1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín hiệu thẩm mĩ đêm, chiều, đời người trong ca từ của Trịnh Công Sơn

66 355 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 772,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ nói chung ứng dụng xem xét tín hiệu thẩm mĩ cụ thể, đề tài Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều”, đời người ca từ Trịnh Công Sơn có lối riêng không trùng với công trình... quan đến đề tài nhƣ: khái niệm tín hiệu thẩm mĩ, đặc tính tín hiệu thẩm mĩ, … + Thống kê phân loại Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “ chiều”, đời người ca từ Trịnh Công Sơn + Sử dụng phƣơng pháp nghiên... Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều” đời ngƣời ca từ Trịnh Công Sơn Trên sở đề tài tập trung miêu tả phân loại tín hiệu thẩm mĩ theo nhóm biến thể Từ góp phần khẳng định lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

=======***=======

NGUYỄN THỊ THỦY

TÍN HIỆU THẨM MĨ “ĐÊM”, “CHIỀU”,

“ĐỜI NGƯỜI” TRONG CA TỪ

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS Lê Thị Thùy Vinh

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Hà Nội 2 đã động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Thùy Vinh đã tạo điều kiện tốt nhất và chỉ bảo tận tình để em có thể hoàn thành khóa luận này

Do thời gian và kiến thức có hạn nên những vấn đề trình bày trong khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 06 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

NGUYỄN THỊ THỦY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tìn của cô Lê Thị Thùy Vinh cùng với sự cố gắng của bản thân em Trong quá trình nghiên cứu em đã kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu với sự trân trọng và biết ơn

Em xin cam đoan những kết quả trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em, không trùng với kết quả của các tác giả khác Nếu sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, Ngày 06 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

NGUYỄN THỊ THỦY

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của khóa luận 6

8 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Tín hiệu 7

1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 7

1.3 Tín hiệu thẩm mĩ (THTM) 9

1.3.1 Thuật ngữ 9

1.3.2 Phân loại THTM 10

1.3.3 Nguồn gốc của THTM 11

1.3.4 Chức năng của THTM 13

1.3.5 Đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ 15

1.3.6 Phương thức xây dựng THTM 20

1.3.7 Quá trình lĩnh hội và phân tích THTM trong hệ thống 21

1.4 Tác giả Trịnh Công Sơn 24

1.4.1 Cuộc đời 24

1.4.2 Sự nghiệp 25

Trang 5

CHƯƠNG 2 TÍN HIỆU THẨM MĨ “ĐÊM”, “CHIỀU”, “ĐỜI NGƯỜI”

TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN 27

2.1 THTM “đêm” 27

2.1.1 Thống kê, khảo sát ngữ liệu 27

2.1.2 Giá trị thẩm mĩ “đêm” trong ca từ của Trịnh Công Sơn 30

2.2 THTM “chiều” 39

2.2.1 Thống kê khảo sát ngữ liệu 39

2.2.2 Giá trị thẩm mĩ “chiều” trong ca từ của Trịnh Công Sơn 41

2.3 THTM thể hiện thời gian “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn 47

2.3.1 Thống kê, khảo sát ngữ liệu 47

2.3.2 Giá trị thẩm mĩ thể hiện thời gian “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn 49

2.4 Sự phối hợp của THTM “đêm”, “chiều”, “đời người” trong việc làm rõ phong cách nghệ thuật Trịnh Công Sơn 57

KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện biểu hiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau Cho dù là âm nhạc, hội họa hay văn chương thì người thưởng thức luôn muốn giải mã được một cách đầy đủ và đúng đắn các tín hiệu thẩm mĩ để khám phá và cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm Đặc biệt, đối với tác phẩm văn học khi nghiên cứu nó từ bình diện ngôn ngữ thì tín hiệu thẩm mĩ là một trong những con đường quan trọng nhất để chúng ta tiếp cận với những giá trị cốt lõi trong nội dung văn bản

Thông qua cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả, các yếu tố hiện thực trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong văn học Thời gian là yếu tố không thể thiếu và gắn bó mật thiết với con người.Văn học và nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người cho nên thời gian trở thành một trong những đối tượng phản ánh của loại hình nghệ thuật này

Tuy nhiên giá trị của tín hiệu thẩm mĩ được biểu đạt bằng ngôn ngữ không chỉ được ghi nhận trong các tác phẩm văn chương mà còn được thể hiện rõ nét trong âm nhạc Trong nền âm nhạc Việt Nam Trịnh Công Sơn được xem là một trong những nhạc sĩ viết ca từ hay nhất Ông là người đã biến ngôn ngữ ca từ thành ngôn ngữ thơ của nhạc Có người cho rằng Trịnh

Công Sơn là một nhà thơ lớn Nhạc chỉ là “chiếc xe tải” chở thơ ông đến với

mọi người Thực tế rất khó lòng tách bạch giữa thơ và nhạc trong những ca khúc của ông Nhạc và thơ hoà quyện vào nhau, nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã và sẽ làm say mê hàng triệu triệu trái tim qua bao thế hệ Trịnh Công Sơn đã để lại cho nền âm nhạc một di sản đồ sộ khoảng 600 ca khúc Ca từ của Trịnh Công Sơn lời đẹp, ý sâu, âm điệu nhẹ nhàng, êm ái

Anh viết lời một cách dễ dàng, tự nhiên “như lấy chữ từ trong túi ra” (cách

nói của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoá) Đây là những tài năng thiên phú Những

Trang 7

người như thế, phong cách hình thành rất sớm và nó chi phối gần như suốt cả cuộc đời sáng tác của họ Thực ra, số lượng từ mà Trịnh Công Sơn sử dụng không lớn và có một số từ được anh dùng đi dùng lại khá nhiều lần Các nhà thơ thời nhà Đường (Trung Quốc) cũng như vậy, chỉ với một số lượng từ lặp

đi lặp lại mà biến hoá khôn lường Làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần ca từ

Việc tìm hiểu giá trị ca từ Trịnh Công Sơn đang là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là soi chiếu ca từ dưới góc độ ngôn ngữ

