... thực tiễn phát triển kinh tế trang trại - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại nhằm phát yếu tố trở ngại tiềm để phát triển kinh tế trang trại tỉnh Lâm Đồng - Đề xuất số giải pháp chủ... THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG 19 3.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ 21 PHẦN 4: 23 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ 23 TRANG TRẠI TỈNH LÂM ĐỒNG THỜI GIAN... tế trang trại tỉnh Lâm Đồng để nghiên cứu II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Lâm Đồng, từ tìm giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***********************
Người thực hiện:
CHU THỊ LAN ANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRANG TRẠI TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TIỀU LUẬN MÔN HỌC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC HÌNH - BẢNG 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 5
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
2.1 Mục tiêu chung 6
2.2 Mục tiêu cụ thể 6
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
PHẦN 2: 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7
2.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại 7
2.1.2 Kinh nghiệm trên thế giới về kinh tế trang trại 8
2.1.3 Lịch sử hình thành trang trại ở Việt Nam 9
2.1.4 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở nước ta từ khi đổi mới theo nền kinh tế thị trường11 2.1.5 Một số kết luận 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
PHẦN 3: 14
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 14
TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG 14
Trang 3a Vị trí địa lý 14
b Đặc điểm địa hình 15
c Đặc trưng khí hậu 15
d Hiện trạng sử dụng đất 16
3.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG 17
3.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ 19
PHẦN 4: 20
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ 20
TRANG TRẠI TỈNH LÂM ĐỒNG THỜI GIAN TỚI 20
3.1 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 20
3.2 GIẢI PHÁP CƠ BẢN 21
3.3 CHÍNH SÁCH CỤ THỂ 22
a Chính sách đất đai 22
b Chính sách về thuế 22
c Chính sách đầu tư tín dụng 22
d Chính sách lao động 22
e Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường 23
f Chính sách thị trường 23
g Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại 24
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp được hình thành tươngđối sớm trên thế giới, tuỳ từng thời kỳ mà có những hình thức, tên gọi khácnhau nhưng đều có đặc điểm chung là sản xuất hàng hoá tự chủ với quy môlớn Phát triển kinh tế trang trại là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp,nông thôn hiện nay Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biếntrong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Ở nước ta, trang trại đã hình thành và trải qua các giai đoạn lịch sử khácnhau của sự phát triển Tuy nhiên, trang trại gia đình chỉ phát triển từ đầu thậpniên 1990 sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Luật Đất đai ra đờinăm 1993, giao quyền sử dụng đất sản xuất ổn định và lâu dài cho hộ gia đìnhnông dân
Từ khi có chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng, kinh tế
hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp pháttriển nông nghiệp và nông thôn
Tại Lâm Đồng, theo số liệu thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn (Sở
NN-PTNT) và số liệu “Kết quả điều tra nông thôn - nông nghiệp và thủy sản năm 2011” của Cục Thống kê Lâm Đồng thì hiện nay toàn tỉnh có 376 trang trại (gồm
177 trang trại trồng trọt, 199 trang trại chăn nuôi) đang hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt, giảm 1.603 trang trại so với năm 2005
-và giảm 272 trang trại so với năm 2010 Hiệu quả sản xuất - kinh doanh của phần
lớn trang trại chưa có kết quả cao, chưa đạt theo những tiêu chí quy định Nhận định
này được chứng minh khi các trang trại trên địa bàn tỉnh hiện sử dụng tới 2.365 hađất (bình quân 6,3 ha/trang trại) và 1.834 lao động thường xuyên (bình quân 4,8 laođộng/trang trại), chưa kể lao động thời vụ lúc cao nhất lên tới trên 3.500 người…nhưng mỗi năm tổng thu từ sản xuất - kinh doanh (của tất cả 376 trang trại) mới đạtbình quân 872 tỷ đồng
Trang 7Muốn duy trì và phát triển số lượng trang trại đạt tiêu chí quy định, hiệu quảthì các ngành cần có những tác động hợp lý để nâng cao giá trị hàng hóa của các
trang trại Bởi vì trang trại phát triển nhanh sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển
dịch kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy quá trình cơ giới hóa và ứng dụng các công nghệcao vào phát triển sản xuất, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp chế biến, mởmang ngành nghề nông thôn và tham gia giải quyết việc làm cho người lao độngnông thôn
Xuất phát từ tình nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm phát
triển kinh tế trang trại tại tỉnh Lâm Đồng” để nghiên cứu.
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Lâm Đồng, từ đótìm giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển, góp phần xây dựng một nềnsản xuất nông nghiệp sản xuất hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao, hiệu quả vàbền vững trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại nhằm phát hiện ra các yếu
tố trở ngại và những tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Lâm Đồng
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế trang trạitrên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thời gian tới
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động kinh tế của các trang trại cũng như ảnh hưởng của nó đến sựphát triển kinh tế - xã hộ i trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
- Tình hình sử dụng đất đai, lao động, vốn, thu nhập, bố trí sản xuất, bố trícây trồng của các trang trại; Phân tích một số chỉ tiêu, đánh giá kết quả, hiệuquả kinh tế của các trang trại
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
Các trang trại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Số liệu cập nhật đến cuối năm2011
Trang 9PHẦN 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Trang trại và kinh tế trang trại
a Quan niệm về trang trại
Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tập trung trên quy mô diện tíchđất đủ lớn mang tính độc lập đã có từ rất lâu đời Ngay từ thời đế quốc La Mã đãtồn tại hình thức sản xuất tập trung trên diện tí ch lớn, lực lượng của yếu là tùbinh và nô lệ Thời phong kiến ở một số nước Châu Âu có hình thức lãnh địaphong kiến và các trang viên Ở Trung Quốc thời nhà Hán đã có các hoàng trang,điền trang, đồn điền Ở Việt Nam hình thức sản xuất tập trung đã có từ thờiphong kiến phương Bắc đô hộ
Qua đó “Trang trại” là thuật ngữ dùng để mô tả, chỉ và gắn liền với hình thứcsản xuất nông nghiệp tập trung trên một d iện tích đủ lớn, với q uy mô hộ gia đình làchủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường
b Khái niệm về kinh tế trang trại
“Hình thức kinh tế trang trại dùng để chỉ một lĩnh vực tổ chức sản xuấtkinh doanh nông sản hàng hoá lớn ở nông nghiệp nông thôn để phân biệt với hìnhthức tiểu nông tự túc, tự cấp”
- Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về Kinh tế trangtrại của Chính phủ, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trongnông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô vànâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷsản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản
- Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 04 năm 2011 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì: Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏamãn điều kiện sau:
Trang 101 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
+ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên;
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giátrị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
2.1.2 Kinh nghiệm trên thế giới về kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại xuất hiện sớm nhất ở Pháp Sau cuộc đại cách mạng tưsản Pháp năm 1789, ở Pháp xuất hiện những chủ trại (ferrmier) trong nôngnghiệp Từ đó kinh tế trang trại phát triển và lan rộng khắp thế giới
Trang trại của các nước Châu Á có diện tích nhỏ, quy mô trang trại chỉtrên dưới một ha như Nhật Bản (1,2 ha) Trang trại của các nước Châu Âu lớnhơn, quy mô bình quân trang trại hàng chục ha như Pháp (29,2 ha); Đan Mạch31,7 ha Ở một số nước quy mô trang trại gia đình lên tới hàng trăm ha như ở Mỹtrang trại bình quân 180 ha
Các trang trại gia đình trên thế giới có trang bị kỹ thuật hiện đại, ứng dụngngày càng nhiều khoa học kỹ thuật và công nghệ s inh học các trang trại giađình chủ yếu sử dụng lao động của hộ gia đình và một số ít lao động thuê ngoài(chủ yếu theo thời vụ)
Các trang trại còn ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực sinhhọc, tin học: “Ở Mỹ, đến nay đã có 20% trang trại gia đình sử dụng máy tínhphục vụ việc lập trình sản xuất kinh doanh trên đồng ruộng và trong trang trại ỞĐức 50% các trang trại quy mô 50 ha trở lên đã sử dụng máy vi tính vào quá trìnhđiều hành sản xuất…”
Trang 11- Lao động sử dụng trong trang trại ở Tây Âu và Mỹ đang có xu hướnggiảm dần Hiện nay ở Mỹ chỉ có từ 1 - 2 lao động/ trang trại; Nhật Bản khoảng 3lao động/ trang trại (1990); Đài Loan mỗ i trang trại chỉ có 1,3 lao động.
Thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước trên Thế giới đã khẳngđịnh đ iều kiện cần và đủ cho việc phát triển kinh tế trang trại gia đình là sựhình thành nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hoá đất nước Ngoài ra trang trại gia đình muốn hoạt động có hiệuquả cần phải có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của Nhà nước thông qua cácchính sách và các công cụ quản lý vĩ mô như : Chính sách thuế, chính sách tàichính, tín dụng, chính sách bảo trợ nông nghiệp, bảo hộ lao động
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển kinh tế trang trại của thế giới
- Trang trại có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá của cácnước Kinh tế trang trại gắn liền quá trình công nghiệp hoá của các nước từ thấpđến cao, chính công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu khách quan để phát triển trangtrại, cơ chế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển
- Thực tế phát triển trang trại tại nhiều quốc gia trên thế giới lại cho phép
đi đến kết luận: Chính các trang trại gia đình quy mô nhỏ mới thực sự là chìakhóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài
- Trong các giai đoạn ban đầu kinh tế trang trại phát triển theo hướngkinh doanh tổng hợp bằng cách đa dạng hoá sản phẩm, cùng với sự phát triển củanền kinh tế thị trường sẽ từng bước đi vào chuyên môn hoá
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộcvào quy mô đất đai Ở các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loandiện tích các trang trại nhỏ nhưng hiệu quả sản xuất lại rất lớn
2.1.3 Lịch sử hình thành trang trại ở Việt Nam
Trong sách “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” có ghi: “Năm 1266, triều đìnhnhà Trần cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi triệu tập dân nghèo
Trang 12khổ không có đất làm nô tỳ đi khai hoang miền ven biển, đắp đê ngăn mặn, khai pháđất bồi sông Hồng lập thành điền trang rộng lớn”.
Thời nhà hậu Lê, nhà nước phong kiến chủ trương mở rộng khai hoang lậpđồn điền (đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại) Đến năm 1481, cả nước có 43
sở đồn điền để cấp cho họ hàng nhà vua và quan lại từ tứ phẩm trở lên (gọi là cấplộc điền)
Đời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành 25 quyết định
về khai hoang với hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân phiêu tán để khai hoanglập ấp trại hoặc xã Đồng thời, nhà nước dùng binh lính và tù nhân bị lưu đày đểkhai hoang, hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai phá đất hoang để lập đồnđiền - trang trại - phát canh - thu tô
Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, họ đã thực hiện chính sách khai thác thuộcđịa làm giàu cho chính quốc Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra các Nghịđịnh cho địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền, Nghị đ ịnh còn chophép địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền rộng lớn mà họ gọi là đất vôchủ
Tính đến năm 1930, thực dân Pháp đã chiếm đọat 1,2 triệu ha, b ằng 1/7trong tổng diện tích đất canh tác của nước ta lúc bấy giờ để lập trên dưới 4.000đồn điền - trang trại với quy mô bình quân chừng 300 ha/cái
1958 đến năm 1960 các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, quy mô thôn
đã được thành lập, rồi lên bậc cao, quy mô liên thôn, đến quy mô xã có tính phổbiến trên toàn miền Bắc
Trang 13- Từ 1975 đến 1986: Sau khi giải phóng Miền Nam những đồn điền - trangtrại kiểu Tư bản chủ nghĩa đã được Nhà nước tịch thu và chuyển thành nhữngnông trường quốc doanh.
2.1.4 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở nước ta từ khi đổi mới theo nền kinh tế thị trường
a Thời kỳ từ 1986 - 1999
Đại hội VI (12/1986) Đảng đã chỉ ra, trong thời kỳ quá độ ở nước ta là
“nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần” và tiếp đến (4/1989) trong nông nghiệp
có Nghị Quyết VI năm 1989, Đảng chỉ ra rằng “gia đình xã viên trở thành nhữngđơn vị kinh doanh tự chủ” đồng thời, luật doanh nghiệp tư nhân cũng được công
bố ngày 03/01/1991 Đó chính là những cơ sở để hệ thống trang trại phát triểnvới tốc độ và quy mô càng cao lớn hơn
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 1989 tổng số có 5.125trang trại, đến năm 1992 đã tăng lên đến 13.246 trang trại, nhiều hơn gấp 2,53lần Đến ngày 1/7/1999 cả nước có 90.167 trang trại, tăng gấp 6,8 lần so vớinăm 1989 Diện tích đất trong kinh doanh nông nghiệp từ năm 1989 đến năm
1992 đã tăng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, gấp 2,54 lần, đến năm 1999 tăng lên396.282 ha, gấp 6,81 lần so với năm 1992 và gấp 17,29 lần so với năm 1989
Tổng giá trị sản phẩm bình quân của các trang trại từ năm 1997-1999 đạt9.575 tỷ đồng/năm chiếm 7,89% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt là
tỷ suất nông sản hàng hoá của các trang trại ở năm 1992 chiếm 78,6% thì năm
1999 đã tăng lên đến 86,74%
b Thời kỳ từ 2000 đến nay
Sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chính Phủ về kinh tế trangtrại, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nôngnghiệp và thuỷ sản Trung Ương, năm 2011, cả nước có 20.065 trang trại (tính theotiêu chí mới) Trong đó, riêng đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ có tới
Trang 1411.697 trang trại, chiếm 58,3% tổng số trang trại trong cả nước Trung Du và miềnnúi phía Bắc có số trang trại ít nhất, với 587 trang trại, chiếm tỷ lệ 2,9% Ở khu vựcnày, trang trại chăn nuôi chiếm đa số, với 506 trang trại.
Năm 2011, cả nước có 8.642 trang trại trồng trọt, chiếm 43% tổng số trangtrại; 6.202 trang trại chăn nuôi, chiếm 30,9%; 4.443 trang trại nuôi trồng thuỷ hảisản, chiếm 22,1%; 737 trang trại tổng hợp, chiếm 3,7% và 51 trang trại lâm nghiệp,chiếm 0,3% Số lượng trang trại trồng trọt chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam bộ,đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, với 7.089 trang trại, chiếm tới 90,4% sốtrang trại trồng trọt trong cả nước Số trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản chủ yếu tậptrung ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, với 4.090 trangtrại, chiếm 92,3% tổng số trang trại thuỷ sản Số trang trại chăn nuôi chủ yếu tậptrung ở vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng, với 4.240 trang trại, chiếm68,3% tổng số trang trại chăn nuôi
Năm 2011, diện tích đất nông, lâm nghiệp và diện tích mặt nước nuôi trồngthuỷ hải sản do các trang trại sử dụng là 157,6 nghìn ha, bình quân một trang trại sửdụng 7,9 ha Trong tổng số diện tích trên, đất trồng cây lâu năm chiếm tỷ trọng lớnnhất, với 78 nghìn ha (chiếm 49,5%), đất trồng cây hàng năm là 36,7 nghìn ha(chiếm 23,3%), diện tích nuôi trồng thuỷ hải sản là 34,2 nghìn ha (chiếm 21,7%)
Các trang trại trong cả nước đã tạo công ăn, việc làm thường xuyên cho gần
100 nghìn lao động và rất nhiều lao động có tính thời vụ, tạm thời ở các địa phương.Năm 2011, tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của các trang trại đạtgần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 6% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷsản), bình quân 1942,5 triệu đồng một trang trại
2.1.5 Một số kết luận
- Kinh tế trang trại gắn liền quá trình công nghiệp hoá của các nước từthấp đến cao, chính công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu khách quan để phát triểntrang trại, cơ chế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển