... ngày Kiến thức chăm sóc miệng: có kiến thức chăm sóc miệng cách, vệ sinh miệng hàng ngày, có kiến thức chải cách (chải đủ mặt, phút lần lần ngày) Thực hành chăm sóc miệng: có thực hành vệ sinh miệng. .. hoạch theo dõi đánh giá VIII.1 Tên kế hoạch theo dõi đánh giá: “Đánh giá kết hoạt động triển khai chương trình can thiệp “Nâng cao kiến thức thực hành CSRM cho học sinh trường tiểu học Hùng Sơn -... 31/05/2010” VIII.2 Mục tiêu đánh giá VIII.2.1 Mục tiêu chung Đánh giá kết hoạt động triển khai chương trình can thiệp “Nâng cao kiến thức thực hành CSRM cho học sinh trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện
Trang 1PHẦN 1: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CAN THIỆP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
SỨC KHOẺ TẠI ĐỊA PHƯƠNG
I Đặt vấn đề
I.1 Thông tin chung về xã Hùng Sơn
Xã Hùng Sơn nằm phía Đông huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, phía Bắc giáp huyệnGia Lộc, phía Đông và Nam giáp huyện Ninh Giang, phía Tây Nam giáp xã Ngũ Hùng, phíaTây Bắc giáp thị trấn Thanh Miện Tại xã có đường quốc lộ 380B chạy qua là tuyến giao thônghuyết mạch nối liền huyện Thanh Miện với các huyện khác trong tỉnh Hải Dương Diện tích tựnhiên của xã là 342,32ha được chia làm 3 thôn (Triệu Nội, Phù Nội, Thái Thạch) với 7 đội sảnxuất Toàn xã có 947 hộ gia đình với tổng số dân số là 3553, trong đó số phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ 15-49 chiếm 27,5% dân số, số trẻ em dưới 5 tuổi trẻ chiếm 7,4% dân số Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên năm 2008 là 1,55% Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của xã đã
có những bước phát triển rõ rệt Cơ cấu kinh tế bao gồm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ, trong đó chủ yếu người dân làm nghề nông (chiếm 85%) Hiện nay, đa số thanh niêntrong xã đi xuất khẩu lao động sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc Thu nhập bình quân theođầu người năm 2008 là 7,3 triệu/người/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt 12,28%
Về văn hoá, tỷ lệ người dân biết chữ trong xã là 100%, toàn xã có 1 trường mầm non, 1trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở Hoạt động văn hoá văn nghệ trong xã khá sôi nổivới 1 đội văn nghệ, 3 câu lạc bộ thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu vào ngày lễ lớn
Ở mỗi thôn đều có hệ thống loa phát thanh đạt chất lượng tốt Các tổ chức xã hội, đoàn thểtrong xã như Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên…đều có sựphối hợp tổ chức các phong trào, hoạt động Hiện nay, xã có 2 thôn Triệu Nội và Thái Thạchđạt danh hiệu Làng văn hoá, trong đó thôn Triệu Nội đạt danh hiệu Làng văn hoá sức khoẻ
I.2 Thông tin chung về tình hình y tế tại xã Hùng Sơn
TYT Hùng Sơn đạt chuẩn Quốc Gia từ năm 2004 Hiện nay, TYT có 5 cán bộ trong đó
có 1 bác sĩ, 2 nữ hộ sinh, 1 điều dưỡng và 1 y sĩ Mạng lưới y tế thôn bản gồm 7 nhân viên hoạtđộng tại 7 đội sản xuất Cơ sở hạ tầng của trạm tương đối khang trang, sạch sẽ gồm phòng điềutrị, phòng dược, phòng tiểu phẫu, phòng đông y, phòng khám phụ khoa, phòng đẻ, phòngtruyền thông, phòng hành chính và phòng trực Trang thiết bị tại trạm gồm 8 giường bệnh, mộtbàn đỡ đẻ, một bàn khám phụ khoa, hơn 60 loại thuốc thiết yếu và một số trang thiết bị khác.Hàng năm kinh phí trung bình dành cho y tế của xã là 2,5 triệu/năm do UBND xã cấp Hoạtđộng khám chữa bệnh năm 2008 TYT đã khám và điều trị được 3117 lượt trong đó khámBHYT cho người lớn là 1855 lượt, cho trẻ em là 714 lượt Tại trạm đang triển khai 9 chươngtrình y tế gồm chương trình phòng chống lao, sức khoẻ tâm thần cộng đồng,phòng chống HIV/AIDS và tai nạn thương tích, phòng chống tiêu chảy trẻ em (CDD), tiêm chủng mở rộng, phòngchống nhiễm khuẩn hô hấp cấp trẻ em (ARI), phòng chống bướu cổ, phòng chống các bệnh daliễu, phòng chống mù loà và các bệnh về mắt
Qua xem xét, thu thập và phân tích số liệu từ sổ khám bệnh tại trạm năm 2008, các bệnhnhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (40,1%), tuy nhiên các trường hợp này chủyếu được chuẩn đoán là viêm họng, viêm phế quản, viêm mũi,…Các trường hợp được chẩnđoán là viêm phổi chỉ chiếm 2,5% Đứng thứ 2 là các bệnh về mắt ở người già (chiếm 6,7%)chủ yếu được chẩn đoán là giảm thị lực và viêm kết mạc Tiếp đến là các bệnh cơ xương khớp
ở người già (4,7%) Ngoài ra còn có các bệnh khác như rối loạn tiêu hoá (2,9%), cao huyết áp (2,4%), các bệnh răng miệng (1,6%), bệnh da liễu (1,6%) Từ đó nhóm sinh viên đã xác địnhđược mô hình bệnh tật tại xã Hùng Sơn năm 2008 (Biều đồ 1)
Trang 2Tổng hợp từ sổ theo dõi tình hình tử vong năm 2008 của TYT, trên địa bàn toàn xã có
22 trường hợp tử vong, nguyên nhân chính gây tử vong là do tuổi già (54,5%), tiếp đến là taibiến mạch máu não (13,6%), chết đuối (9,1%), HIV/AIDS (4,5%) và các nguyên nhân khácnhư lao phổi, u não, tự tử,… chiếm 18,3% (Biều đồ 2)
I.3 Phương pháp thu thập và nguồn thông tin
Các thông tin chung về tình hình kinh tế-xã hội, văn hóa của xã Hùng Sơn được thu thậpqua xem xét, tổng hợp thông tin từ báo cáo tổng kết phát triển kinh tế-xã hội xã Hùng Sơn năm2008; kết hợp với các thông tin thu được qua phỏng vấn cán bộ uỷ ban nhân dân (UBND)
Các thông tin chung về tình hình sức khỏe của xã được thu thập qua tra cứu, tổng hợp vàphân tích số liệu từ báo cáo tổng kết ngành y tế xã Hùng Sơn năm 2008, các sổ theo dõi vàkhám bệnh tại trạm; kết hợp với các thông tin thu được qua TLN cùng cán bộ trạm y tế(CBTYT)
II.Xác định vấn đề sức khỏe tồn tại và vấn đề sức khoẻ ưu tiên
II.1 Xác định vấn đề sức khoẻ tồn tại
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin và nguồn thông tin
Để tìm hiểu và thu thập các thông tin xác định vần đề sức khỏe (VĐSK) tồn tại ở xã,NSV đã thực hiện một số hoạt động:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu từ sổ sách, báo cáo tại trạm bao gồm sổ khámbệnh, sổ khám bệnh theo BHYT ở trẻ em dưới 6 tuổi, báo cáo tình trạng dinh dưỡng trẻ em,báo cáo tổng kết ngành y tế xã Hùng Sơn năm 2008
- Xây dựng bộ công cụ phỏng vấn định tính và tiến hành đánh giá nhanh tại cộng đồngthông qua PVS các đối tượng bao gồm chủ tịch UBND xã, hội trưởng Hội phụ nữ, hội trưởngHội người cao tuổi, 3 trưởng thôn, 5 CBYT thôn và 25đối tượng người dân trong xã (bao gồmngười già, phụ nữ có con dưới 5 tuổi, phụ nữ trung tuổi) và thảo luận nhóm với 5 CBTYT đểthu thập các thông tin bổ sung cho xác định VĐSK
2.1.2 Các vấn đề sức khoẻ tồn tại:
Qua thu thập số liệu và tổng hợp sổ sách, báo cáo của TYT kết hợp với phỏng vấn sâu
và đánh giá nhanh tại, NSV xác định được 6 VĐSK nổi cộm tại xã là bệnh nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em dưới 6 tuổi, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh phụ khoa, tai nạn thương tích, cao huyết áp ở người già và sâu răng ở trẻ em
Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) ở trẻ em dưới 6 tuổi:
Trang 3Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là bệnh phổ biến ở lứa tuổi trẻ em Thống kê từ sổkhám bệnh trẻ em năm 2008 của TYT cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh NKHH ở trẻ em dưới 6 tuổi là58,4% Mặc dù tỷ lệ mắc các bệnh NKHH ở trẻ dưới 6 tuổi cao nhưng phần lớn là những trườnghợp bệnh nhẹ như ho, viêm họng, viêm VA, cảm cúm…Số trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI)tại xã trong năm qua là 42 cháu (chiếm 16,3%) Xem xét tỷ lệ trẻ mắc ARI tại các xã khác tronghuyện, tỷ lệ mắc ARI tại xã Thanh Giang khoảng trên 20%, tỷ lệ mắc bệnh NKHH tại thị trấnThanh Miện cũng khá cao khoảng 68% Như vậy các bệnh NKHH ở trẻ em không chỉ phổ biến tại
xã Hùng Sơn mà là VĐSK chung tồn tại ở trẻ em trên địa bàn huyện
CBTYT cũng cho biết, từ khi có chính
sách khám miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi và
khám theo BHYT, tỷ lệ trẻ đến khám tại trạm
tăng lên, trẻ vừa có triệu chứng ho, cảm cúm
thông thường gia đình đã đưa trẻ ra TYT khám
để xin cấp phát thuốc miễn phí theo BHYT
Biểu đồ 3 tổng hợp số lượt mắc bệnh
NKHH ở trẻ em dưới 6 tuổi từ sổ khám bệnh tại
trạm cho thấy số trẻ mắc các bệnh NKHH tăng
lên vào tháng 1, 8, 11, 12 khi có sự chuyển từ
khí hậu khô lạnh sang nóng ẩm
Suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dưới 5 tuổi:
Trước đây tình hình SDD ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Hùng Sơn là vấn đề cần quan tâm giảiquyết Nhưng trong những năm gần đây được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp chính quyền,Hùng Sơn là một trong những xã được huyện ưu tiên triển khai chương trình phòng chống SDDcấp phát bánh dinh dưỡng cho trẻ bị SDD Mặt khác, TYT cũng thường xuyên tổ chức cân cho trẻdưới 5 tuổi trong các buổi tiêm chủng, đồng thời phối hợp với trường mầm non cân và chấm biểu
đồ cho trẻ theo tháng và theo quý, trạm đã tổ chức được 4 buổi truyền thông lồng ghép cho phụ nữ
có con dưới 5 tuổi về cách chăm sóc, định lượng dinh dưỡng…
Hiện nay, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trong xã đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ SDD
có xu hướng giảm dần qua các năm, nếu như năm 2006 tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi trong toàn xã là18,2% thì đến năm 2007 tỷ lệ này giảm xuống còn 17,2% Tính đến hết năm 2008 tổng số trẻ dưới
5 tuổi bị SDD là 42 trẻ (chiếm 16,3%), giảm 0,9% so với năm 2007, đạt chỉ tiêu huyện giao là17,4% Tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hùng Sơn cũng thấp hơn so với một số xã tronghuyện như xã Ngô Quyền (18,1%), thị trấn Thanh Miện (18,4%), xã Đoàn Kết (20,3%),…So sánhvới tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc hiện nay là 21,2%, mục tiêu đến năm 2010 giảm
tỷ lệ SDD xuống dưới 20% [7], như vậy chương trình phòng chống SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xãHùng Sơn thực hiện khá tốt
Kết hợp PVS và đánh giá nhanh tại cộng đồng cũng cho thấy, toàn bộ số trẻ đủ tuổi họcmầm non (từ 3 tuổi trở lên) đều tham gia học tại trường mầm non Trường mầm non bán công xãHùng Sơn là một trong 5 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia của huyện từ năm 2005 Việc chămsóc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ tại trường đều đảm bảo các tiêu chí của trường mầm non chuẩnQuốc gia, cũng nhờ đó mà tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi trong xã đã giảm đáng kể so vớitrước đây Tỷ lệ trẻ SDD tại trường mầm non là 4,5%, trong đó 95,5% trẻ thuộc kênh A dinh
dưỡng, 4% trẻ thuộc kênh B dinh dưỡng và chỉ có 0,5% trẻ thuộc kênh C dinh dưỡng.“Suy dinh dưỡng bây giờ giảm nhiều rồi, kinh tế phát triển bố mẹ cũng có điều kiện chăm sóc ăn uống cho
Trang 4con cái hơn 100% trẻ học ở trường mầm non được các cô điều chỉnh dinh dưỡng, cho các cháu ăn uống hợp lý” - (PSV trưởng thôn).
Bệnh phụ khoa ở phụ nữ 15-49:
Bệnh phụ khoa được coi là một trong số những bệnh phổ biến của phụ nữ ở vùng nông thônViệt Nam Trong năm vừa qua TYT đã phối hợp với Hội phụ nữ, ban dân số KHHGĐ tổ chức 2đợt khám chiến dịch cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ 15-49, phát hiện được 63 trường hợp mắc bệnh(chiếm 10%) So sánh với các xã khác trong huyện, tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ tại xã HùngSơn không cao như các xã khác, tại xã Đoàn Kết có đến 50% phụ nữ mắc bệnh phụ khoa, tại xãNgô Quyền tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa cũng lên tới 43%, tại xã Thanh Giang tỷ lệ này là 52,6% Tỷ
lệ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ 15-49 tại xã Hùng Sơn thấp hơn so với những địa phương khác, ví
dụ tại một số xã Kim Lan, Dương Hà, Đặng Xá thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội là địa bàn mà NSV
đã từng tiếp cận trong kỳ thực địa trước, tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa tại các xã này là 38,7%, 41,7%,đặc biệt trong những đợt khám chiến dịch tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa lên đến 60-70%
Nguyên nhân mắc bệnh phụ khoa chủ yếu vẫn là do nguồn nước và đặc điểm nghề nghiệpcủa phụ nữ Nghề nghiệp chính của phụ nữ trong xã là làm nông nghiệp, đó cũng là yếu tố gópphần làm tăng nguy cơ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ Hiện nay nguồn nước sử dụng chính củangười dân trong xã là nước giếng khoan và nước mưa được người dân đánh giá là sạch sẽ và vệ
sinh “Bây giờ công tác vệ sinh môi trường, nước sạch thế này không còn khó khăn như trước nữa nên các bệnh ở chị em phụ nữ không còn nhiều nữa đâu” - (PVS CBYT thôn) Hơn nữa, tại xã
đang triển khai kế hoạch xây dựng nhà máy nước và thực hiện chương trình cung cấp nước sạch,kinh phí thực hiện do ngân hàng chính sách cấp
Tai nạn thương tích:
Theo báo cáo tổng kết của TYT xã Hùng Sơn năm 2008, tổng số trường hợp tai nạnthương tích (TNTT) trong năm qua là 42 trường hợp (chiếm 1,2%) Các nguyên nhân chính gâyTNTT chủ yếu do ngã, tai nạn giao thông, vật sắc nhọn, súc vật cắn Mức độ của các trườnghợp tai nạn không quá nặng nề đều được sơ cấp cứu và xử trí kịp thời không ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe
Công tác truyền thông về phòng chống TNTT tại xã đã được thực hiện khá tốt “Truyền thông tại xã các bác thực hiện rất tốt và sâu, như truyền thông phòng chống tai nạn thương tích ở đây truyền thông về cách dùng máy móc nông nghiệp, cách đặt con dao, cái cưa như thế nào để đảm bảo an toàn.” - (PVS trưởng thôn Triệu Nội).
Cao huyết áp (CHA) ở người già:
Tổng hợp từ sổ khám bệnh tại trạm năm 2008, xã có 76 trường hợp cao huyết áp/tổng số
3117 lượt khám bệnh (chiếm 2,4%) Phỏng vấn CBTYT được biết tỷ lệ CHA ở người cao tuổikhông còn cao như những năm trước Tuy nhiên, theo CBTYT vấn đề bệnh CHA ở người già vẫn
đang là VĐSK tồn tại cần được quan tâm giải quyết “Bệnh huyết áp cao mắc nhiều ở người già, nếu không điều trị có thể gây nguy hiểm, thậm chí gây tử vong đột ngột” - (PVS người dân) “Vấn
đề sức khoẻ ưu tiên cần can thiệp hiện nay là bệnh cao huyết áp ở các cụ già” - (PVS CBYT thôn)
Bệnh CHA ở người cao tuổi là VĐSK ưu tiên được NSV khoá trước thực địa tại xã lựachọn và lập kế hoạch can thiệp “Nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh caohuyết áp ở ngưởi cao tuổi tại xã Hùng Sơn -Thanh Miện - Hải Dương” Sau khi triển khai, kếhoạch đã có tác động nhất định đến kiến thức, thái độ, thực hành của người cao tuổi trong xã vềphòng chống bệnh CHA Người cao tuổi trong xã đã quan tâm hơn đến tình trạng sức khoẻ của bản
thân, thường xuyên kiểm tra chỉ số huyết áp tại trạm “Năm trước nhóm sinh viên lựa chọn vấn đề cao huyết áp ở người cao tuổi rất hay, cô chú trong trạm cũng sử dụng để tham khảo Chú thấy các cụ bây giờ quan tâm hơn đến tình trạng sức khoẻ của mình, mỗi khi các cụ ra trạm khám hay lấy thuốc là đều yêu cầu đo huyết áp, thậm chí có cụ ra trạm xin thuốc mắt cũng yêu cầu đo huyết
Trang 5Kết quả TLN trọng tâm với 10 người cao tuổi trong xã cho thấy trường hợp bị CHA trong
xã không nhiều Chỉ số huyết áp của các cụ hiện nay đều bình thường, các cụ vẫn kiểm tra huyết áp
thường xuyên tại nhà và trạm mặc dù không bị CHA “Tôi không bị cao huyết áp nhưng thỉnh thoảng ra trạm khám vẫn đo huyết áp Trong hội người cao tuổi cũng không có ai bị cao huyết áp”
- (theo lời cụ 61 tuổi) “Tôi bị cao huyết áp, ở nhà tôi có máy đo huyết áp Cứ cách ngày tôi lại đo
để kiểm tra, lúc nào cảm thấy người khác một tý là lại đo để kiểm tra” - (theo lời 1 cụ 67 tuổi).
Những trường hợp bị CHA hầu hết đã ý thức được về bệnh của mình, kiến thức về phòng bệnh
CHA của các cụ (chế độ ăn, luyện tập, dùng thuốc) khá tốt “Bị cao huyết áp cần phải ăn chất ít, những đồ có nhiều chất là ăn ít, mỡ màng cũng ăn ít, ăn nhạt, ăn rau nhiều vì có nhiều chất xơ, ăn thêm hoa quả nữa thì càng tốt Cần phải ăn uống điều độ và luyện tập thể dục, tôi ngày nào ăn cơm xong cũng đi bộ khoảng nửa tiếng, sáng cũng thế, ngày nào cũng đi đều đặn” - (theo lời cụ 64
tuổi)
Đối với vấn đề CHA ở người cao tuổi hiện nay lãnh đạo xã đã chỉ đạo các ban ngành phốihợp cùng y tế quản lý, điều trị và cấp phát thuốc cho người cao tuổi trong xã
Bệnh sâu răng ở trẻ em:
Hiện nay bệnh sâu răng ở trẻ em trong xã cũng là một vấn đề khá phổ biến, qua kết quảđánh giá nhanh tại cộng đồng cho thấy, bệnh sâu răng ở trẻ em cũng là một trong những vấn đề cầngiải quyết bởi sâu răng không chỉ làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của trẻ mà còn ảnh hưởng đến sức
khoẻ của trẻ “Bệnh sâu răng ở trẻ em rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ của trẻ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của các cháu, nhiếu đứa sâu răng không đi học được” - (PVS
cô Ngân - CBYT thôn Phù Nội) Thậm chí, sâu răng còn làm ảnh hưởng đến sinh hoạt ăn uống,
học tập, vui chơi của trẻ “Con chị cũng bị sâu răng, cứ tưởng mỗi nó bị sâu nhưng bạn nó học cùng lớp đứa nào cũng sâu răng, lắm hôm cháu nhà chị kêu đau răng không ăn được, phải nghỉ học để đưa đi khám” - (PVS người dân) Bên cạnh đó chi phí cho điều trị sâu răng cũng khá tốn kém (đặc biệt là hàn răng) “Con nhà chị cho đi hàn cũng không ăn thua, răng nó cứ bị luỗng ở giữa, hàn cũng không được Tốn kém lắm, hàn 2 cái hết 175 nghìn Nhưng cũng chỉ được một thời gian, chỗ hàn nó bửa hết ra lại phải đưa nó đi hàn lại” - (PVS PHHS lớp 2).
Từ năm 2007 chương trình Nha học đường (NHĐ) đã tách sang y tế trường học quản lý vàphụ trách Số liệu thống kê về chương trình NHĐ và tình hình mắc bệnh răng miệng ở học sinh tiểuhọc và trung học tại xã từ năm 2007 đến nay hoàn toàn không có do không thực hiện tổ chức khámrăng định kỳ cho các em học sinh Trong năm 2008, chỉ thực hiện khám răng cho học sinh trườngmầm non và xác định được tỷ lệ sâu răng ở học sinh mầm non là 27,4% Với mong muốn tìm hiểu
về tình hình bệnh răng miệng của học sinh tiểu học tại xã, NSV đã hỗ trợ CBTYT khám răng chotoàn bộ học sinh trường tiểu học Kết quả cho thấy, tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học là 68,8%
Thu thập và tìm hiểu số liệu của chương trình NHĐ trước đây, tỷ lệ sâu răng chung ở trẻ emtrong xã năm 2006 là 30,6%, trong đó tỷ lệ sâu răng ở học sinh cấp I cao nhất (41,4%), tiếp đến làhọc sinh trường mầm non (25,4%) và thấp nhất ở học sinh cấp II (22,7%) Theo CBTYT phụ trách
chương trình NHĐ trước đây, bệnh sâu răng thường gặp chủ yếu ở học sinh tiểu học “Bệnh sâu răng ở trẻ em cũng nhiều, đặc biệt là học sinh tiểu học Trước đây chị phụ trách chương trình nha học đường, xuống khám ở trường tiểu học tỷ lệ sâu răng cao hơn so với trường cấp 2 nhiều, cứ khám trung bình một lớp 20 cháu thì có đến hơn 12 cháu bị sâu răng” - (PVS CBTYT phụ trách
chương trình NHĐ trước đây)
Tìm hiểu số liệu của chương trình NHĐ qua các năm cho thấy, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em trong
xã có xu hướng tăng lên Mặc dù so sánh với các xã khác trong huyện, tỷ lệ sâu răng tại xã HùngSơn thấp hơn nhưng thực trạng về bệnh sâu răng của trẻ em trong xã hiện nay thực sự là VĐSKcần được ưu tiên can thiệp Thảo luận với CBTYT cũng cho rằng, cần có chương trình can thiệp về
NHĐ để giúp các ban ngành, đoàn thể trong xã có định hướng hỗ trợ và chỉ đạo để giải quyết
“Chương trình Nha học đường hiện nay rất cần vì làm như vậy để các ban ngành, đoàn thể,
Trang 6UBND biết được tình hình sức khoẻ của các em học sinh, có định hướng giải quyết và hỗ trợ hay
có chỉ đạo để giải quyết” - (PVS CBTYT).
2.2 Xác định vấn đề sức khoẻ ưu tiên
2.2.1 Phương pháp xác định vấn đề sức khoẻ ưu tiên
Dựa trên những thông tin về 6 VĐSK tồn tại trên, nhóm đã tiến hành biểu quyết nhiều
lần bước đầu lựa chọn ra các VĐSK ưu tiên Kết quả đã chọn ra được 3 VĐSK là suy dinh
dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, bệnh cao huyết áp ở người già, bệnh sâu răng ở trẻ em (Chi tiết
xem phụ lục 3 trang 31).
Từ 3 VĐSK lựa chọn qua biểu quyết nhiều lần, để chọn ra được VĐSK ưu tiên nhóm đãxem xét và phân tích các yếu tố P.K.C.N.L (Phù hợp, Kinh tế, Chấp nhận, Nguồn lực, Luậtpháp) cho 3 VĐSK đó Kết quả cả 3 VĐSK trên đều đáp ứng được với 5 yếu tố P.K.C.N.L
(Chi tiết xem phụ lục 4 trang 32 ).
Bảng 1: Chấm điểm theo ưu tiên theo các yếu tố P.K.C.N.L (0 hoặc 1)
Các vấn đề sức khoẻ Phù hợp Kinh tế Chấp nhận Nguồn lực Luật pháp P.K.C.N.L
và yếu tố C (tính hiệu quả của can thiệp)
Yếu tố A: Phạm vi vấn đề (thang điểm 0-10)
yếu tố A
SDD ở trẻ em < 5 tuổi Tổng số SDD tại xã là 42 trường hợp 2
Bệnh CHA ở người già Tổng hợp từ sổ khám bệnh tại trạm có 76 trường hợp CHA 4
Bệnh sâu răng ở trẻ em Tổng số trẻ em bị sâu răng là 205 trường hợp (bao gồm cả
Yếu tố B: Tính nghiêm trọng của vấn đề (thang điểm 0-10)
ảnh hưởng đến thểchất, trí tuệ của trẻ và
xa hơn là nguồn laođộng trong tương lai
Ít ảnh hưởng đến kinh
tế gia đình vì cáctrường hợp SDD tại xã
là SDD độ I, có thểkhắc phục được bằngkhẩu phần ăn hợp lý
Tác độngđến đốitượng trẻ
em < 5tuổi
Nếu không điều trị sẽ
để lại nhiều tai biếnnặng nề như liệt nửangười, tai biến mạchmáu não thậm chídẫn đến tử vong
Ít ảnh hưởng đến kinh
tế vì tại xã hầu hết cáctrường hợp CHA đều
có BHYT, các trườnghợp CHA đều đượckiểm tra huyết ápthường xuyên kết hợp
Tác độngđến đốitượngngườigià
8
Trang 7ngay từ khi trẻ đang
ở tuổi thay răng, vì
sau khi mọc răng
vĩnh viễn nếu bị sâu
răng sẽ không phục
hồi được
Không giải quyết sẽảnh hưởng đến ănuống, học tập, sứckhoẻ, thẩm mỹ,giảm chất
Chi phí chăm sóc vàđiều trị tốn kém
Nhiều PHHS cho biết
có nhiều trẻ bị sâurăng, phải điều trịnhiều lần và chi phíkhá cao
Tác độngđến trẻ
em, trẻ <
5 tuổi,học sinhtiểu học
và trunghọc
- Tại trạm đã tổ chức truyền thông lồng ghép về dinh dưỡng và chăm sóctrẻ cho các bà mẹ có con < 5 tuổi
lý, điều trị và cấp phát thuốc cho người cao tuổi trong xã
- Tại xã chương trình can thiệp về phòng chống bệnh CHA ở người già đãđược triển khai và bước đầu có kết quả, kiến thức và thực hành về phòngbệnh CHA của người già đã thay đổi Nếu tiếp tục có chương trình triểnkhai thì tính hiệu quả không cao
5
2.2.2 Vấn đề sức khỏe ưu tiên
Dựa trên những phân tích đó, nhóm sử dụng phương pháp hệ thống thang điểm cơ bảnBPRS tiến hành chấm điểm cho từng VĐSK theo 3 yếu tố phạm vi, tính nghiêm trọng và hiệu
quả can thiệp để chọn ra VĐSK ưu tiên Qua kết quả chấm điểm nhóm đã xác định được Bệnh sâu răng ở trẻ em là VĐSK ưu tiên cần can thiệp tại xã.
Bảng 2: Bảng chấm điểm theo các yếu tố BPRS
(A+2B)xC Yếu tố A Yếu tố B Yếu tố C
Trang 8III Phân tích vấn đề sức khoẻ ưu tiên
III.1 Đặt vấn đề
Các bệnh răng miệng có nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe và thẩm mỹ của con người Theothống kê của tổ chức y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc các bệnh vềrăng miệng cao trên thế giới, trong đó bệnh sâu răng và viêm quanh răng là hai bệnh phổ biếnnhất Các bệnh răng miệng có đặc điểm là có thể mắc rất sớm, ngay sau khi răng mọc (6 thángtuổi), là bệnh khá phổ biến (chiếm 60 đến 70% dân số) và hiếm có ai không mắc phải.[8]
CSRM cho trẻ là bao gồm việc giúp trẻ phòng chống lại các bệnh liên quan tới răngmiệng, đặc biệt là bệnh sâu răng Công tác CSRM cho trẻ bao gồm trang bị cho trẻ kiến thức vềphòng bệnh sâu răng, lợi ích của việc VSRM, đánh răng đúng cách, biết được những thói quen
và đồ ăn uống có hại cho răng Ngoài ra, CSRM trẻ em còn là phát hiện sớm các trường hợp bịsâu răng qua các chương trình khám răng định kỳ cho trẻ và hỗ trợ điều trị những trẻ bị sâurăng để các em có một hàm răng khỏe.[7]
III.2 Tình hình sâu răng ở học sinh tiểu học tại Việt Nam
Các bệnh răng miệng đang là một trong số những bệnh phổ biến ở nước ta, đặc biệt là ởlứa tuổi trẻ em, thế hệ mầm non của đất nước Di chứng của các bệnh răng miệng để lại không
hề nhỏ và có thể ảnh hưởng lâu dài tới sức khoẻ của trẻ em Năm 2001, theo báo cáo của ViệnRăng - Hàm - Mặt quốc gia, Việt Nam có 84,9% trẻ từ 6-8 tuổi sâu răng sữa, trong đó cao nhất
là đồng bằng sông Cửu Long với 93,7% Tính trung bình số răng sâu của mỗi học sinh là 5,40.Theo nghiên cứu điều tra cắt ngang của bác sỹ Trần Thị Thanh và cộng sự về tình hình sâurăng ở lứa tuổi 10-11 tại trường tiểu học Uyên Hưng, tỷ lệ sâu răng của học sinh khá cao52,10% và có mối liên quan giữa các yếu tố ăn quà vặt, số lần đánh răng, cách chải răng vớibệnh sâu răng của học sinh.[6]
Thống kê của Cục Y tế dự phòng năm 2007, trên 80% học sinh tiểu học Việt Nam mắccác bệnh răng miệng như sâu răng, viêm quanh răng, ở lứa tuổi lớn hơn tỷ lệ này cũng lên đến60-70% và đang có dấu hiệu gia tăng trong thời gian gần đây Đến năm 2008, theo số liệu mớinhất của Viện Răng - Hàm - Mặt quốc gia, tại Hà Nội tỷ lệ sâu răng là 92,2%, số răng bị sâucủa mỗi học sinh trung bình là 5,7 Tại Lào Cai, tỷ lệ sâu răng sữa của trẻ là 90,6% và số răngsâu trung bình/học sinh là 6,07% Hầu hết răng sâu của các em đều không được điều trị (chiếm89,7% - 99,7%) Báo cáo của Viện Răng - Hàm - Mặt quốc gia cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ sâu răngvĩnh viễn ở Việt Nam khá cao và có xu hướng gia tăng theo tuổi, trung bình cứ 3 trẻ ở lứa tuổi15-17 tuổi thì có 2 em bị sâu răng vĩnh viễn Tỷ lệ sâu răng ở thiếu niên 9-17 tuổi chiếmkhoảng 55-69%, trong đó tỷ lệ này ở học sinh tiểu học (6-12 tuổi) chiếm tới 85% Nguyênnhân của hiện tượng này chủ yếu là do các em chưa có ý thức trong việc CSRM, chưa biết cáchbảo vệ và phòng chống sâu răng.[7] [8] Như vậy, bệnh sâu răng ở học sinh tiểu học là mộttrong những vấn đề cần được quan tâm giải quyết, trong đó biện pháp dự phòng là biện pháphữu hiệu và lâu dài
III.3 Tình hình sâu răng ở học sinh tiểu học tại xã Hùng Sơn
Tại xã Hùng Sơn, sâu răng ở trẻ em hiện nay vẫn đang là vấn đề phổ biến, đặc biệt là ởlứa tuổi tiểu học Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng bệnh răng miệng của học sinh trườngtiểu học Hùng Sơn do nhóm học viên cao học trường Đại học Y tế công cộng thực hiện năm
2005, tỷ lệ sâu răng của học sinh trường tiểu học Hùng Sơn là 55,2%, trong đó cao nhất ở họcsinh lớp 1 (66,7%), có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi và thấp nhất ở học sinh lớp 4 (36,4%)[4] Tìm hiểu số liệu của chương trình NHĐ trước đây, năm 2006 tỷ lệ sâu răng ở trẻ em trong
xã ở học sinh cấp I cao nhất (41,4%), tiếp đến là học sinh trường mầm non (25, 4%), thấp nhất
ở học sinh cấp II (22,7%) Phỏng vấn CBTYT phụ trách chương trình NHĐ trước đây cho biết,
Trang 9tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học thường cao hơn so với học sinh cấp I và cấp II “Bệnh sâu răng ở trẻ em cũng nhiều, đặc biệt là học sinh tiểu học Trước đây chị phụ trách chương trình nha học đường, xuống khám ở trường tiểu học tỷ lệ sâu răng cao hơn so với trường cấp 2 nhiều, cứ khám trung bình một lớp 20 cháu thì có đến hơn 12 cháu bị sâu răng” - (PVS
CBTYT phụ trách chương trình NHĐ trước đây)
Theo kết quả khám định kỳ tại trường mầm non tháng 9/2008, tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổimầm non là 27,4% Việc khám răng định kỳ cho học sinh tiểu học và trung học không đượctriển khai từ khi chương trình NHĐ tách ra khỏi TYT chuyển sang y tế trường học phụ trách vàquản lý Với mong muốn tìm hiểu về tình hình bệnh răng miệng của học sinh tiểu học tại xã,CBTYT đã tổ chức buổi khám răng cho học sinh toàn trường Kết quả khám sơ bộ cho thấy, tỷ
lệ sâu răng của học sinh tiểu học là 68,8% Như vậy, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em trong xã có xuhướng tăng lên
3.4 Phương pháp phân tích vấn đề sức khoẻ ưu tiên
Sử dụng kỹ thuật Nhưng - Tại sao để xây dựng cây vấn đề và xác định các nguyên nhân
gốc rễ của VĐSK ưu tiên dựa trên các kết quả phân tích số liệu định lượng của 218 học sinhtoàn trường, 218 PHHS, PVS CBTYT phụ trách chương trình NHĐ trước đây, cán bộ y tế nhàtrường, 10 giáo viên, 20 phụ huynh và 20 học sinh
Kiến thức và thực hành về CSRM của học sinh thấp, chỉ có 33,9% học sinh có kiến thứcđúng về CSRM và 29,8% học sinh có thực hành đúng về CSRM Ý thức tự giác của học sinh
về CSRM còn kém phải để bố mẹ nhắc nhở nhiều Tuy nhiên, kiến thức của PHHS về CSRMnhìn chung vẫn còn đơn giản, chủ yếu dựa trên thói quen và kinh nghiệm, các phụ huynh đượcphỏng vấn đều không biết về đánh răng đúng cách, chỉ có 48,1% PHHS có kiến thức đúng vềCSRM Công tác truyền thông về CSRM tại xã hiện nay chưa có
Chương trình của bậc tiểu học hiện nay đã cải cách, toàn bộ chương trình có 5-6 bàigiảng về CSRM trong các môn học như sức khỏe, tự nhiên xã hội nhưng không được đưa vàochương trình học chính khóa của học sinh mà chỉ lồng ghép vào các giờ tự học hoặc sinh hoạtngoại khóa Để giải quyết vấn đề sâu răng ở học sinh là cần phải có sự phối hợp giữa gia đình,nhà trường và TYT nhắc nhở, hướng dẫn các em VSRM thường xuyên và đúng cách Tuynhiên sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường về CSRM cho học sinh còn hạn chế và chưađược chặt chẽ PVS phụ huynh được biết không có sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường về
CSRM cho học sinh “Ở trường có họp phụ huynh nhưng chủ yếu là về việc chi tiêu, việc học hành của các cháu, cũng không thông báo gì về chăm sóc răng miệng cho các cháu Ở trường
có chương trình nha học đường nhưng cũng không thấy nói gì cho phụ huynh chắc chỉ phổ biến cho học sinh thôi” - (PVS PHHS lớp 1).
Chương trình NHĐ tách sang do trường học quản lý nên vẫn đang trong thời gian bịgián đoạn, việc tổ chức súc miệng và khám răng cho học sinh không được thực hiện thường
xuyên Hoạt động giám sát chương trình cũng không được thực hiên “Trước đây thì có giám sát nhưng bây giờ chẳng có ai giám sát gì nữa” - (PVS CBTYT phụ trách chương trình NHĐ trước đây) CBYT nhà trường vừa được cử đi học y tá trung cấp 1 năm nên trình độ chuyên môn và kinh nghiệm về y tế nói chung và NHĐ nói riêng còn chưa vững “Trước đây chị có được cử đi học 1 năm sơ cấp y tế ở Hải Dương Gần đây chị được đi tập huấn thêm 2 ngày về nha học đường, chị không có chuyên môn gì về nha học đường Có cán bộ chuyên môn làm vẫn tốt hơn, chị dù có được đi học và tập huấn nhưng cũng ít thực hành nên không dám làm” -
(PVS CBYT nhà trường)
Hạn chế hiện nay là chương trình NHĐ chưa có nguồn kinh phí riêng, tuy nhiên nguồnkinh phí dành cho hoạt động của chương trình có thể được trích ra từ quỹ y tế học đường của
Trang 10trường học Vấn đề CSRM cho học sinh vẫn là một trong những vấn đề được TYT quan tâm,thuộc nội dung về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em, nên vẫn nhận được sự hỗ trợ củaUBND và TYT về chuyên môn, nhân lực, thuốc men và một phần kinh phí hoạt động
Từ những phân tích trên, nhóm đã xây dựng được cây vấn đề và xác định các nguyên
nhân gốc rễ của VĐSK ưu tiên (Chi tiết xem phụ lục 15 trang 67).
III.4 Một số định nghĩa sử dụng
Chăm sóc răng miệng đúng cách: là vệ sinh răng miệng hàng ngày, chải răng đúng
phương pháp, chải răng đủ 3 mặt, chải răng trong 3 phút mỗi lần và chải 3 lần mỗi ngày
Kiến thức đúng về chăm sóc răng miệng: là có những kiến thức về chăm sóc răng
miệng đúng cách, vệ sinh răng miệng hàng ngày, có kiến thức về chải răng đúng cách (chải đủ
3 mặt, 3 phút mỗi lần và 3 lần mỗi ngày)
Thực hành đúng về chăm sóc răng miệng: là có thực hành vệ sinh răng miệng đúng
cách, thực hiện vệ sinh răng miệng hàng ngày, chải răng 3 mặt, 3 phút mỗi lần và 3 lần mỗingày
Qua phân tích cây vấn đề đã xác định được các nguyên nhân gốc rễ:
- Chương trình truyền thông về CSRM tại xã chưa có
- Giáo viên không được tập huấn về lồng ghép CSRM vào bài giảng
- Thiếu sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường về CSRM cho học sinh
- CBYT nhà trường không chuyên sâu về NHĐ
- Thiếu sự giám sát chương trình NHĐ
- Chưa huy động được nguồn lực cho chương trình
Trang 11Cây vấn đề
Kiêm nhiệm nhiều công việc
Cán bộ mới, không chuyên sâu
về NHĐ
Nguồn lực cho chương trình còn hạn chế
Cán bộ phụ trách NHĐ thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn
Chương trình tách hoàn toàn ra khỏi y tế xã
Thiếu
sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường
về CSRM
Thiếu
sự giám sát chương trình.
Thói quen ăn uống không tốt ảnh hưởng đến
Phụ huynh thiếu kiến thức về CSRM
Chươg trình truyền thông
về CSRM tại
xã chưa có
Phụ huynh hướng dẫn trẻ CSRM chưa tốt
Giáo viên không
được tập huấn về
lồng ghép CSRM
Nguồn truyền thông về CSRM ở xã ít
Thiếu tài liệu truyền thông
Hình thức truyền thông chưa đa dạng
Học sinh thiếu kiến thức về CSRM
Thói quen CSRM chưa đúng của trẻ
Trang 12IV Mục tiêu can thiệp
4.1 Mục tiêu chung
Nâng cao kiến thức và thực hành về CSRM cho học sinh từ đó góp phần làm giảm tỷ lệsâu răng ở học sinh trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương từ tháng 09/2009 đếntháng 04/2010
3 Đảm bảo 100% giáo viên tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương có kiến thức và
kỹ năng lồng ghép CSRM vào các bài giảng trong thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng10/2010
4 Tăng tỷ lệ PHHS trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương có kiến thức đúng
về CSRM từ 48,1% lên 85% trong thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 10/2010
4.3 Địa điểm, thời gian, đối tượng can thiệp
4.3.1 Địa điểm: Trường tiểu học xã Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương.
4.3.2 Thời gian: Từ tháng 09/2009 đến tháng 04/2010.
4.3.3 Đối tượng can thiệp
- Học sinh trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương
- Giáo viên và PHHS trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương
V Xác định các giải pháp can thiệp và phương pháp thực hiện
Dựa trên các nguyên nhân gốc rễ đã xác định được, NSV đã thảo luận cùng CBTYT vàchính quyền địa phương đề xác định những giải pháp can thiệp khả thi và phù hợp với tình hìnhtại địa phương Từ đó xây dựng nên các giải pháp và phương pháp thực hiện cho kế hoạch canthiệp
5.1 Các giải pháp và phương pháp thực hiện (Chi tiết tại Bảng 3)
5.2 Lý giải chấm điểm các giải pháp và phương pháp thực hiện
Các giải pháp đưa ra được xét đến tính hiệu quả, khả thi và chấm điểm theo thang điểm
từ 1 đến 5 Những giải pháp có tích số điểm hiệu quả × khả thi từ 12 điểm trở lên là những giải pháp được lựa chọn thực hiện (Chi tiết xem phụ lục 16 trang 70).
Trang 13Bảng 3: Giải pháp và phương pháp thực hiện
Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về CSRM cho học sinh lồng ghép trong chương trình “Trường học thân thiện - Học sinh tích cực” 4 4 16 C
Truyền thông qua tranh ảnh có nội dung về CSRM ở trường học 4 4 16 C
Truyền thông qua sách mỏng về CSRM cho học sinh, lấy nội dung từ
Truyền thông tại trường học do đội tuyên truyền măng non thực hiện 4 4 16 C
Truyền thông lồng ghép trong các buổi khám răng định kỳ 3 3 9 K
Truyền thông trong các buổi sinh hoạt, ngoại khóa của học sinh 4 4 16 C
Đa dạng hoá hình thức truyền thông vềCSRM cho phụ huynh
Lồng ghép truyền thông về CSRM của trẻ vào buổi sinh hoạt của hội
Giáo viên không
được tập huấn về
lồng ghép CSRM
cho học sinh
Tổ chức tập huấn về CSRM học sinh cho giáo viên
Tổ chức tập huấn về lồng ghép CSRM vào các bài giảng cho giáo
Tăng cường hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm về CSRM giữa CBTYT và
Tổ chức giám sát buổi khám răng định kỳ cho học sinh tại trường học 4 3 12 C
Chưa huy động được
nguồn lực cho
chương trình NHĐ
Huy động nguồn lực cho chương trình NHĐ
Huy động nguồn lực từ quỹ nhà trường (BHYT, phụ huynh đóng góp) 4 4 16 C
Huy động nguồn lực từ các đơn vị tài trợ (công ty P/S, Colgate) 4 2 8 K
Trao đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường về tình hình sức khoẻ, CSRM của học sinh qua sổ khám và theo dõi sức khoẻ 4 3 12 CLồng ghép nội dung về CSRM của học sinh trong các buổi họp phụ
Trang 14Người/cơ quan phối hợp
Người giám sát
huynh, CBTYT… 26/10/09 Xã Hùng Sơn CBYT trường Giáo viên Mời được UB, hội phụhuynh, CBTYTChuẩn bị địa điểm,
loa,bàn ghế,quà tặng 30/10/09 Trường TH HS Kinh phí đi lại,Quà tặng Chuẩn bị đầy đủ loa đài,bàn ghế, quà tặng,…
Tổ chức và tổng kếtcuộc thi
Liên hệ và xin được tranhảnh về CSRM
nội dung về CSRM
đẹp, hấp dẫn
HS CBYT trường Giáo viên Hiệu trưởng Kinh phí đi lại Treo được tranh tại trườnghọc theo đúng KH
Giáo viên Hiệu
trưởng
Kinh phí đi lại
Tổ chức phát sách cho họcsinh theo đúng KH
4 Truyền thông
về CSRM tại
trường học do
Lập kế hoạch truyềnthông cho đội tuyêntruyền măng non
05-07/09/09 Trường TH
Hùng SơnTrường TH
CBYT trường
Trạm trưởng
Kinh phí in
ấn, photo
Lập được KH truyền thôngchi tiết, cụ thể