Là một người yêu và say mê nhạc Trịnh chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài

nghiên cứu: “Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều”, “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn” Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hy vọng có thể đóng góp

thêm một tiếng nói để khẳng định tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ tài hoa được mệnh danh là “phù thủy của ngôn từ”

2 Lịch sử vấn đề

Trong những năm gần đây nhiều vấn đề của văn học đang được các nhà văn nghiên cứu tìm hiểu dưới góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại đặc biệt vấn đề lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ tỏ ra rất có ưu thế

Tín hiệu thẩm mĩ là một khái niệm được đưa vào nước ta từ những năm

70 của thế kỉ XX qua các bản dịch công trình của M B Khrapchenco và các nghiên cứu của các giáo sư Đỗ Hữu Châu, Phan Ngọc, Đào Thản… Gần đây phải nói đến công trình nghiên cứu “Ngôn ngữ văn chương” của Bùi Minh Toán Trong công trình này, Bùi Minh Toán đã dành chương 3 “Từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương” để bàn kĩ đến tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ

Những luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, các đề tài khoa học cũng bàn đến vấn đề tín hiệu thẩm mĩ và cho rằng nhìn nhận tín hiệu thẩm mĩ là một phương thức để tiếp cận tác phẩm nghệ thuật như luận án “Sự biểu đạt

Trang 8

bằng ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ” (Trương Thị Nhàn), “Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” (Nguyễn Thị Ngân Hoa)… Khóa luận tốt nghiệp “Tín hiệu thẩm mĩ nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” (Tạ Thị Long), “Tín hiệu thẩm mĩ lửa trong thơ Vi Thùy Linh” (Nguyễn Thị Tân), “Tín hiệu thẩm mĩ hoa trong thơ Xuân Quỳnh” (Phạm Thị Hà),…

Đối với việc nghiên cứu ca từ của Trịnh Công Sơn, có thể thấy các công trình đã nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau: âm nhạc, văn học, ngôn ngữ học, xã hội học… Người ta đã viết rất nhiều về những đề tài mang những nội dung như: ca từ đầy chất thơ, cái hay cái lạ trong ca từ Trịnh Công Sơn, tính triết học, tính thiền, những biểu tượng ngôn ngữ… Tất cả đều được tập hợp lại trong những cuốn sách, bài viết, công trình khoa học như: “Trịnh Công Sơn – Một người thơ ca một cõi đi về” (2001), “Trịnh Công Sơn – Cát bụi lộng lẫy”, “Trịnh Công Sơn – Người hát rong qua nhiều thế hệ” “Trịnh Công Sơn – Rơi lệ ru người” (2001) (do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn) Những người thân, bạn bè của Trịnh Cơng Sơn cũng sưu tầm và thể hiện những tình cảm, suy nghĩ của mình về con người, cuộc đời và ca từ của Trịnh Công Sơn, có thể kể đến các tác giả: Trịnh Cung, Nguyễn Quốc Thái với “Trịnh Công Sơn - Cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa & suy tưởng” (2001), Bửu Ý với “Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ thiên tài” (2003), Nguyễn Đắc Xuân với “Trịnh Công Sơn - Có một thời như thế” (2003), Hoàng Phủ Ngọc Tường với “Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của Hoàng tử bé” (2005), Bùi Vĩnh Phúc với “Trịnh Công Sơn- Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật” (2008)

Riêng dưới góc độ ngôn ngữ học, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu một cách sâu sắc, công phu Trước hết, có thể kể đến nhận xét của Hồng Tá Thích: “Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang

Trang 9

nhiều tính ẩn dụ đôi khi làm người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc (Tương tự như một họa sĩ vẽ tranh trừu tượng đôi khi cũng khó có thể giải thích những ý tưởng rất… trừu tượng của mình thể hiện trên tác phẩm hội họa)” Hay như đánh giá của tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong một cuộc phỏng vấn: “Ca từ của Trịnh Công Sơn đã làm mới ngôn ngữ Việt Nam và đưa ra những hình ảnh đẹp một cách rất bi thiết pha trộn với nét kỳ ảo Tất cả những điều đó tạo nên một thế giới riêng biệt, một thế giới chưa bị làm mịn đi bởi sự nhàm chán, sự lặp lại Và điều ấy tạo nên sự thu hút.” Còn Trịnh Chu thì khẳng định: “Ở Nguyễn Du, tiếng Việt chỉ đẹp bởi sự chính xác, mang tính triết lý cao, và xem ra cái “mỹ” ở đây chỉ là cái “mỹ” của hiện thực Còn cái “đẹp” của Trịnh Công Sơn lại là cái “đẹp” bảng lãng, sương khói của siêu thực, ấn tượng Sự vật nào được Trịnh Cơng Sơn đụng đến cũng bớt thật đi, và được khoác lên một thứ ánh sáng mới, đủ sức bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng…” Bửu Ý cũng cho rằng: “Lời

ca của Trịnh Công Sơn đầy ắp biện pháp tu từ đủ loại: nhân hóa, tỷ dụ, hoán

dụ, phúng dụ, biểu tượng… Trong đó có hai biện pháp trở đi trở lại nhiều và đặc biệt giúp tăng thêm tính thi ca cho bài hát: sự láy lại và ẩn dụ…” Gần đây, nghiên cứu về ca từ Trịnh Công có một luận án đáng chú ý “Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn” của Nguyễn Thị Bích Hạnh Trên cơ sở phân tích các mô hình ẩn dụ, so sánh đối chiếu trong các miền văn hóa khác nhau, luận án đã làm sáng tỏ tính khác biệt về văn hóa trong ngôn từ của nhạc

sĩ, đặt trong tương quan giữa cái mang tính phổ quát toàn nhân loại với các đặc thù mang tính dị biệt của từng dân tộc Tuy nhiên để nghiên cứu một cách toàn diện về ca từ của Trịnh Công Sơn từ góc độ ngôn ngữ học hiện nay vẫn còn chưa nhiều Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ nói chung và ứng

dụng xem xét một tín hiệu thẩm mĩ cụ thể, đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”,

“chiều”, “đời người” trong ca từ Trịnh Công Sơn” vì thế vẫn có lối đi riêng

Trang 10

không trùng với các công trình đi trước

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận khảo sát “Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều” và đời người trong ca từ của Trịnh Công Sơn” Trên cơ sở đó đề tài tập trung miêu tả và phân loại các tín hiệu thẩm mĩ này theo các nhóm biến thể Từ đó góp phần khẳng định lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương đồng thời cũng làm rõ phong cách của người nhạc sĩ tài hoa này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra đề tài này phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:

+ Xác định cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài này như: khái niệm tín hiệu thẩm mĩ, đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ,…

+ Thống kê và phân loại “Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “ chiều”, “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn”

+ Sử dụng những phương pháp nghiên cứu đã lựa chọ để phân tích, nhằm xác định hiệu quả nghệ thuật của những cách dụng ngôn ngữ để thể

hiện thời gian “đêm”, “chiều”, “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là tín hiệu thẩm mĩ “đêm”,

“chiều” và tín hiệu thẩm mĩ thể hiện thời gian “đời người” trong ca từ Trịnh Công Sơn

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ thống kê những cách dùng tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều”, “đời người” trong tuyển tập “Trịnh Công Sơn- những bài ca không năm tháng” Nxb Âm nhạc năm 2008

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: sử dụng phương pháp này thống kê các tín hiệu

thẩm mĩ “đêm”, “chiều”, “đời người” trong ca từ của Trịnh Công Sơn

- Phương pháp miêu tả: đây là phương pháp dùng để miêu tả những trường hợp, những ngữ liệu điển hình

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: dùng phân tích tín hiệu thẩm mĩ

“đêm”, “chiều”, “đời người” trong ngữ liệu nhằm xác định hiệu quả sử dụng

của chúng

- Thủ pháp phân loại: dùng để phân loại tín hiệu thẩm mĩ “đêm”,

“chiều”, “đời người” theo tiêu chí khác nhau

7 Đóng góp của khóa luận

Về phương diện lí luận, khóa luận này làm rõ một số vấn đề lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ cũng như đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ, chức năng của tín hiệu thẩm mĩ…

Khóa luận cũng có giá trị thực tiễn trong quá trình xem xét và thẩm định

ca từ trong sang tác của Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngôn ngữ học từ đó góp phần khẳng định tài năng của tác giả

8 Cấu trúc khóa luận

Đề tài gồm có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung gồm

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Tín hiệu thẩm mĩ “đêm”, “chiều”, “đời người” trong ca từ

của Trịnh Công Sơn

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tín hiệu

Tín hiệu thẩm mĩ về mặt bản chất cũng là một loại tín hiệu Vậy tín hiệu

1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Theo F.De.Sausure: “Tín hiệu ngôn ngữ kết thành một không phải một

sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với hình ảnh âm thanh”

Một sự vật chỉ trở thành tín hiệu khi nó được cấu thành bởi hai mặt

+Cái biểu đạt (hình thức âm thanh)

+ Cái được biểu đạt (nội dung tín hiệu)

Mặt hình thức của tín hiệu là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập nên và đã cụ thể cho mình, đó chính

là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ

Còn mặt nội dung là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại

Hai mặt này gắn bó mật thiết trong một quan niệm không thể có mặt này

mà không có mặt kia

Trang 13

Bản chất tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau:

+ Các yếu tố của hệ thống vật chất không phải là tín hiệu có giá trị đối với hệ thống vì có những thuộc tính vật chất tự nhiên của chúng Hệ thống tín hiệu cũng là hệ thống vật chất nhưng các yếu tố của nó có giá trị đối với hệ thống không phải do những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng mà do những thuộc tính được người ta trao cho để chỉ ra những khái niệm hay tư tưởng nào đó

+ Tính hai mặt của tín hiệu: Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành Cái biểu hiện trong ngôn ngữ là hình thức âm thanh, còn cái được biểu hiện là khái niệm hay đối tượng biểu thị

Ví dụ: từ hoa ngoài ý nghĩa vốn có, trong từng trường hợp sử dụng cụ thể nó có thể biểu thị những đối tượng khác nhau như:

Hoa mang ý nghĩa chỉ người phụ nữ có nhan sắc:

“Giá đành trong nguyệt trên mây Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Hoa dùng để chỉ người tình nhân hào hoa, phong nhã:

“Nàng rằng khoảng trắng đêm trường

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Tính võ đoán của tín hiệu: Mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là có tính võ đoán tức là giữa hình thức âm và khái niệm không có mối tương quan nào

+ Giá trị khu biệt của tín hiệu: Trong một hệ thống tín hiệu, cái quan trong là sự khu biệt Thuộc tính vật chất của mỗi tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những đặc trưng có khả năng phân biệt của nó

Trang 14

+ Tính hình tuyến của cái biểu đạt: Trong ngôn ngữ, cái biểu hiện chỉ là một loại âm thanh, bắt buộc phải xuất hiện theo một trình tự, không thể xuất hiện đồng thời, vì thế nó là một loại thời gian, một hình tuyến một ngữ đoạn

1.3 Tín hiệu thẩm mĩ (THTM)

1.3.1 Thuật ngữ

Khái niệm THTM xuất hiện vào những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam từ những năm 70 qua bản dịch các công trình khoa học xuất hiện trong các bài viết của Đỗ Hữu Châu, Trần Đình Sử, Hoàng Trinh, THTM (theo nghĩa rộng) là chất liệu để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của tất cả các ngành nghệ thuật nói chung Chẳng hạn tín hiệu của hội họa là đường nét, màu sắc, bố cục; của âm thanh là âm thanh, tiết tấu; của điện ảnh là hình ảnh; của sân khấu là hành động của văn học là ngôn từ

THTM (theo nghĩa hẹp) là chất liệu của văn học Tín hiệu thẩm mĩ lấy tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên làm chất liệu nhưng đi vào từng tác phẩm chúng được tổ chức lại để phục vụ cho một mục đích thẩm mĩ nhất định

Theo Đỗ Hữu Châu thì: “THTM phân biệt với các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không bao giờ chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực mà phải là một tư tưởng, một tư tưởng nào đó của người nghệ sĩ”

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả

Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM: “THTM là phương tiện sơ cấp của văn học là ngôn ngữ - THTM cú pháp THTM Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức cái biểu hiện của THTM”

Như vậy câu trả lời cho câu hỏi: Thế nào là một THTM ? Đỗ Hữu Châu chủ chương căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các vật quy chiếu thuộc

thế giới hiện thực : “THTM phải tương ứng với các vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực Chẳng hạn như một con thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó” Từ đó có thể hiểu THTM chính là toàn bộ những yếu

Trang 15

tố hiên thực, những chi tiết, những sự vật hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ nhất định

Đỗ Hữu Châu cũng có kiến giải cụ thể về THTM ngôn ngữ như sau: THTM là tín hiệu thuộc hệ thống của các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố hiện thực của tâm trạng (những chi tiết, những sự việc, hiện tượng, những cảm xúc…thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng) những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, của các yếu tố chất liệu màu sắc với hội họa, âm thanh nhịp điệu với âm nhạc…) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ

Ví dụ:

“Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”

Ở câu thơ trên của Xuân Diệu có nhiều THTM đơn như các danh từ: thi

sĩ, gió, trăng, mây; các động từ: làm, ru, mơ, theo; các tính từ: vơ vẩn Mỗi từ

đó không chỉ có nghĩa ngôn ngữ thông thường mà có ý nghĩa thiên nhiên như: gió, trăng, mây đã nâng lên tầm ý nghĩa thẩm mĩ, cao hơn đó là trở thành bạn

với thi sĩ thông qua các động từ: làm, ru, mơ, theo, cùng Chỉ có tâm hồn thi sĩ

mới coi thiên nhiên là bạn, là những gì để nhà thơ trút bầu tâm sự và gửi gắm tâm tư tình cảm của mình vào trong đó

Trang 16

1.3.2.2 THTM phức

THTM phức là tín hiệu bao trùm cả tác phẩm văn học tương đương với các hình tượng nghệ thuật Nó là sự tổ hợp, kết hợp của các THTM đơn

Ví dụ: Trong bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, “tre” là một

THTM phức.Tác giả muốn thông qua đặc điểm của loài tre để muốn nói đến tinh thần bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam với những biểu hiện đặc trưng từ ngàn đời nay như: tính chịu thương, chịu khó, sự đùm bọc che chở, tương than, tương ái…

1.3.3 Nguồn gốc của THTM

Theo Đỗ Hữu Châu, xét theo nguồn gốc có hai loạiTHTM:

+ Những THTM được rút ra từ hiện thực cuộc sống

+ Những THTM được rút ra từ chính bản thân ngôn ngữ

- Nguồn 1: Những THTM được rút ra từ hiện thực cuộc sống

Đây là những tín hiệu được xây dựng trên cơ sở những sự vật, sự việc trong hiện thực khách quan Mỗi sự vật sự việc đó được gọi tên bằng tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhà văn đã quan sát chiêm nghiệm thực tế, lựa chọn những đối tượng từ thực tế để phản ánh trong tác phẩm đồng thời thực hiện quá trình xây dựng, tái tạo lại thành THTM chuyển đến người đọc những ý nghĩa thẩm mĩ

Ví dụ:

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

Cặp quan hệ thuyền – bến là những sự vật có thật trong đời sống với những thuộc tính cụ thể, “thuyền” là phương tiện di chuyển trên mặt nước có đặc tính di động còn “bến” có đặc tính cố định Trên cơ sở đó, tác giả dân gian đã xây dựng thành THTM biểu hiện hình ảnh người ra đi “thuyền” và người ở lại “bến”

Trang 17

THTM còn có thể là thế giới nội tâm con người Đó là những trạng thái, tình cảm, cảm xúc của con người

Ví dụ:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non”

Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương ngoài việc miêu tả các

công đoạn làm bánh trôi bà còn muốn nói lên số phận chìm nổi của người phụ

nữ trong xã hội cũ

- Nguồn 2: THTM được rút ra từ chính bản thân ngôn ngữ

Thứ nhất là ngôn ngữ của văn học dân gian Nói khác đi những tín hiệu trong văn học dân gian đã cung cấp chất liệu để xây dựng THTM

Ví dụ: Con cò trong văn học dân gian xuất hiện với hình ảnh nhỏ bé, bất

hạnh bi áp bức đè nén như: “Con cò lặn lội bờ sông…” hay “Con cò mà đi ăn đêm…” Nhưng các tác phẩm văn chương thì nhà văn đã sáng tạo lại nên các THTM mới như Tú Xương trong bài “Thương vợ” thì hình ảnh con cò chỉ

hình tượng người phụ nữ mà cụ thể trong bài là hình ảnh bà Tú

Thứ hai, THTM là những điển cố, điển tích trong văn học trung đại Việt Nam, thành ngữ, tục ngữ Điển cố là các ngữ liệu văn chương quá khứ hoặc các sự kiện xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày nhưng được truyền tụng thành biểu tượng cho loại ý nghĩa nhất định

Ví dụ: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du sử dụng các điển cố như:

Ba thu Chín chữ Liễu Chương Đài

Các điển tích được du nhập từ nền văn hóa khác xây dựng thành các THTM

Ví dụ: “Gót chân Asin”

Gần các điển cố là thành ngữ, tục ngữ Đây là nguồn cung cấp THTM

Trang 18

cho văn chương Khi sử dụng thành THTM, thành ngữ chỉ giữ lại những chi tiết mà không cần phải dẫn nguyên văn thành ngữ Các tục ngữ cũng như vậy

Ví dụ: trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều thành ngữ như:

“Đầu trâu mặt ngựa”

“Đội trời đạp đất”

Hay trong bài “Thương vợ” của Tú Xương

“Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công”

Thứ ba lấy những từ gợi tả, gợi cảm

Ví dụ:

“Trời ơi em biết khi mô Thân em hết nhục dày vò năm canh”

(Tiếng hát sông Hương -Tố Hữu)

Trời ơi là tiếng thốt ra, là âm thanh tự nhiên, là tiếng than nhưng trong

ngữ cảnh này nó không chỉ là tiếng kêu than đơn thuần mà là tiếng nức nở âm thầm, xót xa của người phụ nữ

1.3.4 Chức năng của THTM

1.3.4.1 Chức năng biểu cảm (chức năng thông tin)

Chức năng biểu cảm là chức năng phản ánh thế giới hiện thực thông qua các hình tượng đó có thể là sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh như:

hình ảnh cái bánh trôi trong “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương Đó là

Trang 19

một vật thể trong đời sống người Việt Nam

Đó cũng có thể là hiện thực tâm trạng của con người đặc biệt trong các tác phẩm trữ tình như tâm trạng Kiều ở lầu Ngưng Bích:

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông song gió mặt duềnh

Ầm ầm tiếng song kêu quanh ghế ngồi”

1.3.4.2 Chức năng bộc lộ cảm xúc

Chức năng này vừa bộc lộ cảm xúc của tác giả vừa tác động đến cảm xúc của người đọc Nó thường gợi ở người đọc nhiều cảm xúc thẩm mĩ như ở tác giả

Ví dụ:

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Hai câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du giống như một lời than đứt ruột Trong xã hội phong kiến suy tàn và thối nát lúc bấy giờ, số phận người phụ

nữ thật nhỏ bé, long đong, đắng cay, bi đát… Đó không chỉ là tiếng kêu than

mà còn là lời tố cáo, vạch trần thực trạng xã hội đen tối thế lực và tiền bạc lộng hành, đồng thời cũng gián tiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào cảnh đau đớn

Hay bài “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan đã thể hiện được

tâm trang buồn (bóng xế tà, cỏ cây hoang tàn) Ngoài ra ta thấy được sự lam

lũ trong cảnh chiều tà có nhà thưa thớt ven sông có âm thanh nhưng nó lại gợi

sự hoang vắng buồn thê lương “ta với ta”

1.3.4.3 THTM tạo nên tính sinh động và cụ thể cho tác phẩm văn chương

Ví dụ:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Trang 20

Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Ngôn ngữ trong bài ca dao không chỉ cung cấp thông tin về nơi sinh sống, cấu tạo hương vị và sự trong sạch của cây sen, mà quan trọng là khẳng định và nuôi dưỡng một tư tưởng, một cảm xúc thẩm mĩ: cái đẹp có thể hiện hữu và bảo tồn ngay trong những môi trường có nhiều cái xấu

1.3.5 Đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ

1.3.5.1 Đặc tính tác động

Ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng giao tiếp, nó là phương tiện để tác giả giao tiếp với độc giả Vì thế ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng tác động rất lớn Nó giúp người đọc tư duy bằng hình tượng Thông qua các tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật, bạn đọc không chỉ nhận ra hiện thực được phản ánh mà còn hiểu được tấm lòng của người nghệ sĩ Nhờ tác động của tín hiệu ngôn ngữ, người đọc tưởng tượng để đồng sáng tạo với tác giả ngôn từ

1.3.5.2 Đặc tính biểu hiện

Chức năng quan trọng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực và THTM phải mang nội dung hiện thực nhất định, phải gắn với hiện thực Điều này có nghĩa là mỗi THTM ứng với một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới vật chất hay tinh thần

Theo Nguyễn Lai ông khẳng định: “Tín hiệu bao giờ cũng mang một nội dung thông báo tín hiệu không còn là tín hiệu” Như vậy, điều đặc biệt cần

nhấn mạnh ở đây là: chỉ có qua đối tượng tiếp nhận, tính hai mặt không thể tách rời của tín hiệu cùng với hiệu lực thông báo mới trở thành hiện thực

Sự biểu hiện hiện thực của THTM trong văn học đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác sự biểu hiện của THTM còn liên quan đến quá trình liên tưởng ở chủ thể tiếp nhận, bởi vậy

Trang 21

1.3.5.3 Đặc tính biểu cảm

Để đạt đến một giá trị thẩm mĩ nhất định, THTM không chỉ dừng lại ở nội dung đơn thuần là tái tạo hiện thực Ngoài những thông tin về hiện thực, THTM còn thông tin về cảm xúc, tâm trạng nhất định của người nghệ sĩ với bạn đọc Chính vì vậy, nằm trong cấu trúc của THTM, tính biểu cảm là một đặc tính quan trọng, mang dấu ấn chủ quan của người sáng tác

Thành phần nghĩa biểu cảm này là kết quả của sự hòa quyện đồng điệu giữa tình cảm chủ thể cá nhân tác giả với tình cảm khách thể mang tính nhân loại đã được hình thức hóa, nghệ thuật hóa Nhờ thế, nhân loại mới lí giải và cảm thụ được THTM và cùng một nội dung hiện thực nhưng nếu với ý nghĩa biểu cảm khác nhau thì sẽ tạo nên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho THTM trong mỗi lần xuất hiện

1.3.5.4 Tính hệ thống

Một cách hiểu thường gặp về hệ thống được phát biểu như sau: “Đó là một tổng thể những yếu tố có liên hệ qua lại và quy định lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất phức tạp hơn”

THTM bao giờ cũng thuộc về hệ thống, chịu sự chi phối của các yếu tố khác nhau trong hệ thống thông qua những quan hệ nhất định Tính hệ thống của THTM thể hiện trên cả hai bình diện cấu trúc và chức năng Hệ thống quyết định chiều hướng tạo nghĩa cũng như chiều hướng luận nghĩa củaTHTM Thực chất nghĩa của từ chịu sự chi phối của yếu tố trong hệ thống Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: khía cạnh nội tại (cấu trúc) với những quy luật thuộc cấu trúc của tác phẩm Khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật

Về cấu trúc của THTM cần phân biệt hai bình diện là trừu tượng và cụ thể Thuộc bình diện trừu trượng là những hằng thể của THTM cùng những

Trang 22

mối quan hệ của hằng thể làm nên cấu trúc bề sâu mang tính trừu tượng cố định của nó Thuộc bình diện cụ thể là những biến thể của THTM cùng những mối quan hệ giữa chúng làm nên cấu trúc bề mặt cụ thể hiện hữu của nó Những biến thể này được chia thành hai dạng thức: biến thể từ vựng – ngôn ngữ (biến thể dùng hình thức âm thanh khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa thẩm mĩ) và biến thể kết hợp (cùng một THTM nhưng kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác nhau)

1.3.5.5 Đặc tính biểu trưng

Theo Phạm Thị Kim Anh, đây là đặc tính của THTM xét theo mối quan

hệ cái biểu đạt và cái được biểu đạt của chúng Tác giả cho rằng: “Đó là mối quan hệ có lý do liên quan đến khả năng biểu trưng hóa củaTHTM – loại tín hiệu vừa có khả năng biểu hiện, nói lên một cái gì, vừa có tính chất hàm nghĩa – tức là thêm nghĩa đã có sẵn”

Biểu trưng là một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực Mặt khác, đó là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này chính là tính có lí do trong THTM nói chung Đặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội … gắn với một cộng đồng nào đó, từ đó hình thành ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận

Ví dụ: Hình ảnh con cò trong bài ca dao Việt Nam thường gắn với than

phận thấp bé “Con cò mà đi ăn đêm / Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, đức tính chịu thương, chịu khó “Cái cò lặn lội bờ sông / Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, có khi lại được hiểu là thân phận người phụ nữ trong xã

hội xưa, vất vả, lam lũ một nắng hai sương lo cho chồng con…

Cũng do tính biểu trưng mà hiệu lực, giá trị của THTM phụ thuộc vào cách tri nhận, cách giải thích theo một thiên hướng nào đấy, một quy ước nào đấy của cả cộng đồng mà có khi trái ngược với quan niệm của một cộng đồng

Trang 23

khác Chẳng hạn biểu trưng con rồng trong hội họa Trung cổ và Phục hung tượng trưng cho cái ác và thù hận nhưng đối với người Trung Hoa và người Việt Nam nó là biểu tượng của hoàng đế với vương quyền tối thượng, là biểu tượng của sự cao quý thiêng liêng

1.3.5.6 Tính truyền thống và tính cách tân

Theo Đỗ Hữu Châu thì tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính lặp lại, tính kế thừa có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc còn nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, thậm chí trong từng tác phẩm Nếu không có sự cách tân thì sự THTM sẽ trở nên bị mài mòn, bị mất đi giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc Trái lại, nếu không có truyền thống thì THTM sẽ bị mất đi những điều kiện nhất định về mặt liên tưởng giúp ích cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm

Ví dụ:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Nếu theo truyền thống thì ca dao chỉ diễn tả được quy luật như một lẽ thường đó chính là cảnh chia lìa xuôi ngược Song Nguyễn Du lại cách tân ở chỗ dùng lời lẽ thường ở đời đó mà khơi sâu được bi kịch tình yêu hết sức nghiệt ngã giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, khi hai người chia tay để chàng Thúc về quê thưa chuyện với Hoạn Thư mong lấy được nàng Kiều Đây cũng

là cuộc chia tay chưa biết ngày gặp lại, chưa biết sự thể sẽ như thế nào nên nó thẩm đẫm một màu sắc tâm trạng

THTM mang tính cách tân Cách tân chính là những đổi mới, những sáng tạo của tác giả văn chương thông qua các THTM Khi nói đến cách tân,

các nhà phong cách học thường sử dụng thuật ngữ “tính cá thể hóa” tính

riêng Việc dùng ngôn ngữ nghệ thuật luôn đòi hỏi tác giả phải cách tân – cách tân trong cách dùng ngôn ngữ, cách tân trong cách nhìn, cách cảm,…

Trang 24

Ví dụ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Chính tính cách tân của THTM góp phần làm cho loại tín hiệu ngôn ngữ này có sức hấp dẫn đặc biệt với độc giả Từ việc nhận ra cái mới mẻ trong THTM, người đọc khao khát say mê đọc tác phẩm để chiếm lĩnh được nó

1.3.5.7 Tính đẳng cấu

Tính đẳng cấu là sự tương đương về mặt cấu trúc về mặt quan hệ nhưng hình thức và chất liệu thì khác nhau

Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành khác nhau

mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của các tín hiệu khác nhau Chẳng hạn, các THTM được thể hiện qua một loạt các câu

ca dao đều có ý nghĩa chung nói về thân phận thụ động, không tự quyết định

số phận của người phụ nữ: “Thân em như hạt mưa sa…/Thân em như tấm lụa đào… /Thân em như củ ấu gai…” Chúng đều nói về thân phận của người phụ

nữ trong xã hội cũ bị lệ thuộc vào người khác bị bất lực và không tự định đoạt

số phận của mình

Giữa chất liệu hiện thực và THTM cũng có quan hệ đẳng cấu

Ví dụ: non, nước trong bài “Thề non nước” của Tản Đà Hiện tượng tự

nhiên non với đặc tính cố định ở trên cao thích hợp để có thể biểu trưng cho người con gái đợi chờ, ngóng trông đó là cơ sở để nhà thơ xây dựng hình tượng non trong bài thơ Còn nước có đặc tính trôi chảy, lưu động giống như người con trai lãng du nay đây mai đó nên thích hợp đối với việc xây dựng hình tượng nước Non, nước cũng là những tín hiệu mang tính biểu trưng để nói về tình yêu quê hương, đất nước Người ta thường tìm ra các lớp nghĩa khác nhau trong tác phẩm dựa trên tính đẳng cấu này Những hình ảnh tượng trưng, ước lệ cũng phần nào lý giải trên cơ sở tính đẳng cấu giữa chất liệu hiện thực vàTHTM

Trang 25

Còn có sự đẳng cấu giữa cácTHTM Nghĩa của từng tín hiệu một là khác nhau, quan hệ ý nghĩa giữa các tín hiệu trong từng cặp cũng khác nhau song nếu cùng đặt trong hệ thống nào đóchúng lại có quan hệ, ý nghĩa cảm xúc khác nhau Điều này cho thấy rằng ở mỗi thời đại, mỗi cộng đồng nghệ thuật

cụ thể có những loạiTHTM, loại ý nghĩa thẩm mĩ nhất định được phổ biến ưa chuộng

1.3.6 Phương thức xây dựng THTM

1.3.6.1 Phương thức ẩn dụ

Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa, chuyển đổi tên gọi của các sự vật, hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ liên tưởng tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng

Hoán dụ biểu hiện qua nhiều mối quan hệ tổng thể như: bộ phận – toàn thể, tên gọi và sự vật, chất liệu – sản phẩm

Ví dụ: “Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Áo chàm: trang phục của dân tộc ít người ở vùng Tây Bắc Trong câu

thơ này “Áo chàm” dùng để chỉ đồng bào Việt Bắc trong buổi chia tay với

cán bộ Đảng

Trang 26

Hay: “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa” (Truyện Kiều) ta thấy tác giả dùng

từ “bóng hồng” để chỉ người con gái đẹp và cụ thể ở đây chính là nhân vật

Thúy Kiều

1.3.7 Quá trình lĩnh hội và phân tích THTM trong hệ thống

1.3.7.1 Quan hệ giữa các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên

Giữa các tín hiệu luôn tồn tại sự tương đồng và sự khác biệt Khi xây dựng THTM, tác giả phải lựa chọn trong các tín hiệu này một tín hiệu làm cơ

sở Chọn tín hiệu nào là phụ thuộc vào giá trị thẩm mĩ và tương quan với các tín hiệu khác trong ngữ cảnh Tương ứng với quan hệ này, chúng ta có thao tác lựa chọn

Ví dụ: “Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Mác, cụ Lê nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi khỏi cảm thấy đột ngột”

Các-(Bút tích Di chúc của chủ tịch HCM trong Hồ Chí Minh toàn tập – tập 12)

Ở đây, Hồ Chí Minh dùng từ “sẽ” chứ không dùng từ “phải” “Phải”

thường thể hiện một điều bắt buộc không thể không làm, là điều chủ thể không mong muốn Điều mày không phù hợp với quan điểm của Bác coi cái chết một cách nhẹ nhàng, chỉ như một sự đi vắng Hơn nữa với phong thái hài

hước, dí dỏm, Bác quan niệm việc Bác mất đi là một vinh hạnh để “đi gặp cụ Các-Mác, cụ Lê nin và các vị cách mạng đàn anh khác…” Đã là vinh hạnh thì không thể dùng từ “phải”.Dùng “sẽ” vừa thích hợp với tư tưởng định

diễn đạt, vừa phù hợp với sắc thái của câu văn, vừa thống nhất vừa hài hòa với phong cách ngôn ngữ toàn văn bản và phong thái cá nhân của tác giả Trong ngôn ngữ hàng ngày, việc lựa chọn cũng nhằm mục đích để diễn đạt hiệu quả giao tiếp cao, còn trong ngôn ngữ nghệ thuật việc lựa chọn tín hiệu không chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chính xác mà còn tạo hiệu quả nghệ thuật mang các giá trị thẩm mĩ

Trang 27

Thao tác lựa chọn thường đi với thao tác thay thế, thay thế tín hiệu này bằng tín hiệu khác

Đối với người thưởng thức, người phân tích, bình giá các tác phẩm văn chương muốn xác định giá trị thẩm mĩ của THTM cần phải giả định một quá trình lựa chọn và tiến hành so sánh, đối chiếu các tín hiệu để xác định giá trị của từng tín hiệu

Ví dụ: “Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều– Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tác

giả đã dùng từ “cậy” mà không phải là từ “nhờ” mặc dù chúng là từ đồng nghĩa có sự giống nhau là tác động đến người khác với mục đích muốn họ

giúp mình làm một việc gì đó Nhưng “cậy” khác “nhờ” ở chỗ dùng từ “cậy”

thì thể hiện được niềm tin vào sự sẵn sàng giúp đỡ và mang lại hiệu quả cao hơn Do đó tác giả Nguyễn Du đã để cho nhân vật của mình dùng từ “cậy” là thể hiện sự tin tưởng vào Thúy Vân thay thế mình trả nghĩa cho Kim Trọng

Từ “chịu” có từ đồng nghĩa là “nhận, nghe” đều chỉ sự đồng ý, sự chấp nhận với lời người khác Tuy nhiên “nhận” là sự tiếp nhận đồng ý một cách bình thường, còn “nghe”là thể hiện sự chấp thuận của kẻ dưới đối với người trên với thái độ kính trọng, “chịu”là thuận theo ý người khác theo một lẽ nào

đó mà mình có thể không ưng ý Thúy Kiều dùng từ “chịu” như muốn nói

rằng việc thay thế là việc có thể Thúy Vân không ưng ý nhưng hãy vì tình chị

Trang 28

chuyển hóa trong tác phẩm văn chương Trong khi đó người đọc lại là người thực hiện quá trình chuyển hóa cảm thụ nó như mộtTHTM Vì thế tương ứng với dạng quan hệ này chúng ta có thao tác chuyển hóa

Ví dụ: bài thơ “Đánh đu” của Hồ Xuân Hương Đánh đu là một trò chơi

dân gian thường có trong các lễ hội ở làng quê Việt Nam Nhưng Hồ Xuân

Hương lại mượn hình ảnh đánh đu của đôi trai gái người “người uốn lưng ong”, “bốn mảnh quần hồng bay phấp phới” giúp người đọc ngầm liên tưởng

đó là cuộc vui thú của đôi trai gái và nỗi lòng của tác giả

Hay: “Thuyền tình vừa ghé tới nơi

Thì đà trâm gãy bình rơi mất rồi”

Tác giả Nguyễn Du ngoài việc dùng dấu hiệu “trâm” để chỉ người con

gái đẹp và hẹp hơn chính là nhân vật Kiều Ta thấy được rằng tác giả lấy hình ảnh này để liên tưởng tới người con gái đẹp vì có sự tương đồng về tính chất quý hiếm của nó

1.3.7.3 Quan hệ giữa các tín hiệu cùng hiện diện trong một tác phẩm

Tương ứng với quan hệ này, chúng ta có thao tác phối hợp Đó là sự phối hợp các THTM để tạo thành một hệ thống

Đối với nhà văn khi xây dựng tác phẩm cần phải thực hiện thao tác phối hợp để tạo nên một chỉnh thể thống nhất, sao cho mỗi tác phẩm là một hệ thống hữu cơ như một cơ thể sống Về phía người đọc khi lĩnh hội tác phẩm

và phân tích tín hiệu ở trạng thái biệt lập mà luôn đặt vào sự phối hợp với các tín hiệu khác

Có thể nói tất cả THTM đều hợp với nhau để tạo nên tiếng nói chung

Ví dụ:

“Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê

Trang 29

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nắm đất bên đàng Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”

Tác giả đã dùng một loạt hệ thống từ láy toàn bộ với mức độ giảm nhẹ

như: “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”,… kết hợp với việc sử dụng những

từ ngữ ở mức độ thấp, đó là những từ ngữ miêu tả những sự vật nhỏ bé như

tiểu khê, nắm đất, nhịp cầu Ngoài ra ta thấy được những sự vật cũng mờ nhạt

như cuối ghềnh, nửa vàng nửa xanh Đặc biệt ta thấy được tác giả nói về thời gian chính là lúc bóng ngả đây là thời điểm chiều tà Nhân vật ở đây cũng thể hiện tâm trạng của mình như bâng khuâng, thơ thẩn Tất cả những điều đó cho

ta thấy được sự tài tình của tác giả Nguyễn Du, ông đã cho người đọc thấy được cái cảnh thanh vắng của một buổi chiều đầy thơ mộng Nhưng nó còn gợi cho lòng người một cảm giác buồn man mác, thoang thoảng khi nhìn cảnh

mà thương tiếc cho than phận mình

Mở rộng ra trong tác phẩm văn chương tất cả các THTM đều phối hợp với nhau không có tín hiệu nào biệt lập, tất cả đồng hướng đều hướng tới một kết quả thẩm mĩ thống nhất

Tóm lại, các thao tác này không phải được tách rời nhau cũng không phải được thực hiện theo một trật tự kế tiếp, thực ra nó được thực hiện đồng thời trong quá trình sáng tạo của nhà văn

1.4 Tác giả Trịnh Công Sơn

1.4.1 Cuộc đời

Trịnh Công Sơn (28/2/1939 – 1/4/ 2001) là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam Trịnh Công Sơn quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Ông sinh tại cao nguyên

Trang 30

Lạc Giao (phường Thống Nhất, Buôn Mê Thuột, Đăk Lăk) Ông lớn lên tại Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm tại Quy Nhơn Sau đó ông vào Bảo Lộc (Lâm Đồng) và làm nghề dạy học Ông bắt đầu viết nhạc năm 1958 Tác

phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi, được xuất bản An Phú in năm 1959 Từ đó

tên tuổi của ông được nhiều người biết đến Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly

Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông Một thời gian dài sau

1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm ngầm tẩy chay ở hải ngoại

Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại

Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc Từ thập niên 1980,

Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị

Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai

chính trong phim Đất khổ Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu

cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến” Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996

Ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001

Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với

ai, và cũng chưa chính thức công nhận con

1.4.2 Sự nghiệp

Tên tuổi của ông được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ

Trang 31

khúc Đó là những tác phẩm có ca từ độc đáo mang hơi hướng triết Hai mảng

đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người Tình yêu là mảng đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của ông và đa số

là nhạc buồn: “Sương đêm”, “Ướt mi”, “Diễm xưa”, “Biển nhớ”,…Viết về

thân phận con người âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của

những số phận con người: “Cát bụi”, “Một cõi đi về”, “Phôi pha”,… Nhạc

phản chiến là nhạc chống chiến tranh ca ngợi hòa bình nói lên thân phận của

những người dân một nước nhỏ bé: “Gia tài của mẹ”, “Đi tìm quê hương”,

“Ta quyết phải sống”,… Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương và trẻ em: “Chiều trên quê hương”, “Tuổi đời mênh mông”…Ngoài sáng tác âm nhạc, Trịnh Công Sơn còn làm thơ và để lại

nhiều tác phẩm hội họa, bút tích

Có thể thấy rằng Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ đa tài ông để lại cho đời những ca khúc bất hủ và ngày nay nó vẫn được công chúng nồng nhiệt đón nhận

Trang 32

CHƯƠNG 2

TÍN HIỆU THẨM MĨ “ĐÊM”, “CHIỀU”, “ĐỜI NGƯỜI”

TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

2.1 THTM “đêm”

2.1.1 Thống kê, khảo sát ngữ liệu

Chúng tôi khảo sát THTM “đêm” trong ca từ của Trịnh Công Sơn dưới

hai dạng là biến thể từ vựng ngữ nghĩa và biến thể kết hợp

Biến thể là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình thức biểu đạt với hằng thể nhưng cùng chung hoặc có một mối liên hệ mật thiết về ý nghĩa với hằng thể Biến thể từ vựng là những từ ngữ khác biệt về hình thức âm thanh với các hằng thể nhưng cùng biểu hiện một ý nghĩa như hằng thể Đó có thể là các biến thể ngữ âm, biến thể địa phương hay những từ ngữ gốc ngoại, hoặc từ ngữ phái sinh

Biến thể kết hợp là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa với hằng thể và có kết hợp theo trục ngang với từ ngữ hằng thể, về mặt logic biến thể kết hợp có thể là danh từ, cụm danh từ, động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính từ Về mặt ý nghĩa các biến thể kết hợp của một hằng thể tuy cùng trường nghĩa nhưng có những ý nghĩa cụ thể đa dạng

Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng tác giả Trịnh Công Sơn sử dụng biến thể kết hợp là chủ yếu trong các sáng tác của ông

Trang 33

26 Đêm chói lòa 1 0,49%

27 Đêm kêu gào 1 0,49%

28 Đêm hãi hùng 1 0,49%

29 Đêm khôn cùng 1 0,49%

30 Đêm mai này 3 1,48%

31 Đêm huy hoàng 1 0,49%

32 Đêm yên lành 1 0,49%

33 Đêm 20 sầu 1 0,49%

Ngày đăng: 28/09/2015, 15:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Bảng thống kê THTM “đêm” - Tín hiệu thẩm mĩ đêm, chiều, đời người trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Bảng 2.1 Bảng thống kê THTM “đêm” (Trang 32)
Bảng 2.2 Bảng thống kê THTM “chiều” - Tín hiệu thẩm mĩ đêm, chiều, đời người trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Bảng 2.2 Bảng thống kê THTM “chiều” (Trang 44)
Bảng 2.3 THTM thể hiện thời gian “đời người” - Tín hiệu thẩm mĩ đêm, chiều, đời người trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Bảng 2.3 THTM thể hiện thời gian “đời người” (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm