... Chƣơng SO SÁNH TU TỪ ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG VỀ CÁC CON VẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 37 3.1 So sánh tu từ việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tƣợng chim 37 3.2 So sánh tu từ. .. từ việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tƣợng cá 39 3.3 So sánh tu từ việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tƣợng gà 40 3.4 So sánh tu từ việc giúp HS tiểu học hình thành. .. thiết với 1.6 Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học việc giúp học sinh tiểu học hình thành biểu tƣợng 1.6.1.Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học Học sinh tiểu học có độ tu i từ đến 11 tu i Khi vào học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LẠI THỊ HIÊN
SO SÁNH TU TỪ VỚI VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ CÁC CON VẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
HÀ NỘI – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LẠI THỊ HIÊN
SO SÁNH TU TỪ VỚI VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ CÁC CON VẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn: ThS PHAN THỊ THẠCH
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là Ths Phan Thị Thạch Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô người
đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóa luận
Qua đây chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường ĐHSP Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa luận của chúng tôi được hoàn thành
Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Lại Thị Hiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “So sánh tu từ với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS Tiểu học” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế
thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, Ths Phan Thị Thạch và
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Mục đích nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Những hiểu biết chung về so sánh tu từ 9
1.2 Những lí thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 14
1.3 Chức năng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật 17
1.4 Quá trình sản sinh và tiếp nhận văn bản trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 19
1.5 Biểu tượng và một số lí thuyết liên quan đến biểu tượng 19
1.6 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học và việc giúp học sinh tiểu học hình thành biểu tượng 23
Chương 2 MIÊU TẢ KẾT QUẢ THỐNG KÊ PHÂN LOẠI VIỆC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TU TỪ TRONG CÁC VĂN BẢN NGHỆ THUẬT THUỘC SGK TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 27
2.1 Tiêu chí thống kê phân loại 27
2.2 Kết quả thống kê phân loại việc sử dụng so sánh tu từ trong các văn bản nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học 29
Trang 72.3 Kết quả thống kê phân loại so sánh tu từ trong đó A là con vật 30 2.4 Kết quả thống kê phân loại so sánh tu từ dựa vào các tiêu chí bổ sung34 Chương 3 SO SÁNH TU TỪ ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU
TƯỢNG VỀ CÁC CON VẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 37 3.1 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con chim 37 3.2 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con cá 39 3.3 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con gà 40 3.4 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con chuồn chuồn 42 3.5 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con cò 43 3.6 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về con ngan 44 3.7 So sánh tu từ trong việc giúp HS tiểu học hình thành biểu tượng
về các con vật khác 46 KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc lựa chọn đề tài “So sánh tu từ với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS Tiểu học” xuất phát từ nhận thức của chúng tôi về ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nó
1.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia thì hệ thống giáo dục Tiểu học giữ một vị trí quan trọng Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài phải bắt đầu được quan tâm ngay từ bậc Tiểu học, vì đây là “cái nôi” tri thức đầu tiên và
là bậc học quan trọng đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách của mỗi học sinh Trong điều 23, Luật giáo dục.1998, chỉ rõ mục tiêu của Giáo dục Tiểu học là: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN” Do đó ở Tiểu học, các em được tạo điều kiện tối đa với các môn học thuộc tất cả các lĩnh vực: Tự nhiên, xã hội, con người
Trong các môn học ở trường Tiểu học thì môn Tiếng Việt có một ý nghĩa và vị trí đặc biệt quan trọng Môn Tiếng Việt giúp hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, góp phần rèn luyện cho HS các thao tác của tư duy; cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học Tiếng Việt, những kiến thức sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người, về văn hóa và khoa học của Việt Nam và nước ngoài; góp phần bồi dưỡng cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, sự công bằng xã hội, bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam hiện đại
Các phân môn Tiếng Việt được đưa vào dạy cho HS Tiểu học gồm có: Tập đọc - kể chuyện, tập làm văn, luyện từ và câu, chính tả Các phân môn
Trang 9này góp phần phát triển toàn diện năng lực Tiếng Việt cho HS Tiểu học Trong đó, các bài tập với biện pháp so sánh tu từ chiếm một số lượng tương đối lớn trong phân môn luyện từ và câu
Có thể nói rằng so sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật vô cùng quan trọng So sánh tu từ sẽ giúp các em được chắp cánh cùng lời ca, tiếng nhạc qua hình ảnh so sánh xa xôi mà gần gũi, bay bổng mà chân thực Phương thức
so sánh là một hình thức biểu hiện đơn giản nhất của lời nói có hình ảnh:
“Hầu như bất cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể chuyển thành hình thức
so sánh”(GoLur - phong cách học Nga, Moskya 1976 - T141) Một mặt, so sánh tu từ có khả năng khắc họa hình ảnh, gây ấn tượng mạnh mẽ và nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành biểu tượng cho các em Mặt khác, so sánh tu từ có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động, diễn đạt mọi sắc thái biểu cảm, giúp ta bày tỏ tình cảm thái độ của mình một cách kín đáo
tế nhị
1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài khóa luận rất bổ ích và có ý nghĩa đối với một sinh viên khoa GHTH Trước hết, nó giúp chúng tôi khảo sát các văn bản nghệ thuật có sử dụng so sánh tu từ trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học Việc làm này góp phần giúp chúng tôi nắm vững nội dung chương trình SGK, củng
cố và làm sâu sắc hơn những tri thức đã được học Điều quan trọng nhất là việc làm đó có thể giúp chúng tôi dạy tốt môn học này trong tương lai
Nhận thức rõ ràng và sâu sắc ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của
đề tài khóa luận, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài này là cần thiết
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu so sánh tu từ không là một vấn đề mới, vì nó đã được nhiều người tìm hiểu Có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu về so sánh tu từ trong các tài liệu sau:
Trang 102.1 Những giáo trình và những tài liệu nghiên cứu về phong cách học
So sánh tu từ đã được một số nhà phong cách học nghiên cứu trong những giáo trình và tài liệu tiêu biểu như:
- Đinh Trọng Lạc, Giáo trình Việt Ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1964
- Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1982
- Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt, NXB ĐH
& THCN, 1983
- Đinh Trọng Lạc, Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1999
Ở những công trình trên, các tác giả có đóng góp trong việc trình bày các nội dung sau:
+ Nêu khái niệm so sánh tu từ
+ Nêu những cách thức tổ chức so sánh tu từ
+ Chỉ ra sự giống và khác nhau giữa so tu từ và so sánh luận lí (so sánh logic)
Từ những công trình đã nêu tên trên đây, cũng có thể thấy rõ: Lí luận
về so sánh tu từ được bổ sung phong phú hơn theo thời gian Chẳng hạn, từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nhà phong cách học đã xác định: So sánh tu
từ là một biện pháp tu từ được xây dựng theo quan hệ liên tưởng Trong những giáo trình và tài liệu nghiên cứu phong cách được xuất bản 1993, 1995,
