1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CỔ PHẨN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

42 739 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cổ Phần Hóa Các Doanh Nghiệp Nhà Nước Thực Trạng Và Giải Pháp Thúc Đẩy Quá Trình Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 218 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong những năm gần đây, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng quá trình này vẫn bị xem là hết sức chậm chạp

Trang 1

1.1.4.Các công việc phải làm để thực hiện cổ phần hóa DNNN

1.2 Tính tất yếu của cổ phần hóa DNNN

1.2.1 Yêu cầu đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường

1.2.2 Yêu cầu mọi doanh nghiệp đều hoạt động theo một luật chung thống nhất1.2.3 Các ưu điểm cơ bản của loại hình công ty cổ phần

1.2.4 Hiệu quả hoạt động của DNNN

1.3 Các kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Cổ phần hóa ở Trung Quốc

1.3.1.1 Tình hình cổ phần hóa ở Trung Quốc

- Giai đoạn thứ nhất 1984 – 1991

- Giai đoạn thứ hai 1992 – nay

1.3.1.2 Những đặc trưng cơ bản của cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp ởTrung Quốc

Trang 2

- Minh bạch giữa các quyền sở hữu pháp nhân, quyền sở hữu cổ phần và quyềnkinh doanh

- Chế độ trách nhiệm hữu hạn, tức là trách nhiệm của cổ đông đối với doanhnghiệp là giới hạn theo mức vốn đầu tư

- Mang tính xã hội hóa, thị trường hóa, tiền tệ hóa và chứng khoán hóa quyền sởhữu

Rút ra kinh nghiệm

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ

PHẨN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các DNNN Việt Nam

- DNNN thành lập một cách tràn lan, quy mô nhỏ

- Nhiều DNNN hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh còn thấp, khôngtương xứng với sự đầu tư của Nhà nước

- Trình độ công nghệ còn lạc hậu, dưới mức trung bình

2.2 Thực trạng cổ phần hóa DNNN trong thời gian qua

2.2.1.khái quát về cổ phần hóa DNNN

2.2.1.1 Giai đoạn thí điểm từ 6/1992 đến 4/1996

2.2.1.2 Giai đoạn mở rộng thí điểm từ 5/1996 đến 5/1998

2.2.1.3 Giai đoạn cho phép đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa từ 7/1998 đến nay2.2.2.Các giải pháp đã áp dụng để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa DNNN

2.2.3 Đánh giá tình hình cổ phần hoá trong thời gian qua

Trang 3

2.3 Phương hướng, giải pháp đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá

b) Phát triển và hoàn thiện các yếu tố của kinh tế thị trường

c) Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách, tạo khung khổpháp lí thuận lợi cho việc cổ phần hóa DNNN

d) Tăng cường công tác chỉ đạo và nâng cao năng lực quản lý đối với quá trình

c) Tăng cường quản trị công ty cổ phần để thực sự đưa công ty sau cổ phần hóahoạt động trong môi trường bình đẳng với các DN khác

d) Tăng cường chỉ đạo cổ phần hóa trong toàn bộ Tổng công ty

e) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát quá trình cổ phần hóa

f)Tăng cường tính minh bạch trong công bố thông tin về doanh nghiệp

Trang 4

g)Phát triển đội ngũ quản trị năng động phù hợp với sự mở rộng của thị trường trong nước

h)Chiến lược phát triển rõ ràng

LỜI KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta có chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi vớichủ động hội nhập kinh tế quốc tế Muốn hội nhập thành công, năng lực cạnhtranh của nền kinh tế nói chung, của từng doanh nghiệp và từng sản phẩm nóiriêng phải không ngừng được nâng cao

Để nâng cao hiệu qủa và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhànước, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước được xác định là mộttrong những giải pháp quan trọng Ngày 8/6/1992 ,Hội đồng bộ trưởng (nay làchính phủ) đưa ra quyết định số 202/CT “ Về việc tiếp tục làm thí điểm chuyểnmột số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần” Cổ phần hóa là quá trìnhchuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước thành các doanh nghiệp hoạt động theoquy chế công ty cổ phần trong luật doanh nghiệp, nhằm đa dạng hóa sở hữu, tạođiều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa được làm chủ thực

sự, tạo điều kiện nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giảiquyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và ngườilao động

