... Bộ ba bất khả thi Trang 1.2 Tại lại có Bộ ba bất khả thi ? .Trang Phần 2: ĐO LƯỜNG CÁC YẾU TỐ TRONG “BỘ BA BẤT KHẢ THI Nhóm - Lớp NH Đêm –K19 Trang Lý thuyết Bộ ba bất khả thi ... biến bộ bất khả thi nên đánh đổi với lượng giảm tương ứng hai biến lại Phần TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT “ BỘ BA BẤT KHẢ THI Lý thuyết Bộ ba bất khả thi Lý thuyết ba bất khả thi - The Impossible... 36 Lý thuyết Bộ ba bất khả thi TS.Phan Minh Ngọc, (2007), Bộ ba bất khả thi bộ ba khả thi ?, Tạp chí Người đại biểu nhân dân, tháng 6/2007 Huỳnh Thế Du, (2007), Thị trường tiền tệ bộ ba bất
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -Tiểu luận: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
GVHD: PGS TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 3
Trang 28 Lê Thị Thùy Trâm
9 Phan Như Hiếu
10 Trương Thị Thanh Mai
11 Đoàn Minh Nhựt
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Tp Hồ Chí Minh
11/2010
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU: Trang 1
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT“BỘ BA BẤT KHẢ THI” Trang 2
1.1 Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” Trang 2 1.2 Tại sao lại có “Bộ ba bất khả thi”? Trang 3
Phần 2: ĐO LƯỜNG CÁC YẾU TỐ TRONG “BỘ BA BẤT KHẢ THI”
Trang 5
Trang 42.1 Xây dựng các công cụ đo lường bộ ba bất khả thi Trang 52.1.1 Chính sách tiền tệ độc lập Trang 52.1.2 Tỷ giá hối đoái cố định: Trang 52.1.3 Dòng vốn di chuyển tự do – Chỉ số KAOPEN: Trang 62.2 Mối liên hệ tuyến tính của các chỉ số \ Trang 6
Phần 3: THEO DÕI CÁC CHỈ SỐ: Trang 14
3.1 Các biến trên các nhóm quốc gia: Trang 143.2 Các mẫu trong một bảng cân đối: Trang 183.3 Xác định sự phá vỡ cấu trúc: Trang 22
Phần 4: THỰC TẾ VIỆC VẬN DỤNG “BỘ BA BẤT KHẢ THI VÀO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VN TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010: Trang 26
4.1 Chính sách tiền tệ của Việt nam từ năm 2007 đến năm 2010: Trang 264.1.1 Chính sách tiền tệ của Việt nam năm 2007 - 2009 Trang 264.1.2 Chính sách tiền tệ của Việt nam năm 2009-08/2010 Trang 284.2 Mô hình đánh giá Diamond giai đoạn 2005 – tháng 08/2010: Trang 294.3 Bài học kinh nghiệm: Trang 30
PHẦN KẾT LUẬN: Trang 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 34
Trang 5ra đời của đồng euro vào cuối những năm 1990 Ngược lại, ở nhóm các nước đangphát triển thì ưu tiên chính của họ là theo đuổi sự ổn định tỷ giá từ sau những năm
1990, mặc dù nhiều nước hướng đến sự linh hoạt hơn của tỷ giá hối đoái từ đầu nhữngnăm 1970 trở đi Từ năm 2000, các chỉ số của các biến trong “bộ 3 bất khả thi” có xuhướng đạt mức trung bình đặc trưng cho sự thả nổi có quản lý, sử dụng nguồn dự trữquốc tế khá lớn như sự hỗ trợ, do đó giữ lại một mức độ tự chủ trong tiền tệ Sử dụngcác chỉ số này, chúng tôi cũng kiểm tra mối quan hệ tuyến tính của ba khía cạnh của
“bộ 3 bất khả thi”: tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá, và độ mở tài chính Chúng tôi tinrằng tổng hợp chỉ số của ba biến số mục tiêu chính sách trong “bộ 3 bất khả thi” là mộthằng số, chứng thực quan điểm cho rằng sự gia tăng trong một biến “bộ 3 bất khả thi”nên được đánh đổi với một lượng giảm tương ứng của hai biến còn lại
vĩ mô:
Ổn định tỷ giá
Tự do hóa dòng vốn
Trang 6 Chính sách tiền tệ độc lập
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong
3 Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)" trích lời đề tặng Robert Mundell -
Paul Krugman, 1999
Đây là mô hình lý thuyết rất phổ biến, gọi là mô hình Mundell- Fleming được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960 Và vào những năm 1980 khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết
bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở
Một kiểu khác của lý thuyết bộ ba bất khả thi rất được chú ý - với một chính sách ổn định tỷ giá hoàn hảo, với một tài khoản vốn mở (không bị kiểm soát) hoàn hảo, nhưng một quốc gia vẫn hoàn toàn không thể tự chủ chính sách tiền tệ Những ví
dụ lặp lại trên thế giới cho thấy ở những nơi và thời điểm mà tài khoản vốn bắt đầu được tự do , thì cùng lúc xuất hiện một chính sách tỷ giá cứng nhắc hơn và sự tự chủ
về chính sách tiền tệ cũng giảm đi
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại, kiểm soát vốn rất dễ bị lãng quên Do vậy rất khó để một quốc gia có được một hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả Lý thuyết bộ ba bất khả thi khẳng định rằng: trong điềukiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việc giảm thiểu sự thay đổi tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổn định Nó không thể có đồng thời cả hai
1.2 Tại sao lại có "bộ ba bất khả thi"?
Trang 7Trong nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài, ba yếu tố gồm: (1) dòng vốnchảy vào và chảy ra; (2) tỷ giá hối đoái; và (3) chính sách tiền tệ luôn có liên hệ mậtthiết với nhau.
Khi dòng vốn ra vào (tài khoản vốn) được tự do, nếu muốn giữ tỷ giá hối đoái
ổn định thì ngân hàng trung ương buộc phải tung đồng nội tệ mua đồng ngoại tệ trongtrường hợp dòng tiền đi vào quá nhiều; ngược lại, một lượng ngoại tệ dự trữ sẽ phảibán bớt ra để thu về đồng nội tệ khi dòng vốn đảo chiều
Trong bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách khácđiều hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát sẽ không thể đảm bảo vì cung tiềnkhông phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà do tỷ giá hay dòng tiền vào
ra quyết định
Ngược lại, nếu ngân hàng trung ương muốn có một chính sách tiền tệ độc lập vìmục tiêu lạm phát thì buộc phải từ bỏ mục tiêu cố định tỷ giá khi tài khoản vốn đãđược tự do
Như vậy, không thể có chính sách tiền tệ độc lập trong điều kiện cố định haycoi như cố định tỷ giá hối đoái và tài khoản vốn được tự do Hay nói cách khác, khôngthể giữ được ba góc của một chiếc khăn khỏi bung lên trong một chiều lộng gió chỉbằng hai hòn đá
Trang 9Phần 2
ĐO LƯỜNG CÁC YẾU TỐ TRONG “BỘ BA BẤT KHẢ THI”
2.1 Công thức đo lường bộ ba bất khả thi.
2.1.1 Sự độc lập trong chính sách tiền tệ (MI)
Mức độ độc lập tiền tệ được đo lường trong mối tương quan đảo nghịch giữa lãisuất hàng tháng của quốc gia đang xem xét và quốc gia cơ bản (nước tham chiếu) Sửdụng tỷ giá thị trường tiền tệ
Chỉ số để xác định sự độc lập của tiền tệ là:
Với i là nước sở tại và j là nước cơ bản (định danh) Với công thức này, giá trịtối đa và tối thiểu mong đợi là 1 và 0 Chỉ số này càng cao, tức là chính sách tiền tệcàng độc lập;
Ở đây, những quốc gia cơ bản là những nước có chính sách tiền tệ có liên quanmật thiết với nước sở tại, theo định nghĩa ở Shambaugh (2004) Những quốc gia cơ sởnhư Úc, Bỉ, Pháp, Đức, Ấn Độ, Malaysia, Nam Phi, Mỹ, Anh Shambaugh sử dụngnhững dữ liệu sẵn có của các nước cơ bản hoặc lấy từ báo cáo thường niên của IMF về
thoả thuận và hạn chế trong tỷ giá (Annual Report on Exchange Arrangements and
Exchange Restrictions (AREAER)) và CIA Factbook
2.1.2 Sự ổn định tỷ giá - ERS
Để đo lường tính ổn định trong tỷ giá, độ lệch chuẩn hàng năm của tỷ giá hốiđoái mỗi tháng giữa nước sở tại và nước cơ bản được tính toán và tiêu chuẩn hoá từgiái trị 0 đến 1 theo công thức:
ERS =
|d log Et/ dt | là giá trị thực của tỷ lệ giảm giá hàng năm tính bằng tỷ giá hối
đoái tại tháng 12 mỗi năm Chỉ số này càng cao thể hiện sự thay đổi ổn định trong tỷgiá so với đồng tiền của nước cơ sở
Trang 102.1.3 Mở cửa/hội nhập tài chính (KAOPEN)
Không còn nghi ngờ gì nữa, thật khó khăn để đo lường mức độ kiểm soát tàikhoản vốn Mặc dù đã tồn tại nhiều thước đo để mô tả mức độ và cường độ kiểm soáttài khoản vốn, nhưng quan điểm chung là các thước đo này không thể hiện hết sự phứctạp của việc kiểm soát tài chính trong thực tế Tuy nhiên, đối với thước đo mức độ mởcửa/hội nhập tài chính, chúng tôi sử dụng chỉ số tự do/ mở cửa tài khoản tài chính, hay
KAOPEN, xây dựng bở Chinn và Ito (2006, 2008) KAOPEN dựa trên các thông tin
đánh giá về các hạn chế trong báo cáo thường niên của IMF về thoả thuận và hạn chếtrong tỷ giá (AREAER) Đặc biệt, KAOPEN là thành phần đầu tiên được tiêu chuẩnhoá của các biến cho thấy sự hiện diện của nhiều tỷ giá hối đoái, những hạn chế tronggiao dịch trên các tài khoản vãng lai, giao dịch trong các tài khoản vốn và đòi hỏi giảmbớt các thủ tục xuất khẩu Vì KAOPEN dựa trên những hạn chế được báo cáo, nó là
chỉ số (lý thuyết) de jure của việc mở cửa tài khoản vốn trái ngược các thước đo thực
tế (de facto) của Lane và Milesi – Ferrtti (2006) Lựa chọn một chỉ số de jure đo lườngviệc mở cửa tài khoản vốn được thúc đẩy bởi động cơ xác định các định hướng chính
sách của các nước; các thước đo de facto kết hợp những biến động trong kinh tế vĩ mô
và các quyết định chính sách liên quan đến sự kiểm soát tài chính
Chỉ số Chinn – Ito được tiêu chuẩn hoá giữa 0 và 1 Chỉ số này cao nghĩa làquốc gia này càng mở cửa cho các giao dịch vốn quốc tế Chỉ số này có sẵn cho 171quốc gia trong thời kỳ 1970 -2006, chúng tôi đã loại trừ trường hợp của Mỹ trongnhững phân tích thống kê Phụ lục này trình bày sẵn các dữ liệu chi tiết hơn
2.2 Mối liên hệ tuyến tính của các chỉ số:
Những phân tích trước đó là khá hữu ích cho việc theo dõi sự phát triển củađịnh hướng chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế, nhưng chúng đã không chứng minh được
là liệu 3 mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô có ràng buộc như theo lý lẽ của bộ ba bấtkhả thi không Điều đó quan trọng với chúng tôi để cung cấp bằng chứng rằng cácnước đã phải đối mặt với sự đánh đổi của các yếu tố của bộ ba bất khả thi Một tháchthức phải đối mặt với một sự kiểm nghiệm toàn diện sự đánh đổi của bộ ba bất khả thi
là việc khuôn khổ của bộ ba không áp đặt bất kỳ hình thức chức năng rõ ràng của bảnchất sự đánh đổi giữa ba biến của bộ ba bất khả thi Để mô tả cho vấn đề này, chúng ta
Trang 11phải lưu ý rằng do sự khan hiếm các nguồn lực của các yếu tố của bộ ba bất khả thihàm ý rằng việc tăng lên của một biến trong bộ ba, như: sự tự do hóa tài chính caohơn thì làm giảm tính ổn định của tỷ giá hoặc làm giảm tính độc lập tiền tệ hoặc sựđiều chỉnh kết hợp của hai 2 chính sách đó1 Sau đó, chúng tôi kiểm tra giá trị cơ bảnnhất của bộ ba bất khả thi là – Sự đánh đổi tuyến tính Cụ thể là, chúng tôi kiểm traxem tổng giá trị các chỉ số của ba biến trong bộ ba bất khả thi có phải là một hằng sôhay không Điều này làm giảm việc kiểm tra tính chính xác của công thức hồi quytuyến tính này.
1= a j M I i,t +b j ERS i,t +c j KAOPEN i,t +ε, với J có thể là cả IDC, ERM, hoặc
LDC.(1)
Bởi vì chúng ta đã nêu những khác nhau giữa các nhóm quốc gia đã trải quanhững con đường phát triển khác nhau, chúng tôi cho phép các hệ số các biến ở cácnhóm quốc gia khác nhau có giá trị khác nhau - đối với các nước công nghiệp, cácnước nằm trong Thị trường tiền tệ chung Châu âu (ERM), và các nước đang phát triển
- bằng cách cho phép tương tác giữa các biến giải thích và các biến giả của những mẫunhỏ này 2 Phép hồi quy được chạy trên toàn khoảng thời gian nghiên cứu, cũng như
trong khoảng thời gian nhỏ hơn được xác định trong các tiểu mục trước Kết quả được
trình bày ở bảng 2.
1 Xem Obstfeld, Shambaugh, and Taylor (2005) cho những thảo luận sâu hơn về vấn đề bộ 3 bất khả thi
2 Theo đó, những chi phí điều chỉnh cân bằng kinh tế vĩ mô dự trữ tối ưu đã xảy ra trong trường hợp không có dự trữ với chi phí cơ hội của việc tích lũy dự trữ ấy (Frenkel và Jovanovic, 1981).
Trang 12Lý do cho thử nghiệm này là các nhà hoạch định chính sách của một nền kinh tếphải chọn một trung bình trọng số của ba chính sách để đạt được sự kết hợp tốt nhấtcủa hai trong 3 mục tiêu chính sách đó Do đó, nếu chúng ta có thể tìm thấy sự phùhợp của mô hình hồi quy trên là cao, nó sẽ thể hiện một mô hình tuyến tính đủ tốt đểgiải thích sự đánh đổi giữa ba chiều chính sách Nói cách khác, sự phù hợp thấp hơn,khả năng sự tồn tại của việc đánh đổi càng thấp hơn, chứng minh rằng lý thuyết Bộ babất khả thi là sai, hoặc mối quan hệ này là phi tuyến tính.
Thứ hai, các hệ số được ước tính trong mô hình hồi quy trên sẽ cho chúng tamột số đánh giá gần đúng về trọng số của các quốc gia dựa trên ba mục tiêu chínhsách Tuy nhiên, các hệ số được ước lượng ở trên, một mình nó sẽ không cung cấp đủ
Trang 13thông tin về "bao nhiêu” các lựa chọn chính sách mà các quốc gia có thực sự thựchiện Do đó, nhìn vào những dự đoán bằng cách sử dụng các hệ số được ước tính vàgiá trị thực sự cho các biến (như là aˆMI , bˆERS , và cˆKAOPEN) sẽ có nhiều thôngtin hơn
Thứ ba, bằng cách so sánh các giá trị được dự đoán dựa trên mô hình hồi quy
trên, tức là, aˆMI + bˆERS + cˆKAOPEN, trong một khoảng thời gian, chúng ta có thể
nhận được một số kết luận về cách mà các chỉ số bộ ba này “ràng buộc” với nhau Nếu
bộ ba này được tìm thấy là có sự ràng buộc tuyến tính, các giá trị của các chỉ số được
dự đoán sẽ di chuyển xung quanh giá trị 1, và các sai số dự báo sẽ chỉ ra rằng có baonhiêu trường hợp các lựa chọn trong ba lựa chọn chính sách đã không được "sử dụnghoàn toàn" hay bộ ba bất khả thi "không có ràng buộc nhau" đến mức độ nào
Bảng 2 trình bày kết quả hồi quy Các kết quả từ các hồi quy với đầy đủ các dữ
liệu mẫu được báo cáo trong cột đầu tiên, và những kết quả khác của các giai đoạnmẫu nhỏ khác trong những cột sau đó Trước hết, chỉ số R-bình phương điều chỉnh cho
mô hình mẫu đầy đủ cũng như cho các giai đoạn mẫu nhỏ khác được tìm ra là trên94%, điều này cho biết rằng các mục tiêu chính sách là có mối quan hệ tuyến tính vớinhau, có nghĩa là: các quốc gia có đối mặt với sự đánh đổi giữa sự lựa chọn ba chínhsách Qua các giai đoạn khác nhau, các hệ số ước tính thay đổi, cho thấy rằng do cácmục tiêu của chính phủ thay đổi, và cả do sự thay đổi bản chất tự nhiên của các nềnkinh tế
Trong bảng 7 mô tả sự phù hợp ở góc độ khác Trong các bảng trên cùng, các
đường đậm nét cho thấy trung bình của các giá trị dự đoán (ví dụ như, aˆMI + bˆERS +cˆKAOPEN) dựa trên mô hình mẫu đầy đủ trong cột đầu tiên của bảng 2 của nhóm cácnước công nghiệp (bên trái) và nhóm các nước đang phát triển (bên phải) Khi kết hợpvới các biến thời gian của các dự đoán, trung vị của các giá trị dự đoán trong các mẫunhỏ với độ tin cậy 95% (được thể hiện ở vùng bóng mờ) được tính bằng cách sử dụngkhoảng quan sát có thời gian năm năm Các bảng còn cho thấy việc sử dụng các hệ số
và giá trị thực của hai trong ba chỉ số - như aˆMI + bˆERS (đường màu nâu), aˆMI +cˆKAOPEN (đường xanh dương), bˆERS + cˆKAOPEN (dđường màu cam)
Từ các đồ thị này, chúng ta có thể thấy đầu tiên là các giá trị được dự đoán dựatrên mô hình, xoay quanh giá trị 1 gần với cả hai mẫu con Đối với nhóm các nướccông nghiệp, giá trị trung bình của các dự đoán được thống kê dưới giá trị 1 trong
Trang 14những năm cuối thập niên 1970, những năm đầu và cuối thập niên 1980 Tuy nhiên,
kể từ đầu thập niên 1990, người ta không thể phủ nhận giả thuyết H0 nghĩa là trungbình của các giá trị dự đoán là 1, từ đó chỉ ra rằng các chỉ số bộ ba bất khả thi có “mốiràng buộc” với nhau đối với nhóm các nước công nghiệp Đối với các nước đang pháttriển, mô hình ở dưới mức dự đoán từ hết thập niên 1970 đến suốt đầu thập thập niên
1990 Tuy nhiên không giống với các nước công nghiệp là mức trung bình của các chỉ
số dự đoán được thống kê nhỏ hơn giá trị 1 kể từ năm 2000 Tại mức tối thiểu, trungbình của các giá trị dự đoán sẽ không bao giờ đạt được tới giá trị lớn hơn 1 theo khíacạnh thống kê, ngụ ý rằng, mặc dù trong một vài năm khi bộ ba bất khả thi không cómối ràng buộc với nhau, bộ ba chính sách kinh tế vĩ mô vẫn có mối liên kết tuyết tínhvới nhau
Trong các bảng đầu cũng chỉ ra rằng, trong nhóm các nước công nghiệp, chínhsách kết hợp giữa ổn định tỷ giá và mở cửa tài chính có xu hướng tăng lên kể từ sauthập niên 1990, trong khi sự kết hợp giữa chính sách tiền tệ độc lập và ổn định tỷ giá
từ có xu hướng giảm xuống qua các năm Trong nhóm các nước đang phát triển, chínhsách kết hợp giữa ổn định tỷ giá và mở cửa tài chính ít biến động hơn qua các năm,hầu như phản ánh những ảnh hưởng cay đắng của các cuộc khủng hoảng tiền tệ Chínhsách kết hợp giữa chính sách độc lập tiền tệ và mở cửa tài chính hoặc giữa độc lập tiền
tệ và ổn định tỷ giá chiếm ưu thế hơn, nhưng chủ yếu bởi vì ưa thích ưu thế hơn trongviệc chọn chính sách độc lập tỷ giá qua các thời kỳ
Ở các hình bên dưới, chúng ta có thể quan sát phần ảnh hưởng của các định
hướng chính sách riêng lẽ cho (ví dụ như aMI , bˆERS , and cˆKAOPEN) đối với nhóm
các nước công nghiệp và nhóm các nước đang phát triển Ở hình này thể hiện một bứctranh thống nhất với hình 5 và hình 6 Trong khi các nước kém phát triển duy trình ởmức cao, mặc dù có sự linh hoạt mức độ linh độc lập trong chính sách tiền tệ cũng nhưduy trì một mức thấp nhưng giữ nguyên với mức độ ổn định của tỷ giá, các nước nàydần dần đã tăng mức độ mở rộng tài khoản vốn bắt đầu từ thập niên 1990 Tuy nhiên,
nỗ lực để đạt được ba mục tiêu chính sách cùng một lức chỉ đạt được khi các nước đãtích lũy ở mức độ cao dự trữ ngoại hối, nó cho phép họ có thể can thiệp vào thị trườngngoại hối, phù hợp với thực tế là các nước đang phát triển tăng dự trữ ngoại hối saucuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997 – 1998 Tuy nhiên, với khái niệm về dự đoán bộ
ba bất khả thi, với điều kiện môi trường này làm gia tăng trong chi phí của các cuộc
Trang 15can thiệp nhất là khi mà khối lượng thực tế của các giao dịch quốc tế các tài sản tàichính gia tăng và khi không có sự thay đổi trong ba chính sách Điều này dường nhưgiải thích cho sự sụt giảm trong mức độ độc lập tiền tệ từ sau năm 2000 của các nhómcác quốc gia (the emerging market country (EMG) group and the non-emergingmarket developing country group (Non-EMG LDC) ).
Thực nghiệm các nước công nghiệp cho thấy sự tương phản rõ rệt Cho dùchính sách tiền tệ độc lập là ưu tiền hàng đầu của các nước công nghiệp phát triển chođến thập niên 1990, điều đó tạo ra sự hội nhập tài chính vào những năm đầu thập niện
1990 khi nhiều nước công nghiệp tự do hóa những thị trường tài chính Nổ lực của tự
do hóa tài chính ứng với mức độ sụt giảm của chính sách tiền tệ độc lập, sự sụt giảmnày được tiếp tục và trở thành chính sách được ưu tiên thập nhất trong thập niên 2000.Những thay đổi như thế trong tỷ trọng tương đối của ba yếu tố không đòi hỏi các nướcnày tích trữ dự trữ ngoại hối như là trường hợp các nước đang phát triển
Chúng tôi cũng nhắc lại thử nghiệm dùng các mô hình hồi quy cho mỗi thời kỳnhỏ (ngoại trừ các năm có hiện tượng phá vỡ cấu trúc) Kết quả cũng giống như ở hình
7 Ngoài ra, bằng cách sử dụng các dự đoán áp dụng trên mô hình của từng giai đoạnnhỏ Chúng tôi thử nghiệm và tìm hiểu xem rằng nếu có bất kỳ điểm gẩy cấu trúc trongcác giá trị dự báo theo cùng một cách như trong tiểu mục trước hay không Thật thú vị,chúng tôi tìm ra rằng đối với cả hai nhóm các nước công nghiệp và nhóm các nướcđang phát triển, vào những năm thập niên 1990 được tìm thấy là có sự phá vỡ cấu trúc
rõ ràng nhất Cũng như kết quả của các thử nghiệm có liên quan, vào những năm 1990,hoặc là năm bắt đầu những làn song toàn cầu hóa, như là một sự kiện quan trọng nhất
có ảnh hưởng đến kiến trúc tài chính quốc tế
Trang 18Phần 3
THEO DÕI CÁC CHỈ SỐ
3.1 Sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia:
So sánh những chỉ số này cung cấp cái nhìn sâu sắc thú vị là kiến trúc tài chínhquốc tế đã phát triển theo thời gian như thế nào Với mục đích này, “biểu đồ kim
cương” là hữu dụng nhất Hình 3 tóm tắt xu hướng của những nước công nghiệp hóa,
bao gồm 12 nước sử dụng đồng EURO, những nước có thị trường mới nổi và nhữngnước thị trường không có thị trường mới nổi Nó cho thấy những nước công nghiệpchuyển đổi theo xu hướng tự do hóa tài chính nhiều hơn qua các năm Chúng ta cũng
có thể thấy rằng những nước công nghiệp hóa cũng ổn định tỉ giá hối đoái, nhưng kếtquả này được thúc đẩy chủ yếu bởi những nước chấp nhận đồng EURO Một khinhững nước sử dụng đồng EURO được loại ra, những nước công nghiệp hóa còn lạikhông thấy dấu hiệu đánh mất sự độc lập tiền tệ Sơ đồ cũng làm nổi bật vấn đề lànhững nước đang phát triển chuyển đổi theo xu hướng tỉ giá hối đoái linh hoạt hơn vàhội nhập tài chính sâu hơn Cả hai xu hướng này thể hiện rõ ràng đối với nhóm nhữngnước thị trường mới nổi hơn là những nước đang phát triển không có thị trường mớinổi Thêm vào đó, nhóm những nước có thị trường mới nổi thực hiện rõ ràng việc giatăng mức dự trữ ngoại hối Trong khi thị trường các nước đang phát triển không có thịtrường mới nổi thì cũng thực hiện sự gia tăng trong dự trữ ngoại hối, sự thay đổi trong
dự trự ngoại hối của họ đã được điều chỉnh nhiều hơn nữa Ngược lại ở các nước côngnghiệp phát triển họ đã giảm tỷ lệ dự trữ này
Trang 19Hình 4 có sự so sánh giữa các nước đang phát triển thuộc các nhóm vùng địa lý
khác nhau Các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Mỹ La Tinh (LATAM) đã có
sự thay đôi theo hướng tỷ giá linh hoạt, nhưng các nước LATAM đã gia tăng nhanhchóng độ mở của thị trường còn các nước Châu Á thì không Các nền kinh tế thịtrường mới nổi ở Châu Á đã chuyển hướng như các nước Châu Mỹ La Tinh, nhưngmột sự khác biệt nghiêm trọng giữa hai nhóm này là việc dự trữ trước đây hơn nhiều
so với sau này Các nước ở vùng hạ Sahara cũng có xu hướng chuyển sang chế độ tỷgiá thả nổi và tự do hóa tài chính so với nhựng năm 1980, Nhưng mức độ thay đổi ítđược chú ý hơn