1998, 1999 Đinh Trọng Lạc đã xem xét so sánh tu từ ở hai phương diện: là một biện pháp tu từ được xây dựng theo quan hệ liên tưởng tương đồng và là một phương tiện tu từ ngữ nghĩa…
Những lí thuyết về so sánh tu từ được trình bày trong những giáo trình, tài liệu nghiên cứu phong cách học là điểm tựa tin cậy cho những người nghiên cứu và giảng dạy về phong cách học trong nhà trường
Trang 112.2 SGK Tiếng Việt ở tiểu học và SGK Ngữ Văn
a SGK Tiếng Việt ở tiểu học
Một trong những đổi mới nội dung chương trình SGK Tiếng Việt ở tiểu học là đưa so sánh tu từ vào dạy cho HS Khác với các giáo trình, nội dung dạy học về so sánh tu từ chủ yếu là qua các bài tập thực hành hướng dẫn HS phát hiện những trường hợp sử dụng biện pháp tu từ này
Học sinh tiểu học được làm quen với so sánh tu từ ở SGK Tiếng Việt 3, tập 1 Nhưng SGK Tiếng Việt 3 không trực tiếp giới thiệu khái niệm so sánh (với tư cách là một biện pháp tu từ) cho HS mà thông qua hàng loạt các bài tập Hình thức bài tập thường là nêu ngữ liệu (câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ) trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, yêu cầu HS chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong ngữ liệu ấy
b SGK Ngữ Văn THCS
Trong chương trình sách Ngữ Văn THCS, so sánh được đề cập ở sách Ngữ Văn 6, tập 2, với bài 19 và bài 21 Trong đó, tác giả trình bày những nội dung chính sau:
- Khái niệm so sánh
- Cấu tạo của phép so sánh
- Vai trò, tác dụng của so sánh trong văn miêu tả
( Bài 19, SGK Ngữ Văn 6, tập 2, NXBGD năm 2008)
- Trình bày các kiểu so sánh
- Tác dụng của phép so sánh
( Bài 21, SGK Ngữ Văn 6, tập 2, NXBGD năm 2008)
2.3 Những khóa luận tốt nghiệp của sinh viên
Ở trường ĐHSP Hà Nội 2, trong những năm gần đây, một số sinh viên khoa Ngữ Văn và khoa Giáo dục Tiểu học đã thực hiện đề tài nghiên cứu về
so sánh tu từ Cụ thể là:
Trang 12- Dương Nguyệt Hằng (K26) , Bước đầu nghiên cứu về hiệu quả của so sánh tu từ trong các tác phẩm thơ trong SGK lớp 1, 2, 3 sau năm 2000 và lớp
- Hoàng Thị Đặng (K29) , Nghiên cứu hiệu quả của so sánh tu từ
- Nguyễn Thị Lan (K29) , Tìm hiểu hiệu quả nghệ thuật của phép so sánh tu từ trong thơ viết cho thiếu nhi (qua khảo sát SGK Tiếng Việt 3, 4, 5 sau năm 2000 và một số bài thơ viết cho thiếu nhi ngoài chương trình)
- Lưu Thị Dung (K31) , Tác dụng của so sánh tu từ đối với việc giáo dục nhận thức, giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh tiểu học
- Nguyễn Thúy Hạnh (K32) , Tác dụng của so sánh tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về một số hiện tượng tự nhiên cho học sinh tiểu học
- Trần Thị Phương (K36) , Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài văn thơ viết cho trẻ em ở SGK Tiếng Việt lớp 3
- Đặng Thị Bích Ngọc ( K36) , Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh cho học sinh lớp 3
Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu về so sánh tu từ của những sinh viên này được thể hiện rất rõ trong tên đề tài khóa luận mà họ đã lựa chọn
Điểm lại tình hình nghiên cứu về so sánh tu từ trong các giáo trình tài liệu khoa học chuyên ngành, trong SGK Tiếng Việt tiểu học, SGK Ngữ Văn THCS và trong các khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên, có thể thấy rõ việc nghiên cứu so sánh tu từ không phải là vấn đề mới.Tuy vậy việc tìm hiểu “ Tác dụng của so sánh tu từ với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho
HS Tiểu học” vẫn là một khoảng trống chưa được ai nghiên cứu
Trang 133 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: Tác dụng của so sánh tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS Tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa những kiến thức về: lí thuyết hoạt động giao tiếp, phong cách học, tâm lí học, …
4.2 Miêu tả kết quả thống kê, phân loại về cách dùng so sánh tu từ trong những tác phẩm thuộc chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học
4.3 Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu để chỉ rõ tác dụng của so sánh
tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS tiểu học
5 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận thực hiện nhiệm vụ nhằm những mục đích sau:
5.1 Sử dụng những kiến thức đã hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lí luận cho khóa luận, đồng thời nhằm nâng cao những hiểu biết cho bản thân về biện pháp so sánh tu từ trong Tiếng Việt