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong những năm gầnđây, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng quá trình này vẫn bị xem

là hết sức chậm chạp Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng vàNhà nước ta đ ã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu qủa hoạt động của khuvực kinh tế Nhà nước như cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, sắpxếp lại doanh nghiệp Nhà nước, giải thể các doanh nghiệp làm ăn không hiệuquả… Trong đó cổ phần hóa được coi là giải pháp hàng đầu có khả năng manglại lợi ích hài hòa cho Nhà nước cũng như nhiều bộ phận xã hội khác

Chính vì vậy việc nghiên cứu cổ phần hóa trong thời điểm hiện nay tuykhông phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết, đặc biệt là đối với sinh viên kinh

tế Thông qua việc tìm hiểu nội dung của chính sách cổ phần hóa và các vấn đề

Trang 6

có liên quan, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan về những khó khăn hạnchế của cổ phần hóa, điều đó có thể đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ nhữnghạn chế đó.

Trang 7

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA VỀ DNNN

Là quá trình chuyển 1 phần hoặc toàn bộ phần vốn của nhà nước cho cá nhân,

tổ chức, đồng thời chia nhỏ phần vốn của công ty thành nhiều phần bằng nhaunhằm thay đổi hình thức sở hữu của công ty từ một chủ sở hữu thành nhiều chủ

- Đặc điểm

Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản băngkhoản vốn mình đã góp Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần củamình cho người khác Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền pháthành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn

- Hình thức hoạt động

Công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu ,mỗi chủ sơ hữu chỉ chịu trách nhiệm caonhất bằng phần vốn góp của mình Bằng cách phát hành cổ phiếu, CTCP có thểthay đổi và tăng số chủ sở hữu trong quá trình hoạt động kinh doanh Trongcôngh ty cổ phấn quyền sở hữu và quyền kinh doanh được tách biệt khá rõ ràng,hơn nữa CTCP còn được giám sát thường xuyên và có hiệu quả bởi thị trườngchứng khoán và cơ chế hoạt động bên trong của nó

Trang 8

1.1.4.Các công việc phải làm để thực hiện cổ phần hóa DNNN

Xác định giá trị của doanh nghiệp:

Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanhnghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà người mua, người bán cổ phần đều chấpnhận được

Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là giá trị thực tế củadoanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả

Các yếu tố xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp:

Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóaGiá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp xác định trên cơ sở hiện trạng vềphẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thịtrường tại thời điểm cổ phần hóa

Ngoài ra, lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý, uy tín mặt hàngcũng được tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp Lợi thế này thể hiện ở tỷsuất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi cổphần hóa Giá trị lợi thế nói trên chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của doanhnghiệp

2 Phê duyệt phương án cổ phần hóa và quyết định chuyển doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần:

Sau khi tính trị giá thực tế của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiến hànhlập phương án cổ phần hoá và đệ trình phương án đó lên cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền Thẩm quyền phê duyệt được quy định như sau:

Đối với những doanh nghiệp có giá trị thuộc phần vốn Nhà nước trên 10 tỷđồng: Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng quản trị Tổngcông ty "91" xây dựng phương án cổ phần hóa trình Thủ tướng Chính phủ phêduyệt và quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

- Đối với những doanh nghiệp có giá trị thuộc phần vốn Nhà nước từ 10 tỷ đồng

Trang 9

trở xuống, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương

án, quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và chỉ đạothực hiện cổ phần hóa

3 Đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần:

Doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa sẽ hoạt động theo Luật doanh nghiệp

và đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính Trong thời hạn 7 ngày kể từ khinhận đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh cho công ty cổ phần

Hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm:

Quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần của cấp

có thẩm quyền ;

Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần đã được Đại hội cổ đôngthông qua

Biên bản bầu Hội đồng quản trị và cử Giám đốc điều hành;

Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phầnhóa (nếu có)

Sau khi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp, doanh nghiệp cổphần vẫn phải tiến hành các thủ tục sau giấy phép theo đúng các quy định củaLuật doanh nghiệp

1.2 Tính tất yếu của cổ phần hoá DNNN

Thực hiện CPH là một nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng trong quá trìnhđổi mới kinh tế ở Việt Nam, CPH sẽ giải quyết được các vấn đề sau:

 Thứ nhất: Thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sảnxuất và lực lượng sản xuất CPH góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hoá cáchình thức sở hữu Trước đây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công

Trang 10

hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệsản xuất này không phù hợp với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu.

Vì vậy CPH sẽ giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuấtphát triển

 Thứ hai: Thực hiện CPH nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất, thu hútthêm nguồn lực sản xuất Khi thực hiện CPH , người lao động sẽ gắn bó , cótrách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự của doanhnghiệp Ngoài ra, phương thức quản lý được thay đổi, doanh nghiệp sẽ trở nênnăng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất

 Thứ ba: Bên cạnh đó, CPH là một yếu tố thúc đẩy sự hình thành và pháttriển thị trường chứng khoán, đưa nền kinh tế hội nhập với kinh tế khu vực vàtrên thế giới

 Thứ tư: Thực hiện CPH là một trong những giải pháp quan trọng nhằmhuy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế Với việc huyđộng được các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuấtkinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao được khả năng cạnh tranh trênthị trường, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

 Thứ năm: Cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm

vĩ mô và vi mô Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những chỉ là sựthay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở cảphạm vi doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh tế quốc dân

 Thứ sáu: Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền kinh

tế trong quá trình đổi mới

Như vậy, đứng trước thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN,CPH với những ưu điểm và mục tiêu của mình đã chứng tỏ đó là một chủ trương

Trang 11

đúng đắn, phù hợp với quá trình đổi mới, phù hợp với giai đoạn quá độ đi lênCHXH ở nước ta.

1.2.1 Yêu cầu đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường

Nước ta đang trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội phát triển kinh tế theo

mô hình kinh tế thị trường đinh hướng kinh tế nhà nước làm chủ đạo,từ kinh tếnhà nước ,kinh tế tư nhân,doanh nghiêp lien doanh,doanh nghiệp 100% vốn đầu

tư nước ngoài…Và chúng ta đang trong quá trình hội nhập WTO nên việcđẩymạnh quá trình cổ phần hóa là một tất yếu của nền kinh tế

1.2.2 Yêu cầu mọi doanh nghiệp đều hoạt động theo một luật chung thốngnhất

Bên cạnh đó sự ra đời của các Công ty cổ phần là một bước tiến cuả lựclượng sản xuất Chúng đã biến những người sở hữu tư bản (với những đặc điểm

cổ điển của nó) thành những người sở hữu thuần tuý, một mặt chỉ đơn giải điềukhiển và quản lý tư bản của người khác, mặt khác là những nhà tư bản - tiền tệthuần tuý (cả tiền công lao động của người điều khiển cộng với lợi nhuận doanh

nghiệp về tay nhà tư bản, cổ phần thu về dưới dạng lợi tức) Quyền sở hữu tư

bản hoàn toàn tách rời với chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thựctế

Sự ra đới của các công ty cổ phần làm cho quy mô sản xuất được tăng lên,

mở rộng một cách to lớn, đến nỗi những nhà tư bản riêng lẻ không thể làm nổi.Xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở ngaytrong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thủtiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở ngay trong lòng phương thức tưbản chủ nghĩa Xuất hiện mâu thuẫn tự nó lại thủ tiêu nó

Các Công ty cổ phẩn là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng củaquá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản những

Trang 12

chức năng của người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội vàtrở thành những nhà máy hợp tác, đến một giai đoạn phát triển nhất định lực

lượng sản xuất sẽ làm cho "Một phương thức sản xuất mới nảy ra và phát triển

trên cơ sở một phương thức sản xuất cũ".

Công ty cổ phần là sản xuất tư nhân không có sự kiểm soát của quyền sởhữu tư nhân Những tư liệu sản xuất này sẽ không còn làm tư liệu và sản phẩmcủa nền sản xuất tư nhân nữa, mà sẽ chỉ có thể làm tư liệu sản xuất trong taynhững người sản xuất liên hiệp, tức là chỉ có thể làm sở hữu xã hội của họ, cũngnhư chúng là sản xuất xã hội của họ

Chính bản thân những nhà máy hợp tác của công nhân là một Lỗ thủng

đầu tiên trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự đối kháng giữa lao động và

tư bản đã được xoá bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dù ban đầu

nó chỉ được xoá bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành nhữngnhà tư bản với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ "có thể dùng tư liệu sảnxuất” để bóc lột lao động của chính họ

1.2.3 Các ưu điểm cơ bản của loại hình công ty cổ phần

Lợi thế về huy động vốn

Lợi thế về kiểm soát và sử dụng vốn

Công bằng cho mọi người

Thông tin minh bạch hóa của doanh nghiệp

Tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh công bằng

Thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Sự ra đời và phát triển của loại hình công ty cổ phần đánh dấu sự chuyểnhướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chungvốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính Các công ty cổ phần là nguồncung cấp sản phẩm cho sự cho sự phồn vinh của thị trường này Đổi lại, sự thịnh

Trang 13

vượng của thị trường tài chính tạo điểu kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảynở.

Trải qua thời gian, hình thái công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện,phát triển và đa dạng hoá Có thể nói công ty cổ phần là một phát minh quantrọng nhất trong lịch sử phát triển, các hình thái tổ chức doanh nghiệp kể từ cuộccách mạng trong công nghiệp của TBCN, chứ không đơn thuần chỉ là sản phẩmthụ động của sự phát triển nền kinh tế thị trường

1.3 Các kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Cổ phần hóa ở Trung Quốc

Giai đoạn 1984 -1991:

Cổ phần hóa ở Trung Quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự ra đờicủa Công ty Cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh) Sau đó, trongVăn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc Vụ viện TrungQuốc đã cho phép “Các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn vàvừa có điều kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần

hóa”.Đến cuối năm 1991 có hơn 3000 doanh nghiep được tiến hành cổ phần hóa

thành công

Giai đoạn thứ hai 1992 – nay:

Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thíđiểm cổ phần hóa

Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyểnthành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổphần hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổphần đạt 358 tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷNDT là giá trị cổ phần phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốnđầu tư trực tiếp của nước ngoài

Trang 14

Từ năm 1993 đến nay, kết quả đạt được trong giai đoạn thí điểm CPH chothấy, doanh nghiệp hoạt động theo các quy luật kinh tế cơ bản là cách đi đúngđắn và hợp quy luật, Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa DNNN một cách sâurộng bằng cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bảnpháp quy liên quan đến sự vận hành của DN Lần lựợt “Luật phá sản doanhnghiêp”, “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Điều

lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ

sở hữu toàn dân”, “Các nguyên tắc tài chính doanh nghiệp”, “Điều lệ tạm thời vềquản lý phát hành và giao dịch cổ phiếu, “Luật Lao động”, “Luật Công ty”,

“Điều lệ quản lý đăng ký công ty”, “Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”,

“Luật ngân hàng thương nghiệp”, “Luật xí nghiệp hương trấn”…, đã được banhành và đi vào cuộc sống của doanh nghiệp Trong đó, hai văn bản có tầm quantrọng đặc biệt là “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”

và “Luật Công ty “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàndân” được thông qua ngày 13/4/1998, đã quy định cụ thể về các quyền lợi củaDNNN như: Cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu cầu của thịtrường; có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có quyền từchối các nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự tiêuthụ sản phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng… Có thể thấy, “LuậtDoanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” đã đem lại cho cácdoanh nghiệp nhiều quyền tự chủ hơn trong sản xuất - kinh doanh, góp phần tháo

gỡ các ràng buộc về mặt hành chính, trả doanh nghiệp về đúng với vòng quaycủa thị trường Để cụ thể hoá “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sởhữu toàn dân”, ngày 23/7/1992, Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chuyển đổi cơchế kinh doanh của các DN công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” với nộidung không những tiếp tục nâng cao quyền tự chủ cho DN, mà còn phản ánh xuthế mới trong cải cách, đó là chuyển đổi cơ chế kinh doanh

Trang 15

Năm 1997, Hội nghị Trung ương 4 khóa XV của Đảng CS Trung Quốc đãđưa ra những luận điểm mới về cải cách thể chế kinh tế, đồng thời đề cập đếnmột số vấn đề như: Quyền tài sản doanh nghiệp, quản lý điều hành doanhnghiệp, cổ phần hoá… Đối với các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CPH, Chínhphủ Trung Quốc thực hiện một số biện pháp hữu hiệu như: Khuyến khích sápnhập tài sản, quy phạm hóa việc phá sản, thực hiện chuyển nợ thành cổ phần, trợgiúp các DN cải tạo kỹ thuật, mở rộng quy hoạch vốn, giải quyết vấn đề thấtnghiệp cho người lao động Đối với các DN đã CPH, Chính phủ đã tạo điều kiệncho hưởng một số ưu đãi như: Thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệtđược giảm thuế trong những năm đầu hoạt động Đối với những doanh nghiệpsau khi CPH mà đạt thành tích cao trong sản xuất-kinh doanh, thì sẽ được tạođiều kiện thuận lợi tham gia vào thị trường chứng khoán, được hưởng ưu đãi vềtài chính như dành 10% cổ phần doanh nghiệp để thưởng bằng cổ phiếu cho cáccán bộ lãnh đạo và CNVC của doanh nghiệp v.v…

Có thể nói, mục đích căn bản của việc thực hiện chế độ cổ phần ở TrungQuốc là thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà ở đó trước đây, Nhà nước luôn giữ vaitrò độc quyền, để hình thành nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trongnội bộ doanh nghiệp, tối ưu hóa kết cấu quản trị doanh nghiệp Đây là lợi ích cănbản và lâu dài nhất của việc cổ phần hóa các DNNN ở Trung Quốc Thành quảnổi bật nhất là đến Hội nghị TW 3 khóa XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm2004), chế độ cổ phần đã được thực hiện rộng rãi “là hình thức thực hiện chủ yếucủa chế độ công hữu”

1.3.1.2 Những đặc trưng cơ bản của cổ phần hóa và cải cách doanhnghiệp ở Trung Quốc

-Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp

-Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội

Trang 16

-Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanhnghiệp

-Minh bạch giữa các quyền sở hữu pháp nhân, quyền sở hữu cổ phần vàquyền kinh doanh

-Chế độ trách nhiệm hữu hạn, tức là trách nhiệm của cổ đông đối vớidoanh nghiệp là giới hạn theo mức vốn đầu tư

-Mang tính xã hội hóa, thị trường hóa, tiền tệ hóa và chứng khoán hóaquyền sở hữu

-Từ tiến trình cổ phần hóa ở trung quốc ta thấy viêt nam cần đẩy mạnh hơnnữa quá trình cổ phần hóa.Chỉ mới trong vòng hơn 20 năm mà quy mô vốn hóacủa thị trường trung quốc đã khá lớn và tốc độ cổ phần hóa cao.Có thể nói chúng

ta bây giờ có điều kiện khá giống so với trung quốc nên chúng ta có thể học một

số kinh nghiệm của họ

Trang 17

PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ

TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các DNNN Việt Nam

Các doanh nghiệp Nhà nước ở việt nam được thành lập một cách tràn lanvới quy mô nhỏ, hoạt động kém hiệu quả (do ban quản trị kém không có nănglực và nạn tham ô tham nhũng…)

Nhiều DNNN hiệu quả sản xuất kinh doanh kém, sức cạnh tranh còn thấp,không tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước

Trình độ công nghệ còn lạc hậu, dưới mức trung bình,doanh nghiep nhànước có trình độ công nghệ thấp,lạc hậu được nhạp từ nhưngc năm 70 thế kỉtrước năng suát thấp chất lượng không cao không đáp ứng được nhu cầu đổi mớinền kinh tế của đất nước

2.2 Thực trạng cổ phần hóa DNNN trong thời gian qua

2.2.1:Khái quát về cổ phần hóa DNNN

-Phân tích các yếu điểm cơ bản trong hoạt động của các DNNN trong suốtthời gian dài, chúng ta thấy rằng việc đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệpnày là một chủ trương hết sức sáng suốt và phù hợp Với phương thức cổ phầnhóa DNNN, Nhà nước sẽ vừa được nhẹ bớt gánh nặng quản lý vừa tạo động lực

để cho các doanh nghiệp hoạt động đạt được hiệu quả cao hơn

-Xuất phát từ quan điểm trên, từ ngày 29/6/1998, Nghị định

44/1998/NĐ-CP của Chính phủ đã có tác động tăng tốc cho giải pháp với 2 mục tiêu:

Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu DNNN;

-Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và nhữngngười đã góp vốn được làm chủ thực sự; thay đổi phương thức quản lý tạo độnglực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng cường phát triển đất

Trang 18

nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng nền kinh tếcủa đất nước.

-Từ thực tế hoạt động cổ phần hóa DNNN cho thấy, khi cổ phần hóa, vốnchủ sở hữu DNNN được chuyển đổi thành cổ phần và được bán cho nhiều đốitượng khác nhau như các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoàidoanh nghiệp, Nhà nước có thể giữ lại một tỷ lệ cổ phần hoặc không Như vậyhình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ Nhà nước duy nhất sang sở hữuhỗn hợp Từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức quản lýcũng như phương hướng hoạt động của công ty DNNN sau cổ phần hóa trởthành công ty cổ phần, sẽ tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

-Có thể khái quát về cổ phần hóa DNNN là một biện pháp chuyển đổi hìnhthức sở hữu trong DNNN, từ sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cổ đông(trong đó Nhà nước có thể tham gia với tư cách cổ đông hoặc không tham gia)

Đi đôi với việc chuyển đổi sở hữu là việc chuyển DNNN (sau cổ phần hóa) sanghoạt động theo loại hình công ty cổ phần, được điều chỉnh theo các quy địnhtrong Luật Doanh nghiệp

-Về hình thức, đó là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổphần (vốn) của mình trong doanh nghiệp cho các cá nhân tổ chức trong và ngoàidoanh nghiệp, hoặc trực tiếp tự doanh nghiệp theo cách bán giá thông thườnghay bằng phương thức đấu giá hoặc qua thị trường chứng khoán

-Về bản chất, đó là phương thức thực hiện xã hội hóa đồng vốn thuộc sởhữu Nhà nước, chuyển từ doanh nghiệp 1 chủ sở hữu sang đa sở hữu, tạo nên môhình doanh nghiệp hoạt động phù hợp kinh tế thị trường

-Việc chọn DNNN để cổ phần hóa là: bất cứ doanh nghiệp nào khôngthuộc diện Nhà nước phải đầu tư hoặc tiếp tục giữ 100% vốn, đều sẽ cho tiếnhành cổ phần hóa, trong số này không có tiêu chuẩn phân biệt doanh nghiệp nàomuốn thì cổ phần hóa, doanh nghiệp nào không muốn thì thôi (!)

Trang 19

-Tóm lại, qua xem xét thực trạng của DNNN cũng như hiểu rõ thực chất

về cổ phần hóa, cho thấy cổ phần hóa là một giải pháp quan trọng để tiến hànhsắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, góp phần giữ vữngvai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước hiện nay

2.2.1.1: Giai đoạn thí điểm từ 6/1992 đến 4/1996

-Ngày 8/6/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chínhphủ) đã ban hành Quyết định số 202/CT về thí điểm chuyển một số doanhnghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Sau đó, ngày 4/3/1993 Thủ tướngChính phủ ban hành tiếp Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểmCPH doanh nghiệp Nhà nước và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đốivới doanh nghiệp Nhà nước

-Quyết định số 202/CT đã chọn 7 doanh nghiệp Nhà nước làm thí điểm,đồng thời giao nhiệm vụ cho mỗi Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trựcthuộc TW chọn từ 1 đến 2 doanh nghiệp để tổ chức thí điểm chuyển thành công

ty cổ phần

Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 202/CT và Chỉ thị số 84/TTg(1992-1996) cả nước chỉ CPH được 5 doanh nghiệp bao gồm: 3 DN trung ương

và 2 DN địa phương Đó là các doanh nghiệp :

Công ty Đại lý Liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ GTVT - ngày thực hiện CPH : 1/7/1993.

Công ty Cơ điện lạnh thuộc UBND Tp Hồ Chí Minh - ngày thực hiện CPH : 1/10/1993.

Xí nghiệp Giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp - ngày thực hiện CPH: 1/10/1994

Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBND tỉnh Long An - ngày thực hiện CPH : 1/7/1995.

Trang 20

Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn - ngày thực hiện CPH : 1/7/1995.

2.2.1.2 Giai đoạn mở rộng thí điểm từ 5/1996 đến 5/1998

Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai thí điểm cổ phần hoá, ngày 7/5/1996Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số doanh nghiệp Nhànước thành công ty cổ phần Nghị định này đã xác định rõ mục tiêu, đối tượngthực hiện cổ phần hoá, quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp,chế độ ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệpchuyển thành công ty cổ phần… Nhờ đó tốc độ CPH đã tăng lên rõ rệt

Kể từ khi Nghị định 28/CP được ban hành đến hết tháng 5/1998 đã có 25doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty cổ phần Như vậy tính gộp từ năm

1992 đến tháng 5/1998 cả nước đã có 30 doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phầnhoá với số vốn điều lệ ban đầu là: 281 tỷ đồng ( bình quân 9,6 tỷ đồng/công ty)

và gần 6000 lao động Không chỉ tăng lên về số lượng, diện CPH cũng đã mởrộng hơn, đã có 3 Bộ và 9 Tỉnh, Thành phố có doanh nghiệp CPH Trong số cácdoanh nghiệp đã CPH , có 12 doanh nghiệp đã hoạt động từ một năm trở lên theoLuật công ty Những doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá gặp khó khăn, như xínghiệp Mộc Hà nội, xí nghiệp Đóng tàu thuyền Bình Định, xí nghiệp Giày HiệpAn…, mặc dù không được Nhà nước hỗ trợ vốn, nhưng đã cố gắng khắc phụckhó khăn và phát triển sản xuất-kinh doanh liên tục hàng năm

Để hỗ trợ cho công tác CPH , trong thời gian này, các cấp các ngành đãtriển khai việc củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào Ban chỉ đạo CPH ở địaphương và thành lập các ban chỉ đạo CPH Chính phủ, trung ương Đảng, Tổngliên đoàn lao động Việt Nam

2.2.1.3 Giai đoạn cho phép đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa từ 7/1998 đếnnay

Trang 21

Trong giai đoạn này, nhờ những chuyển biến thuận lợi về cơ sở pháp lý mànổi bật là sự ra đời của Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998 và việc thành lập Banđổi mới quản lý doanh nghiệp TW, con số các doanh nghiệp CPH đã tăng nhanh

so với các thời kỳ trước

Sau hơn 2 năm thực hiện CPH doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị định số44/CP, từ tháng 6/1998 đến hết tháng 8/2000 cả nước đã cổ phần hoá 430 doanhnghiệp đưa tổng số doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện cổ phần hoá lên 460doanh nghiệp

Trong số những doanh nghiệp đã CPH , những doanh nghiệp thuộc lĩnh vựcCông nghiệp và Xây dựng chiếm khoảng 44,2%; Dịch vụ thương mại chiếm39,2%; Giao thông vận tải chiếm 9,5%; Nông nghiệp chiếm 4,1% và thuỷ sảnchiếm 2% Hầu hết các doanh nghiệp đã CPH đều tương đối nhỏ, những công ty

có tổng số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng chiếm khoảng 12%, trong khi các doanhnghiệp có vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng chiếm đến hơn 50% Vốn trung bình của cácdoanh nghiệp đã CPH chỉ vào khoảng 3,1 tỷ đồng Đa số các doanh nghiệp thựchiện CPH theo hình thức thứ 2 nghĩa là bán một phần giá trị vốn của Nhà nướcnắm giữ trong doanh nghiệp

Tính tới thời điểm 31/12/1999, trong số các địa phương thực hiện CPH , HàNội là thành phố có số doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều nhất, gồm 70 doanhnghiệp trong tổng số 210 doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố thực hiện cổphần hoá, tiếp theo là TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định và Thanh Hoá.Các doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần đều hoạt động cóhiệu quả cao hơn về nhiều mặt, kể cả những doanh nghiệp mới CPH Một sốdoanh nghiệp trước CPH gặp nhiều khó khăn thì sau CPH các doanh nghiệp này

đã có những tiến bộ rõ rệt, bảo đảm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Ngày đăng: 18/04/2013, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w