... KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN KHOA VĂN HÓA HỌC TIỂU LUẬN CAMBRIDGE COMPANION TO MODERN JAPANESE CULTURE – CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE AND THE JAPANESE MÔN HỌC: ĐỊA VĂN HÓA VÀ CÁC VÙNG VĂN... Nội Dung .3 I .4 Bài dịch I CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE AND THE JAPANESE Giới thiệu ‘Nhật Bản’ Phân lớp Nhật... 26 ‘người Nhật Bản’ .26 Kết 27 I Bài dịch I CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE AND THE JAPANESE Chương 1: Các khái niệm Nhật Bản, văn hóa Nhật Bản người Nhật Giới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
TIỂU LUẬN
CAMBRIDGE COMPANION TO MODERN JAPANESE CULTURE – CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE
AND THE JAPANESE
MÔN HỌC: ĐỊA VĂN HÓA VÀ CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
TIỂU LUẬN
CAMBRIDGE COMPANION TO MODERN JAPANESE CULTURE – CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE
AND THE JAPANESE
MÔN HỌC: ĐỊA VĂN HÓA VÀ CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 3Nội Dung
Nội Dung 3
I 4
Bài dịch 4
I CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE AND THE JAPANESE 4
Giới thiệu 4
‘Nhật Bản’ 5
Phân lớp Nhật Bản 5
Những gì không thuộc về Nhật Bản 8
“Văn hóa Nhật Bản” 10
Bản chất 10
Giải bản địa hóa/tái bản địa hóa 12
‘Người Nhật’ 15
Người Triều Tiên và người Trung Quốc ở Nhật Bản 15
Kết 21
II 24
Nhận xét bài viết của Harumi Befu 24
2.1 Những vấn đề chung 24
II 26
Về các khái niệm ‘Nhật Bản’, ‘văn hóa Nhật Bản’, ‘người Nhật Bản’ 26
‘Nhật Bản’ 26
‘văn hóa Nhật Bản’ 26
‘người Nhật Bản’ 27
Kết 27
Trang 4I Bài dịch
I CONCEPTS OF JAPAN, JAPANESE CULTURE AND THE
Xã hội học và nhân loại học nửa đầu thế kỷ XX đã có giả định mơ hồ rằng xãhội, văn hóa, con người, tổ chức nhà nước và lãnh thổ có cùng chung biên giới tớimức họ cho rằng những ranh giới đó hoàn toàn trùng khớp
Giả thuyết này được tạo ra và tái công nhận bởi các lý thuyết đã tồn tại vàđược công nhận trong khoa học xã hội một thời gian dài, đó là lý thuyết cấu trúc-chức năng luận Lý thuyết này cho rằng mỗi xã hội sở hữu một nền văn hóa riêng và
xã hội cũng như văn hóa đó được bao quát luôn bởi ranh giới chính trị của quốc gia.Thời gian đầu của thời kỳ hậu chiến, Nhật Bản được mô tả và phân tích trên cơ sởmột lý thuyết cố định như thế đó
Tuy nhiên những mô hình hoàn toàn mới đã phát triển từ những năm 1960 đãnhấn mạnh đặc điểm luôn biến đổi và toàn cầu hóa trật tự thế giới nửa sau thế kỷ
XX Trong chương 1 này, chúng ta sẽ khám phá và tìm hiểu Nhật Bản với nhận thứcrằng sự đồng hình vùng đất=con người=văn hóa=xã hội=tổ chức chính trị là mộtđiều không hợp lý
Trang 5‘Nhật Bản’
‘Nhật Bản’ không thể tách rời khỏi văn hóa Nhật Bản, vì Nhật Bản không chỉ
là một thực thể vật lý Nhật Bản là một chuỗi quần đảo có ý nghĩa chỉ khi được diễndịch về mặt văn hóa Những tư tưởng hiện thời cho rằng Nhật Bản bao gồm bốnphần đảo lớn Honshu, Kyushu, Shikoku và Hokkaido, bao gồm cả các đảo Ryukyu(Okinawa) và một số đảo nhỏ xung quanh bốn đảo lớn Khi nào Nhật Bản còn tồntại như một thực thể như vậy thì nhận thức về nó vẫn còn có thể được soạn thảo vàdiễn dịch kỹ lưỡng Hơn nữa, văn hóa là cấu trúc có tính lịch sử cho nên ý nghĩa củaNhật Bản cũng thay đổi theo thời gian
Phân lớp Nhật Bản
Sự diễn dịch văn hóa về Nhật Bản nhấn mạnh hoàn toàn vào bản chất phântầng tự nhiên về mặt xã hội và chính trị của quốc gia này Ví dụ, các chuyện kể củaNhật Bản đã gợi lên cho người ta thấy một đất nước có bốn mùa: mùa xuân với hoaanh đào, mùa hè với cái nóng oi ả, mùa thu với những sắc màu phủ khắp các tán látuyệt đẹp và một mùa đông lạnh ngắt Nhưng những đặc trưng hé mở đó dường nhưchỉ hiển hiện rõ tại vùng trung tâm Nhật Bản – một khu vực từ Kansai (Kyoto-Osaka) tới Kanto (Tokyo) – nơi tập trung nhiều nguồn sáng tạo cho các câu chuyện.Những hình ảnh đó được sáng tạo bởi những người trí thức vùng trung tâm NhậtBản, và đây cũng là điểm mấu chốt khiến cho những câu chuyện này nghe có vẻthật
Ở những vùng vành đai ngoài Nhật Bản, phải nói rằng sự thay đổi về mùadiễn ra chỉ một phần nào Nổi tiếng trong văn chương qua nhiều thời đại, hoa anhđào thường được thưởng lãm vào cuối tháng ba tới giữa tháng tư Các học sinh ởNaha, Okinawa, nơi hoa anh đào nở vào tháng giêng, chẳng hề có kỷ niệm vào vềnhững trải nghiệm được mô tả trong sách: ngắm hoa anh đào vào tháng ba – tháng
tư Và các em nhỏ ở Hokkaido, nơi hoa anh đào nở vào tháng năm cũng vậy Ở
Hokkaido không hề có mùa hè nóng, ẩm và ngột ngạt, cũng như hiện tượng tsuyu
(mùa mưa phùn từ tháng sáu tới tháng bảy), do vậy có thể nói là đặc trưng mùa
Trang 6màng trong văn hóa Nhật Bản tập trung ở Kanto cho tới phía nam, giảm dần ởTohoku – phần lớn phía bắc đảo Honshu – và hâu như không có ý nghĩa ở
Hokkaido, nơi hiện tượng tsuyu không hề xuất hiện Tương tự, những sắc màu mùa thu được ca ngợi trong thơ haiku và waka không có hoặc rất ít thấy ở Okinawa Cái
lạnh buốt giá ở vủng trung tâm hoàn toàn xa lạ với người Okinawa Hokkaido vàOkinawa – những vùng sáp nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ XIX – hầu như không thểđại diện cho đặc trưng mùa màng trong những minh chứng cho văn hóa vùng trungtâm Nhật Bản Những vùng này mãi mãi được xem là vùng ngoại vi, không chỉ lànhững điểm cuối của phía bắc và phía nam của đảo quốc này mà còn cả trong tínhchất mùa màng của cấu trúc văn hóa Nhật Bản
Tiếng Nhật ‘chuẩn’ không hề giống hoàn toàn với phương ngôn ở Tokyo, dùtiếng Tokyo giống hơi bất kỳ phương ngữ nơi khác Kể từ khi thành lập chính quyềnhiện đại vào năm 1868, chính quyền đã xác định các giá trị Nhật Bản đích thực, baogồm cả ngôn ngữ, và cố gắng đưa vào khuôn khổ những người Nhật Bản ở các vùngngoại vi và những người không thuộc sắc tộc Nhật vào khuôn khổ do nhà nước quyđịnh này Các em học sinh được yêu cầu phải nói tiếng Nhật chuẩn – ngôn ngữ củavùng quyền lực trung tâm – bất chấp phương ngữ dùng trong gia đình Những họcsinh ở Ainu và Okinawa bị cấm dùng ngôn ngữ gốc, rất khác biệt so với tiếng NhậtBản, và bị ép buộc phải nói tiếng Nhật ‘chuẩn’, đây là một hiện thực vẫn còn tiếpdiễn tới tận hôm nay
Cấu trúc văn hóa được định hình từ địa lý này được biểu hiện sự phân biệt đối xử vềmặt xã hội với những người Ainu và Okinawa Những người Ainu chịu sự phân biệtđối xử ngay trên miền đất của mình ở Hokkaido, nơi tình hình di dân từ các miềnđảo phía nam đang tăng lên khiến họ nhanh chóng trở thành những nhóm thiểu sốchính trị xã hội, đồng thời văn hóa của họ cũng chỉ được xem như là chứng tích củaquá khứ Những người Okinawa thì vẫn duy trì số lượng lớn ở Okinawa, nhưng khi
họ di cư tới nước ngoài và tới những hòn đảo phía bắc của Honshu, Kyushu vàShikoku, họ vẫn là đối tượng bị phân biệt đối xử
Trang 7Khi Hokkaido trở thành thuộc địa của Nhật vào thế kỷ XIX, nền nông nghiệpcủa đảo bị ảnh hưởng nhiều bởi phương pháp trồng trọt của người Mỹ do chínhquyền Nhật Bản giới thiệu từ buổi đầu của thời kỳ hiện đại Có những hầm chứakiểu Mỹ, guồng nâng, và các công trình nông trại như là những sắc màu chính củavùng đất này mà người ta không thể thấy ở phía Nam Nhật Bản Khi người Nhật
Bản hoài vọng về khung cảnh thôn quê, như trong những bài enka, Hokkaido ít khi
được nhắc đến Thay vào đó là cảnh thôn quê với những cánh đồng lúa nhỏ, nhữngngôi nhà cỏ tranh, làng chài trong sâu thẳm tâm thức Nhật Bản được gợi lên Sựthiếu vắng Hokkaido trong hình dung về văn hóa Nhật Bản càng nhấn mạnh tìnhtrạng ngoại vi của vùng này
Không có gì đáng ngạc nhiên về sự thiếu vắng của Hokkaido trong sự hìnhdung về dòng văn hóa chính của Nhật Bản vì vùng này chỉ chính thức thuộc về NhậtBản kể từ thời hiện đại Trừ mũi phía Nam đảo này thuộc sự kiểm soát của gia tộcMatsumae kể từ thời kỳ Tokugawa, đảo này không thuộc về Nhật Bản cho đến thờiMinh Trị (Meiji)
Trong thời kỳ mở rộng nhất, kéo dài từ năm 1895 tới năm 1945, ‘Nhật Bản’bao gồm cả Đài Loan, một nửa phía nam đảo Sakhalin, Kuriles, bán đảo Triều Tiên
và Micronesia (Liên Bang Micronesia) ‘Nhật Bản’ thời kỳ này là Nhật Bản đa sắctộc và đa văn hóa nhất trong lịch sử Nhật Bản bởi nó bao gồm cả số lượng dân tộc
và chủng tộc của những vùng vừa kể Tuy nhiên điều này vẫn không ngăn cản cácchính trị gia và những trí thức Nhật Bản tuyên bố Nhật Bản là một dân tộc và có mộtnền văn hóa đồng nhất Trong đó, người Nhật không chỉ ở vùng trung tâm mà còn làtrung tâm của nền văn hóa của họ, và được xem là hiện thân của tinh hoa Nhật Bản.Chỉ có thể nói rằng đối với những vùng khác thì nơi này được xem là Nhật Bản hàngthứ, không chỉ vì họ không nói tiếng Nhật mà còn vì họ thiếu nhiều vẻ ngoài cơ bảncủa văn hóa Nhật, và hơn nữa là vì tình trạng thuộc địa của họ Sự khác biệt được
biểu lộ rõ trong sự phân chia từ naichi và gaichi Naichi có nghĩa là Nhật Bản đích thực, còn gaichi có nghĩa là các vùng thuộc địa Tai đã chỉ ra một cách rõ ràng sự
chủ quan trong cơ cấu này trong vương triều Nhật Bản
Trang 8Các vùng thuộc địa ngoài được mong đợi là có thể tái hiện Nhật Bản ‘gốc’càng nhiều càng tốt Các trường lớp trong thuộc địa của đế quốc dùng tiếng Nhật vàtiếng Nhật là ngôn ngữ dùng trong quản lý điều hành thuộc địa Điện thờ Shinto
được đưa đến các vùng thuộc địa gaichi với mục đích là ‘Nhật Bản hóa’ họ Những ngọn núi lửa ở các gaichi cũng được đặt tên là núi Phú Sĩ này hay núi Phú Sĩ nọ như
là một cách để gợi lại ngọn núi Phú Sĩ ‘thật’ ở trung tâm Nhật Bản Những ngườithuộc địa là ‘người Nhật’ nhưng họ vẫn là người Nhật thứ cấp trong con mắt củanhững người Nhật ‘gốc’ Hệ thống phân cấp này trong nghĩa của từ “Nhật Bản” tồntại dai dẳng cho tới trước thời kỳ đế quốc năm 1945
Những gì không thuộc về Nhật Bản
Chúng ta vừa tìm hiểu xem ‘Nhật Bản là gì’ và có thể thấy rằng không nhấtthiết phải xem xét ý nghĩa ‘Nhật Bản là gì’ trong một ý nghĩa tuyệt đối, có chủ thể
và trừu tượng Hình ảnh Nhật Bản không chỉ được dựng lên bởi người Nhật mà còn
là do những người nước ngoài dựng lên để so sánh với đất nước của họ Khi bàn
thêm về Những gì không thuộc về Nhật Bản, hình ảnh về Nhật Bản của những
người ngoài được tô điểm nhiều màu sắc bởi mối quan hệ lịch sử giữa đất nước họvới Nhật Bản
Hãy xem Nhật Bản từng là gì đối với nước Mỹ, và đối với một số vùng, phầncòn lại của phương Tây Trước Thế Chiến Thứ Hai, theo một nghĩa nào đó thì NhậtBản là một đất nước cổ và đẹp Hình ảnh Nhật Bản như là Exotica japonica rất phổbiến ở thế giới phương Tây, đặc biệt là các nghệ sĩ trường phái ấn tượng Được miêu
tả như một bức chân dung Quý Bà Bươm Bướm Đông Phương – Đông Phương ĐiệpPhụ, Nhật Bản được xem như một đất nước hơi ẻo lả, nữ tính đến mức phương Tâynam tính có thể đối xử bất công một cách vô sự, tương tự như cách mà Mỹ đã làmvào năm 1853-1854, khi Nhật Bản không thể chống đỡ mối đe dọa quân sự từ
phương Tây – chính sách đe dọa bằng vũ lực của phương hể đoán được Tây Mặt
khác, hình ảnh Nhật Bản vẽ ra trước mắt nước Mỹ bởi thái độ của người Mỹ đối vớinhững di dân Nhật Bản, với sự thù địch ngày càng tăng cao do những lời đồn đại về
Trang 9‘bọn da vàng nguy hiểm’ mang nặng tính phân biệt chủng tộc Nhật Bản đã đáp lạithái độ đó bằng sự chống đối tương ứng, dẫn đến cuộc chiến tranh Thái BìnhDương.
Như John Dower đã mô tả một cách khéo trong cuốn Cuộc chiến không khoan nhượng, trong Chiến tranh Thế giới Thứ Hai, Nhật Bản được xem như một
đối tượng nguy hiểm chuyên đánh lén Con khỉ là biểu tượng vật hóa ưa thích màngười ta dùng để ám chỉ người Nhật Bản Hơn trong suốt thời kì bị quân Đồng Minh(bao gồm cả Mỹ) chiếm đóng thời hậu chiến, Nhật Bản được hình dung như mộtquốc gia lạc hậu cần cải cách lại mọi khía cạnh của cuộc sống Nước Nhật lạc hậu bịchiếm đóng đã được hỗ trợ bởi tri thức Mỹ, bao gồm cả các nhà khoa học chính trị,
ví như, trong thời kì hậu chiến Nhật Bản đã có khuynh hướng ‘dân chủ non nớt’hoặc ‘hệ thống chính trị một đảng rưỡi’, cứ như thể hệ thống chính trị hai đảng kiểu
Mỹ thì tốt hơn hệ thống ‘một đảng rưỡi’ của Nhật chỉ vì hệ thống của Mỹ cho phép
sự luân phiên thay thế nhau ở vị trí đảng cầm quyền trong khi hệ thống ‘một đảngrưỡi’ của Nhật thì không Cũng dễ đoán rằng, ở Liên Bang Soviet, khuynh hướngMarxist cũng nhìn nhận một hình ảnh nước Nhật lạc hậu, In the Soviet Union,predictably, the image of a backward Japan was given aMarxist twist, characterisingJapan on the basis of the Marxist evolutionary scheme
Một cách nhìn thành kiến khác của người Mỹ về vị trí của Nhật Bản là NhậtBản đối lập với họ Như thế, người Mỹ được ho là có tính cá nhân, trong khi ngườiNhật Bản có tính cách nhóm tập thể - chủ nghĩa tập thể của Nhật Bản bị đánh giá là
ở tình trạng có giá trị thấp đối với chủ nghĩa cá nhân của Mỹ
Từ ví dụ đơn giản trên có thể dễ thấy hình ảnh người Nhật đối với phươngTây khác biệt như thế nào so với hình ảnh Nhật Bản đối với người Trung Quốc hayngười Triều Tiên, từ đó vạch ra và thực hiện chính sách quan hệ quanh co với nướcNhật Nhật Bản là những điều gì đó rất không chính xác đối với nhiều quốc gia
Trang 10“Văn hóa Nhật Bản”
Bản chất
Cách hiểu truyền thống về văn hóa Nhật Bản bị che khuất bởi ý niệmNihonjinron (học thuyết, thảo kiến về người Nhật) Nihonjinron về cơ bản khẳngđịnh tính duy nhất của văn hóa Nhật Bản và người Nhật, và giải thích sự duy nhất đónhư thế nào Luận thuyết về sự riêng biệt này bao quát tất cả mọi điều: từ phươngpháp trang điểm sinh học của người Nhật, phát triển văn hóa tiền sử, ngôn ngữ, cácchuẩn tắc văn chương và thẩm mỹ, mối quan hệ nhân tính, và tổ chức xã hội cho tớitriết học và các đặc tính cá nhân Trong một số công thức của Nihonjinron, nhữngđiểm này đều có tương quan với nhau Chẳng hạn, Watsuji Tetsuro chỉ ra rằng sinhthái ảnh hưởng bởi gió mùa của Nhật Bản chi phối nông nghiệp, mô hình định cư, hệthống gia đình, và ngay cả các tính cách cá nhân Những đặc trưng này được thừanhận là tồn tại lâu dài xuyên suốt lịch sử Nhật Bản kể từ thời đại xa xưa
Nhiều học giả phê phán Nihonjinron về việc không thừa nhận tính phức thể
về sắc tộc và văn hóa của Nhật Bản Còn một thiếu sót quan trọng nữa mà nhữngphê bình trên chưa chỉ ra đó là các đặc tính của Nhật Bản về mặt bản chất được đềcập trong Nihonjinron không thể giải thích cho vài trong số những sự kiện quantrọng nhất trong lịch sử Nhật Bản Sự chuyển biến lớn đầu tiên của Nhật Bản xảy rakhi người Trung Hoa được người Triều Tiên giới thiệu Sự chuyển biến đó bao gồm
cả việc giới thiệu các cấu trúc chính trị phức tạp trong chính quyền, Phật Giáo cạnhtranh với Shinto giáo, hệ thống chữ viết lần đầu tiên cho phép ghi lại lịch sử cũngnhư các thành tựu văn chương, nghệ thuật và kiến trúc lục địa trong trong hình thứctrong những dinh thự lộng lẫy và các công trình điêu khắc Phật giáo tinh tế Không
có thành quả nào trong số này được ghi nhận như là một phần của văn hóa Nhật Bản
cơ bản
Thứ hai, thời kì lâu dài ảnh hương bởi người Trung Hoa từ thế kỉ thứ 4 đếngiữa thế kỉ thứ 19 đã được thay thế bởi thời Minh Trị, chịu sự ảnh hưởng từ mạnh từphương Tây, nếu không muốn nói là ảnh hưởng mạnh hơn so với ảnh hưởng từngười Trung Hoa trước đó Kết quả là, Nhật Bản trở nên Tây phương hóa gần như
Trang 11hết sức bất ngờ Lạ thay, Nhật Bản cốt yếu trong Nihonjinron (đang) là một NhậtBản thoát khỏi hoàn toàn ảnh hưởng của phương Tây và Trung Hoa Điểm khôngkhách quan của sự mô tả các đặc tính đặc trưng ở đây là thiếu đề cập đến lý do làmcho văn hóa Nhật Bản trở thành nền văn minh qua sự hào phóng của người TriềuTiên, và bỏ quên lý do làm cho Nhật Bản trở thành một quyền lực công nghiệp trongthế kỉ 19 và 20 thông qua sự vay mượn từ phương Tây Việc mô tả đặc tính NhậtBản không thể giải thích cho những sự kiện chính trong lịch sử nước Nhật, đó là mộtthiếu sót lớn.
Hơn nữa, những người theo bản chất luận nhấn mạnh tính đồng nhất lạikhông nhận ra các mẫu thức trong cuộc sống hàng ngày rất đa dạng của những conngười bình thường, như trồng khoai lang, khoai sọ, các loại rau quả, các cây ngũ cốckhác với gạo như lúa mạch, lúa mì, kê Ngay cả nghư nghiệp, một lối sống đặc trưngthôn dã cũng bị họ lờ đi mà thiên về trồng lúa, bất chấp tầm quan trọng thiết yếu củanhững sản phẩm biển trong thực đơn thường ngày ở Nhật Sự thiếu sót nữa trongbản chất Nhật Bản là sự đa dạng các kiểu văn hóa vùng miền, như phong cách kiếntrúc, trang phục, lễ nghi như đám cưới và tang ma, thực phẩm và nghệ thuật nấu ăn,
và sự đa dạng phương ngữ Sự khác biệt ngôn ngữ giữa các vùng là rất lớn và còntồn tại tới tận ngày nay, chứ không chỉ trong thời đại Meiji Những khác biệt nàyhoàn toàn bị lờ đi và người ta chỉ chú ý đến ‘tiếng Nhật chuẩn’, hay hyojungo (hiệnđược thay thế bởi kyotsugo, nghĩa là ‘ngôn ngữ đại chúng’), được xem là ngôn ngữchung đối với tất cả người Nhật Nhưng trong thực tế, kyotsugo là một lớp vỏ ngoàibên trên các phương ngữ vẫn còn đầy sức sống và là lối nói được ưa chuộng để biểu
lộ sự thân tình và niềm tự hào địa phương
Như vậy, một Nhật Bản được bản chất hóa là một Nhật Bản được chuẩn hóavới các đặc tính đồng nhất mà không có sự đa dạng nội tại Nhật Bản này là sự thànhlập một chính quyền trung tâm trên quy mô rộng lớn kể từ thời đại Minh Trị, vớikhuynh hướng tạo ra một quốc gia hợp nhất, đồng dạng và thuần nhất Nhật Bảnđược bản chất hóa này là một cộng đồng được hình dung khác xa với thực tế màquốc gia này đang hiện diện
Trang 12Giải bản địa hóa/tái bản địa hóa
Qua nhiều năm, văn hóa Nhật Bản đã lan ra khắp mọi ngóc ngách trên thếgiới Sự lan truyền này diễn ra theo hai hướng riêng, một thông qua sự di cư củangười Nhật và hướng kia thông qua sự khuếch tán độc lập Lần di cư sớm nhất trongthời hiện đại diễn ra vào năm 1868 khi những công nhân đồn điền Nhật Bản đếnHawai’i Tiếp đó là những chuyến di dân đến Bắc Mỹ rồi Nam Mỹ Cùng với quátrình di dân đến châu Mỹ đang diễn ra, những công dân Nhật Bản khác rời quêhương đến Micronesia, Úc, lục địa Á châu và Đông Nam Á Những người Nhật didân, họ nhất thiết mang theo nền văn hóa của mình Hơn một triệu người Nhật Bảnđang sống ở hải ngoại trước khi Nhật Bản thúc thủ vào năm 1945 Cộng đồng ngườiNhật hải ngoại lớn nhất là ở Đông Á – Trung Quốc, Singapore và Phillipines – và bờtây của Bắc Mỹ Tuy vậy, Gần như tất cả họ đều hồi hương khi Nhật Bản bại trậntrong Thế Chiến Thứ Hai, ngoại trừ những những người ở Bắc và Nam Mỹ Nhữngcộng đồng này có các trường học Nhật Bản, đền thờ Phật Giáo, điện thờ Shinto giáo,cửa hàng bán lẻ hàng hóa Nhật Bản, các doanh nghiệp lớn, các tổ chức công dân,nhóm cùng sở thích.v v… Trong mọi trường hợp, ngôn ngữ giao tiếp của họ đều làtiếng Nhật Cũng có những cộng đồng ghép giữa người Nhật Bản và người sắc dânkhác: đó là sự mở rộng Nhật Bản
Sau chiến tranh, chính quyền Nhật Bản tiếp tục chương trình di dân để giảmbớt dân số và các khó khăn kinh tế Lần di dân này khá lớn và hướng đến Nam Mỹ.Khi làn sóng di dân này giảm dần vào những năm 1960, quá trình toàn cầu hóa kinh
tế thời hậu chiến của Nhật Bản bắt đầu nghiêm túc hơn, họ xuất khẩu nhiều hànghóa và thiết lập văn phòng đại diên của các công ty trên khắp thế giới Các doanhnhân được phái đi điều hành những văn phòng ở hải ngoại, và gia đình họ cũng theocùng Nhờ việc đi lại và sinh sống ở nước ngoài dễ dàng hơn, những người NhậtBản khác bắt đầu đi đến nhiều vùng trên khắp thế giới, trong đó đáng kể là nhữngkhu vực có nhiều các văn phòng công ty Nhật Bản tập trung lại, và định cư ở đó.Năm 2006, số người Nhật Bản cư trú ở hải ngoại lại một lần nữa vượt qua mức mộttriệu người Trong những khu vực này, di dân Nhật Bản bắt đầu kinh doanh ăn uống
Trang 13công cộng, theo kiểu gia đình hoặc cùng những người đồng hương Ở đây, một lầnnữa trong tình hình hậu chiến cũng như tiền chiến, các cộng đồng người Nhật lại nổilên, hoàn tất những cơ sở của Nhật Bản như trường học, nhà hàng, cửa hàng rau quả,phòng khám chữa bệnh, gara xe hơi, các cơ sở kinh doanh thực thụ và các hãng vậntải Năm 2006, có 16 thành phố ở nước ngoài là nhà của hơn 10000 người Nhật tạimỗi thành phố Trong đó bao gồm Bangkok, Hong Kong, London, Los Angeles,New York, Paris, Shanghai và Singapore Tiếng Nhật lại là phương tiện giao tiếpchính yếu trong tất cả những cộng đồng này.
Những cộng đồng tiền và hậu chiến này đều là dành cho Nhật Bản ‘NhậtBản’ trong ý nghĩa cổ điển đã được giải-bản địa hóa và tái-bản địa hóa để kết hợpchặt chẽ với nhiều vùng mở rộng ở hải ngoại Văn hóa Nhật Bản được giới thiệu lại
ở những cộng đồng này, với nhiều mức độ điều chỉnh khác nhau để thích nghi vớihoàn cảnh từng địa phương
Bên cạnh sự phát tán văn hóa thông qua quá trình di dân, việc truyền bá vănhóa cũng xảy ra qua những phương tiện độc lập khác, do sự thúc đẩy từ sở thích vànhu cầu của người nước ngoài đối với nhiều thứ của Nhật Bản Như đã nói ở trên, từcuối thế kỉ 19 chúng ta đã quen thuộc với việc những nghệ sĩ trường phái ấn tượngcủa Pháp thích thú nghệ thuật Nhật Bản, đặc biệt là ukiyoe, hay in khắc gỗ từ thờiEdo Thời kì này cũng có nhiều đồ gốm xuất khẩu sang châu Âu với số lượng lớn.Hàng hóa sản xuất tại Nhật bắt đầu được bán ở nước ngoài từ giữa thời kì Minh Trị
về sau Ban đầu hàng hóa của Nhật bị xem là rẻ và có chất lượng thấp Nhưng dầndần, sau chiến tranh, những hàng hóa này được thay thế bởi những sản phẩm côngnghiệp chất lượng cao – từ xe hơi cho đến đồ điện tử - tạo nên danh tiếng của NhậtBản về chất lượng công nghệ xuất sắc Cũng trong những năm 1950-1960, Nhật Bảntận hưởng sự nổi tiếng hơn nữa nhờ các phim mới mẻ, như các phim của Kurosawa
và Ozu Mặc dù khuynh hướng đó không tồn tại được lâu nó cũng đã kịp tạo choNhật Bản danh tiếng trong lĩnh vực văn hóa đại chúng Đây cũng là tiền đề cho sởthích về văn hóa Nhật Bản nổi lên ở châu Á và châu Mỹ kể từ những năm 1990, tập