1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về hoạt động khai thác bảo hiểm tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA

30 409 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về hoạt động khai thác bảo hiểm tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 310 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nên sôi động với sự tham gia của các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Những năm gần đây thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng trở nênsôi động với sự tham gia của các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.Người dân Việt Nam từ chỗ xa lạ với bảo hiểm ngày càng quen dần với kháiniệm bảo hiểm và đã bắt đầu tìm mua dịch vụ bảo hiểm nhiều hơn

Trong điều kiện thị trường cạnh tranh như ngày nay, vấn đề cạnhtranh về dịch vụ và bán hàng càng trở nên quyết liệt hơn Khai thác bảo hiểm

là khâu đầu tiên quan trọng trong quy trình khai thác một nghiệp vụ bảohiểm Thông qua hoạt động này các DNBH mới có được nguồn doanh thu vàchỉ có tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp mới bù đắp được khoản chi phítrong hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường Làm thế nào để kháchhàng biết đến sản phẩm, thương hiệu của công ty, hiểu được sự cần thiết củaviệc tham gia bảo hiểm trong khi đa số người tiêu dùng hiện nay chưa cóquan điểm tích cực đối với các ngành bảo hiểm

Công ty cổ phần bảo hiểm AAA với sự góp vốn của một số các cánhân, tổ chức thành lập và hoạt động trong giai đoạn mở cửa hội nhập Bướcchân vào thị trường bảo hiểm, quy mô hoạt động còn nhỏ, thương hiệu lạichưa thực sự hấp dẫn, AAA đã xác định là phải chịu áp lực cạnh tranh rấtlớn Thực tế đó đặt ra cho AAA là cần có chiến lược để giải quyết bài toán

này Đó cũng là lý do chọn đề tài: “Một số vấn đề về hoạt động khai thác

bảo hiểm tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA”.

Việc chọn đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu kết quả, phân tích tình hìnhkhai thác bảo hiểm của AAA sau 5 năm thành lập; nhận thức các cơ hội vàthách thức, các điểm mạnh và yếu của công ty, từ đó đề xuất một số biệnpháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác tại AAA

Trang 2

I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM.

1 Khái niệm chung về bảo hiểm.

1.1 Định nghĩa về bảo hiểm.

Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của cácrủi ro trong cuộc sống Trong thực tế cuộc sống của con người luôn tồn tạinhững tiềm ẩn như tai nạn, thiên tai, dịch bệnh… Để xử lý các rủi ro, conngười có nhiều cách khác nhau, song về cơ bản thì có 2 nhóm biện pháp là:các biện pháp kiểm soát rủi ro và các biện pháp tài trợ rủi ro Trong đó,phương thức kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh, giảm thiểu rủi

ro, ngăn ngừa tổn thất Mặc dù các biện pháp này có hiệu quả trong việcngăn chặn và giảm thiểu tổn thất nhưng hậu quả của rủi ro thì khó có thểlường hết được Phương thức tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhậnrủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy

ra với mục đích khắc phục những tổn thất do rủi ro gây nên

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm dựa trên từnggóc độ nghiên cứu (tài chính, xã hội, pháp lý, kinh doanh…)

Dưới góc độ tài chính: “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chínhnhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”

Dưới góc độ xã hội: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bấthạnh của số ít”

Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hemard định nghĩa: “Bảo hiểm là mộtnghiệp vụ, qua đó một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoảntiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho mộtngười thứ 3 khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra sẽ được trả một khoảntiền bồi thường từ một bên khác là doanh nghiệp bảo hiểm”

Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, tập đoàn bảo hiểm trênthế giới thì định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người,một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảohiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộcphạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người đượcbảo hiểm

Trang 3

1.2 Bản chất của bảo hiểm.

Dù được thể hiện theo khái niệm nào thì về mặt bản chất, bảo hiểm đềuđược thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro từ bên tham gia bảo hiểm sang nhà bảohiểm, những rủi ro đó phải là những rủi ro không biết trước Sự cam kết giữangười tham gia và nhà bảo hiểm thường được thông qua một hợp đồng bảohiểm mà thực chất là một hợp đồng kinh tế rang buộc quyền lợi và tráchnhiệm các bên Các công ty bảo hiểm có thể được coi là trung gian tài chính.Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông bù số ít, đó là nguyên tắc cơbản nhất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Mục đích chủ yếu của bảohiểm là bồi thường thiệt hại và chi trả tiền bảo hiểm giúp người tham gia gặptổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất kinhdoanh, tiết kiệm khởi nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản…

Bảo hiểm là một hoạt động vừa có tính dịch vụ, vừa có tính kinh tế, vừa

có tính xã hội và nhân văn sâu sắc

Sơ đồ: Bản chất của bảo hiểm.

Quỹ tài chínhbảo hiểm

NgườiTGBHgặp rủi ro

Người

tham gia

bảo hiểm

Nhà bảohiểm

Trang 4

1.3 Phân loại bảo hiểm.

Hiểu một cách khái quát thì bảo hiểm bao gồm bảo hiểm thương mại(BHTM) và bảo hiểm xã hội (BHXH) Trong đó:

 Bảo hiểm thương mại (BHTM): là các loại hình bảo hiểm do các DNBHthực hiện nhằm mục đích tạo lợi nhuận được quy định trong Luật kinhdoanh bảo hiểm

- Phân loại theo đối tượng bảo hiểm: bảo hiểm thương mại bao gồm:

+ Bảo hiểm tài sản: đối tượng bảo hiểm là tài sản của người được bảo hiểm.+ Bảo hiểm con người: đối tượng bảo hiểm là tính mạng, thân thể, sức khỏecon người

+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS): đối tượng là TNDS phát sinh dorang buộc của các quy định trong luật dân sự, người thứ 3 có quan hệ TNDSvới người được bảo hiểm

- Phân loại theo hình thức pháp lý: theo cách phân loại này các nghiệp vụbảo hiểm được chia thành:

+ Bảo hiểm tự nguyện: là loại hình bảo hiểm mà việc tham gia hoàn toàndựa trên sự cân nhắc và ý thức của người được bảo hiểm

+ Bảo hiểm bắt buộc: là loại hình bảo hiểm do pháp luật quy định về điềukiện, mức phí, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức cá nhân tham gia bảohiểm và DNBH có nghĩa vụ thực hiện

 Bảo hiểm xã hội (BHXH): là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phầnthu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảmhoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụngmột quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo an toàn xã hội Mối quan hệ giữacác bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Những biến cốlàm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể làrủi ro ngẫu nhiên hoặc là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫunhiên Mục đích của BHXH là nhằm thỏa mãn những yêu cầu thiết yếu củangười lao động

- Bảo hiểm y tế (BHYT) được tách ra từ chết độ “chi phí y tế” trong hệthống các chế độ BHXH do đó mang đầy đủ tính chất của BHXH BHYT làmột loại dịch vụ bảo hiểm rât phổ biến trên thế giới Đối tượng tham gia

Trang 5

BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khỏe của mình hoặc cóthể là từ một người đại diện cho một tổ chức đứng ra ký kết hợp đồng cho tổchức đó Khác với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ BHYT được hình thànhchủ yếu từ phí bảo hiểm của người tham gia BHYT.

- Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cũng là loại bảo hiểm được tách ra từBHXH, là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập

do bị mất việc làm Đối tượng của BHTN là phần thu nhập của người laođộng Việc trả trợ cấp BHTN là việc sử dụng chủ yếu nguồn quỹ BHTN,quỹ này do sự đóng góp từ 3 nguồn là người tham gia BHTN, người sử dụnglao động và nhà nước bù thiếu

2 Hoạt động khai thác bảo hiểm trong doanh nghiệp bảo hiểm.

2.1 Quy trình triển khai một nghiệp vụ bảo hiểm.

Hoạt động chủ yếu của DNBH là tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảohiểm nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Mỗi nghiệp vụ thường được triểnkhai thống nhất gồm 3 khâu cơ bản là:

- Khâu khai thác bảo hiểm

- Khâu đề phòng hạn chế tổn thất

- Khâu giám định bồi thường

Ba khâu công việc có quan hệ chặt chẽ với nhau và mỗi khâu đều đóngvai trò quan trọng trong toàn bộ quy trình triển khai bảo hiểm và chúng đềuảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của DNBH

2.1.1 Khâu khai thác bảo hiểm: Hoạt động khai thác bảo hiểm thường được tiến hành qua các bước công việc như sau:

a Tiếp thị, nắm bắt thông tin, nhận thông tin từ khách hàng: Khai thác viên

có nhiệm vụ thường xuyên tiếp xúc với khách hang tuyên truyền, phổ biến

và giải thích ý nghĩa, mục đích của việc tham gia bảo hiểm cũng như quyềnlợi, nghĩa vụ của người được bảo hiểm

b Phân tích, tìm hiểu và đánh giá rủi ro: Thông qua các số liệu của kháchhàng tư vấn cho lãnh đạo về chính sách khách hàng và công tác quản trị rủiro

c Xem xét đề nghị bảo hiểm:

- Cung cấp phí bảo hiểm cho khách hàng dựa trên những cơ sở đã có

Trang 6

- Trường hợp phải tham khảo phí của thị trường tái bảo hiểm thì chỉ chàophí khi đã nhận được thông báo phí của thị trường tái bảo hiểm.

- Cần lưu ý các trường hợp khách hàng tham gia bảo hiểm tại các chinhánh khác trong cùng một công ty hay cùng tham gia bảo hiểm tại các công

ty bảo hiểm khác

d Khai thác trên phân cấp

- Trường hợp dịch vụ khai thác lớn, vượt quá mức trách nhiệm được phâncấp khác, chi nhánh xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên

- Khai thác viên nghiên cứu, đề xuất phương án giải quyết Lãnh đạo khốixem xét và gửi đến các khối lien quan xin ý kiến

- Lãnh đạo đồng ý với phương án của khối nghiệp vụ thì khối nghiệp vụthông báo cho chi nhánh để tiến hành cấp đơn bảo hiểm

e Đàm phán, chào phí

- Phí bảo hiểm đã chào cho khách hàng nhưng chưa được chấp nhận, tùytrường hợp mà lãnh đạo phòng hoặc lãnh đạo công ty sẽ trao đổi và tính toánlại phương án chào phí phù hợp, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của kháchhàng

- Việc đàm phán diễn ra cho đến lúc khách hàng chấp nhận hoặc khôngchấp nhận việc đàm phán

f Chấp nhận bảo hiểm: Sau khi đã thống nhất các nội dung trong hợp đồng,khai thác viên thông báo cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng làm cácthủ tục cần thiết để cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm

g Theo dõi thu phí, tiếp nhận giải quyết mới

- Vào sổ theo dõi khai thác, thống kê

- Theo dõi đối tượng bảo hiểm, thu phí, trả hoa hồng

- Sửa đổi các điều kiện bổ sung

- Làm công tác tuyên truyền, đề phòng hạn chế tổn thất

- Tái tục bảo hiểm

2.1.2 Khâu đề phòng hạn chế tổn thất: gồm 3 khâu chuyên môn:

a Khảo sát điều tra thực tế: Đây là việc DNBH điều tra các thông tin cólien quan để có thể đưa ra các đề xuất giúp khách hàng kiểm soát rủi ro cókhả năng xảy ra

Trang 7

b Phân tích và tư vấn cho khách hàng: Từ những thông tin ở khâu điều tra,giám sát thực tế, nhân viên kiểm soát tổn thất của công ty bảo hiểm sẽ phântích những thông tin trong quá khứ của khách hàng cùng những thay đổihiện nay Từ đó tư vấn cho khách hàng những vấn đề cụ thể liên quan đếncông tác quản trị rủi ro như chương trình an toàn và phương án quản trị rủi

ro cho đối tượng bảo hiểm, kiểm soát tổn thất đối với những rủi ro có thểgặp phải…

c Thực hiện chương trình quản trị rủi ro: Đây là công việc chủ yếu củangười tham gia bảo hiểm Họ là đối tượng trực tiếp thực hiện chương trình.DNBH sẽ có các hoạt động như cử kiểm soát viên xem xét về chương trìnhquản trị này và có bổ sung nếu cần thiết

2.1.3 Khâu giám định và bồi thường: Tùy thuộc vào từng loại hình bảo

hiểm, từng nghiệp vụ bảo hiểm, từng DNBH khác nhau mà quy trình giámđịnh bồi thường được tiến hành theo các bước khác nhau

a Khâu giám định

- Thông báo khiếu nại

Khi tổn thất thiệt hại xảy ra, người bảo hiểm phải thông báo bằngphone/fax/email hay trực tiếp cho công ty bảo hiểm Về nguyên tắc phảithông báo trong vòng 24h từ khi xảy ra/phát hiện tổn thất/thiệt hại

- Thực hiện giám định: Khi nhận được thông báo tổn thất của người đượcbảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ cử cán bộ tới hiện trường thực hiện giám định

sơ bộ Biên bản giám định của cơ quan này sẽ là cơ sở cho việc giải quyếtbồi thường

- Một số biện pháp khẩn cấp sau sự cố:

+ Khu vực thiệt hại cần được bảo vệ cho đến khi giám định viên đưa ra chỉdẫn Thậm chí trong trường hợp này các biện pháp đề phòng và hạn chế tổnthất vẫn phải được thực hiện để giảm thiểu mức độ tổn thất

+ Khi việc sửa chữa là khẩn cấp, người được bảo hiểm cần có những biệnpháp cần thiết như xác định nguyên nhân tổn thất, chụp ảnh…

+ Người được bảo hiểm cần bảo lưu những phần tổn thất để người bảohiểm hoặc người giám định kiểm tra

Trang 8

+ Trong trường hợp khiếu nại về thương tật thân thể, người được bảo hiểmcần phải có những biện pháp khẩn cấp như đưa người bị nạn đến ngay bệnhviện, tổ chức cấp cứu chữa trị…

- Hướng dẫn khách hàng thu thập đầy đủ chứng từ cần thiết để khiếu nạibồi thường và tiến hành vào sổ theo dõi

b Khâu giải quyết bồi thường

- Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại bồi thường

- Kiểm tra hoàn thiện hồ sơ

+ Tham chiếu quy tắc/ Hợp đồng bảo hiểm kiểm tra lại hồ sơ khiếu nại.+ Trường hợp chưa đầy đủ tài liệu, cán bộ yêu cầu khách hàng cung cấpthêm theo đúng quy tắc bảo hiểm hiện hành

+ Khối nghiệp vụ trình lãnh đạo duyệt bồi thường

+ Nội dung của tờ trình duyệt bồi thường bao gồm: Tên người được bảohiểm, đối tượng được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm…

+ Hồ sơ được chuyển lấy ý kiến các cơ quan có lien quan, thống nhất ýkiến

+ Hồ sơ được duyệt: làm công văn gửi khách hàng và vào sổ

(*) Trường hợp hồ sơ trên phân cấp: Đối với thiệt hại trên phân cấp thì vẫntiến hành giải quyết theo tuần tự bình thường Khi hoàn thiện hồ sơ gửi vềcông ty kèo theo phương án đề xuất giải quyết

- Thông báo bồi thường

+ Gửi thông báo bồi thường cho khách hàng/

+ Làm thủ tục chuyển tiền

- Đòi người thứ ba, xử lý tài sản bị hư hỏng

2.2 Hoạt động khai thác bảo hiểm.

2.2.1 Vai trò.

Khai thác là một khâu quan trọng bởi lẽ doanh thu chỉ có thể có được nhờquá trình bán hàng và các sản phẩm hàng hóa dịch vụ của nhà kinh doanh

Trang 9

chỉ được xã hôi thừa nhận khi chúng được đưa đến tay người tiêu dùngthông qua hoạt động này Chỉ có tiêu thụ được sản phẩm thì doanh nghiệpmới có thể bù đắp được các chi phí trong hoạt động kinh doanh.

Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên trong quy trình kinh doanh bảohiểm, đây là công việc khó khăn bởi lẽ việc gây dựng lòng tin và sự quyếtđịnh tham gia bảo hiểm từ khách hàng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Chính vì vậy việc tiêu thụ các sản phẩm bảo hiểm chịu ảnh hưởng ở khảnăng thuyết phục khách hàng, khả năng hữu hình hóa của đội ngũ nhân viênbán hàng bảo hiểm Mặt khác, chi phí cho việc tổ chức khai thác ngày càngchiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp

2.2.2 Chỉ tiêu thống kê để phân tích hoạt động khai thác bảo hiểm.

Cùng với sự phát triển của BHTM, thống kê bảo hiểm giữ một vị trí quantrọng trong ngành BHTM Công tác thống kê đảm bảo cung cấp thườngxuyên, kịp thời những thông tin kinh tế phục vụ cho việc tính toán các chỉtiêu thống kê nhằm nghiên cứu, đánh giá và phân tích một cách toàn tiện kếtquả hoạt động của từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng và toàn ngành BHTMnói chung Qua đó giúp cho lãnh đạo các cấp của ngành bảo hiểm tổ chức vàchỉ đạo hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trên cơ sở phân loại bảo hiểm thì hệ thống chỉ tiêu thống kê bảo hiểmcũng được chia ra làm các nhóm với nội dung, ý nghĩa, phương pháp xácđịnh khác nhau: nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm con người; nhóm chỉ tiêuthống kê bảo hiểm tài sản; nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm trách nhiệm;nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh bảo hiểm Để làm cơ sở cho việcphân tích tình hình khai thác đối với một DNBH, trong từng nhóm chúng ta

có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:

- Nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm tài sản

+ Số khách hàng tham gia bảo hiểm tài sản theo từng nhóm nghiệp vụ vàtừng loại sản phẩm bảo hiểm

+ Số đơn bảo hiểm cấp theo từng nhóm nghiệp vụ và từng loại sản phẩmbảo hiểm

+ Tổng số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm theo từng nhóm nghiệp vụ vàtừng loại sản phẩm bảo hiểm

+ Doanh thu phí vảo hiểm đối với từng nhóm nghiệp vụ

Trang 10

+ Năng suất khai thác:

Tổng số tiền bảo hiểm khai thác được trong kỳNăng suất khai thác =

Số lao động bình quân trong kỳ

- Nhóm chỉ tiêu thống kê bảo hiểm TNDS

+ Tổng số xe cơ giới, số máy bay, tàu thuyền, số chủ sử dụng lao độngtham gia bảo hiểm TNDS trong kỳ

+ Tỷ lệ số xe cơ giới, số máy bay, tàu thuyền, chủ sử dụng lao động thamgia bảo hiểm trên tổng số tham gia của địa phương hay cả nước

+ Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm TNDS

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê bảo hiểm con người phi nhân thọ (chủ yếu lànghiệp vụ bảo hiểm học sinh)

+ Tổng số học sinh tham gia tại địa phương mà DNBH đóng

+ Tổng số học sinh tham gia bảo hiểm trong kỳ

+ Tỷ lệ số học sinh tham gia bảo hiểm

+ Lượng tăng (giảm) số học sinh tham gia bảo hiểm

+ Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm học sinh

2.2.3 Nội dung cơ bản về phân tích hoạt động khai thác bảo hiểm.

Trong điều kiện thị trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt hiện nay, bêncạnh sự cạnh tranh về sản phẩm và giá cả còn có sự cạnh tranh về dịch vụ vàbán hàng, điều này đặc biệt đúng với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Khảnăng khai thác khách hàng và thị trường phụ thuộc rất lớn vào hoạt động bánhàng của nhà kinh doanh

Cần thiết phải tiến hành phân tích và đánh giá được thực trạng tình hìnhkhai thác bảo hiểm, có như vậy DNBH mới có sơ sở lập kế hoạch, dự báo và

ra những quyết định chính xác trong quản lý lien quan đến từng nghiệp vụbảo hiểm Cụ thể:

a Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác

Khi hoạch định chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp luôn luôn phảiđảm bảo sự thống nhất giứa kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Hàngnăm như bất kỳ doanh nghiệp khác, các DNBH đều phải tiến hành lập kếhoạch khai thác cho từng nghiệp vụ, từng loại sản phẩm bảo hiểm

Trang 11

Để lập kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch khai thác có thểvận dụng các chỉ số Các loại chỉ số được sử dụng để nghiên cứu sự biếnđộng của hiện tượng theo thời gian và diễn ra ở một đơn vị của tổng thể.

Trong đó: yK, y0, y1 tương ứng là mức độ khai thác kỳ kế hoạch, kỳ gốc

và kỳ báo cáo yK, y0, y1 có thể là số hợp đồng, số giấy chứng nhận bảo hiểm,

số đơn bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm…

b Phân tích cơ cấu khai thác

Mỗi DNBH thường triển khai cùng một lúc nhiều nghiệp vụ, nhiều loạisản phẩm khác nhau Cần phân tích cơ cấu khai thác nhằm đánh giá kết quảtheo từng nghiệp vụ, từng khu vực, từng nhóm khách hàng trong kết quảkhai thác chung của doanh nghiệp

Đối với DNBH phi nhân thọ, phân tích cơ cấu khai thác chủ yếu đượcthực hiện với các chỉ tiêu: tổng số hợp đồng bảo hiểm và doanh thu phí bảohiểm

Theo các xu hướng chung thì nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu thường chiếm

tỷ trọng cao trong tổng doanh thu Những nghiệp vụ bảo hiểm mới triển khaithường có tỷ trọng doanh thu thấp Nhưng khi phân tích cần quan tâm đếnlợi nhuận mà doanh nghiệp hay nghiệp vụ bảo hiểm đó mang lại Phải tiếnhành tính toán so sánh trong nhiều năm để có thể nhận biết được xu hướngbiến động của các nghiệp vụ trong thời gian tới

c Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác

Một số nghiệp vụ bảo hiểm có kết quả khai thác biến động rất lớn giữacác khoảng thời gian trong kỳ nghiên cứu, tức là có phát sinh tính thời vụnhư bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm vật chất tàubiển - sông, bảo hiểm kết hợp học sinh…

Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác có thể dùng chỉ số thời vụ:

Trang 12

Ki = ; = Trong đó: Ki: Chỉ số thời vụ tháng thứ i

Xi: Mức độ khai thác tháng thứ i: Mức độ khai thác bình quân 1 tháng trong nămChỉ số thời vụ theo tháng phản ánh mối quan hệ giữa mức độ khai tháctrong từng tháng với mức độ khai thác bình quân 1 tháng trong năm Ki cànggần 1 thì tính chất thời vụ trong tháng đó càng ít và ngược lại Nếu tính toán

và so sánh kết quả trong nhiều năm liên tục sẽ lộ rõ tính quy luật khâu khaithác đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm

II HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM AAA.

1 Giới thiệu chung.

1.1 Thông tin chung.

Căn cứ vào giấy phép thành lập và hoạt động số 30GP/KDBH ngày28/02/2005 của bộ tài chính, quyết định cho phép các chủ đầu tư:

 Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam,

 Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

 Công ty TNHH Thái Bình, 43/5 xã An Bình

 Công ty cổ phần tơ tằm Á Châu

 Bà Đỗ Thị Kim Liên

 Ông Nguyễn Ngọc Anh

 Ông Nguyễ Trọng Bảy

 Bà Trương Thị Quốc Khánh

 Ông Lê Việt Thành

 Ông Ngô Quang Dũng

Được thành lập công ty cổ phần bảo hiểm AAA

- Với tên gọi: Công ty cổ phần bảo hiểm AAA

- Trụ sở chính: 02 Bis Trần Văn Cao, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh

- Điện thoại: (848) 8228499

- Webside: www.aaa.com.vn

- Lĩnh vực hoạt động: bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 13

Vào thời điểm thành lập, vốn điều lệ của công ty là 80 tỷ đồng Đến nayvốn điều lệ đã tăng lên 1500 tỷ đồng.

1.2 Cơ cấu tổ chức và hệ thống chi nhánh.

1.2.1 Cơ cấu tổ chức.

Bảo hiểm AAA là một công ty cổ phần nên mô hình tổ chức gắn liền vớicác cổ đông, Hội đồng quản trị… Để phù hợp với điều kiện của công ty, việc

bố trí tổ chức bộ máy điều hành đã có sự kết hợp các mô hình tổ chức

 Mô hình trực tuyến chức năng: Mô hình này cho phép người lãnh đạo cótoàn quyền xử lý, chỉ đạo và phát huy chức năng của các phòng ban trựcthuộc (Phòng công nghệ thông tin, phòng hành chính, kinh doanh, tài chính,

kỹ thuật)

 Mô hình tổ chức theo lãnh thổ: Tức là có sự kết hợp, chỉ đạo hoạt độngcủa lãnh đạo cấp, đến các vùng, các chi nhánh đặt tại các khu vực địa lý,vùng, chi nhánh trên toàn quốc

1.2.2 Hệ thống chi nhánh.

Năm 2005, khi mới thành lập công ty có trụ sở đặt tại thành phố Hồ ChíMinh, 1 sở giao dịch ở miền Bắc và 10 chi nhánh Năm 2006 công ty đã xâydựng được mạng lưới kinh doanh gồm 33 văn phòng, chi nhánh và trung tâmgiao dịch với hơn 400 nhân viên Năm 2007, công ty đã thành lập thêm 4 cơ

sở giao dịch và 22 chi nhánh với hơn 10000 đại lý Năm 2009, số chi nhánhcủa công ty là 93 chi nhánh với 650 nhân viên

Các chi nhánh và văn phòng giao dịch sẽ là đơn vị trực tiếp kinh doanh,công ty sẽ giao địa bàn khai thác cụ thể đối với từng chi nhánh Các vănphòng đại diện đặt tại các vùng tiềm năng sẽ là cầu nối cung cấp thông tin,

hỗ trợ hoạt động khai thác bảo hiểm của các chi nhánh

Các chi nhánh và văn phòng giao dịch sẽ là đơn vị trực tiếp kinh doanh,công ty sẽ bàn giao địa bàn khai thác cụ thể đối với từng chi nhánh Các vănphòng đại diện đặt tại các vừng tiềm năng sẽ là cầu nối cung cấp thông tin,

hỗ trợ hoạt động khai thác bảo hiểm của các chi nhánh

Liên quan đến công tác thông tin và giải quyết sơ bộ công trình nằm ởkhu vực nào bảo hiểm AAA ở khu vực đó đảm trách nhằm phục vụ nhanhnhất mọi yêu cầu của người được bảo hiểm

Trang 14

Liên quan đến công tác chuyên môn và tái bảo hiểm, các chuyên gia tạitrụ sở chính xẽ đảm nhiệm để có thể cung cấp dịch vụ với chất lượng caonhất cho người được bảo hiểm.

1.3 Nội dung hoạt động.

1.3.1 Các nghiệp vụ được phép hoạt động.

Công ty cổ phần bảo hiểm AAA được phép hoạt động và kinh doanh bảohiểm trong nhiều lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, với các nghiệp vụ đượcphép kinh doanh như sau:

- Kinh doanh bảo hiểm gốc:

+ Bảo hiểm hang hóa:

 Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

 Bảo hiểm vận chuyển nội địa

+ Bảo hiểm tài sản và thiệt hại

 Bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biêt

 Bảo hiểm mọi rủi ro

 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

 Bảo hiểm mọi rủi ro văn phòng và nhà ở

 Bảo hiểm hỏa hoạn tư nhân

+ Bảo hiểm kĩ thuật

 Bảo hiểm thiết bị điện tử

 Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt

 Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng

 Bảo hiểm đổ vỡ máy móc

 Bảo hiểm công trình hoàn thành

+ Bảo hiểm tàu

 Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu cá

 Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu sông

 Bảo hiểm thân tàu, TNDS chủ tàu biển, P&I

+ Bảo hiểm trách nhiệm

 Bảo hiểm trách nhiệm chung

 Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm

 Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

 Bảo hiểm trách nhiệm của chủ đối với người lao động

Trang 15

+ Bảo hiểm tín dụng.

Các loại hình bảo hiểm tín dụng ngân hàng:

+ Bảo hiểm con người: Các loại hình bảo hiểm:

- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật

1.3.2 Phạm vi hoạt động.

Công ty bảo hiểm AAA được phép hoạt động trên phạm vi cả nước Vớiđối tượng khách hàng là các tổ chức, cá nhân trông và ngoài nước sinh sống,học tập, làm việc, hoạt động và kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

2 Thực trạng hoạt động khai thác tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA 2.1 Thuận lợi và khó khăn.

Thị trường bảo hiểm hiện nay đang trên đà phát triển mạnh nhưng cũngtiềm ẩn nhiều khó khăn và thách thức Trong mấy năn gần đây, nền kinh tếViệt Nam có nhiều biến động với nhiều cơ hội và thách thức từ việc ViệtNam ra nhập WTO, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu…

Với hình thức sở hữu vốn là một công ty cổ phần, công ty cổ phần bảohiểm AAA thực sự hoạt động từ tháng 11/2005 đến nay nhưng đã thu đượcnhiều kết quả Doanh thu tăng qua các năm, lợi nhuận thuần hoạt động kinhdoanh bảo hiểm, lợi nhuận hoạt động tài chính đều tăng cao, số lượt nhânviên quản lý tăng, với hơn 10000 đại lý và 93 chi nhánh văn phòng đặt tạicác tỉnh và thành phố trên toàn quốc thay vì chỉ khai thác bảo hiểm chủ yếutại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội như trước đây… Tuy nhiên nếu xét vềthị phần thì thị phần của công ty bảo hiểm AAA còn khiêm tốn, phải đươngđầu không chỉ với sự cạnh tranh của các công ty lão làng, và còn có sự cạnhtranh gay gắt của các công ty có cùng số năm kinh nghiệp nhưng bước đầu

Ngày đăng: 18/04/2013, 08:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w