một quần thể cây trồng lớn và đồng nhất trong một thời gian ngắn với diện tích thí nghiệm nhỏ
- Tạo ra được nhiều cây con từ mô và cây con của cây (lóng, thân, phiến lá, hoa, hạt phấn,…) mà ngoài thiên nhiên không thực hiện được
- Tạo cây sạch bệnh và kháng bệnh
- Cải tiến các giống cây trồng bằng công nghệ sinh học
- Bảo quản nguồn gen quý
- Sản xuất các hợp chất thứ cấp, các chất có hoạt tính sinh học (Alcaloid, Steroid,…) qua nuôi cấy mô tế bào, một số cây thuốc trên quy mô lớn,… [5], [7]
Trong đó, ứng dụng trong nhân giống cây trồng là lĩnh vực được quan
tâm hơn cả Nuôi cấy in vitro là một phương pháp nhân giống hữu hiệu nhất
trong các phương pháp nhân giống vô tính Phương pháp này cho phép tạo ra một quần thể cây con đồng đều, giữ được đặc tính của cây mẹ, có hệ số nhân giống cao, sớm phát huy được hiệu quả kinh tế, không tốn diện tích cho nhân giống, dễ chăm sóc, khắc phục được những điều kiện bất lợi của thời tiết Phương pháp này đặc biệt tỏ ra hiệu quả hơn với các loài cây khó nhân giống bằng phương pháp hữu tính và các giống quý có số lượng giống ban đầu hạn chế mà lại cần nhân nhanh Theo Murashige (1974) [19], có khoảng 300 loại
cây có thể nhân giống bằng các phương pháp nuôi cấy in vitro Lợi ích của
phương pháp này còn ở chỗ: có thể tạo ra một quần thể với số lượng lớn, sạch bệnh, đồng nhất về mặt di truyền, phục tráng một quần thể thực vật có nguy
cơ bị diệt vong, lưu giữ bảo quản nguồn gen dưới dạng cây in vitro
Khả năng ứng dụng dễ thấy nhất của phương pháp nuôi cấy mô thực vật là phục tráng giống cây trồng Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị đối với
Trang 27khoai tây, cây ăn quả và nhiều loại cây trồng nhân giống vô tính khác Đối với khoai tây, bệnh nguy hiểm nhất đó là bệnh virut - một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng thoái hoá giống Một số tác giả đã dùng kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng tạo được cây khoai tây không có virut, mang lại hiệu quả rất lớn cho ngành sản xuất khoai tây của thế giới
Việc ứng dụng nuôi cấy mô thực vật trong nhân giống được nâng lên một mức mới khi các nhà khoa học nhận thấy sự trẻ hóa của các chồi nách cây nho và cây khoai tây đem cấy chuyển nhiều lần trong ống nghiệm Việc ứng dụng nuôi cấy mô trong nhân giống trên quy mô lớn đã được thể hiện ở quy mô thương mại đối với hàng loạt cây trồng có ý nghĩa kinh tế cao như chuối, dứa, cà, khoai tây, và đã có những đóng góp to lớn cho nền nông nghiệp thế giới
Trong lĩnh vực sản xuất hoa cây cảnh, kỹ thuật nuôi cấy in vitro và các
công nghệ sinh học khác như: tạo phôi soma, biến dị soma, đã ngày càng
đóng góp rất nhiều vào thị trường Hoa - Cây cảnh trên thế giới Năm 1985,
kim ngạch của thị trường này ước tính 20 - 25 tỷ USD Ở Hà Lan, kỹ thuật vi nhân giống trở thành nền tảng của công nghệ hoa và cây cảnh Năm l987,
Thái Lan có 20 công ty tư nhân dùng kỹ thuật nuôi cấy in vitro trên quy
môthương mại để sản xuất hoa cắt Colombia là nước sản xuất hoa Cẩm
chướng lớn nhất thế giới nhờ công nghệ nuôi cấy in vitro
Nuôi cấy in vitro đã được đưa vào chương trình chọn và nhân giống
hiện đại Bằng phương pháp này, con người đã xây dựng nên các hệ thống sản xuất giống gốc, cho nhiều loại cây hoàn toàn sạch virut (khoai tây, đu đủ,…)
Ở Việt Nam, từ năm 1975 nhiều phòng nuôi cấy mô trong cả nước đã thành lập và thu được thành quả đáng kể Viện Sinh vật - Viện Khoa học Việt
Nam đã hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro một số giống cây trồng có
khả năng chống chịu như lúa, thuốc lá, khoai lang, dứa sợi, Tại trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội hoàn thiện quy trình nhân giống khoai tây Tại