5.2 Khảo sát ngữ liệu thống kê về việc sử dụng so sánh tu từ trong các văn bản nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt tiểu học, để làm giàu vốn hành trang kiến thức của tác giả khóa luận nhằm phục vụ việc giảng dạy Tiếng Việt trong đợt thực tập sư phạm và trong việc giảng dạy trong tương lai
5.3 Góp phần cung cấp một tài liệu tham khảo về so sánh tu từ cho các bạn sinh viên khoa GDTH hoặc cho những ai quan tâm đến biện pháp tu từ này
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn, nội dung nghiên cứu
Bước đầu tập trung tìm hiểu về tác dụng của so sánh tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS tiểu học
6.2 Giới hạn tư liệu thống kê
Khảo sát việc dùng so sánh tu từ trong các tác phẩm nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt 2, 3, 4, 5 do NXB Giáo Dục ban hành năm 2008
Trang 147 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được chúng tôi dùng để nhận diện và tổng hợp những trường hợp sử dụng so sánh tu từ trong các văn bản nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt tiểu học
7.2 Phương pháp phân loại
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng để phân chia ngữ liệu thống kê về so sánh tu từ thành những tiểu loại nhỏ dựa trên những tiêu chí đã xác định
7.3 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi cần tái hiện những ví dụ tiêu biểu có so sánh tu từ
7.4 Phương pháp phân tích phong cách học
Đây là phương pháp đặc thù của phong cách học
Theo Cù Đình Tú (1982): “Sự phân tích của phong cách học bao giờ cũng được tiến hành theo cơ sở của sự liên hội giữa phương tiện ngôn ngữ được tuyển chọn trên văn bản với những phương tiện cùng vắng mặt, không được tuyển chọn”.Trên cơ sở đó người phân tích rút ra hiệu quả (tác dụng) của việc lựa chọn, sử dụng phương tiện ngôn ngữ của văn bản
Phương pháp phân tích phong cách học là một trong những phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng để phân tích hiệu quả tác động của sự so sánh
tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS tiểu học
7.5 Phương pháp tổng hợp
Đây là phương pháp được chúng tôi sử dụng để rút ra những nhận xét hoặc kết luận
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm có
3 chương
Trang 15Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Miêu tả kết quả thống kê phân loại việc sử dụng biện pháp
so sánh tu từ trong các văn bản nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt Tiểu học
Chương 3: So sánh tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS Tiểu học
Trang 16NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Những hiểu biết chung về so sánh tu từ
1.1.1 Khái niệm
Một số nhà phong cách học và tác giả SGK Ngữ Văn THCS đã đưa ra định nghĩa về khái niệm so sánh tu từ
VD:
a, Lê Anh Hiền (1982) trong “ Phong cách học Tiếng Việt” gọi so sánh
tu từ là so sánh hình ảnh để phân biệt với so sánh logic Theo tác giả:
“ So sánh hình ảnh là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung (về số lượng hoặc chất lượng), miễn là có một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí” [sđd, tr 146]
Sau định nghĩa, tác giả bổ sung: So sánh hình ảnh “ là một sự so sánh
có giá trị hình tượng và giá trị biểu cảm”
b, Cù Đình Tú (1983) trong “ Phong cách học Tiếng Việt và đặc điểm
tu từ Tiếng Việt” về cơ bản đồng nhất với Lê Anh Hiền, nhưng cách diễn đạt
đã góp phần làm cho nội dung khái niệm rõ ràng hơn Theo tác giả:
“ So sánh tu từ là so sánh công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng
có cùng một nét giống nhau nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [ sđd, tr 272]
Sau định nghĩa, Cù Đình Tú bổ sung: Trong so sánh tu từ các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích của phép so sánh
là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng
c, Trong SGK Ngữ văn 6, tập 2 các tác giả đã định nghĩa so sánh tu từ như sau: “ so sánh là sự đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt” [ sđd, tr.24]
Trang 17d, Từ các định nghĩa đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn định nghĩa của
Cù Đình Tú (1983), đồng thời tiếp nhận ý kiến bổ sung của các tác giả để đưa
ra cách hiểu sau về so sánh tu từ:
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại dựa trên một nét tương đồng nào đó giữa chúng, nhằm biểu thị bằng hình ảnh một trong những đối tượng đó
1.1.2 Cách thức tổ chức so sánh tu từ
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” - NXBGDHN-1997 đưa ra mô hình so sánh chung:
A x B và mô hình đầy đủ gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố 1: Yếu tố được hoặc bị so sánh
- Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hoạt động
có vai trò nêu rõ phương diện so sánh
- Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh
- Yếu tố 4: Yếu tố được đưa ra làm chuẩn của so sánh
Tác giả Cù Đình Tú trong cuốn: “Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt”- NXBĐH và THCN HN- 1983, cho rằng:
Về mặt hình thức, so sánh bao giờ cũng gồm hai đối tượng lập thành hai vế, các đối tượng này có thể là sự vật, tính chất hay hoạt động Hai đối tượng được gắn với nhau tạo nên hình thức so sánh theo các kí hiệu:
Kí hiệu: A: vế được so sánh
B: vế so sánh Dựa vào hình thức biểu hiện của phép so sánh, SGK Tiếng Việt lớp 3, tập 1 đưa ra 2 mô hình:
- Mô hình 1: So sánh sự vật - sự vật Từ mô hình này có các dạng sau: + A như B
+ A: yếu tố được hoặc bị so sánh
Trang 18+ B: yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh
+ Mô hình A- B: x triệt tiêu (từ chỉ quan hệ so sánh bị triệt tiêu)
- So sánh tu từ chìm: nét tương đồng - cơ sở của sự so sánh không được hiện ra bằng những từ ngữ cụ thể mà người nghe, người đọc phải tự phát hiện ra:
VD1: Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
- So sánh tu từ nổi: nét tương đồng - cơ sở của sự so sánh được hiện ra bằng những từ ngữ cụ thể dễ nhận thấy
VD2: Cá thu Biển Đông như đoàn thoi
1.1.3 Hiệu quả của so sánh tu từ
a, Giá trị chủ yếu của biện pháp tu từ so sánh là giá trị nhận thức và giá trị biểu cảm
Qua so sánh, đối chiếu một sự vật đã biết với một sự vật chưa biết mà chúng ta hiểu rõ hơn về sự vật đó, có thể phát hiện ra những nét bất ngờ mà ít khi chúng ta chú ý đến Nói cách khác, so sánh là phương tiện giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những phương tiện nào đó của sự vật
Mặt khác, so sánh cũng là phương tiện giúp chúng ta bày tỏ lòng yêu, ghét, ý kiến khen chê, thái độ khẳng định hoặc phủ định đối với sự vật Giá trị biểu cảm của so sánh thể hiện ở việc tăng sức bình giá, phát huy thêm sức
Trang 19biểu hiện của các phương tiện ngôn ngữ
b, Đối với lứa tuổi HS tiểu học
Qua các văn bản nghệ thuật, hình ảnh so sánh giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ và khám phá thế giới xung quanh Từ đó các em hình thành kĩ năng quan sát tinh tế, sâu sắc các sự vật, hiện tượng
So sánh tu từ góp phần bồi dưỡng kĩ năng cảm thụ văn học, bước đầu giúp các em tiếp xúc với các hình tượng văn học, biết rung cảm với những niềm vui nỗi buồn của con người, biết tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên đất nước con người Việt Nam Các em thêm yêu thương gắn bó gần gũi với những đồ vật, con vật với cuộc sống sinh hoạt của con người Từ đó ở các em hình thành và phát triển những nhận thức, có tình cảm, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, biết phân biệt cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai Dần dần các em hướng tới cái Chân, Thiện, Mĩ
Biện pháp so sánh giúp các HS tiếp thu tốt và học tập tốt các môn: Tập làm văn, Luyện từ và câu, để trau dồi kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phát huy sự sáng tạo sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp với mọi người xung quanh
1.1.4 Hai góc độ xem xét so sánh tu từ
Đinh Trọng Lạc, ( 1995) đã đưa ra căn cứ phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện tu từ, khi phân loại các biện pháp và các phương tiện tu từ trong tiếng Việt Ông đã xác định so sánh tu từ thuộc loại biện pháp tu từ ngữ nghĩa, đồng thời cũng là một loại phương tiện tu từ ngữ nghĩa
Những lí luận về biện pháp tu từ và phương tiện tu từ là cơ sở cần thiết
để tác giả khóa luận có cơ sở xử lí đề tài
1.1.4.1 So sánh là một biện pháp tu từ
Ở góc độ này, nói đến so sánh tu từ là nói đến cách thức tổ chức ngôn ngữ để “ đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại dựa trên một nét tương đồng giữa chúng” nhằm mục đích tu từ
Trang 20Từ góc độ này, tìm hiểu so sánh tu từ trong giao tiếp, chúng ta có thể nhận ra những quy luật lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ để tạo hình - biểu cảm
và có thể mô hình hóa các quy luật đó
1.1.4.2 So sánh là một phương tiện tu từ
Ở góc độ này, so sánh tu từ là một phương tiện ngôn ngữ được người nói “ người viết” sử dụng để trao đổi nội dung tư tưởng với người nghe, người đọc nhằm thông báo nội dung ý nghĩa sự vật, đồng thời biểu lộ thái độ, tình cảm của mình đối với nội dung trao đổi hoặc đối với người tiếp nhận
1.1.5 Phân biệt so sánh tu từ với so sánh logic
1.1.5.1 Khái niệm về so sánh logic
Đó là cách đối chiếu hai đối tượng cùng loại dựa trên sự tương đồng của chúng
VD3:
Ngôi nhà này cao hơn ngôi nhà kia hai tầng
1.1.5.2 Sự giống nhau giữa hai loại so sánh
So sánh tu từ và so sánh logic là hai loại so sánh giống nhau về phương thức: Đều đối chiếu các sự vật dựa trên sự tương đồng giữa chúng
1.1.5.3 Sự khác nhau giữa hai loại so sánh
a, Nếu so sánh logic là cách đối chiếu hai sự vật cùng loại thì so sánh tu từ là cách đối chiếu hai sự vật khác loại
Trang 21A và B khác loại, A là “con sông”, B là “dòng sữa mẹ”
b, Nếu trong so sánh logic người ta chỉ dùng một B để đối chiếu với một A thì trong so sánh tu từ người ta có thể dùng một hoặc nhiều B để biểu thị một A
1.2 Những lí thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Để có thể tìm hiểu hiệu quả của so sánh tu từ đối với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS tiểu học thông qua những văn bản nghệ
Trang 22thuật, chúng tôi xác định cần dựa vào một số lí luận cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trong SGK Tiếng Việt 11 do Diệp Quang Ban (chủ biên), NXB Giáo dục, 1999, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được xác định như sau:
Đó là hoạt động trong đó con người sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
để trao đổi với người khác một nội dung tư tưởng tình cảm trong một hoàn cảnh nhất định, để đạt một mục đích nhất định
1.2.2 Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Tác giả SGK Ngữ Văn 10, tập 1, NXB Giáo dục, 2006 cho rằng, một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có sự chi phối của năm nhân tố sau:
- Nhân vật giao tiếp
- Nội dung giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp
- Mục đích giao tiếp
- Phương tiện và cách thức giao tiếp
1.2.2.1 Nhân vật giao tiếp
Đó là những người tham dự trong những lần gặp gỡ tiếp xúc với đồng loại Tùy vào tính chất của giao tiếp (trực tiếp hoặc gián tiếp bằng văn bản) người ta chia nhân vật giao tiếp thành người nói (người nghe) và người viết (người đọc)
Căn cứ vào nhiệm vụ của nhân vật giao tiếp, người ta gọi người nói, người viết là người phát tin; người nghe, người đọc là người nhận tin
Hoạt động giao tiếp giữa các tác giả với HS tiểu học là hoạt động giao tiếp gián tiếp bằng văn bản, trong đó các tác giả là người phát tin (người viết) còn HS tiểu học là người nhận tin (người đọc)
Trang 231.2.2.2 Nội dung giao tiếp
Đó là nội dung vấn đề mà các nhân vật khi gặp gỡ, tiếp xúc trao đổi với nhau Nội dung giao tiếp có thể là việc, là vật, là cảnh vật, hiện tượng tự nhiên cũng có thể là con người…
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nội dung giao tiếp giữ vai trò
là tiền đề, chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ của người phát tin
1.2.2.3 Hoàn cảnh giao tiếp
Đó là hoàn cảnh về thời gian, không gian; là những điều kiện về môi trường thiên nhiên, xã hội và điều kiện vật chất để cho một cuộc giao tiếp được thực hiện suôn sẻ
Hoàn cảnh giao tiếp có vai trò chi phối việc lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ trong văn bản của người phát tin, đồng thời ảnh hưởng đối với việc giải
mã của người nhận tin để lĩnh hội được nội dung thông báo, nội dung biểu cảm mà người phát tin muốn trao đổi
1.2.2.4 Mục đích giao tiếp
Đó là cái điều mà các nhân vật giao tiếp (đặc biệt là người phát tin) mong muốn đạt được trong giao tiếp Mục đích giao tiếp giúp các nhân vật giao tiếp trả lời câu hỏi: nói như thế, viết như thế để làm gì?
1.2.2.5 Phương tiện và cách thức giao tiếp
a, Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là các đơn vị ngôn ngữ được cá nhân sử dụng trong một hoàn cảnh nói năng cụ thể (ngữ âm, chữ viết, từ, câu)
b, Cách thức giao tiếp
Đó là kênh giao tiếp, là cách thức thể hiện ngôn ngữ nhằm mục đích tu
từ để đem lại tính hiệu lực cao cho lời nói Những cách thể hiện ngôn ngữ đó còn được gọi là biện pháp tu từ
Trang 24So sánh tu từ là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa Khi được dùng trong văn bản nghệ thuật nó giúp người đọc, người nghe hình thành biểu tượng về đối tượng được nói đến
Trong năm nhân tố: Nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và cách thức giao tiếp thì bốn nhân
tố đầu là những nhân tố ngoài ngôn ngữ, đóng vai trò làm tiền đề, quyết định việc sử dụng ngôn ngữ của cá nhân trong giao tiếp
Nhân tố ngôn ngữ mặc dù không đóng vai trò làm tiền đề nhưng lại có chức năng hiện thực hóa các nhân tố ngoài ngôn ngữ
M.A.K Halliday (1994) cho rằng: Văn bản được coi là một loại đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng Đó là loại đơn vị ngôn ngữ được tạo ra từ những đơn vị ngôn ngữ thuộc cấp độ nhỏ hơn nhằm hiện thực hóa một hoặc một số chủ đề trong giao tiếp
1.3 Chức năng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.1 Hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ được biểu hiện trong ngôn ngữ nghệ thuật
Nói đến chức năng của ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học thường đề cập đến hai chức năng cơ bản của nó: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và là công cụ để con người tiến hành tư duy Hai chức năng đó được biểu hiện cụ thể trong ngôn ngữ nghệ thuật
Trong văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ là phương tiện để tác giả giao tiếp với độc giả Nhờ vậy, qua ngôn ngữ nghệ thuật người đọc hiểu tác giả phản ánh vấn đề gì, thái độ của họ đối với vấn đề đó ra sao
Bên cạnh chức năng giao tiếp, ngôn ngữ nghệ thuật còn là công cụ để tác giả và độc giả tư duy bằng hình tượng Bằng cách dùng ngôn ngữ nghệ thuật, tác giả văn chương giúp người đọc tri giác thông qua hoạt động liên tưởng, hình thành biểu tượng, từ đó tưởng tượng để hình dung hiện thực được phản ánh trong tác phẩm
Trang 251.3.2 Các chức năng đặc thù của ngôn ngữ nghệ thuật
Ngoài hai chức năng cơ bản, ngôn ngữ nghệ thuật còn có những chức năng đặc thù, cụ thể:
1.3.2.1 Chức năng tạo hình - biểu cảm
Là công cụ để tác giả tư duy hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật có khả năng tạo hình - biểu cảm rất cao Đây là chức năng đặc thù của ngôn ngữ văn chương và chức năng này được thể hiện rất rõ trong thơ văn Chức năng này, theo Đỗ Hữu Châu là: khả năng làm xuất hiện ở người đọc những biểu tượng thính giác, thị giác, khứu giác; những biểu tượng về người, về vật, cảnh vật trong tác phẩm giống như trong cuộc sống
có thái độ tình cảm đồng điệu, hoặc đối lập với thái độ tình cảm của tác giả
1.3.2.4 Chức năng thẩm mĩ
Giống như các phương tiện nghệ thuật tạo hình, ngôn ngữ nghệ thuật
có chức năng thẩm mĩ Chức năng này của ngôn ngữ nghệ thuật gắn với tác giả và độc giả
Ngôn ngữ nghệ thuật được tác giả sử dụng để xây dựng biểu tượng nhằm biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ
Ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng thẩm mĩ là do sự lựa chọn, xếp đặt, trau chuốt tinh luyện của người sử dụng nhằm mục đích thẩm mĩ khác nhau
Tìm hiểu tác dụng của so sánh tu từ trong các tác phẩm ở tiểu học đối
Trang 26với việc hình thành biểu tượng về các con vật cho HS tiểu học, chúng tôi cho rằng việc dựa vào những lí luận về chức năng của ngôn ngữ nói chung và chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật là cần thiết
1.4 Quá trình sản sinh và tiếp nhận văn bản trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.4.1 Quá trình sản sinh văn bản
Quá trình này liên quan đến hoạt động sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của người nói, người viết (gọi chung là người phát tin) Dựa vào nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp người phát tin lựa chọn từ ngữ để tạo câu, tổ chức và liên kết câu thành đoạn văn, sắp xếp đoạn văn thành văn bản hoàn chỉnh
Trong văn bản nghệ thuật nhà thơ, nhà văn là người sử dụng ngôn ngữ
để tạo thành biện pháp tu từ so sánh nhằm diễn đạt nội dung thông báo bằng những biểu tượng giàu sức gợi hình, gợi cảm
1.4.2 Quá trình tiếp nhận văn bản
Quá trình này còn được gọi là quá trình lĩnh hội văn bản Đây là quá trình liên quan đến hoạt động lĩnh hội của người nghe, người đọc (người nhận tin) Căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, người nhận tin đọc văn bản, giải mã các phương tiện ngôn ngữ để từ đó xác định:
- Nội dung được phản ánh trong văn bản
- Thái độ, tình cảm của tác giả văn bản
- Mục đích trình bày nội dung của tác giả văn bản
1.5 Biểu tượng và một số lí thuyết liên quan đến biểu tượng
1.5.1 Khái niệm về biểu tượng
Theo từ điển tâm lí học (Vũ Dũng - NXB Khoa học xã hội - 2000):
“Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ
sở nhớ lại hay tưởng tượng”
Trang 27Từ điển Tiếng Việt (G.s Hoàng Phê chủ biên, NXB Giáo dục, 2009) định nghĩa biểu tượng như sau: “Biểu tượng là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng về thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các tri giác đã xảy ra trước
đó, được giữ lại trong ý thức bằng những hình ảnh mới được hình thành trên
cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn toàn là thực
tế bởi vì nó là xây dựng lại sau khi đã được tri giác Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm lí của chủ thể
1.5.2 Phân biệt cảm giác, tri giác và biểu tượng
a, Khái niệm về cảm giác
Cảm giác là hình thức thấp nhất của nhận thức, cho ta biết những thuộc tính riêng lẻ của sự vật đang tác động vào giác quan
b, Khái niệm về tri giác
Tri giác là hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, phản ánh trực tiếp và trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủ các đặc tính của nó
c, Sự khác nhau giữa cảm giác, tri giác và biểu tượng
* Cảm giác là hình thức tư duy thấp nhất của con người, khi tiếp xúc trực tiếp với sự vật, bằng giác quan con người chỉ nhận ra một đặc điểm của
sự vật đó
VD10:
Bằng thị giác con người cảm giác hạt mưa là giọt nước rơi từ trên trời xuống
Bằng vị giác con người nhận ra mưa không có vị
* Tri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác Nhờ có hình thức
Trang 28nhận thức này, con người có thể nhận thức được những đặc điểm hình thức bên ngoài của một sự vật, hiện tượng cụ thể
VD11:
Bằng tri giác, con người nhận thức được mưa là hạt nước không
có màu sắc, không có mùi vị, từ trên trời rơi xuống
* Biểu tượng là hình thức tư duy cao hơn cảm giác và tri giác Biểu tượng khác tri giác ở hai điểm cơ bản Một là, nếu tri giác phản ánh một sự vật riêng lẻ tác động đến các giác quan của con người, giúp con người nhận ra những đặc điểm bên ngoài của sự vật đó, thì biểu tượng lại phản ánh sự vật, hiện tượng ở tầm khái quát hơn Hai là, biểu tượng còn bao hàm sự đánh giá
về sự vật mà một người cụ thể nhận xét từ một ý nghĩa nào đó Nói như vậy
có nghĩa là biểu tượng về một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan ở người này, ở người kia không hoàn toàn như nhau, do mối quan hệ của từng người với hiện thực và do đặc điểm tính cách, đặc điểm tư duy của mỗi con người là khác nhau
VD12:
Biểu tượng về hạt mưa giữa tác giả dân gian và Nguyễn Du là rất khác nhau.Với tác giả dân gian hạt mưa là một biểu tượng được dùng làm hình ảnh so sánh để diễn tả thân phận nhỏ nhoi, vô định của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:
Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa
Với Nguyễn Du, hạt mưa là biểu tượng cho một Thúy Kiều hiếu nghĩa, giàu đức hi sinh giàu lòng vị tha:
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân
Paplop cho rằng: “So với tri giác thì biểu tượng hình thành ở một trình
Trang 29độ cao hơn của hoạt động thần kinh cao cấp Nó đòi hỏi đầu óc phải luôn phân tích những kích thích bên ngoài thành những thành phần tương tự” (Theo Bùi Công Hùng - Quá trình sáng tạo thơ - NXB Văn hoá - Thông tin)
Trong các văn bản nghệ thuật, biểu tượng là những hình ảnh được sáng tạo từ cách dùng ngôn ngữ của tác giả Thông qua ngôn ngữ, trong tác phẩm, người đọc có thể liên tưởng, tưởng tượng hình ảnh sự vật, sự việc (hình thành biểu tượng), qua đó nhận thức được nội dung phản ánh Cao hơn người đọc có thể từ biểu tượng này tưởng tượng ra biểu tượng khác mang ý nghĩa tượng trưng Đặc thù của ngôn ngữ nghệ thuật là có khả năng sáng tạo những hiện tượng mang ý nghĩa tượng trưng
VD13:
Hai bàn tay em Như hoa đầu cành Hoa hồng hồng nụ Cánh tròn ngón xinh
Trong ví dụ trên, hình ảnh so sánh “hoa đầu cành” tượng trưng cho hai bàn tay nhỏ nhắn, mũm mĩm của một em bé khỏe mạnh, đáng yêu
1.5.3 Liên tưởng và tưởng tượng
Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày